Từ đó, ông rút ra những đặc trưng cơ bản của trường ca hiện đại như là những tác phẩm mang nội dung lớn, cảm hứng lớn, có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự, trữ tình… Giáo trình đã cung cấp n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: THỂ LOẠI TRƯỜNG CA VÀ TRƯỜNG CA NGUYỄN QUANG THIỀU 9
1.1 Khái niệm trường ca 9
1.2 Trường ca Việt Nam và ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại 12
1.3 Nguyễn Quang Thiều trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại 15
1.3.1 Nguyễn Quang Thiều và nền văn học hậu chiến 15
1.3.2 Thành tựu trường ca của Nguyễn Quang Thiều 19
* Tiểu kết: 25
Chương 2: CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRƯỜNG CA NGUYỄN QUANG THIỀU 27
2.1.Cảm hứng về quê hương 27
2.1.1 Hoài niệm gia đình 27
2.1.2 Thế giới người quê, cảnh quê 35
2.2 Suy ngẫm về sự hiện hữu 40
2.2.1 Ý thức về sự tồn tại 40
2.2.2 Ám ảnh thời gian 45
2.2.3 Ám ảnh cái chết 50
2.2.4 Khát vọng sống, tình yêu và hạnh phúc 55
2.3 Suy ngẫm về nhân sinh 60
Trang 32.3.1 Thế giới vỏ bọc, cô đơn 60
2.3.2 Những mê lộ cuộc sống 64
2.4 Biểu tượng trong trường ca 69
2.4.1 Biểu tượng “chiếc áo” 71
2.4.2 Biểu tượng “con đường” 74
2.4.3 Biểu tượng “bóng tối” và “ánh sáng” 78
* Tiểu kết 83
Chương 3: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG TRƯỜNG CA NGUYỄN QUANG THIỀU 84
3.1 Kết cấu trường ca 84
3.1.1 Kết cấu theo chủ đề tư tưởng 85
3.1.2 Kết cấu theo dòng ý thức 92
3.3 Ngôn ngữ và giọng điệu nghệ thuật 100
3.3.1 Ngôn ngữ đậm chất văn xuôi 101
3.3.2 Sự đa giọng điệu trong trường ca 109
* Tiểu kết 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trường ca là một thể loại lớn trong nền văn học thế giới Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các tác phẩm văn học có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình Cùng với thời gian, trường ca không chỉ khẳng định sự độc lập của mình như một thể loại riêng biệt mà ngày càng phát triển với nhiều thành tựu cả về chất lượng và số lượng Ở Việt Nam, trường ca đã hình thành và có thời gian phát triển với nhiều sự thay đổi nội tại Đặc điểm chung của trường ca là đều đề cập đến những vấn đề lớn của cộng đồng, của lịch sử dân tộc Nói cách khác, trường ca là kết quả của những cảm xúc lớn Giai đoạn sơ khai, các tác phẩm
viết về công cuộc hình thành và phát triển cộng đồng, bộ lạc như Đam San, Xinh
nhã, Xống chụ xôn xao Giai đoạn văn học Trung đại, đặc biệt là giai đoạn thế kỷ
XVII-XVIII, những truyện thơ dài mang cảm hứng nhân đạo, kể về những số phận
bất hạnh phổ biến của con người trong xã hội bất công như Truyện Kiều (Nguyễn
Du), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn) , theo cách hiểu rộng, cũng có thể xem là
trường ca
Giai đoạn sau này, nhất là từ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng
loạt trường ca xuất hiện, ghi dấu ấn sâu sắc như Trường ca mặt đường khát vọng
(Nguyễn Khoa Điềm), trường ca chim Chơ-Rao (Thu Bồn), trường ca Những người đi tới biển (Thanh Thảo)… Rõ ràng trường ca giai đoạn này đã có những
thành tựu nhất định Cũng như nhiều thể loại khác, giai đoạn này trường ca đề cập đến vấn đề giải phóng dân tộc, ca ngợi người anh hùng với cảm hứng chủ đạo mang tính sử thi Nhìn chung nó nằm trong dòng văn thơ cách mạng
Từ năm 1986, hiện thực xã hội có những thay đổi lớn Điều đó kéo theo sự thay đổi của nhiều lĩnh vực trong đó có văn học nghệ thuật Thể loại trường ca cũng có những bước chuyển mình, vận động để thích nghi với hoàn cảnh Những vấn đề về đề tài, cảm hứng, thi pháp… không ngừng được đổi mới Nhiều tên tuổi mới xuất hiện khẳng định nét cá tính riêng của mình trong sáng tác Trường ca giai đoạn này có những điểm không còn tương đồng với lý thuyết về trường ca trước
Trang 5đó Nó đi vào khai thác những trải nghiệm, những cảm thức cá nhân về cuộc đời
Nó bị cuốn vào dòng xoáy của hiện thực hỗn độn với những trắc ẩn, khắc khoải, với những góc khuất rất riêng, rất nhỏ trong tâm thức con người Những trường ca sáng tác trong giai đoạn này mang màu sắc của văn học hậu hiện đại, thể hiện được những mâu thuẫn của nhân sinh, sự bất lực của con người trước những câu hỏi lớn của thời đại Một trong những tác giả tiêu biểu đó là Nguyễn Quang Thiều Ông được biết đến với tư cách là một nhà thơ, một nhà văn Những năm gần đây, ông
đã dành rất nhiều tâm huyết cho thể loại trường ca Ông đã mang đến cho trường
ca Việt Nam một hướng phát triển mới cả về nội dung và hình thức Đó là sự đa dạng hóa hay cũng chính là quá trình vận động cần thiết để trường ca Việt Nam với tư cách là một thể loại độc lập thể hiện sự thích ứng của mình với những thay đổi của thời đại Nguyễn Quang Thiều luôn là một cái tên khiến giới nghiên cứu chú ý Ngoài văn xuôi, thơ trữ tình, trường ca cũng là thể loại mà Nguyễn Quang
Thiều dày công đeo đuổi; và đó là lý do để chúng tôi thực hiện đề tài Đặc điểm
trường ca Nguyễn Quang Thiều Đề tài nghiên cứu hệ thống tác phẩm, từ đó rút ra
những nhận xét về cảm hứng và phương thức biểu hiện trong trường ca của tác giả Chúng tôi hi vọng những kết quả của đề tài có thể góp phần làm căn cứ đánh giá vị trí, vai trò, những đóng góp của ông với thể loại trường ca đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Sau năm 1975, trường ca vẫn tiếp tục hành trình của mình Ngoài những tác giả vẫn gắn bó với trường ca từ trước như Thu Bồn, Thanh Thảo, chúng ta còn thấy nhiều tác giả mới cũng chọn trường ca làm nơi chuyển tải thông điệp của mình Đó là Trần Anh Thái, Nguyễn Thụy Kha, Mai Văn Phấn, Lê Minh Quốc, Nguyễn Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Linh Khiếu Tác giả Dũng Văn đã viết: “Cách đây hai mươi hoặc hơn hai mươi năm, nhiều nhà thơ (mà tôi đã nêu ở trên) đã viết trường ca để đối diện với thời thế nhận diện Núi Sông vạch mặt Chiến Tranh nhận mặt Con Người? Thơ của họ đã theo chân các danh nhân, lãnh tụ, đi trên mặt đường khát vọng, tới các sư đoàn, tới mặt trời trong lòng đất, đi tới thành phố, đi tới biển… Giờ đây nhiều thi nhân lại viết trường ca chỉ để đi vào chính cái bản ngã của mình mong nhận diện Chính Mình dù có khủng khiếp đến đâu”[100]
Trang 6Ở Việt Nam, nhiều công trình lớn đã chú ý đến thể loại trường ca nhưng chủ yếu là trường ca mang cảm hứng sử thi của giai đoạn chống Mỹ Trong giai đoạn này, các công trình nghiên cứu tập trung hoàn chỉnh hệ thống lý thuyết về khái niệm, đặc trưng, thi pháp thể loại của trường ca Có thể nói, cho đến nay, lý thuyết chung về trường ca đã được nghiên cứu và có những thành tựu đáng chú ý
Giáo trình Năm bài giảng về thể loại (1999) của Hoàng Ngọc Hiến đã đề
cập đến thể loại trường ca trên phương diện đặc trưng thể loại và thi pháp Với giáo trình này, người đọc được tiếp cận với lý thuyết về trường ca thông qua các bản dịch, các bài giới thiệu về trường ca của Maiacốpxki Từ đó, ông rút ra những đặc trưng cơ bản của trường ca hiện đại như là những tác phẩm mang nội dung lớn, cảm hứng lớn, có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự, trữ tình… Giáo trình đã cung cấp những kiến thức nền móng để từ đó người đọc tiếp cận với các sáng tác trường ca, đặc biệt là theo dõi sự vận động của chúng trong dòng chảy văn học đương đại
Trong luận án tiến sĩ Thể loại trường ca trong văn học hiện đại Việt Nam
của Diêu Lan Phương, ta đã thấy một sự tổng hợp về trường ca hiện đại Việt Nam trong cả tiến trình phát triển Ở công trình này, Nguyễn Quang Thiều được đánh giá “là một trong vài nhà thơ đương đại xuất sắc nhất Thơ anh thể hiện một nội lực dồi dào và đầy ám ảnh Trong rất nhiều những thể nghiệm cách tân thì những cách tân của anh, có lẽ có hiệu quả và dễ đến được với độc giả nhất” [43, tr.89] Trường ca của anh đọc hấp dẫn, làm người ta suy tư và có sức ám ảnh lớn Nó không giống với những đại tự sự của cái tuyệt đối trước kia, nhưng cũng không phải là tiểu tự sự - với tư cách là những chuyện cá nhân, riêng lẻ…”[43, tr.92]
Trường ca Nguyễn Quang Thiều cũng được quan tâm nhiều trên các hội
thảo, diễn đàn Trong một Tham luận tại tọa đàm khoa học “Nguyễn Quang Thiều
trong sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại” do Viện Văn học tổ chức, Đỗ Quyên đã
nhìn nhận, đánh giá khái quát thơ, trường ca Nguyễn Quang Thiều trên nhiều phương diện giá trị Trong bài viết này, trường ca Nguyễn Quang Thiều đã được nhận định về các mặt thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu cũng như nhìn trong sự tương quan với nhiều xu hướng Ông nhấn mạnh: “Rất nhiều tác giả (hậu) hiện đại cùng
Trang 7và sau Nguyễn Quang Thiều đã mở rộng khuynh hướng trường ca ra ngoài cảm hứng và giọng điệu hùng ca của trường ca cách mạng và chiến tranh, bằng sự ca tụng cái Chân - Thiện - Mỹ của con người, bằng sự xác quyết cái tồn tại của quê hương và dân tộc mà không thông qua các sự kiện xã hội, các đề tài nóng bỏng Đây chính là vật bảo đảm cho sáng tác trường ca trong bất kỳ nội dung và hình thức nào.” [88]
Năm 2011, Nguyễn Quang Thiều cho ra mắt tuyển Châu thổ, tổng hợp
những sáng tác thơ và trường ca tiêu biểu của ông Tuyển tập này đã nhận được
nhiều nhận xét, đánh giá của giới phê bình Nhận định chung đều cho rằng, Châu
thổ là một diện mạo khá hoàn chỉnh của cả tiến trình thơ Nguyễn Quang Thiều
Trong đó, ông tập hợp lại những trường ca tiêu biểu như: Nhịp điệu châu thổ mới
(1995), Nhân chứng của một cái chết (1998), Cây ánh sáng (2009) và rất nhiều
bài thơ giá trị trích từ tập Ngôi nhà 17 tuổi (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992)
lùng Cái lạ thứ nhất là ở nội dung truyền tải: một bầu khí hư thực thực hư, một
không gian trùng trùng của bến bờ thế gian không có những cột mốc biên giới, một
thời gian không có các thì hiện tại tương lai quá khứ, ngày và đêm xô vào nhau liên miên bất tuyệt, rồi những góa phụ, đàn ông, đàn bà phi lý lịch, lũ sinh vật có linh hồn và ý nghĩ, rồi thiện & ác, hy vọng và tuyệt vọng, tội lỗi và thánh thiện, vẻ đẹp và niềm kinh sợ, hoặc nghi và phẫn nộ, đau buồn và âu lo… cứ chen chúc
Trong một bài viết về Châu thổ, Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Loan cũng
nhận xét : “Chiều sâu tâm linh trong thơ Nguyễn Quang Thiều là hành trình đi tìm
vẻ đẹp của cuộc sống, là hành trình hướng tìm một đức tin đối lập với thế giới trần tục đầy mưu mô, dục vọng và tội lỗi, là hành trình hướng về nguồn với ký ức tuổi thơ sáng trong và thánh thiện ” [84]
Trường ca Nguyễn Quang Thiều còn được chú ý trên các tạp chí Những ám ảnh chi phối sáng tác, hình thức biểu hiện, cấu trúc thơ đã được nghiên cứu ở nhiều bài báo Tác giả Nguyễn Thị Hiền (Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Vinh) nhận xét trong một báo cáo: “Cái tôi khao khát kiếm tìm trong thơ Nguyễn Quang Thiều
Trang 8cũng hướng đến hiện thực mới- đời sống mới- đó là đời sống trong cái chết hay sự tái sinh từ hiện thực lụi tàn” [24,tr.20]
Trong một bài viết dài kì về cấu trúc thơ Châu thổ, tác giả Đào Duy Hiệp
đã nghiên cứu công phu về hình thức tổ chức câu thơ (trường ca), cách sử dụng những hình ảnh biểu tượng cũng như nhịp thơ của tập này Ông nhận xét: “Thơ
Châu thổ chủ yếu xoay quanh đề tài về làng quê, dòng sông, gieo cấy với những
số phận con người ở đó, nhưng nó vẫn khó tiếp nhận, vẫn nằm ngoài “tầm đón đợi” bởi tác giả đã chủ tâm từ bỏ “chiếc áo” hình thức, tức là cái vỏ thanh âm về vần luật, mà đi vào nhịp điệu ẩn giấu xuất phát từ nhịp của hình ảnh, liên tưởng, những đối thoại,…; và những câu thơ dài triền miên, “mộng mị”, những “ảo giác”,….” [72]
Có thể thấy sự quan tâm sâu sắc của các nhà phê bình, các tác giả đến trường ca Nguyễn Quang Thiều Các ý kiến tập trung vào cấu trúc thơ, các đề tài chính Trong các công trình, báo cáo đó ta đã thấy một dáng dấp trường ca rất riêng ở ông Một cái Tôi trữ tình có bộ mặt phức tạp nhưng lại thống nhất về cảm xúc Và hơn hết, ta cảm nhận được một thế giới tâm linh, thế giới của những suy ngẫm về cuộc đời Phương thức biểu hiện trong trường ca của ông rất đa dạng, phức tạp…Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một sáng tác, một tập thơ hay một khía cạnh nội dung nghệ thuật nhất định Chưa có một công trình nghiên cứu trọn vẹn sáng tác để tìm hiểu một cách hoàn chính về đặc điểm trường
ca của ông Vì vậy, đề tài Đặc điểm trường ca Nguyễn Quang thiều mong có thể
tổng hợp những ý kiến đánh giá và tìm hiểu qua hệ thống sáng tác của ông, từ đó rút ra đặc điểm về nội dung và phương thức biểu hiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích các tác phẩm trường ca của
Nguyễn Quang thiều được tập hợp trong tập Châu thổ (nxb Hội nhà Văn, 2011),
cụ thể gồm: Nhịp điệu châu thổ mới , Nhân chứng của một cái chết, Lò mổ, Cây
ánh sáng, Mười một khúc cảm (thơ dài )
Trang 9Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi so sánh với các trường ca trong giai đoạn khác, các tác phẩm trong giai đoạn đổi mới cũng như thơ của Nguyễn Quang Thiều Từ đó chúng ta có thể nhận thấy được những nét riêng biệt, sáng tạo đổi mới trong sáng tác trường ca của Nguyễn Quang Thiều và khẳng định được những đóng góp của ông với thể loại này và với văn học nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những yêu cầu như đã nói ở trên, ngoài việc vận dụng tổng hợp những kiến thức mang tính phương pháp luận như thi pháp học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại, chúng tôi chủ yếu sử dụng xen kẽ một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như:
5 Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Thể loại trường ca và trường ca Nguyễn Quang Thiều
Chương 2:Cảm hứng chủ đạo trong trường ca Nguyễn Quang Thiều
Chương 3: Phương thức biểu hiện trong trường ca Nguyễn Quang Thiều
Trang 10Chương 1 THỂ LOẠI TRƯỜNG CA VÀ TRƯỜNG CA NGUYỄN QUANG THIỀU
1.1 Khái niệm trường ca
Trong nền văn học thế giới, trường ca có một quá trình phát triển lâu dài Thể loại trường ca ra đời sớm nhưng được nghiên cứu như một thể loại muộn Vì thế, có nhiều khái niệm về thể loại này được đưa ra Vấn đề khái niệm trường ca không ngừng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý nhưng vẫn chưa được thống nhất như một khái niệm từ điển chung
Ở nhiều quốc gia, từ thời văn học cổ đại đã xuất hiện những tác phẩm dài
hơi nổi tiếng Có thể kể ra những tác phẩm tiêu biểu như: Iliat, Ôđixê, Thần khúc,
Ramay-ana và Mahabrahata Trong thời gian rất dài, nhiều nhà nghiên cứu đã có
quan niệm rằng: Đây là những tác phẩm trường ca sử thi xuất hiện sớm của lịch sử văn học nhân loại Tuy nhiên, nhà nghiên cứu về thể loại trường ca đạt được những thành tựu to lớn và nhận được nhiều ý kiến đồng tình nhất, Heghen đã xếp trường
ca sử thi thuộc loại hình thơ và khẳng định rằng “chính tính cách là một tổng thể nguyên sơ mà trường ca sử thi làm thành cái quý báu nhất, quyển sách, quyển thánh kinh của một dân tộc và mọi dân tộc lớn và quan trọng đều có” [20,tr.574]
Các nhà nghiên cứu văn học như Abramôvit, V.Ivanixenko đều cho rằng
trường ca có những đặc điểm như “tính hoành tráng”, “dung lượng lớn” Tuy thế,
đây cũng mới chỉ là những quan niệm mang tính chung chung Viện sĩ Gulaiép đã
đưa ra một quan niệm xác định hơn rằng “trường ca là những tác phẩm gồm nhiều
phần mang đặc tính sử thi và trữ tình Trường ca, đó là một kế tục trực tiếp của sử thi cổ điển và anh hùng ca” [41,tr.233] Về hình thức của trường ca hiện đại thì có
một số quan điểm cho rằng trường ca kể theo cốt truyện đã lỗi thời, và có một số ý
kiến khác lại nhận định: “Trường ca hiện đại không thể chỉ giới hạn ở hình thức
đối thoại trữ tình mà vẫn phải sử dụng cốt truyện” [22,tr.119]
Như vậy, chúng ta nhận thấy rằng việc nghiên cứu về thể loại trường ca trong văn học thế giới đã có một thời gian khá dài Tuy có nhiều quan niệm, nhưng
Trang 11nhìn chung, họ đã đưa ra được những ý kiến, những quan niệm sâu sắc, đứng đắn
về thể loại trường ca
Văn học Việt Nam vận động, phát triển theo quy luật của văn học thế giới Trong quá trình đó, có sự kể thừa những thành tựu của các nền văn học lớn hơn Chúng ta nhận thấy vấn đề này trong cách gọi và quan niệm về thể loại trường ca Điều này đã lí giải nguyên nhân vì sao trong một thời kỳ nhiều nhà nghiên cứu của chúng ta vẫn xem những tác phẩm văn học dân gian ra đời từ rất sớm như trường
ca Đam San, trường ca Xinh Nhã là những tác phẩm đặc sắc mang đậm màu sắc
quá khứ xa xưa và tràn đầy âm hưởng anh hùng ca Thậm chí, Trần Mạnh Hảo còn
xem Chinh Phụ Ngâm, Cung oán ngâm khúc là hai bản trường ca đầu tiên của văn
học cổ GS.Hà Minh Đức thì cho rằng: Hình thức trường ca dân gian thường có hai loại: Loại anh hùng và loại tạm gọi là tình ca Trường ca thiên về miêu tả tự nhiên,
những cuộc tình duyên éo le “đẫm máu và nước mắt” trong những hoàn cảnh éo le (như Xống chụ xon xao, Út lót vi điêu ) Tuy nhiên, ông cũng nhận thấy những
trường ca này có dáng dấp truyện thơ hơn GS Hà Minh Đức có quan niệm: “hình thức trường ca cũng đặc biệt phát triển với những chủ đề về đề tài cánh mạng trường ca là một hình thức truyện thơ, nhưng không phải bất kỳ một truyện thơ nào cũng là một trường ca hoặc có màu sắc trường ca” “Nội dung của trường
ca thường gắn liền với các phạm trù thẩm mĩ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả” [39,tr.328]
Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với âm hưởng hào hùng của thời đại, chính là mảnh đất màu mỡ để các thể loại văn học phát triển trong đó có trường ca Đặc biệt là, ngay trong những năm ác liệt của cuộc chiến
chống Mỹ, sự ra đời hàng loạt các tác phẩm trường ca như Bài ca chim Chơ rao
(1963) của Thu Bồn, Theo chân Bác(1970) của Tố Hữu, Sức bền của đất (1975)
của Hữu Thỉnh, Mặt đường khát vọng (1971) của Nguyễn Khoa Điềm đã đánh
dấu sự phát triển và thành công của thể loại trường ca trong văn học Việt Nam Những vấn đề xoay quanh trường ca cũng được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho rằng: “có hai loại trường ca là có cốt truyện
và không có cốt truyện, nhưng đều có đặc điểm chung là phản ánh được cuộc sống
Trang 12của nhân dân trong toàn bộ tính đa dạng của nó” [50,tr.118] Từ Sơn quan niệm:
“nếu còn gọi là trường ca chỉ nên dùng cho những truyện thơ có cốt truyện hoặc chỉ những bài tự sự dài chừng năm trăm, một nghìn câu thơ trở nên” [46,tr.119] Ngoài ra, còn nhiều ý kiến của các tác giả khác như Vương Trọng, nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh, nhà thơ Anh Ngọc về trường ca Và đặc biệt là quan niệm của Phạm Huy Thông cho rằng “tính linh hoạt” là đặc trưng của trường ca có thể được khởi nguồn từ những chiến bại Ông tâm sự: “vả lại, mẫu nào, công thức nào? Tôi có ý viết trường ca đâu! Tôi chỉ ham mê chất thơ Song, thơ tôi đã là trường ca Và sở
dĩ như thế, là vì chất thơ mà tôi ham mê- để khóc than, cũng là để ca ngợi-lại chính
là nỗi đau, nỗi đau to lớn của dân tộc khi đó ” [54,tr.19] PGS.TS Trần Ngọc Vương cho rằng tính chất tầm cỡ của thể loại trường ca là ở dung lượng, cảm hứng Ông khẳng định “một cảm hứng lớn như vậy chỉ có thể xuất hiện ở một thời đại cách mạng Phạm trù cái cao cả, cái anh hùng và cái bi kịch đều có thể tìm thấy chỗ đứng chắc chắn ở thể loại này”[60,tr.129] GS.TS Mã Giang Lân xác định thể loại dựa trên một số khía cạnh: Nội dung, đối tượng phản ánh, phương diện biểu hiện, hình tượng trung tâm và âm hưởng chủ đạo, ông khẳng định rằng trường
ca đã tiếp thu, vận dung và sáng tạo trên các yếu tố cơ bản của thơ trữ tình và sử
thi là kết hợp cả hai phương thức biểu hiện: Trữ tình và tự sự Trong Từ điển thuật
ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên có
định nghĩa trường ca như sau: “Trường ca là những tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca (Poème) cũng được dùng
để chỉ các tác phẩm sử thi (épopée) thời cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả” [19, tr.376]
Như vậy, các nhà nghiên cứu, nhà thơ của chúng ta gọi tên trường ca là xuất phát từ tên gọi một thể loại văn học của phương Tây Rõ ràng, họ đã đưa ra hai cách hiểu cơ bản về trường ca: Một cách hiểu là dùng để chỉ những tác phẩm có dung lượng lớn, một cách khác là những tác phẩm có độ lớn cả về nội dung và hình thức
Trong luận văn này, chúng tôi xin đưa ra khái niệm trường ca từ kết quả
tổng hợp, nghiên cứu của TS Diêu Lan Phương trong luận án “Thể loại trường ca
Trang 13trong văn học hiện đại Việt Nam”: Trường ca là những tác phẩm được viết bằng văn vần có kết cấu chặt chẽ, có nội dung cảm hứng lớn thường là những chiêm nghiệm gắn với các sự kiện thuộc về cái chung, của quê hương, đất nước, dân tộc, con người [43,tr.20]
Trên cơ sở khái niệm trên, chúng tôi sẽ đi sâu vào việc khảo sát và phân tích trường ca của Nguyễn Quang Thiều một cách hệ thống và khoa học nhằm tìm ra gương mặt thơ của tác giả với những nét độc đáo, cá biệt trong phong cách viết trường ca của ông Tất nhiên, trong dòng vận động chung của văn học, có nhiều yếu tố mới phát sinh mà khái niệm trên có thể chưa bao hàm hết, nhất là về trường
ca của Nguyễn Quang Thiều (đã chạm đến những đặc trưng mang tính hậu hiện đại trong sáng tác) Vì vậy, khi xem xét đặc trưng của trường ca, chúng tôi sẽ cố gắng thể hiện sự vận động của chính khái niệm
1.2 Trường ca Việt Nam và ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại
Bối cảnh hiện đại mở ra một cuộc sống tiện nghi Các phương tiện thông tin liên lạc, giao thông, những phát minh mới từng ngày, từng giờ, tất cả những điều
đó nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Đối với hậu hiện đại, mọi sự thật vĩnh hằng
có nguy cơ biến mất, thay vào đó là những biểu hiện phức tạp, đối lập của cuộc sống Thời hậu hiện đại là thời của sự lựa chọn không ngừng, nó là hệ quả của sự bùng nổ thông tin Đó là một thời không phải chỉ thuộc về những người giàu có mà mỗi người đàn ông đều trở thành một công dân thế giới và mỗi người đàn bà là một cá nhân được giải phóng Khoa học hậu hiện đại nghiên cứu những bấp bênh,
vô thường của đời sống Khắp nơi, người ta nói về một thế giới phẳng, thế giới không khoảng cách Tuy nhiên, cũng chính lúc con người tưởng chừng có thể vươn cao, vươn xa bằng những khả năng mà thế hệ trước đó không ngờ tới thì cũng là lúc mà họ bất lực trước những điều gần gũi nhất Con người học cách kiếm sống nhưng lại quên đi cách sống, con người tìm ra được đến hạt nhân nguyên tử những lại bất lực khi tìm tâm hồn chính mình Đó được gọi là nghịch lý của thời đại Tất cả gần như bị cuốn vào vòng xoáy đó Người ý thức được nghịch lý thì đau khổ, khắc khoải nhưng bất lực Kẻ không ý thức được thì dĩ nhiên bị cuốn đi,
Trang 14cứ tồn tại, cứ tồn tại nhưng hiếm giây phút nào được sống Những trăn trở về nghịch lý đó được thể hiện thông qua những sáng tác nghệ thuật Và thế giới thế kỷ
XX là một diện mạo nghệ thuật chưa có bao giờ Những nhà hiện đại đòi hỏi nghệ thuật trở nên tiên nghiệm và siêu việt Trong đó, hầu như mọi sự việc và con người đều bị bóp méo; tính trung thực và lành mạnh bị phế bỏ; nhân vật tùy tiện không thể giải thích nổi vì chính tác phẩm cũng tồn tại như một ẩn dụ về sự phá vỡ trật tự (phá vỡ trật tự thời gian, sự nhại phỏng, phá vỡ cấu trúc) Họ không thích sự liền mạch và kết thúc trong truyện thuyền thống, mà ưa chuộng phương thức đa kết, bằng cách ban cho một cốt chuyện rất nhiều hệ quả có thể có được Tác giả có thể trực tiếp nói chuyện với độc giả, còn tự bước vào truyện như một nhân vật Vài tác giả còn phá vỡ kết cấu văn bản, trong những khoảng trống, nhà văn ghép vào những trích dẫn, hình ảnh, biểu đồ, đồ thị, bản thiết kế… hoàn toàn không quan hệ
gì đến câu chuyện Có bản văn có màu khác nhau, chữ in đậm, in nghiêng, kiểu chữ Gothic, chữ viết tay, dấu ký âm, dấu nhấn giọng, và cả những thứ linh tinh những cột, những chú thích chen chúc bên cạnh những vết bẩn tách cà phê, dấu hoa thị…Các nhà phê bình cho rằng, tất cả những sự khác thường đó của bút pháp hậu hiện đại, cái triệu chứng rối loạn ngôn từ, là do trong sự rạn nứt của xã hội tư bản Chủ nghĩa Hậu hiện đại cũng như mọi trào lưu đã xuất hiện khác đều có phần
có lý Tư tưởng chống giáo điều, chống khuôn mẫu xơ cứng, áp đặt; đấu tranh cho bình đẳng, dân chủ, vai trò cá nhân; phá vỡ những quy phạm nghệ thuật mòn cũ…
là những mặt tốt
Văn học Việt Nam nằm trong vùng của văn học phương Đông, chịu sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc Trước thế kỷ XX, văn học Việt Nam phát triển trên những đặc điểm, quy luật vận động chung của văn học vùng Từ thế kỷ XX, cùng với trào lưu Âu hóa, văn học phương Đông vận động chung cùng với những quy luật của văn học phương Tây Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong sáng tác của nhiều cây bút trưởng thành sau 1975 như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh…Một số cây bút vốn trước đây còn
ít nhiều nặng tình nặng nghĩa với cảm hứng lãng mạn hoặc đổi mới một cách rụt rè
Trang 15cũng bắt đầu nhập vào dòng thơ hiện đại Những tác phẩm mang tính hiện đại và hậu hiện đại thể hiện được chân dung tinh thần của thời đại công nghiệp cũng như tâm thức của con người trong xã hội hiện nay Chính điều đó mới là nhân tố quyết định, nó đòi hỏi phải có một hình thức tổ chức diễn ngôn mới, cách tạo âm và tạo nghĩa mới Đến lượt mình, cách tổ chức diễn ngôn ấy chính là những tín hiệu cho phép người đọc nhận thấy một trật tự tinh thần mới nằm sâu trong hệ thống ký hiệu được gọi là văn bản ngôn từ Vì thế, việc thúc đẩy tính hiện đại trong thơ không phải là chạy theo những thời thượng nghệ thuật mà quan trọng hơn, nhà thơ phải thể hiện được tinh thần hiện đại trong tác phẩm của mình Nói như nhà văn Lê Anh Hoài : “Chủ nghĩa tân cổ điển tuyên bố: Cái đẹp đã trở lại! Nhưng đâu phải sáng tác hậu hiện đại thì toàn hướng về/ khai thác cái xấu xa và kinh dị Với sáng tác hậu hiện đại, nhà văn và nghệ sĩ cố gắng đưa ra một cái nhìn khác về cái đẹp, mở rộng biên độ và chiều kích của cái đẹp Ở rất nhiều sáng tác của cả hai loại, người
ta thấy điểm chung, đó là sự pha trộn, đa tạp, lưỡng phân Nhưng khi hậu hiện đại tiếp tục chống lại nhất cực thì tân cổ điển lại đang nỗ lực xây dựng một cực dựa trên “cái đẹp”[81] Trường ca VN cũng ảnh hưởng bởi xu thế trên Trường ca
Cánh đồng bất nhân của Lê Vĩnh Tài phản ánh tinh thần phản tư, thông qua giọng
điệu giễu nhại và đầy phản biện, nó thể hiện nỗi bất bình của người nghệ sĩ trước thực trạng xã hội Đến Nguyễn Quang Thiều, xu thế đó đươc phát triển qua nhiều
trường ca: Nhịp điệu châu thổ mới, Cây ánh sáng, Lò mổ
Các trường ca chịu tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại ở nhiều khía cạnh Điều đó được thể hiện nhiều ở các tác phẩm lệch chuấn Đối tượng mà trường ca hậu hiện đại hướng đến không còn là những vấn đề lớn mang cảm hứng sử thi mà
là thế giới nội tâm phức tạp, những ẩn ức, những sợ hãi , những bản năng…Nội dung đó được thể hiện bằng hình thức kết cấu, giọng điệu đa dạng Vượt qua sự trúc trắc, lạ lẫm về hình thức, ngôn ngữ các tác giả trường ca luôn muốn thể hiện chân thực nhất tinh thần của thời đại đặc biệt là những sự mất mát, tổn thương tinh
thần của con người hiện đại Các sáng tác như Trầm tích (Hoàng Trần Cương),
Cánh đồng bất nhân (Lê Vĩnh Tài), Lò mổ (Nguyễn Quang Thiều)…đều mang ít
nhiều dấu ấn đó
Trang 161.3 Nguyễn Quang Thiều trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại
1.3.1 Nguyễn Quang Thiều và nền văn học hậu chiến
Thời hậu chiến mở ra nhiều mảng hiện thực phong phú Không khí chiến thắng bao trùm đất nước Vì vậy, các tác phẩm văn học giai đoạn đầu sau hậu chiến vẫn mang cảm hứng sử thi: Tái hiện lại những gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của những người anh hùng…Các tác phẩm nổi tiếng
có thể kể đến như: Tháng ba ở Tây Nguyên của Nguyễn Khải, Nắng đồng bằng của Chu Lai, Con đường của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Sông núi trên vai , Điệp khúc vô danh của Anh Ngọc…
Từ 1986, không khí sử thi lắng dần, thay vào đó là sự xuất hiện của hàng loạt sáng tác mang xu hướng đổi mới Ở đây không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, vấn đề mà còn là ở tư duy nghệ thuật, cảm hứng, cách viết… Nếu trước đây Lê
Lựu là Người về đồng cói, Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng Nếu Ma Văn Kháng trước đây là Xa phủ thì bây giờ là Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới
không có giấy giá thú Nếu Nguyễn Quang Sáng trước đây là Chiếc lược ngà, Mùa gió chướng… thì bây giờ là Tôi thích làm vua, Thế võ… Rõ ràng trước một hiện
thực mới, một công chúng mới không cho phép tác giả viết như cũ Sự đổi mới của các tác giả do đó gần như là một tất yếu sống còn của chính họ
Trên lĩnh vực thơ, xu hướng đổi mới cũng được hưởng ứng sôi nổi Thơ Việt Nam đã có một hành trình mới với nhiều tìm tòi đột biến cả về nội dung và hình thức Thơ của họ gần gũi với cuộc đời, với thiên nhiên, với tâm sự buồn vui của con người hơn Thơ của họ nghiêng về phía những cá thể và là tiếng nói thân phận Có một thực tế cần xác định là thơ mới khó đọc hơn thơ cũ, không chỉ vì năng lượng tư tưởng của thơ có nhiều dạng thức mới, mà còn bởi sự chối bỏ vần điệu của thơ tự do khiến cho nhiều độc giả quen thưởng thức thơ có vần điệu thấy khó vào, khó hiểu Có thể nói, ngòi-bút-thơ của các nhà thơ sau 1975, đặc biệt là sau 1986 đã chủ động tìm tòi hơn để vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ thuật mới Cũng viết về cuộc chiến tranh đã đi qua, nhưng
Trang 17các nhà thơ đã hướng tới những số phận, khắc hoạ được những nỗi đau mất mát,
nó thấm thía và lay động lòng người hơn trước Nỗi buồn được cảm thông và chia
sẻ trong thơ họ rất thật, nó mệt mỏi, nhức đau như chính cuộc đời Đọc thơ họ, chúng ta có cảm giác vừa đi qua một cánh rừng rậm đặc, trong bóng đêm ẩm ướt của những câu thơ đang tuôn trào như một sự hối thúc ám ảnh Thơ của họ như bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, suy ngẫm và ý tưởng-cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm Những day dứt của đời thường để lại không ít vết thương trong trái tim nhà thơ Sự thật khắc nghiệt mà họ phải nếm trải đã dội đập vào thơ họ đến tức ngực-làm thơ họ bừng tỉnh Đọc thơ họ, ta như được tham dự vào những nỗi khổ đau và hy vọng đã làm nên gương mặt của mỗi số phận Các nhà thơ này đã mang lại những phát hiện mới, có giá trị khắc hoạ bằng ngôn ngữ của thơ, nỗi đau của những phận người - cái mà chỉ ít năm trước đây, không ít người làm thơ còn né tránh Họ đã chạm được vào cõi sâu của tâm hồn, không chỉ bằng sự phá vỡ sắc cạnh của lý trí mà còn bằng cảm xúc của trái tim, điều đó làm cho người đọc thấy gần gũi và đồng cảm với nhà thơ, khi độc giả không bị áp đặt bởi một chủ thể ngôn ngữ có ý định mà được tham dự cùng tác giả vào những cảm xúc được tái hiện từ cái chất liệu đời thường còn rớm máu và khó nhọc này Sự dồn nén, bức xúc của tâm trạng bật dậy trong họ những câu thơ không chịu bằng phẳng và sự chuyển tiếp của những nỗi niềm, những ẩn ức đang còn khuất lấp trong tâm hồn thi sĩ đã tự tìm cho mình một hình thể mới, một nhịp vận động riêng trong cách tổ chức câu chữ và những bài thơ đổi mới của họ ra đời Trong “ngôi nhà chung” của nền văn học đất nước, mỗi thế hệ đều có những chân dung thơ ca riêng phản ánh thời đại của mình Và những giá trị văn học của các thời đại đều tồn tại một cách bình đẳng trong ngôi nhà văn học của đất nước, mỗi thế hệ cầm bút đều có một diện mạo riêng, nên họ không giống nhau và không thể lẫn vào nhau Mỗi thế hệ thơ mới phải tìm cho mình con đường đi vượt lên mọi thiên kiến
và sự trì trệ ngăn cản con đường phát triển của văn học hiện đại, để thiết lập những giá trị mới về nghệ thuật thi ca hiện đại
Năm 1986 là một mốc quan trọng của đất nước Có thể nói, cùng một lúc, văn học đứng trước hai luồng gió lớn lớn: Sự đổi mới của thế giới, sự đổi mới của
Trang 18đât nước Tất cả những yếu tố đó tác động đến các tác giả, đặt họ trong những cơ hội và những thách thức mới Âm hưởng thời đại mới cũng được thể hiện trong nhiều sáng tác cả văn xuôi lẫn thơ trong đó có các tác giả tiêu biểu như: Hoàng Trần Cương , Trần Anh Thái, Nguyễn Thụy Kha, Mai Văn Phấn, Lê Minh Quốc, Nguyễn Quang Thiều, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Linh Khiếu… Nội dung mà các nhà thơ hướng tới không chỉ là vấn đề chiến tranh với những chiến thắng hay mất mát của nó mà còn là những vấn đề của cuộc sống đời thường, của những cảm xúc, trăn trở rất riêng mà nhức nhối
Đây cũng là giai đoạn nở rộ thể loại trường ca Xét về mặt thể loại, trường
ca xuất hiện từ lâu qua những áng sử thi đồ sộ Trong văn học Việt Nam hiện đại, trường ca cũng được Xuân Diệu sử dụng ngay khi Cách mạng tháng Tám thành
công qua hai tác phẩm Ngọn Quốc kỳ và Hội nghị non sông (mặc dù sau này chính
Xuân Diệu không mấy thiện cảm với thể loại này) Tuy nhiên, khi nói về trường
ca, các nhà nghiên cứu chú ý nhiều hơn đến sự xuất hiện của trường ca thời chống
Mỹ mà một trong những cây bút tiên phong và nổi bật là Thu Bồn (Bài ca chim
Chơ rao) Tuy hoàn cảnh lịch sử đã có phần thay đổi, nhưng sự xuất hiện của rất
nhiều tác phẩm trường ca vào những năm cuối thể kỷ XX cho thấy thể loại này vẫn còn tiềm năng phong phú mặc dù đã có dấu hiệu lặp lại người đi trước ở một số cây bút
Nguyễn Quang Thiều là một tác giả sáng tác chủ yếu trong giai đoạn đổi
mới Sau tập thơ đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi (1990), năm 1992, Nguyễn Quang Thiều xuất bản tập thơ Sự mất ngủ của lửa Đây là tập thơ khẳng định sự cách tân của Nguyễn Quang thiều cả về mặt cảm hứng và thi pháp Sau năm 1975, giữa lúc đội
ngũ đông đảo các nhà thơ trong nước còn mơ hồ, ngờ hoặc về yêu cầu cách tân
thơ, thì tập thơ Sự mất ngủ của lửa của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Nxb Lao
động, 1992) đã cất tiếng nói khẳng định, đặt dấu mốc quan trọng khai mở dòng chảy thi ca cách tân trở về sau Tập thơ đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993, và, nhanh chóng làm xáo trộn tư duy đời sống thơ ca đương đại Ánh sáng của tập thơ đã lan tỏa, tác động tích cực, sâu rộng trong đời sống thơ ca Việt,
gây hiệu ứng dây chuyền Từ đây, bắt đầu xuất hiện nhiều tác giả trẻ với những
Trang 19cách viết mới lạ, nhiều khuynh hướng mới được hình thành Sự mất ngủ của lửa là
cột mốc cho dòng chảy cách tân Buổi đầu nó đã làm dấy lên những ý kiến tranh luận nhiều chiều, đa dạng Hai mươi năm trôi qua cho phép chúng ta nhìn nhận
một cách khách quan giá trị của Sự mất ngủ của lửa Với tập thơ, Nguyễn Quang
Thiều thực sự đã làm cuộc vượt thoát ngoạn mục khi bỏ lại sau lưng những vần điệu, thói quen, cách nhìn đơn tuyến mà ta từng thấy trong tập thơ đầu tay của ông
- Ngôi nhà 17 tuổi (Nxb Thanh niên, 1990) Nhìn tổng quan về thi pháp, thơ Nguyễn Quang Thiều trong Sự mất ngủ của lửa đã kiến tạo thành công những kết
cấu mới, mở ra những liên tưởng phi tuyến tính, và đặc biệt, tạo những hình ảnh lạ lẫm, trương nở, chuyển động nhanh, khác hẳn với những quy luật cũ Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều và một số nhà thơ xuất hiện sau năm 1975 đã hướng đến một trường tư duy thẩm mỹ mới và hiện đại Thơ của họ đã vượt thoát khỏi những khuôn sáo ước lệ của vần điệu để thắp lên những hình tượng thơ mới với không gian thơ được mở rộng hơn, mở sâu hơn, với tới các chiều kích của những suy tưởng lớn mang tính khái quát cao Thơ của ông như một bản giao hưởng của rất nhiều khái nhiệm, cảm giác, ý tưởng và suy ngẫm- cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm
Năm 2009, ông viết trường ca Cây ánh Với trường ca này, Nguyễn Quang
Thiều được coi là nhà thơ đầu tiên, bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của mình, đã xác lập một giọng điệu mới Trường ca của ông được đánh giá là khó đọc, kén chọn độc giả Nó chứa đựng nhiều cái mới nhưng đó không phải là sự
cố ý phô trương, rắc rối hay phức tạp hóa mà đó chỉ là nỗ lực của tác giả trong khát vọng nắm giữ suy nghĩ, nắm giữ tâm hồn trong cuộc sống bộn bề, trong mê lộ cuộc đời mà con người đang lạc lối Đó chính là cái khó nhất khi tiếp nhận nhưng cũng
là cái cuốn hút nhất trong trường ca Nguyễn Quang Thiều
Cùng với một số tác giả khác, thơ Nguyễn Quang Thiều đã góp phần tạo nên sự thành công và phát triển của thể loại thơ hiện đại Việt Nam Trong đó một phần lớn làm nên phong cách độc đáo chính là những sáng tác trường ca
Trang 201.3.2 Thành tựu trường ca của Nguyễn Quang Thiều
Nguyễn Quang Thiều đến với trường ca Việt Nam khi giai đoạn nở rộ của trường ca mang cảm hứng sử thi đã lắng xuống Ông mang đến những sáng tác
mới mẻ cả về cảm hứng, thi pháp Trong các sáng tác như Nhân chứng của một cái
chết, Cây ánh sáng, Nhịp điệu châu thổ mới, Lò mổ …ta vẫn bắt gặp những cảm
xúc lớn nhưng nó không còn mang tính sử thi hào hùng mà lại là những trắc ẩn về cuộc đời, thân phận đôi khi cả sự khắc khoải về cái chết Nguyễn Quang Thiều khai thác trạng thái khó có thể thấu hiểu, thổ lộ của con người hiện đại, và hơn ai hết, ông nói được sự cô đơn, cô độc về tinh thần của con người Về cơ bản, có thể coi ông là một trong những người mở đầu cho một giai đoạn văn học mới trong đó cũng mở đầu cho một giai đoạn trường ca mới
Nói đến thành tựu của trường ca Việt Nam sau năm 1975, chúng ta không thể không nhắc đến những cái tên tuổi gắn liền với thể loại này như Thu Bồn, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Anh Ngọc Nhưng nếu chúng ta bỏ qua Nguyễn Quang Thiều thì sẽ không thể thấy được một diện mạo đầy đủ của trường
ca đổi mới
Tuyển thơ Châu thổ của ông vừa được nhà xuất bản Hội nhà văn ra mắt
năm 2011 Ở một mức độ nhất định, tuyển thơ cho ta thấy một phong cách, một tài năng Nguyễn Quang Thiều qua một chặng đường sáng tác của ông Tuyển thơ là
sự tổng hợp 114 tác phẩm từ thuở đầu tay Ngôi nhà 17 tuổi (1990) đến nay Nhà
thơ Mai Văn Phấn viết trong lời tựa cuốn Châu thổ: “Thế hệ sau 1975, Nguyễn
Quang Thiều là nhà thơ cách tân toàn triệt sớm nhất, anh hướng đến các nhà thơ trẻ mạnh mẽ nhất, tạo dư luận đa chiều sôi nổi nhất nhiều bạn trẻ say ông như điểu đổ Cũng không ít những nhà thơ thế hệ trước chửi ông như hát hay, từng gắn mác “thơ dịch” cho những bài thơ mới lạ của ông Nhưng sau cơn bốc đồng chê như hắt nước đổ đi, họ cũng lặng lẽ nhận ra: Từ nay họ không thể viết như cũ”
[58,tr.4] Tuyển thơ Châu thổ cũng là tổng hợp những trường ca ông đã sáng tác
Bản thân sự tổng hợp đó đã cho ta một cái nhìn đánh giá tổng quát những thành tưụ về nội dung, nghệ thuật trong một quá trình dài
Trang 21Trường ca Nhịp điệu châu thổ mới (1995), lần đầu tiên được xuất bản năm
1995 đã thể hiện những cái rất quen mà rất lạ trong sáng tác của ông Nguyễn Quang Thiều một lần nữa lại mang người đọc về vùng châu thổ sông Hồng, nơi người ta biết chắc ông sẽ lại nhắc đến làng Chùa, một dải đất ven sông quanh năm nâu nâu màu phù sa, xanh xanh màu bến bãi Hơn cả cảnh vật là những con người làm nên chất đất, hồn quê Ở đó là bản nhạc đồng vọng của cả người già, người trẻ, của cả đàn ông, đàn bà, của cả người sống, người chết Cũng cảnh ấy, người ấy nếu trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ ta thấy thật bình yên Cái tình của thơ, nếu
có, cũng là những cái tình nhẹ nhàng, những trăn trở của chàng trai quê về cô gái:
Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua
em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều Nhưng trong trường ca Nhịp điệu châu thổ mới, tưởng chỉ là một câu chuyện đưa đám ma mà lại là cả những
dấu hỏi lớn về cuộc đời, sự sống, lẽ sống Nhịp điệu châu thổ mới biểu đạt thế
giới của một câu bé Cậu mang khát vọng và trí tưởng tượng của mình soi rọi vào biển cuộc đời bề bộn chồng chất với vô vàn sự kiện, hình ảnh, âm thanh, màu sắc Cậu xác lập khát vọng (bằng thế giới của mình) trong thế giới với những cảnh tượng hùng tráng của người lớn Với những cải biến trong nghệ thuật ngôn từ, hình ảnh, kết cấu, Nguyễn Quang Thiều đã khiến cho từng dòng thơ trườn dài như những cơn mê sảng Cơn mê sảng mà con người hiện đại ai cũng gặp trong cuộc sống bộn bề này
Trường ca Nhân chứng của một cái chết (1998) một lần nữa khẳng định
phong cách Nguyễn Quang Thiều Thế giới mà ông dấn thân vào vừa cụ thể vừa
mơ hồ Cảm giác đầu tiên ông cho người đọc thấy qua trường ca này đó là sự mệt mỏi Mệt mỏi trước những con chữ nặng nề Câu chuyện về một cơn mưa nơi thị
xã với những kiếp người, những sự vật tưởng như rất quen thuộc Nhưng trong cả mười chín khúc, ta không thể tìm đâu một mạch tự sự thống nhất qua chuỗi sự kiện
để có thể thâu tóm, khái quát nội dung Với trường ca này, Nguyễn Quang Thiều
đã phá bỏ mạch tự sự, vốn là một đặc điểm quen thuộc của trường ca chống Mỹ và trước đó Cái ông hướng tới là mạch trữ tình, nó là thứ cảm xúc mơ hồ, không giới hạn không gian, thời gian, sự việc Nó thoắt ở quá khứ, rồi hiện tại Có khi cuộc
Trang 22đời dằng dặc với bao lo toan, thăng trầm chỉ hiện lên qua một khoảng khắc kí ức của người phụ nữ sắp sinh con Không nhân vật chính, không mạch sự kiện chính,
Nhân chứng của một cái chết chỉ đề cập đến tình huống cuộc đời, một ngày mà ai
cũng có, ngày giã từ cuộc sống Đó cũng là một hướng quen trong sáng tác của
Nguyễn Quang Thiều như Chu Văn Sơn nhận xét: “Thơ Thiều, bắt đầu từ Sự mất
ngủ của lửa, cứ nhạt dần phần dương để ngả sang phần âm của đời sống Thiều sẽ
miệt mài nắm bắt những chuyển động, những sinh nở và biến ảo trong thế giới của bóng đêm, cơn mơ và chốn siêu sinh Thời gian đêm lấn át Không gian âm vây phủ”[93] Nhưng, hơn tất cả, Nguyễn Quang Thiều không nói để bi quan mà nói để
thức tỉnh Một khát vọng được làm “nhân chứng”, làm một nhân chứng để khẳng định với tất cả loài người rằng: Ai cũng phải chết, dù khổ đau, dù cô đơn hay giàu
sang, hạnh phúc Nhưng nhân sinh u mê Kẻ khổ thì than vì nghĩ mình khổ mãi, kẻ
giàu sang thì kiêu hãnh vì nghĩ mình giàu sang mãi Tất cả đều là sự nhầm lẫn, con người đang bị lạc lối trong chính những mê lộ của chính mình, không ý thức được
mê lộ ấy, càng không thoát được mê lộ ấy Và nhân chứng chứng kiến tất cả là
dòng sông, là con đường, là cơn mưa, “Chúng” nhìn loài người như ta nhìn lũ
kiến đang hỗn loạn khi bị dội nước Ông đã nói lên một hiện thực của tất cả chúng
ta rằng cuộc đời đang bị phung phí không gì quay lại được Một câu chuyện về cơn mưa thị xã, một chân lý thức tỉnh đọng lại cuối cùng, đến đây ta lại thấy tất cả những ngôn từ, những hình ảnh xô bồ tưởng đau đầu kia đã trở nên đơn giản hơn bao giờ hết Thì ra, Nguyễn Quang Thiều không phải là một nhà truyền giáo, ông vẫn đời thường lắm vì trong cái câu chuyện về cơn mưa thị xã kia, ông không phải
là một nhân chứng mà cũng là một kiếp nhân sinh bé nhỏ đang đau đớn trước những thác lũ của tạo hóa Đó cũng là lí do người ta nói, Nguyễn Quang Thiều lạ đấy mà cũng quen đấy
Trường ca Lò mổ (2008) đã thực sự gây được ấn tượng cả về nội dung lẫn
nghệ thuật Đọc trường ca này, người đọc có cảm giác bị kéo vào một thế giới hiện thực sắc lạnh Lấy bối cảnh là một lò mổ bò ngoại ô thị xã nơi mình sống, tác giả
đã phác họa một thế giới hiện thực kinh hãi, tàn nhẫn với những câu hỏi khắc
khoải bao con người “Đời sống chúng ta đang sống có thực sự là một đời sống
Trang 23không?” Đó là câu hỏi đau đớn nhất nhưng chứa đựng khát vọng mãnh liệt về Tự
do của nhân vật chính trong Lò mổ Ta thấy xuất hiện trong Lò mổ những hình
ảnh, cảnh tượng hiện thực nhất của từng con bò bị chọc tiết, những cái đầu bò bị cắt rời với đôi mắt vẫn mở, những chiếc chum sành đựng máu bò, cột trói, dây thừng, búa, dao chọc tiết… những bát tiết luộc nóng hổi với rau thơm rất hấp dẫn
và nụ cười mãn nguyện, thanh thản của chủ Lò mổ sau một đêm mệt nhoài vì phải
tưởng, tưởng tượng bi đát của nhân vật về cái chết và sự phân hủy”[43,tr.90] Viết lên những cảnh tương phản và thể hiện trong đó khá nhiều trăn trở nhưng Nguyễn Quang Thiều không muốn luận đàm gì về Thiện -Ác ở trường ca này Có một điều chắc chắn, ông muốn phác họa lên những góc cạnh khác nhau của cuộc sống trên cùng một mặt phẳng Phơi ra đó những nghịch lí để người đọc thấy, sự sống, sự mưu sinh của một đối tượng này có thể là sự hủy diệt của một đối tượng khác Đau
đớn ớ chỗ: Tất cả đều có quyền được sống như nhau Tạo âm vang trong Lò mổ là
câu hỏi lặp lại đầy ám ảnh “Đời sống chúng ta đang sống có thực sự là một đời
sống không?” Bằng nhiều cố gắng trong việc đổi mới lối viết, Nguyễn Quang
Thiều đã cố ý đưa vào Lò mổ những “chuột cống”, “chửi tục”, âm hộ”, “dạ con”,
“thủ dâm”, “loạn luân”, “ngoại tình” cùng rất nhiều hình ảnh có vẻ “phản cảm” Hiện thực hiện lên trần tục, trần trụi qua ngôn ngữ đôi khi làm người đọc thấy rùng mình Nhưng đằng sau sự rùng mình đó có khi lại là cảm giác chột dạ vì trong ngóc ngách tâm hồn mỗi người cũng đều có ít nhiều những nghịch lí, những vết
đen nhân cách mà Nguyễn Quang Thiều đã nói tới Có thể nói, Lò mổ là trường ca
kéo Nguyễn Quang Thiều gần xu hướng hậu hiện đại nhất Thế giới cảm xúc của nhân vật hoàn toàn bị đảo lộn, phi trật tự không gian, thời gian Những ám ảnh cũng chồng chéo, lời thoại không đầu không cuối Đặc biệt là cảm giác cô đơn,
quẩn quanh, lạc lối của con người trong chính hành trình cuộc sống của mình Lò
mổ đã thể hiện những ám ảnh nhân sinh lớn.
Với trường ca Cây ánh sáng (2009), Nguyễn Quang Thiều đã hướng thơ hiện đại sang một làn đường mới Nếu ánh sáng trong tập thơ Sự mất ngủ của
lửa là ngọn đuốc, đèn pha, thì ánh sáng trong tập thơ Cây ánh sáng được hắt lên từ
Trang 24đường chân trời rạng đông, cho ta nhìn thấy hết vẻ đẹp trinh nguyên, bất tận của một sớm mai tuyệt đẹp Cho ta biết được một ngày mới đang đến với bao khác biệt, nhiều bí ẩn, bất ngờ Bằng những chuyển động tất yếu tuân theo quy luật tự
nhiên, tập thơ Cây ánh sáng cho chúng ta được quyền tin yêu và hy vọng vào những điều tốt đẹp trên thế gian này Tập thơ, trong đó có trường ca Cây ánh sáng
đã được người đọc chờ đợi sau một thời gian dài và qủa thật nó đã không khiến người đọc thất vọng Lại một lần nữa Nguyễn Quang Thiều đưa vào trong trường
ca thế giới huyền ảo, cảm xúc mơ hồ khó nắm bắt Người ta cứ phải tập trung tối
đa giác quan để mong có thể không bị bỏ rơi khỏi trang sách Có gì đó như cơn lốc
mà chúng ta mới chỉ phát hiện mà chưa thể nắm bắt Thế giới ánh sáng nhưng lại không thiếu bóng tối Tất cả làm nên sự huyền ảo của không gian, thời gian Với trường ca này, Nguyễn Quang Thiều đã mang đến những câu chuyện thần tiên nhưng ngay cả chúng cũng không có logic, tưởng như là phi lí Chất hậu hiện đại thể hiện rất rõ trong sáng tác này Những trạng thái không tưởng của cảm xúc, sự đứt mạch, sự hỗn loạn tất cả đã làm nên một cú huých với văn học nói chung và trường ca nói riêng Cơn lốc hậu hiện đại của thế giới từ thế kỷ XX giờ đã cuốn đến Việt Nam, và trường ca Nguyễn Quang Thiều không nằm ngoài cơn lốc ấy
Chu Văn Sơn nhận xét : “Trong Cây ánh sáng, một trường ca ngắn về mối băn
khoăn truy tìm bản thể mình, Thiều có hình dung thi sĩ như một hỗn thân với bao đối cực kiểu cái tôi đa ngã: con côn trùng, con lạc đà, con đại bàng, con sói, con đỉa khổng lồ, ngôi sao cô độc Rồi cuối cùng, theo lối qui nạp, các mảnh ẩn dụ ấy
được qui tập về trong cặp đối cực gốc là phần sáng và phần tối: “Mi là ta bóng tối
và ta là mi ánh sáng” [93] Trường ca có tính chất hoa tiêu, mở ra chắc chắn một
giai đoạn mới, một lối sáng tác mới để phù hợp với những cảm hứng mới đang vận động thay đổi từng ngày Những đặc điểm quen thuộc của trường ca trước đây như tính vĩ mô, tính sử thi đã dần chuyển sắc sang chiều sâu, sự mờ ảo, siêu thực Cái hay là ở chỗ, nằm trong quy luật chung nhưng Nguyễn Quang Thiều về cơ bản vẫn giữ được lớp áo quen thuộc của mình Một giọng điệu trình bày, kể lể thúc giục thoang thoảng chất tâm linh Nhưng hơn hết, trường ca của ông là khát vọng hướng đến sự sống
Trang 25Trong dòng thơ cách tân sau 1975, cách nói tỉnh táo và sắc lạnh là đặc trưng nổi bật được thể hiện rõ nét, mang đậm phong cách riêng của Nguyễn Quang Thiều Đó là sản phẩm tinh thần tất yếu của sự cảm nhận đời sống công nghiệp
hiện đại, của lai giống, nhân bản, vi mạch, tốc độ Hiện thực khắc nghiệt của đời
sống và hiện thực tiên tri, tưởng tượng được khúc xạ, thăng hoa, hắt sáng từ cảm quan đặc biệt của thi sĩ Tất cả được hiện hữu trong thơ Nguyễn Quang Thiều vừa đau đớn vừa da diết, lạnh lùng Ông luôn thổn thức và hân hoan, đau đớn và thất vọng trong tư thế một công dân đầy trách nhiệm Nhiều lúc Nguyễn Quang Thiều đã nhìn thấy cả những vẻ đẹp lộng lẫy, gần gũi tưởng như có thể chạm được tay vào, nhưng như bao người cùng thế hệ, có lúc ông thấy, cũng như ai đó đã kiệt sức không thể bước thêm được nữa Bằng ngôn ngữ thơ giàu tính phân tích, xác đáng, tựa như một bác sĩ phẫu thuật lách lưỡi dao mổ tìm đúng khối u cần giải phẫu, thơ Nguyễn Quang Thiều cho chúng ta bình tĩnh thấy được cốt lõi, cả mặt trái của đời sống, thấy được những khiếm khuyết, bệnh tật, và cả ung nhọt thậm sâu trong từng cơ thể Hiện thực đời sống trong thơ Nguyễn Quang Thiều hiện lên phức tạp và đa diện, từ mặt người, mặt ma quỷ, mặt súc vật, mặt gỗ Đọc thơ ông thấy cái Ác và cái Thiện luôn xung đột dữ dội, từ đó thoát ra niềm khát khao muốn
đồng hóa nhau với đủ mọi sắc thái Như đã trình bày, tập thơ Sự mất ngủ của
lửa là bước khởi động nhưng lại chính là cột mốc quan trọng cho lộ trình cách tân
thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều Những tập thơ khác tiếp nối là các chi tiết tiếp theo để hoàn chỉnh từng phần các hạng mục giàn giáo, cột kèo, trang trí cho
lâu đài thơ của riêng Nguyễn Quang Thiều Nhịp điệu châu thổ mới (Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây xuất bản, 1997), Bài ca những con chim đêm (Nxb Hội Nhà văn, 1999), Cây ánh sáng (Nxb Hội Nhà văn, 2009) thực sự mở tiếp con đường
đã khai phá từ thập niên 90 với việc bung nở những thi ảnh khác biệt Bên những mạch thơ vạm vỡ, sắc lạnh, trường ca Nguyễn Quang Thiều còn thể hiện sự tinh tế, trữ tình khi viết về thiên nhiên, con người và những đồ vật giản dị Đọc trường ca của ông, có khi chúng ta ngỡ mình lạc vào một thế giới đồng dao thần thoại, ở đó mọi người sống để yêu nhau và hiến dâng hạnh phúc Ở đó, từ ánh sáng, bầu trời, cây cối, súc vật, ngọn đồi đến mọi đồ vật đơn sơ đều có linh hồn, hiển hiện cùng
Trang 26nhiều thế hệ con người tồn tại phi thời gian Tất cả như cùng đồng hiện, thanh minh, chất vấn trước vị "quan tòa" Nguyễn Quang Thiều Trong thế giới thơ ca riêng biệt ấy, tác giả là Chúa tể trị vì, trả lại sự công bằng, tự do, mở một chân trời khác dưới ánh sáng của thi ca Những mảng màu sáng tối tương phản rõ rệt ngay trong từng mạch thơ Mỗi trường ca như nhát bay miết mạnh, dứt khoát trên tấm toan rộng tạo ấn tượng, nhiều đoạn như nhát búa giáng mạnh vào tâm não người đọc Bên cạnh những mảng "màu lạnh", Nguyễn Quang Thiều có chủ ý khá tỉnh táo đặt những hình ảnh tương phản, lúc giàu tính trữ tình
* Tiểu kết:
Trong chương 1, chúng tôi trình bày đôi nét về thể loại trường ca và trường
ca Nguyễn Quang Thiều Trong đó phần trọng tâm là vị trí, đóng góp của trường
ca Nguyễn Quang Thiều trong dòng văn học hậu chiến, văn học đương đại
Cuộc sống thời hậu chiến có quá nhiều điểm khác biệt so với cuộc sống thời chiến tranh Điều đó đòi hỏi nghệ sĩ phải xác lập vị thế của mình sao cho thích hợp với hoàn cảnh lịch sử mới Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây các nhà thơ chuyển từ “bè cao” sang “giọng trầm” Cái nhìn sử thi đã dần phai nhạt và thay vào đó là cái nhìn phi sử thi Đây là yếu tố hết sức quan trọng khiến cho nghệ thuật giai đoạn này thể hiện tinh thần dân chủ hóa sâu sắc Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã trở thành nền tảng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975 Nhà thơ không còn bị vướng bận với những kiểu hiện thực chủ yếu và hiện thực thứ yếu, không bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn mà cố gắng thể hiện tính đa chiều của hiện thực Nguyễn Quang Thiều là tác giả trọn vẹn của giai
đoạn đổi mới đó Lộ trình thơ ông đi từ tập thơ Sự mất ngủ của lửa đến những tập
thơ về sau đã định hình một phong cách riêng biệt Ông đã khẳng định tài năng, bản lĩnh thi sĩ và sự dũng cảm của mình bằng khả năng thiên bẩm, bằng kiến thức
và trải nghiệm phong phú Phổ thơ của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều không giới hạn trong không gian hẹp, hay vùng miền mà nhân rộng, giàu sức khái quát và tính
Trang 27biểu tượng cao, có thể nhìn từ nhiều góc độ, nhiều hệ quy chiếu thẩm mỹ Đối tượng ám ảnh trong thơ ông là sự sợ hãi về một điều gì đó: những vẻ đẹp mong
manh, những vẻ đẹp có nguy cơ bị giết chết và bị tàn lụi Trong một thế giới thực
sự không bền vững, thì khát vọng của một thi sĩ nói riêng hay một người nào đó, là
sự trở lại của những gì đẹp đẽ và trong sáng nhất Từ những năm 90 của thế kỷ trước, thơ Việt Nam đương đại bắt đầu có sự chuyển đổi lớn về mặt thi pháp và có thể nói, Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ đầu tiên, bằng những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của mình, đã xác lập một giọng điệu mới trong thơ Việt Ông là một trong những thi sĩ tiên phong của dòng chảy thơ ca cách tân đương đại trong nước
Trang 28Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG TRƯỜNG CA NGUYỄN QUANG THIỀU
Với con người, quê hương là những cảm xúc thiêng liêng khó gọi thành tên
cụ thể Nó gẫn gũi nhưng vô hình như ánh sáng, như hơi thở Người ta thường chỉ cảm nhận rõ khi xa, thấy thiếu Đất nước đã trải bao thăng trầm với những cuộc nổi chìm của triều đại, chế độ nhưng trong tâm thức của người Việt vẫn còn đó một khái niệm “lũy tre làng” Lũy tre xanh xanh từ trong truyền thuyết vệ quốc ngàn xưa, ngàn năm giờ vẫn bao bọc trong nó những truyền thống của ngôi làng,
bờ sông bến bãi Phía bên trong lũy tre đó, vẫn là những giá trị làm nên nét riêng của người Việt Bên nôi ru, trong những tiếng ầu ơ là cả tấm lòng yêu thương, nâng niu mà những người đàn bà truyền lại cho cháu con từ đời này sang đời khác Quê hương, vì thế, là tâm hồn của con người
Với các nhà văn, nhà thơ, quê hương là một pho sách, là tài sản riêng để họ
“làm vốn” cho nghiệp văn chương nghệ thuật của mình Khi đọc sáng tác của họ, chẳng cần họ phải chú thích thì ta vẫn tìm được cái hồn quê, hồn người quê trong
đó vì sáng tác văn chương có thể hiểu là cuộc hành trình thể hiện tâm hồn và suy nghĩ của mình
Nguyễn Quang Thiều luôn tự nhận mình là một người nông dân của làng Chùa, một dải đất nâu phù sa ven vùng châu thổ sông Hồng Nơi quê hương ấy và những con người luôn in dấu trên những sáng tác của ông đặc biệt là trong trường ca
2.1.1 Hoài niệm gia đình
Gia đình luôn là cái nôi ươm những khát vọng văn chương Người ta nhớ đến quê hương cũng là nhớ đến gia đình Tác giả vĩ đại Nga Macxim Gocki cũng
Trang 29đã mang hình ảnh gia đình của mình trong sáng tác, ông đã khẳng đinh rằng hình ảnh người bà ngoại hiền từ, nhân ái, bằng một giọng huyền bí, trầm ấm luôn kể cho ông nghe những câu chuyện về tên kẻ cướp tốt bụng, về những vị thánh làm ra điều kỳ diệu Những câu chuyện được kể từ trái tim giản dị và nhân hậu của bà đã dạy cho cậu bé Alêchxây lòng trắc ẩn đối với những kẻ bị chà đạp, truyền cho cậu niềm ham mê khám phá thế giới đời thường và tình yêu đối với ngôn ngữ Nga bình dân hết sức sinh động và phong phú Đó cũng là tài sản duy nhất và quý giá nhất
mà Alêchxây được thừa kế Có thể nói, những hoài niệm về gia đình trong thời thơ
ấu có một ảnh hưởng rất lớn tới cảm hứng sáng tác Điều đó đã được các tác giả ghi lại trong hồi ký hay trong chính những lời tựa của tác phẩm
Với Nguyễn Quang Thiều, những ảnh hưởng của gia đình đến sáng tác là
rất lớn Ông đã dành toàn bộ lời tựa trong tuyển Châu thổ để viết về những kỷ
niệm gia đình, về người bà nội quá cố Ghi nhớ trong lòng ông không chỉ là những
kỷ niệm, hơn thế nữa là những ám ảnh, trăn trở về “con đường tồn tại” của loài người Ông không tìm hiểu sự sống và cái chết trên những suy luận biện chứng của
một nhà triết học mà qua những nhận thức của một người đàn bà nông dân “Trong
những tháng năm nằm bất động, bà tôi- một người đàn bà nông dân không biết chữ- bắt đầu tự ý thức về mình Trước đó, bà tôi không mảy may ý thức về mình Ý thức về bản thân mình của bà tôi không phải do học vấn dẫn dắt Ý thức đó sinh ra
từ sự biến mất của rất nhiều các hoạt động sống trước đó Sự biến mất này, đẩy
con người vào một tâm lý hoảng loạn và đánh mất khả năng kiểm soát” [58, tr.12]
Người bà mất từ ngày ông còn nhỏ Cũng chính từ điều ấy cho ta thấy, ngay từ thuở thơ ấu, Nguyễn Quang Thiều đã là một người nhạy cảm với những suy tư về
sự tồn tại của con người Một kiếp người như kiếp của người bà, cả đời lam lũ đã trở thành những ký ức của tuổi thơ ông và sau này trở thành những day dứt lặp lại trong sáng tác của ông
Trường ca Nhịp điệu châu thổ mới với lời đề tựa cảm động “Tưởng nhớ
ngày mất của bà nội” đã thể hiện sự trân trọng của ông với bà Dù người bà ra đi
khi ông còn là một cậu bé nhưng những kí ức mà bà để lại là kỷ niệm cũng là tài sản dành tặng cho cuộc đời sáng tác của ông Bảy chương trong trường ca đã để
Trang 30hiện tấm lòng của ông với bà Trong những dòng viết đó, ta cảm nhận được sự biết
ơn vì những điều mà cả cuộc đời lam lũ tần tảo của bà gửi tặng cho đứa cháu Một cách mơ hồ nhất của tuổi thơ, ông cảm nhận được sự khắc khoải của con người trong ranh giới giữa cái sống và cái chết cùng với đó là một khát khao sống Những khắc khoải ban đầu đó đã ám ảnh cả cuộc đời và trở thành một cảm hứng chủ đạo khác trong trường ca mà chúng tôi sẽ trình bày cụ thể ở phần sau
Trong các trường ca đã đến với người đọc ta thấy hình ảnh người bà, người cha, người em xuất hiện khá đều Với người bà, đó là nỗi nhớ, lòng thương vô hạn với một cuộc đời lam lũ, một minh chứng của kiếp nhân sinh tự nhiên trôi qua trước mắt ông, một người thầy đầu tiên trong cuộc đời của ông
Không còn ai trên cánh đồng mù mắt
Bà tôi đâu, đòn gánh gãy đâu rồi Sấm mất giọng, đỉnh núi già mất bóng Mất hay còn, than thở để làm chi
Thổ ngữ gieo từ bàn tay Người Nông Dân Già vào bàn tay Cậu Bé
Cậu Bé chầm chậm mở vương quốc của mình và chầm chậm khép vào
(Nhịp điệu châu thổ mới)
Trong lời tựa của tuyển Châu thổ, ông cũng viết: “Và qua chính giọng nói
ấy, tôi đã lưu giữ trọn vẹn những gì đã qua đời sống làng quê này ở làng quê của
tôi Một đời sống mà chẳng bao giờ mất đi như ta tưởng” [65, tr.18] Người bà là
cảm hứng chính trong trường ca Nhịp điệu châu thổ mới Ông đã gọi bà bằng một
danh xưng trân trọng Người Nông Dân Già Trong cách gọi ấy, không chỉ là tình
cảm của một người cháu mà còn là tình cảm của người thế hệ sau trong lễ tiễn biệt với người thế hệ trước, cuộc tiễn đưa mà ai cũng phải một lần trong đời làm nhân
vật chính Khi người bà (Người Nông Dân Già) ra đi, thứ duy nhất truyền lại cho người cháu (Cậu Bé) là những thổ ngữ gieo vào lòng bàn tay Những thổ ngữ ấy là
gì? Là những câu chuyện về làng Chùa thân thuộc lam lũ một đời người, là chuyện
về ông trăng, ông sao, dòng sông, cánh đồng, về sự sinh ra và biến mất Nguyễn Quang Thiều đã bằng cách này hay cách khác kể lại cảm giác của mình qua một
Trang 31câu chuyện của mình Nhưng qua những dòng tâm tưởng tràn về từ kí ức đó, chúng
ta bỗng thấy quen thuộc Phải chăng, đó cũng là câu chuyện của chính mỗi người,
có điều ta có nghĩ đến nó hay không Ngay cả trong danh xưng, ông cũng riêng hóa những danh từ chung: Người Nông Dân Già, Cậu Bé Cách gọi như thế đã vừa nói lên kí ức của ông vừa khiến người đọc suy nghĩ Bởi vì, ai chẳng từng là một Cậu
Bé, chứng kiến đám ma đưa tiễn những người thân-Người Nông Dân Già của mình sang thế giới bên kia Sự hoang mang không biết phía dưới huyệt mộ kia là một thế giới như thế nào, tại sao lại có cái chết đề từng một lần ta trăn trở Qua trường ca
Nhip điệu châu thổ mới, hình ảnh người bà thật ám ảnh suy nghĩ của chúng ta
Trong trường ca Nhân chứng của một cái chết, không chỉ là một câu
chuyện về thị xã trong cơn mưa gợi những khắc khoải về sự tồn tại mà ở đó trong
ký ức chập chờn ta lại bắt gặp hình ảnh những người thân của ông nhưng lại ở một
vị trí gián cách Đó không phải là người mẹ của nhà văn, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà là của cậu bé Nguyễn Quang Thiều Người mẹ hiện lên qua một vài dòng ngắn ngủi nhưng sức lắng của hình ảnh không thể phủ nhận
“Người đàn bà ấy không con và thường qua khúc sông làng tôi Đến bây giờ, những năm cuối thế kỷ, mẹ tôi vẫn nhớ rõ người đàn bà ấy”
(Trích Nhân chứng của một cái chết)
Người mẹ luôn sợ hãi, luôn muốn bao bọc con mình khỏi những nguy hiểm Trong suy nghĩ của mẹ, con luôn bé bỏng, con làm sao biết được những trắc trở của cuộc đời Và mẹ, một người đàn bà nông dân Chưa Già, mẹ vẫn phải lao động Chưa đến cái ngày mà mẹ như bà ngồi bất lực trước sự biến mất của các hành động
và ý thức về mình Người mẹ hay cũng là hình ảnh người bà ngày trẻ, là hình ảnh người phụ nữ trong gia đình Việt Họ chỉ biết làm việc và phục tùng chồng con, không màng chi đến bản thân mình Với Nguyễn Quang Thiều những ký ức về mẹ giản dị nhưng sâu sắc Người mẹ cũng có thể như người bà, không hề biết chữ nhưng luôn ghi nhớ những nguy hiểm đe dọa con mình, dù là một câu chuyện đã
xa xưa Trong sự hồi tưởng của tác giả về một câu chuyện người đàn bà xa lạ thì người mẹ vô tình xuất hiện chỉ như một chi tiết phụ nhưng qua đây ta có thế hiểu
Trang 32được với ông cũng như với con người, lòng mẹ là cái nôi an toàn không chăn êm, nệm ấm nào so sánh được Người mẹ có thể đảm đang, sành sỏi kiếm sống giữa cuộc đời không sợ vất vả hiểm nguy nhưng với con của mình, họ luôn lo sợ những bất trắc dù là nhỏ nhất Thế mới nói, dù ở tuổi nào ngày mẹ mất cũng là ngày ta thành trẻ mồ côi
Sự kính yêu một vòng tay bình yên người mẹ còn được ông thể hiện xúc động qua những vần thơ
Con không áo nhưng con có mẹ
Những con thuyền ngủ trên nước lênh đênh
(Những con thuyền sông đáy 1989)
Sông Đáy chảy vào đời tôi
Như mẹ tôi gánh nặng ghé vào ngõ sau một buổi chiều đi làm về vất vả Tôi dụi mặt vào lưng áo người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm
(Sông đáy 1991)
Và, bao giờ người mẹ cũng cho ông một cảm giác êm ái, mát lành Ngay cả khi mùi mồ hôi mặn chát sau những vất vả thì trong khứu giác của đứa trẻ mùi mồ
hôi đó vẫn “mát một mảnh sông đêm” Hình ảnh người mẹ luôn song hành cùng
dòng sông Đáy Dòng sông chảy bao đời với vị phù sa mặn mòi vất vả cũng là nơi
ru giấc những người con quê được bình yên khi ngồi trên những bờ bãi mà ngắm trăng thanh
Nhớ mẹ rồi thương cha Người cha không gần gũi, ấp ủ như người mẹ nhưng lại tạo nên sự vững chãi trong tâm hồn Bài ca dao ngày nào nay vẫn đọc
“Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Đọc thì đứa trẻ lên bảy lên ba vẫn đọc, nhưng hiểu nhưng thấm được nó thì phải đến độ con người ta trưởng thành Với Nguyễn Quang Thiều, người cha luôn là một khoảng lặng trong ông Ông nhớ, ông tiếc, ông dằn vặt vì bao điều đã qua mà mình trót chưa trân trọng
Trang 33Mười một khúc cảm có thể coi là một tiểu trường ca ông dành tặng cha
mình Những dòng thơ là sự day dứt trở đi trở lại từ quá khứ Ai còn bé mà chưa
từng một lần làm cha phiền giận Xưa tục ngữ nói “Cha gậy tre, mẹ gậy vông”
Nếu người mẹ chỉ cần thấy con nức nở òa khóc là ôm ấp vỗ về cho con bình an thì
sự nghiêm khắc của cha lại dạy cho đứa trẻ biết những giới hạn để không hồn nhiên lặp lại những thói quen hư trong cuộc sống Nhưng một đứa trẻ sao hiểu hết thế nào là hư, nó chỉ biết phân biệt sự dịu dàng và nghiêm khắc Vì thế, hình ảnh cha có bao giờ gần gũi như mẹ Đó là sự thiệt thòi mà người cha phải chịu để cho con mình nhất là những cậu con trai trở thành những người biết khuôn phép và giới hạn Sẽ có một ngày, người con trưởng thành và hiểu cha, hiểu và thương vô hạn vì sẽ chẳng có cơ hội nào được trở lại ngày xưa mà rút lại phút giây oán hận
Điếu thuốc cháy từ năm ta mười bốn Chiếc roi cha ta quất nát sợi khói mềm Trong ký ức ta có một ngày oán hận Hốc mắt ta khô dù chỉ khóc một lần
Đâu rồi chiếc roi của cha Đâu rồi chiếc roi của cha
Ta trong khói suốt đời quờ quạng
(Mười một khúc cảm)
Có gì hỏng mất rồi Con giật mình kinh hãi Cha sớm nay thở dốc hiên nhà
Trang 34xương và cả khí thở của cha đều hòa quyện cho từng phút giây con lớn Con bống
đen đẻ trứng không còn nói về sự ân hận day dứt mà hơn hết là tấm lòng trân
trọng của người con với sự hi sinh của cha
- Cha ơi, có con thuyền thiếu chèo!
- Cha chặt cánh tay cha làm chèo
- Cha ơi,có con thuyền thiếu buồm
- Cha cắt phổi cha làm buồm
- Cha ơi, có con thuyền thiếu dây
- Cha dứt tóc cha bện dây
(Con bống đen đẻ trứng-1994)
Con thuyền trên dòng nước sông Đáy hay con thuyền cuộc đời cha đưa các con trưởng thành Những sóng gió của dòng sông thì còn có mùa nước nổi nhưng sóng gió cuộc đời thì bất ngờ, không báo trước Và nếu chèo có mất, buồm có rách, dây có thiếu thì cha sẽ dùng cánh tay, dùng lá phổi, dùng mái tóc để thay thế đưa con đi không để bão táp nhấn chìm Các con là ngày mai của cha là máu thịt cha gửi lại cuộc đời Những dòng thơ thật xúc động thay cho lời cảm tạ công cha, nghĩa mẹ
Hình ảnh gia đình trong trường ca của ông bao giờ cũng giản dị mà sâu lắng như thế Người con nào khi đọc cũng thấy một chút mình trong đó Chính điều này khiến người đọc vượt qua những trúc trắc của ngôn ngữ, những trừu tượng của hình ảnh để đến với tấm lòng sâu xa đậm chất đời mà ông gửi gắm
Những người thân yêu luôn là một cảm hứng lớn trong sáng tác của ông Là
bà, là mẹ, là cha là em gái và con gái Thế hệ trước đã day dứt lo lắng cho ông thế nào thì với lớp sau mình cảm xúc của ông cho họ cũng như vậy Đó là vòng tròn
của số phận, là cái “nợ đồng lần” mà người xưa vẫn nói Trong trường ca Nhân
chứng của một cái chết, khi nhìn những cơn mưa xối xả trong công viên, đi bên đứa
con gái yêu thương bé bỏng đang vô tư đón nhận cuộc đời Ông đã không đủ dũng cảm nhìn vào đôi mắt con Ông lo sợ Ông xót xa Cảm giác của ông cũng chính là cảm giác của người mẹ xưa kia sợ ông bước qua bờ bên kia sông Đáy theo một
Trang 35người đàn bà bí hiểm, là cảm giác của cha khi đưa ông trên chiếc thuyền của cuộc đời Cái khát khao của ông cũng là khát khao che chở, được chặt cánh tay làm chèo, lấy lá phổi làm buồm, bện tóc làm dây để con không bị tròng trành trong cơn
lũ lớn Có những bài thơ, ông đã đặt tên bằng tiếng gọi tha thiết dành cho con gái mình
Cha mở đời cha như mở một tấm lót Bọc lấy con và bế con lên
Chỉ như thế cha mới có thể nhắm đôi mắt lại Hôn dịu dàng lên mái tóc con
Chỉ như thế chiều nay cha mới không òa khóc
(Con gái ơi!)
Có một điểm chung là hình ảnh gia đình trong sáng tác của ông đều đã được đặt trong một vị trí gián cách hoặc là hai cõi sống chết hoặc là sự chia lìa không hẹn gặp lại Sự gián cách về không gian, thời gian ấy chính là một điểm khiến cho những cảm xúc của ông trở nên chua chát, vì dù là nhớ, thương hay tiếc thì tất cả cũng đã lùi xa Mọi kỷ niệm chỉ nằm im trong ký ức nhức nhối không còn là hiện thực để tác giả có thể giải tỏa Rong ruổi trong khắp các trường ca, đôi thoảng ta lại bắt gặp những sự tiếc nuối tình thân từ quá khứ vọng về
“Tôi hát bài hát về cố hương tôi Trong ánh sáng ngọn đèn dầu Ngòn đèn đó ông bà tôi để lại Đẹp và buồn hơn tất cả những ngòn đèn Thuở tôi vừa sinh ra
Mẹ đã đặt ngọn đèn trước mặt tôi
Để tôi nhìn mặt đèn mà biết buồn, biết yêu và biết khóc”
(Bài hát về cố hương hay là bản tuyên ngôn về người làng Chùa)
Tình cảm với gia đình cũng là với ông bà, cha mẹ, con cái Đó là những tình cảm gần gũi mà lớn lao, phù hợp với thể trường ca Những tình thân ấy tất nhiên
Trang 36không phải chỉ xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Quang Thiều Trong trường ca
Mặt đường khát vọng, tác giả Nguyễn Khoa Điềm đã định nghĩa đất nước cũng
chính bằng hồn phách những người thân yêu, những lớp trước đã ra đi, gửi lại lớp sau bao hi vọng
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa " mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết tròng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
(Trích trường ca Mặt đường khát vọng- Nguyễn Khoa Điềm)
Đến trường ca của Nguyễn Quang Thiều, những tình cảm với gia đình không còn được diễn đạt bằng những kỷ niệm êm đềm mà kèm theo đó là những suy tư về nhân sinh đời đời lớp lớp nối tiếp nhau Chất suy tư, ám ảnh về nhân sinh cũng là một cảm hứng lớn làm nên nét riêng của trường ca Nguyễn Quang Thiều Sau năm 1975, xu thế chung của văn học là hướng về cái riêng Không khí ào ào
sử thi không còn độc tôn trong sáng tác Nguyễn Quang Thiều đã khai mở một lối mới, viết về những điều riêng nhất nhưng vẫn không làm mất đi sự sâu sắc trong cảm xúc để làm nên thành công của những trường ca
2.1.2 Thế giới người quê, cảnh quê
Con người đã ngự trị trong sáng tác văn học từ bao đời Trong các thể loại từ dân gian đến bác học đều quan tâm đến cuộc sống, tâm trạng và bằng cách này hay
cách khác thể hiện trong sáng tác Chẳng thế mà văn hào Macxim Gocki đã nói :
“Văn học là nhân học” Cái ta học được ở đây không phải lúc nào cũng qua những
bài rao giảng đạo đức mà có khi là những điều tinh tế trong cảm xúc mà ta nhận được Đó cũng chính là tính thanh lọc của văn chương Tình cảm với con người, người cố hương, người thoáng gặp, người cho ta thương, người cho ta phục Bấy
nhiêu đó cũng là quá trình con người rèn luyện tâm hồn mình, giữ được chất người
qua tháng năm sóng gió Có nói về con người hàng ngàn vạn năm cũng chẳng khi
Trang 37nào cũ Ngay từ thời xây dựng bộ lạc, hành trình của cả cộng đồng người đã được
sử thi tái hiện (Đam San) Nhân dân biết ơn, ngợi ca người anh hùng dũng cảm và
qua đó ta thấy tình cảm gẫn gũi, gắn bó giữa cộng đồng
Trong trường ca chống Mỹ, hình tượng con người với khát vọng chiến thắng, khát vọng tự do trở thành cảm hứng chính Hơn lúc nào hết họ làm nên sức mạnh chung giúp dân tộc vượt qua cơn nguy khó Hình ảnh những người lính xuất
hiện khá nhiều Trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, ta
thấy cảm xúc tự hào lớn lao của tác giả về con người Việt với bao truyền thống dựng nước và giữ nước
Ta đã lớn rồi, chín đầy hy vọng Hãy ngã xuống tay nhân dân, hỡi sắc vàng của nắng(…) Hãy tìm sức mạnh của mình trên cơ thể nhân dân
Nhân dân đang đi lên đội ngũ trùng trùng Thế vô tận của nghìn năm giết giặc
(Trích Mặt đường khát vọng-Nguyễn Khoa Điềm)
Giai đoạn sau của trường ca, không khí sử thi không còn hoàn toàn chi phối văn học Bỏ lại chiến trường, bỏ lại sau lưng súng đạn, con người trở về xây lại nếp nhà bên bãi mía, nương dâu Những con người xung quanh giờ không chỉ có những đồng chí mà còn là hàng xóm láng giềng Những con người quê chân chât, thật thà lại cần mẫn nhuộm màu xanh của quê hương bằng màu da nâu vất vả của mình Với Nguyễn Quang Thiều, những cảm xúc về con người làng quê gần gũi
mà thiêng liêng hơn Ta có cảm giác ông không sáng tác một mình, càng không viết để nói về mình mà đằng sau mỗi sáng tác là tâm hồn, là nếp sống của con người quê ông
Ông sinh ra ở làng Chùa, bên dòng sông Đáy quê mùa ngàn năm lam lũ Đầu
tuyển thơ Châu thổ cũng như nhiều sáng tác khác ta hay bắt gặp dòng đề tựa “Lời
người làng Chùa: Tay ta gieo hạt, miệng ta gieo lời” thật thân tình, giản dị Đi đâu,
ở đâu ông cũng cố giới thiệu gốc gác của mình và ông tự hào về “chất quê” ấy
Trang 38Ông gửi gắm trong tác phẩm những trắc ẩn của người quê giữa cuộc sống nghìn đời nghèo khó Nhưng trên hết đó là hình bóng tuổi thơ gắn bó với bao kỷ niệm, là những nếp sinh hoạt xóm làng lâu đời hình thành trong nhận thức, cảm xúc của tác giả Chính vì vậy, qua những vần thơ trong trường ca của ông, ta như cảm nhận được bóng dáng của những con người làng Chùa Đó là dáng hình lao động nhọc nhằn hàng ngàn năm, đó là tâm hồn đôn hậu, hiền hòa trong bao khó khăn, nhọc nhằn của cuộc sống vẫn truyền lại cho muôn thế hệ đời sau lòng thơm thảo của con người với gia đình, làng mạc Lòng trân quý với cái thiện là một nét đẹp tâm hồn mà đọc trường ca của ông ta dễ tưởng đó là một phẩm chất hiển nhiên
ở người dân làng Chùa
Nguyễn Quang Thiều viết nhiều về người làng Chùa, cảnh làng Chùa Vượt qua tất cả những trúc trắc của hình thức thể hiện, trường ca của ông là bức tranh toàn cảnh về vùng châu thổ quen thuộc trong nhịp sống của xã hội Ám ảnh trong trường ca của ông là cảnh đơn sơ của một cuộc sống cũ nghèo nàn đầm ấm trong quá khứ Ở đó có những nếp sinh hoạt xưa cũ với những đêm trăng êm êm, huyền
ảo Trong trường ca Nhịp điệu châu thổ mới, ta thấy hiện lên một dải đất ven
sông Thế giới ấy dù đầy ảo mộng với những tầng bậc biểu tượng dầy đặc nhưng lọc lại, ta vẫn cảm nhận được sự quen thuộc Đó là những đám ma ở làng quê, đi qua những triền đê, những cánh đồng, với tiếng cầu kinh siêu thoát, với hình ảnh những người đàn bà già trong xóm thôn đội cầu tiễn vong người đã khuất về thế giới cực lạc Dù tất cả được Nguyễn Quang Thiều cảm nhận dưới cái nhìn non nớt của một cậu bé nhưng cũng chính vì lẽ đó mà ta càng thấy sự trong trẻo thần thánh trong thế giới quê tưởng đã quá quen thuộc của chúng ta
Về từ bên kia sông, từ đỉnh núi xa đang ngủ hay đang chết trong mưa chiều tháng Bảy Nước đang nói trên mái nhà trầm mặc
Đang chết hay đang ngủ, không cần phải dày vò
Cố kìm thêm chút nữa nỗi sợ hãi Sấm rền vang, bặt tiếng gọi trên đồng
Trang 39Hãy mở mắt từ từ nhìn qua bờ dậu thấp Nhìn đến tận bên kia rêu phủ dọc chân trời
( Nhịp điệu châu thổ mới)
Thế giới làng quê ấy trải ra trước mắt ta biết bao cảm giác Đọc những dòng thơ, ta thấy hiện lên không gian thoáng đãng thân thuộc, cả mùi quen thuộc của sông núi, nước non, cái vẻ xanh mướt sau cơn mưa của bờ dậu râm bụt, mồng tơi, màu xanh bí ẩn của bờ rêu phủ kín Cảnh quê, người quê như thẫm đẫm tâm hồn ông, có những sáng tác ông không nhắc đến nhưng ta vẫn cảm nhận được ông nhìn
tất cả bằng cái nhìn của người thôn quê Cái danh xưng “Người làng Chùa” tưởng
đơn giản mà ông tự hào lắm lắm Không chỉ trong trường ca mà trong thơ, ta cũng thấy mỗi lẫn nhắc đến quê hương là một lần ông xúc động
“Tôi hát bài ca về cố hương tôi Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó
Nó không tiêu tan
Nó thành con giun đất
Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao
Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ
Bò qua bãi tha ma người làng chết đói”
(Bài hát về cố hương hay là bản tuyên ngôn về người làng Chùa)
Thời gian trôi đi cuốn theo tất cả, cả sự quen thuộc của làng quê xưa Làng Chùa yêu thương không nằm ngoài quy luật ấy Chúng ta bị cuốn đi trong cơn lốc thời gian và đến lúc chợt tỉnh cũng là lúc cảm giác tiếc nuối ùa về Trong trường ca của mình, ông đưa vào những cảnh đổi thay của một làng quê dưới làn sóng của công nghiệp, sự thay đổi cả bộ mặt, nếp sinh hoạt và đan xen khi nhắc đến là nỗi buồn tiếc , hoài vọng về một cảnh quê thanh bình xưa Không còn là bờ sông, bến bãi mà là thị xã nhỏ với người người qua lại Không còn là ngọn đèn chỉ đủ sáng
để ánh lên những khuôn mặt hiền từ mà là những đèn cao áp thắp sáng cả một khu phố lớn Đó là sự thay đổi, đó là sự tiến bộ Cũng như con rắn lột xác để lớn thêm
Trang 40nhưng đánh đổi lại là sự đau đớn mà riêng mình nó biết Thị xã sáng trưng này lại làm tối đi những thân tình Trong sự sinh sôi của một cuộc sống mới Nguyễn Quang Thiều lại nhìn thấy cái chết Ông tưởng tượng rồi một cơn mưa, một cơn lũ, nếu không đủ nữa thì một cơn đại hồng thủy sẽ gột rửa tất cả cuộc sống này Trong cơn giận dữ của thiên nhiên ấy, thị xã hiện lên thật đáng thương
Từ trong thị xã ngập nước
Họ đi lên cầu…
Họ nhìn thị xã
Và hai mắt họ Hai cửa sổ bị phá toang
Họ không chạy trốn cơn thịnh nộ của trời xanh
Cuối cùng, đọng lại vẫn là khát khao về một cảnh quê yên bình, vẫn là sự chờ đợi một sự thanh thản trong lòng mình Ông yêu thiết tha cảnh vật làng quê Tình yêu quê hương lớn lao, khi xa làng Chùa nửa vòng trái Đất, ông còn muốn:
" dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy" Trong thơ ông cũng
tràn ngập những mối quan tâm, những thao thức, những âu lo, những buồn đau những tình cảm mang đậm nét bản sắc tâm hồn con người Việt Ông viết nhiều về cánh đồng, dòng sông, về ruộng lúa, bãi ngô, về hoa cải, rau khúc, về con châu chấu, con ốc, về ông, bà, cha, mẹ, vợ, con về giỗ, tết, và cả về những cái tiểu sành
Có thể nói, trong sáng tác của ông, cảnh quê hiện ra thật cụ thể, gần gũi Nó mang một màu sắc riêng, không thơ mộng, có buồn có vui nhưng đều là chốn thiêng liêng mà con người không thể tách rời Quê hương, với ông không chỉ là phong cảnh mà còn là tâm cảnh, nó khiến người ta phải suy ngẫm nhiều Chính điều đó tạo nên chiều sâu trong trường ca của Nguyễn Quang Thiều Ta dễ nhận thấy, ông luôn hồi tưởng trong kí ức, sống trong hiện tại và mơ giấc mơ về một thế giới trong tương lai sẽ khác Trường ca của ông dành phần cho tương lai rất nhiều,
dù nó xuất phát từ hiện thực đời sống, nhưng lại hướng về tương lai Ông cũng hồi