1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm

124 2,7K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngôn Ngữ Trong Trường Ca Mặt Đường Khát Vọng Của Nguyễn Khoa Điềm
Tác giả Trần Đăng Kiên
Người hướng dẫn PGS.TS. Hà Quang Năng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, Nguyễn Khoa Điềm là một trong số nhà thơ có nhiều tácphẩm được đưa vào dạy - học trong nhà trường của nhiều bậc học khác nhau.Thơ ông hấp dẫn bạn đọc nhiều thế hệ bởi sự kết hợ

Trang 2

Tôi xin tỏ lòng biết ơn tổ Ngôn ngữ, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn và Văn phòng khoa Sau Đại học trường Đại học Vinh đã tạo nhiều điều kiện tốt cho tôi học tập, nghiên cứu.

Tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, tổ Ngữ văn trường THPT Hà Huy Tập

- Hà Tĩnh đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Tôi xin cảm ơn cán bộ thư viện Quốc gia, thư viện Đại học Vinh, thư viện tỉnh Hà Tĩnh, thư viện Trường THPT Hà Huy Tập đã cung cấp tài liệu, giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã tạo điều kiện cho tôi gặp gỡ, trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã đồng cảm, chia sẻ với việc học tập và nghiên cứu của tôi trong thời gian qua.

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trần Đăng Kiên

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU 7

1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ 7

1.1.1 Khái niệm thơ 7

1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ 12

1.2 Khái niệm trường ca 20

1.3 Trường ca Mặt đường khát vọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm 23

1.3.1 Vài nét về tiểu sử 23

1.3.2.Quá trình sáng tác 24

1.3.3 Trường ca Mặt đường khát vọng 26

1.4 Tiểu kết 27

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM THỂ THƠ, VẦN THƠ, NHỊP THƠ TRONG TRƯỜNG CA MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG 28

2.1 Đặc điểm thể thơ trong trường ca Mặt đường khát vọng 28

2.1.1 Sự xuất hiện của những dòng thơ ngắn 30

2.1.2 Tần số xuất hiện của những dòng thơ vừa 35

2.1.3 Tần số xuất hiện của những dòng thơ dài 36

2.1.4 Tần số xuất hiện của những dòng thơ giống văn xuôi 39

Trang 4

2.2.2 Vần trong trường ca Mặt đường khát vọng xét ở vị trí gieo vần 43

2.2.3 Vần trong trường ca Mặt đường khát vọng xét ở mức độ hòa âm 47

2.2.4 Vần trong trường ca Mặt đường khát vọng xét theo sự biến thiên của thanh điệu 51

2.3 Đặc điểm nhịp thơ trong trường ca Mặt đường khát vọng 53

2.3.1 Khái niệm về nhịp điệu 53

2.3.2 Nhịp điệu trong trường ca Mặt đường khát vọng 55

2.4 Tiểu kết 64

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ, CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ NỔI BẬT, CÁCH TỔ CHỨC VĂN BẢN TRONG TRƯỜNG CA MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG 65

3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa các lớp từ sử dụng trong trường ca Mặt đường khát vọng 65

3.1.1 Lớp từ chỉ địa danh 65

3.1.2 Lớp từ chỉ tên người 69

3.1.3 Lớp từ chỉ không gian 72

3.1.4 Lớp từ chỉ thời gian 79

3.2 Chất liệu ngôn ngữ - văn hóa dân gian trong trường ca Mặt đường khát vọng 85

3.2.1 Dùng phong tục - truyền thống để nói về nguồn gốc Đất Nước 87

3.2.2 Dùng ca dao - dân ca, truyền thuyết để lí giải Đất Nước là gì 88

3.2.3 Dùng danh lam - thắng cảnh để định danh chủ thể Đất Nước 88

3.2.4 Dùng thành ngữ, tục ngữ để ca ngợi truyền thống yêu Đất Nước 89

3.2.5 Dùng cổ tích để khẳng định chân lí sống- còn của Đất Nước 89

3.3 Một số phương tiện, biện pháp tu từ nổi bật trong trường ca Mặt đường khát vọng 90

Trang 5

3.3.3 Chấm lửng tu từ 102

3.4 Đặc điểm tổ chức văn bản trong trường ca Mặt đường khát vọng 104

3.4.1 Đặc điểm về tiêu đề 104

3.4.2 Đặc điểm dòng thơ, câu thơ 105

3.4.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 108

3.5 Tiểu kết 109

KẾT LUẬN 111

TƯ LIỆU KHẢO SÁT 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1.Theo định nghĩa hiện nay, trường ca là một tác phẩm thơ có dunglượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Từ thời cổ đại đến nay,trường ca luôn chiếm một vị trí trang trọng trong nền văn học của dân tộccũng như văn học thế giới Đã có nhiều cuộc tranh luận về tên gọi củatrường ca, về những đặc điểm của thể loại trường ca hiện đại, về vị trí, vaitrò của nó trong hệ thống các thể loại thơ ca nói riêng và trong hệ thống cácthể loại văn học nói chung Điều đó, chứng tỏ thể loại văn học này luôn dànhđược sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu

1.2 Nguyễn Khoa Điềm là một trong số ít nhà thơ tiêu biểu, trưởngthành trong kháng chiến chống Mĩ, có đóng góp lớn cho văn học hiện đạiViệt Nam Vì vậy, tìm hiểu và nghiên cứu thơ ông luôn là vấn đề có ý nghĩa

và hấp dẫn đối với những ai quan tâm đến văn học và ngôn ngữ Tuy nhiên,

từ trước đến nay việc nghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm nói chung và

trường ca Mặt đường khát vọng nói riêng chủ yếu tập trung vào bình diện

văn học, còn góc độ ngôn ngữ hầu như chưa được khảo sát và nghiên cứuthỏa đáng

1.3 Mặt khác, Nguyễn Khoa Điềm là một trong số nhà thơ có nhiều tácphẩm được đưa vào dạy - học trong nhà trường của nhiều bậc học khác nhau.Thơ ông hấp dẫn bạn đọc nhiều thế hệ bởi sự kết hợp giữa cảm xúc nồng nàn

và suy tư sâu lắng của người trí thức về đất nước và con người Việt Nam

Trường ca Mặt đường khát vọng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách đó Vì

vậy, nghiên cứu ngôn ngữ trong trường ca này sẽ là một vấn đề có ý nghĩathiết thực giúp cho việc dạy - học thơ Nguyễn Khoa Điềm tốt hơn

Trang 7

như còn bỏ ngõ Có thể kể ra đây một số ý kiến tiêu biểu như sau:

Phan Thị Hương Giang trong Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm, đã khái quát:

Cũng như nhiều nhà thơ trong cuộc chiến tranh chống Mĩ khác, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện được cái tôi trữ tình mang trong mình một trách nhiệm công dân cao cả, với ý thức lớn lao của cả thế hệ trong chiến tranh Cái tôi ở đây hòa chung với cái ta luôn nhận ra trách nhiệm của mình trong dòng chảy của đất nước những cái tôi ấy lại là một cái tôi riêng biệt, có cá tính, không thể nhòe lẫn, nó phản ánh phong cách, cá tính sáng tạo độc đáo của nhà thơ [25, 110].

Nguyễn Quang Thiều (chủ biên), Nguyễn Quyến, Trần Thanh Hà

trong Tác giả nói về tác phẩm, có nhận xét:

Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất liệu văn học và văn hóa dân gian Câu thơ dù ở thể thơ truyền thống hay thơ tự dobao giờ cũng phảng phất phong vị của ca dao tục ngữ Chất hiền minh của trí tuệ dân gian thấm đẫm vào từng từ Những hình ảnh bình thường của cuộc sống hện thực, thường nhật được đặt cạnh những hình tượng thần thoại, truyền thuyết khiến cho tác phẩm vừa mang vẻ gần gủi lại vừa có không khí thiêng liêng của một nền văn hóa ngàn năm [52, 255].

Riêng về trường ca Mặt đường khát vọng, các bài nghiên cứu hầu như chỉ tập trung vào chương 5- chương Đất nước.

Trang 8

Lại Nguyên Ân trong Văn học và phê bình, từng đánh giá:

Không phải ngẫu nhiên mà những gì gọi là đặc sắc nhất của Mặt đường khát vọng lại tụ vào một chương mang tiêu đề Đất nước Bao nhiêu

“định nghĩa” được đặt ra Từ kỉ niệm riêng- Đất là nơi anh dến trường, Nước là nơi em tắm, Đất nước là nơi ta hò hẹn…Từ truyền thuyết –Đất là nơi chim về, Nước là nơi Rồng ở, Lạc Long Quân và Âu Cơ, Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng…Từ muôn vàn dấu hiệu tưởng như không bao giờ kể hết, tưởng kể mấy cũng không đủ Chính cảm giác về cái nhiều tưởng như vô tận trong những cách hình dung về đất nước là nguồn cảm hứng trữ tình chính luận của Nguyễn Khoa Điềm trong Mặt đường khát vọng.[ dẫn theo 62, 79 ].

Lê Bảo trong Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ những con đường khám phá, từng viết:

thông-Khúc giao hưởng, dòng sông, cái nhìn huyền thoại là con đường đến với đất nước tình yêu trong thơ Nguyễn Khoa Điềm ở cả chương V nói riêng

và Mặt đường khát vọng nói chung Cái bề thế của một nền văn hiến bốn nghìn năm mà nhà thơ tiếp nhận được đã biến thành một dòng chảy tâm hồn Dòng chảy ấy có tiếng róc rách của con suối khởi nguyên, có xôn xao của một dòng sông, có cả cái ào ạt của những con sóng biển dâng trào.[ dẫn theo 62, 80-81 ]

Phạm Xuân Nguyên trong bài viết Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi,

cho rằng:

Câu thơ ( Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi) thốt ra như một lời nói bình thường, nhưng lời nói đó là một chân lí Và để chân lí đó giản dị như một lời nói tự nhiên thốt ra thì đất nước đã phải được tạo dựng qua bao đời người, qua bao thăng trầm lịch sử, qua bao biến thiên thời gian…Nhà thơ đưa lại cho người đọc mọt sự cảm nhận và một sự thức nhận mới về đất nước nhờ anh đã thực sự đã biết yêu biết hiểu dân tộc mình Những điều đã quen thuộc, những chân lí đã hiển nhiên bổng sáng lên giá trị vĩnh hằng của

Trang 9

sức sống, sức trường cửu của dân tộc trên số phận mỗi người dân vô danh trên lớp lớp thời gian trôi.[dẫn theo 62, 79].

Trần Đình Sử trong Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam, phần văn học hiện đại, cũng nhận xét :

Nguyễn Khoa Điềm cũng như một số nhà thơ hàng đầu của thế hệ, ông đã cảm nhận sâu sắc thời điểm lịch sử trang nghiêm, nên đã để tâm huyết vào chủ đề lớn của thơ ca là đất nước Và tất nhiên để phù hợp với nội dung phong phú, rộng lớn đó phải có một hình thức lớn, có nội dung lớn là trường ca Cho nên nhiều trường ca đã ra đời trong giai đoạn văn học này

mà nổi tiếng hơn cả là ba trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm [dẫn theo 62, 80 ].

Điểm qua một số bài viết và công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn

khoa Điềm nói chung và trường ca Mặt đường khát vọng nói chung, chúng

tôi thấy rằng các ý kiến đều chú tâm vào việc nhận xét, đánh giá về nội dung

tư tưởng của tác phẩm, hoặc có đề cập một vài nét đặc sắc nghệ thuật củamột chương Điều đó cũng có nghĩa là chưa có một công trình hay mộtchuyên luận nào đi vào khái quát, mô tả những đặc điểm ngôn ngữ nghệ

thuật của trường ca Mặt đường khát vọng Ở luận văn này, trên cơ sở kế thừa

những gợi ý của những người đi trước, chúng tôi sẽ tập trung khảo sát mộtcách hệ thống những đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm trong

trường ca Mặt đường khát vọng Qua đó, chúng tôi mong được làm sáng tỏ

đóng góp của nhà thơ về ngôn ngữ trường ca, cũng như mối quan hệ biệnchứng giữa nội dung và hình thức trong một tác phẩm văn học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bản trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm Phạm vi nghiên cứu là tìm hiểu, khai thác cấu

trúc ngôn ngữ trường ca (tổ chức mô hình, niêm luật, vần điệu, thanh điệu),

Trang 10

nghiên cứu khả năng biểu đạt, xây dựng hình tượng của ngôn ngữ trongtrường ca này.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn này được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

4.1.Xác lập một khung lí thuyết liên quan đến việc nghiên cứu đặcđiểm ngôn ngữ của trường ca Liên quan đến cơ sở lí thuyết là những kháiniệm về thơ, ngôn ngữ thơ, trường ca

4.2 Khảo sát các đặc điểm về thể thơ, vần, nhịp nhằm xác định cáctiêu chí nhận diện và miêu tả cấu trúc thể loại thơ chủ yếu trong trường ca

4.3 Tìm hiểu đặc điểm từ ngữ, các biện pháp tu từ nổi bật, cách tổchức văn bản của trường ca

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở thu thập, thống kê, xử lí tư liệu để tìmhiểu đặc điểm hình thức, đặc trưng nội dung của trường ca Để đạt mục đích

đề ra, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, định lượng: thống kê thể thơ trong trường ca(theo số chữ), các biểu hiện gieo vần, ngắt nhịp, các lớp từ, các biện pháp tu từ…

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, ngữ dụng để phân tích cách thểhiện ý nghĩa của các đơn vị từ vựng, tìm hiểu quan hệ giữa nội dung với ngữcảnh để xác định các quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị trong trường từvựng – ngữ nghĩa

- Phương pháp so sánh - đối chiếu được xác sử dụng để xác lập cáctầng nghĩa do các đơn vị ngôn ngữ biểu thị

6 Đóng góp của luận văn

Về lí luận, kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ đặc điểm ngôn

ngữ của trường ca nói chung và trường ca Mặt đường khát vọng nói riêng về

phương diện hình thức cũng như phương diện sử dụng, tổ chức các đơn vị

Trang 11

ngôn ngữ Qua đó, có thể hiểu rõ hoạt động hành chức, nội dung ý nghĩa cáccấp độ ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương.

Về mặt thực tiễn, đề tài góp những cứ liệu vào việc nghiên cứu ngônngữ văn học chung, đặc biệt là góc độ ngôn ngữ trường ca từ cách tiếp cậnngôn ngữ học, hướng tới cách phân tích ngữ nghĩa của các cấp độ ngôn ngữtrong một tác phẩm văn học

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và định hướng nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm thể thơ, vần, nhịp trong trường ca Mặt Đường khát vọng

Chương 3 Đặc điểm từ ngữ, các biện pháp tu từ nổi bật, cách tổ chức

văn bản trong trường ca Mặt đường khát vọng

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ

1.1.1 Khái niệm thơ

Thơ là hiện tượng tượng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máyngôn ngữ của nó Từ thời cổ đại, các học giả vĩ đại như Aritxtốt, Điđơrô, sau đóđến Lý Bạch, Đỗ Phủ, Mạnh Hạo Nhiên, N.G.Tsecnưsepxki…bàn đến những

vấn đề của thơ ca Aritxtốt trong cuốn Nghệ thuật thơ ca gọi tất cả loại hình

thơ ca (sử thi, bi kịch, hài kịch, tửu thi) là các nghệ thuật mô phỏng hay là sự

mô phỏng Nhưng điều đó không có nghĩa là tác phẩm thơ ca chỉ đơn giản là

sự tái hiện bản thân hiện thực bằng các hình tượng được tạo nên bởi cácphương tiện ngôn ngữ- tức là tái hiện những cái đã xảy ra trong chính hiệnthực Hình tượng thơ ca không cần phải là bản sao của một hình tượng duynhất nào đó trong hiện thực, mà phải là sự sáng tạo của nhà thơ, tương ứng

với điều Aritxtốt đã nói trong định nghĩa về đối tượng thơ ca: Nhiệm vụ của nhà thơ không phải nói điều đã xảy ra Ở Việt Nam cũng có các học giả Ngô

Thì Nhậm, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn…có những quan niệm về thơ Chẳnghạn, Lê Quý Đôn (1726-1784) có những chuyên mục bàn về thơ (như mục

Văn nghệ gồm 48 điều trong bộ Vân đài loại ngữ) Các ý kiến bàn về thơ

nhiều hơn cả là nằm trong các bài Đề từ, Tựa, Bạt, Bình…các hợp tuyển thơ

(như Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục), nhất là tập thơ

của các nhà nho [60, 9 - 10] Trong số đó, có tác giả thiên về tình, có tác giảthiên về ý, có tác giả bàn về cả tình và ý trong thơ

Bạch Cư Dị (đời Đường, Trung Quốc) qua thư gửi Nguyễn Chẩn đã

viết: Cái gọi là thơ thì cảm hóa nhân tâm không gì bằng tình cảm Không thể bắt đầu bằng gì khác ngoài ngôn ngữ Không gì thân thiết bằng âm thanh Không gì sâu sắc bằng nghĩa ý Gốc của thơ là tình cảm Lá của thơ

Trang 13

là ngôn ngữ, Hoa của thơ là âm thanh Quả của thơ là nghĩa lý (Văn nghệ,

số 5, ngày 10-12-1994)

Ở thời hiện đại cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thơ Trong số

đó phải nói đến quan niệm về thơ của các nhà thơ, quan niệm về thơ của cácnhà phê bình lí luận và quan niệm về thơ của các nhà nghiên cứu thi pháphọc và theo cách nhìn của nhà ngôn ngữ học

* Quan niệm về thơ của các nhà thơ:

Bàn theo góc độ cảm hứng sáng tác, các nhà thơ có quan niệm về thơnhư sau:

Nhà thơ Tố Hữu trong một lần trả lời phỏng vẫn Lê Thọ Bình đã nói

rất ngắn gọn: Thơ là cảm hứng.cảm hứng thì nên ghi lại.

Theo phần trích dẫn của Mã Giang Lân trong [ 35, 17-18] thì: Lưu

Trọng Lư cho rằng: thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống Thanh Tịnh cũng nghĩ: thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ

và tình cảm Tố Hữu quan niệm: Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống, thơ

là cái nhụy của cuộc sống, Thơ là tiếng nói tri âm, Thơ là chuyện đồng điệu Sóng Hồng trong bài tựa tập thơ của mình đã viết: thơ là biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp Có thể nói, các quan niệm của các nhà thơ này đều

theo hướng thơ gắn liền với đời

Theo Lê Quang Đức trong bài Chế Lan Viên - tháp Bayon bốn mặt là ông? thì Chế Lan Viên là một trong những người suy tư và viết về lao động

thơ nhiều nhất, ông thể hiện tất cả điều đó thành thơ:

Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể

Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời Trong bài viết Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt đương đại, Trần Ngọc Hiếu đã viết: …họ định nghĩa làm thơ tức là làm chữ, hay cụ thể hơn làm thơ tức là làm tiếng Việt (Trần Dần), nhà thơ chính là kẻ

Trang 14

phu chữ (Lê Đạt) Thơ cổ lai đặt ở tứ lạ, lời hay, hình ảnh đẹp, âm điệu ru hồn Tôi giản dị đồng nhất thơ và chữ (Trần Dần).

Còn nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm thì cho rằng: Thơ ca cũng như tình yêu, không ép buộc được đâu, khi gọi nó không đến nhưng khi đuổi nó không đi Bằng kinh nghiệm là thơ riêng của mình, tôi thấy những bài thơ hay lại ra đời trong hoàn cảnh chẳng thơ chút nào.

* Quan niệm về thơ của các nhà lí luận phê bình:

Phạm Quang Trung khẳng định: Thơ là tình nhưng là tình không tách rời ý Nếu chỉ là tình, dẫu là tình tột bậc, cũng không thể làm nên những vần thơ tuyệt bút Lê Hữu Trác xác định: Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa mới hay Không phải bất cứ điều gì cũng phải nói ra bằng thơ Như thế mới là thơ có giá trị [60, 63] Còn Mã Giang Lân thì định nghĩa: Thơ là một thông báo thẫm mĩ trong đó kết hợp bốn yếu tố: Ý – Tình – Hình – Nhạc [35, 19].

*Quan niệm về thơ của các nhà nghiên cứu thi pháp học:

Các nhà nghiên cứu theo hướng thi pháp học có những quan niệmkhác nhau về thơ và bàn đến những vấn đề về thơ

Theo R.Jakobson thì chức năng thi ca đem nguyên lí tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp

Trên thế giới, Liên Xô cũ là nơi thi pháp học đạt được nhiều thành tựuđáng kể gắn với các tên tuổi tiêu biểu như A.N Vexêlốpxki, V.Ia.Prốp,M.M Bakhtin, V.v.Vinôgrađốp, M.B.Khrapchencô, N.L Crápxốp…

Ở Việt Nam có một số tác giả bàn về thơ theo hướng thi pháp học là:

Đỗ Đức Hiểu, Phan Xuân Kính, Phan Thị Đào…

* Quan niệm về thơ theo cách nhìn của các nhà ngôn ngữ học:

Có một số nhà ngữ học nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ thơ tiêu biểu như:R.Jacobson, Phan Ngọc, Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Hữu Đạt, Mai NgọcChừ, Bùi Công Hùng…

Trang 15

Phan Ngọc trong bài Thơ là gì? viết: Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này [41, 23].

Theo Hữu Đạt trong [20, 25] thì : Thơ là một thể loại văn học được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật.

Trong [20, 58-63], Hữu Đạt khẳng định: Nói tới thơ ca là chúng ta đụng chạm tới một loạt văn bản có tính hình thức khá đặc biệt Đặc điểm đó không chỉ được thể hiện ở việc sử dụng các đơn vị từ ngữ, cú pháp mà còn ở

sự hoạt động của mỗi loại đơn vị ngôn ngữ trong khi thực hiện các chức năng của mình Ở loại văn bản này, có nhà nghiên cứu nhận xét, ngôn ngữ không chỉ là cái để nói về đối tượng mà còn là cái để nói về chính mình Nói một cách khác, ngôn ngữ không chỉ là công cụ nhận thức đối tượng mà còn

là công cụ nhận thức của công cụ nhận thức Thơ là loại văn bản nghệ thuật

có tổ chức ngôn ngữ bằng cách lắp ghép các mảng cảm xúc và hình tượng,

có tính bất ngờ, khó dự đoán trước, ít có độ lặp về mô hình kiến trúc và ít xảy ra hiện tượng biến dạng.

Bùi Công Hùng trong Góp phần tìm hiểu về nghệ thuật thơ ca, khẳng

định thơ quan trọng về vần điệu, trong đó điệu chính là cách tổ chức, hòaphối ngữ âm

Như vậy, có thể nói, có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách hiểu về thơ.Tùy theo mức độ mà mỗi người định nghĩa về thơ theo mỗi cách khác nhau,nhấn mạnh vào các nội dung khác nhau như: chất họa, chất nhạc, cảm xúccủa thơ, thơ là cốt lõi của cuộc sống, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tìnhcảm, là tiếng nói tri âm, là chuyện đồng điệu, là cách tổ chức ngôn ngữ, cógiá trị phổ quát, chứa đựng nhiều ý nghĩa, là văn bản được tổ chức bằng nhịp

Trang 16

điệu của ngôn từ; có người thì chú trọng vào hiện thực trong thơ, năng lựccảm thụ là yếu tố quyết định của thơ; thơ cốt ở ý, thơ phải có ích cho tưtưởng và phải mới lạ cho cảm xúc, thơ phải đem đến sự hy vọng…Trong sốcác định nghĩa về thơ cũng có những định nghĩa mang tính chung chung,khái quát có lẽ là vì những định nghĩa đó được nên ra theo cảm nhận hoặc

do người nêu định nghĩa mới chỉ nghiên cứu ở những bước đầu Tựu trunglại, dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thơ nhưng có thể thấy 3 khuynhhướng chính Thứ nhất là định nghĩa thiên về mặt hình thức của thơ, khôngnhắc đến mặt nội dung hoặc chỉ nói lướt qua mặt nội dung Thứ hai là nhữngđịnh nghĩa thơ thiên về mặt nội dung của thơ, không xem xét hoặc khôngchú ý đến mặt hình thức thơ Thứ ba là những định nghĩa chú ý đến cả haimặt nội dung và hình thức của thơ Theo chúng tôi, khuynh hướng thứ nhất

và khuynh hướng thứ hai đều chưa được vì nếu thơ chỉ quá chú trọng đếnhình thức mà không đạt được về mặt nội dung thì có thể là thơ dở hoặckhông có thơ Chẳng hạn như có một số người hiện nay làm thơ theo kiểuđầy những con số hoặc ngôn từ mang tính sáo rỗng, làm xiếc với ngôn từnhưng không đạt về mặt nội dung thì chỉ tạo ra những sản phẩm giả thơ,không đạt đến cái chân – thiện – mỹ Nhưng mặt khác, cũng lại phải thấyrằng, nếu thơ chỉ thiên về mặt nội dung, không đảm bảo những yếu tố nhấtđịnh về hình thức thì có thể tạo ra thứ thơ trùng lặp với thể loại vốn đượcmọi người coi là “văn xuôi”, thậm chí có thể tạo ra một sản phẩm không có

gì để gọi là thơ hay văn xuôi cả Vì vậy, chúng tôi ủng hộ khuynh hướng thứ

ba - khuynh hướng coi thơ là phải đảm bảo cả về mặt nội dung và hình thức.Hình thức của thơ phải đạt đến độ tương xứng để người ta có thể nhận biết,phân biệt thơ với các thể loại không phải là thơ Đồng thời, hình thức đóphải đạt đến mức truyền tải được nội dung, “nghĩa lý” của thơ Thơ phảiđảm bảo được sự tương xứng về cả hình thức và nội dung thơ- hai mặt nàykhông thể thiếu trong thơ, luôn có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau theo tính chất

Trang 17

tương tác hai chiều Dựa trên cơ sở lựa chọn khuynh hướng thứ ba trongcách hiểu về thơ như vậy, chúng tôi thấy định nghĩa về thơ của Bạch Cư Dị

và định nghĩa của Mã Giang Lân nói trên về cơ bản là hợp lí nhất Cách hiểu

đó là cơ sở để chúng tôi có thể tiến hành tìm hiểu các đặc điểm khác củathơ

1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ

Thơ là thể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậy,ngôn ngữ thơ trước hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là ngôn ngữ thơphải mang đầy đủ những thuộc tính như: tính chính xác, tính hàm súc, tính

đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm Tuy nhiên, không phải lúc nào cácđặc điểm này cũng biểu hiện giống nhau, mà tùy thuộc vào mỗi loại tácphẩm chúng được biểu hiện bằng những sắc thái và mức độ khác nhau.Đồng thời mỗi tác phẩm thoe thể loại lại có những đặc trưng ngôn ngữ riêng

So với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ có những đặc trưng riêng Điểm nổibật của thơ ca là ở chỗ chỉ dùng một lượng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ đểbiểu hiện cái vô hạn của cuộc sống bao gồm các sự kiện tự nhiên và xã hộicũng như tâm tư, tình cảm của cá nhân con người Đúng như Phan Ngọc đã

nhận định: Thơ là một thể loại có hình thức ngôn ngữ quái đản [41, 30].

Như vậy, ngôn ngữ thơ khác với lời nói thường và khác với ngôn ngữ vănxuôi ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhưng cảm xúc và ý nghĩa hết sức phongphú, giàu sức gợi cảm Vì thế ngôn ngữ thơ mang tính hình tượng rất rõ nét

Xét ở phạm vi thể loại ngôn ngữ thơ được hiểu là một chùm đặc trưng ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trưng hóa, khái quát hoá, hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thơ ca.

Từ trước đến nay, trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ,các tác giả đã dựa vào nguyên lí của F.de Saussure về sự hoạt đọng của ngônngữ theo quan hệ hệ hình và theo quan hệ cú đoạn để đưa ra hai cơ chế củahoạt động ngôn ngữ thơ là cơ chế lựa chọn và cơ chế kết hợp Tác giả

Trang 18

Nguyễn Phan Cảnh cho rằng cơ chế lựa chọn dựa trên một khả năng của

ngôn ngữ là các đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau vào tính tương đồng của chúng [8, 16] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hành động ngôn ngữ đó là các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng [8, 24] Cũng theo tác giả nếu như

văn xuôi làm việc trước hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp lại làmột điều tối kỵ thì ngược lại chính cái điều văn xuôi tối kỵ ấy lại là thủ pháplàm việc của thơ: trong thơ, tính tương đồng của các đơn vị ngôn ngữ lạiđược dùng để xây dựng các thông báo

Thao tác lựa chọn giúp cho nhà thơ có thể lựa chọn một đơn vị trongmột loạt đơn vị có giá trị tương đương, có thể thay thế cho nhau trên trụcdọc, sau khi đã lựa chọn thì thoa tác kết hợp lại cho phép người làm thơ thểtạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất màngôn ngữ dân tộc cho phép

Để tìm ra những đặc trưng của ngôn ngữ thơ, chúng ta sẽ dựa vào babình diện cơ bản đó là: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp

1.1.2.1 Bình diện ngữ âm

Hình thức ngữ âm trong thơ là yếu tố hết sức quan trọng Các nhân tốnhư: âm vận, điệp âm, điệp vần, khổ thơ thực sự là những nhân tố cơ bảnlàm nên tính nhạc cho thơ Đó cũng là các phương tiện nổi bật trên bình diệnngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi Sự phong phú về thanh điệu, số lượngcác nguyên âm, phụ âm trong tiếng Việt đã góp phần không nhỏ tạo nên tínhnhạc cho thơ: khi trầm bổng du dương, khi ngân nga bay bổng, khi dồn dập,thiết tha

Khai thác tính nhạc trong thơ chúng tôi chú ý vào những mặt đới lập sau:

- Sự đối lập về trầm - bổng, khép - mở giữa các nguyên âm

- Sự đối lập vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc vôthanh trong các phụ âm cuối

Trang 19

- Sự đối lập bằng - trắc giữa các thanh điệu.

Cùng với sự đối lập, vần điệu, nhịp điệu cũng góp phần quan trọngtrong việc tạo nên tính nhạc cho thơ ca Vì rằng các yếu tố ngữ âm này vừa

là cơ sở vừa là chất liệu cho sự hòa âm của ngôn ngữ thơ ca Giáo sư Dương

Viết Á cho rằng: ngôn ngữ có trước âm nhạc, âm nhạc từ ngôn ngữ mà ra Càng về sau chúng càng tách xa nhau để phát triển và cá biệt hóa Nhưng

dù xa nhau bao nhiêu giữa chúng cũng có mối quan hệ rất căn bản [2, 25].

Như vậy, nhạc thơ là thứ nhạc khác với âm nhạc thông thường, nhạcthơ được tạo thành bởi ba yếu tố chính: âm điệu, nhịp điệu, vần điệu Tuynhiên, trong một tác phẩm vai trò các yếu tố này không hoàn toàn giốngnhau, phụ thuộc vào bài thơ, thể thơ mà vai trò của một yếu tố nào đó nổi bậthơn các yếu tố còn lại Trong bất kì bài thơ nào, vai trò của ba yếu tố nàycàng lớn thì nhạc điệu của thi phẩm đó càng nổi bật, đồng thời ấn tượng ngữnghĩa càng phụ phụ thuộc hơn vào ấn tượng ngữ âm

độ suy cho cùng là do sự chi phối của hoàn cảnh phát ngôn hoặc do âmlượng của nguyên âm mà có Theo đó ta những âm tiết kết thúc bằng nguyên

âm hay bán nguyên âm thì có độ vang và có khả năng kéo dài trường độ lớnhơn âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh

Trang 20

Trong tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố căn bản chi phối phần vần của

âm tiết Vì rằng thanh điệu là yếu tố thứ hai thể hiện tập trung nhất phẩmchất của thi phẩm Chính vì thế, nói đến cách hòa âm trong thơ Việt Namthực chất là nói sự hòa phối các thanh điệu, các cách kết hợp thanh theo mộtkiểu nhất định nào đó Thanh điệu là sự nâng cao hay hạ thấp giọng nóitrong mọi âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt võ âm thanh của từ và hình

vị Vì thế, thanh điệu là đặc trưng của âm tiết trong khi ngữ điệu là đặc trưngcủa âm, trọng âm là đặc trưng của từ Trong tiếng Việt thanh điệu là yếu tốsiêu đoạn trùm toàn bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sự khác biệt vềphẩm chất ngữ âm giữa âm tiết này với âm tiết khác, cho nên nó là đối tượngchính của âm điệu và được tìm hiểu trên hai bình diện là âm vực và đườngnét vận động

-Theo âm vực ta có: các thanh âm vực cao gồm thanh không, thanhsắc, thanh hỏi và các thanh có âm vực thấp gồm thanh huyền, thanh ngã vàthanh nặng

- Theo đường nét vận động ta có: những thanh có đường nét bằngphẳng (thanh bằng) gồm thanh không, thanh huyền và những thanh cóđường nét không bằng phẳng (thanh trắc) gồm thanh sắc, thanh hỏi, thanhngã, thanh nặng

Như vậy, sự khác nhau về âm vực và đường nét các thanh điệu sẽ tạonên sự khác nhau ở các cao độ của nốt nhac hay nói cách khác sẽ tạo nêntính nhạc trong thơ

Trang 21

định giữa hai từ hoặc là giữa hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp [17, 12] Có thể nói vần là chất keo để chắp nối, gắn kết các dòng thơ lại thành từng đoạn, khổ và từng bài hoàn chỉnh Ở các câu thơ, khổ thơ có vần với chức năng tổ chức vần thơ như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau, do đó giúp cho việc đọc thuận miệng, nghe thuận tai, và làm cho người đọc người nghe dễ thuộc, dễ nhớ [17, 22].

Đơn vị hiệp vần trong tiếng Việt là âm tiết, nhưng theo cảm thứcngười Việt không chấp nhận sự hiệp vần giữa một từ đa tiết với một từ đơntiết hay một từ đa tiết khác Theo đó sự hiệp vần chỉ diễn ra giữa tiếng (âmtiết) này với tiếng (âm tiết) khác mà thôi Trong các vần thơ bao giờ cũng có

sự cộng hưởng, sự hòa xướng với nhau của hai âm tiết có vần Đồng thờicòn có sự hòa xướng đối lập nhau giữa các yếu tố tương ứng trong hai âmtiết hiệp vần nhằm tạo ra sự hòa âm cho các cặp vần Đó là sự hòa âm giữathanh điệu của hai âm tiết hiệp vần, giữa âm đầu, âm đệm, âm chính, âmcuối của âm tiết này với âm tiết kia Chính nhờ vào điều đó giúp ta nhận ravai trò to lớn của âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập các vần thơ Việt Nam.Chúng ta dễ dàng nhận thấy trong tiếng Việt tất cả các yếu tố tạo ra âm tiếtđều tham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam nhằm tránhlặp vần Trong quá trình tham gia đó, thanh điệu, âm chính và âm cuối lànhững yếu tố cơ bản tham gia vào việc tạo nên sự hòa âm cho các vần thơ.Tính nhạc trong thơ cũng như khả năng mĩ cảm đặc biệt của thơ bắt đầu từchính vị trí, mức độ hòa âm và đặc điểm biến thiên cao độ của các âm tiếtmang vần

a.Nhịp điệu

Nhịp điệu thực chất là điệu tính được tạo ra từ sự xuất hiện luân phiên

các ngữ đoạn trong ngữ lưu F de.Saussure cho rằng : dòng âm thanh chỉ là một đường dài, một dải liên tục, trong đó thính giả không thấy sự phân chia nào đầy đủ và chính xác, muốn có sự phân chia như vậy phải viện đến ý

Trang 22

nghĩa nhưng khi đã biết cần phải gắn cho mỗi bộ phận của chuỗi âm thanh một ý nghĩa gì và một vai trò gì thì ta sẽ thấy những bộ phận đó tách ra, và cái giải vô hình kia sẽ phân ra thành từng đoạn [46, 95].

Theo đó trong thơ nhịp điệu là yếu tố hết sức quan trọng, nó là kết quảcủa việc hòa phối âm thanh được tạo ra từ ngắt nhịp Nhịp điệu liên kết cácyếu tố ngữ âm lại với nhau để tạo ra nhạc tính Bởi vì yếu tố quan trọng nhất

để tạo nên nhịp điệu là những chỗ ngừng, chỗ ngắt, trong sự phân bố mau,thưa hay đa dạng của chúng là độ dài ngắn khác nhau của các quãng nghỉhơi sau các dòng thơ, khổ thơ Cho đến nay, ngắt nhịp trong thơ có thể phânthành hai loại: ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm lí, hai loại nhịp này có khitách bạch có khi hòa quyện vào nhau tùy thuộc vào cấu trúc ngôn ngữ củadòng thơ, khổ thơ và cảm hứng Hơn nữa, nhịp thơ gắn liền với tình cảm,cảm xúc, các trạng thái rung cảm xúc động Vì vậy, nó ảnh hưởng đến việclựa chọn nhịp cho câu thơ, bài thơ

Nhịp trong câu thơ khác nhịp trong văn xuôi Nếu nhịp trong văn xuôiluôn luôn trùng với nhịp cú pháp thì nhịp trong thơ không phải bao giờ cũngtrùng với nhịp cú pháp Sở dĩ như vậy là bởi lẽ việc ngắt nhịp trong thơ chịu

sự chi phối của yếu tố tâm lí và cấu trúc âm điệu Do đó cách ngắt nhịp, tạonhịp trong thơ hết sức đa dạng và mang bản sắc của từng nhà thơ

Chẳng hạn như trong thơ lục bát Việt Nam, việc ngắt nhịp trước hếtdiễn ra dưới áp lực của vần lưng và xu hường tăng song tiết hóa trong tiếngViệt Chính điều này đã tạo ra một loại nhịp đặc thù cho thể thơ này đó là:nhịp tâm lí Đây là loại nhịp xuất hiện khi bối cảnh không đủ sức cho nhịp lẻnào đó tồn tại Cơ sở của nhịp tâm lí chính là nhịp lẻ bị đồng hóa bởi tínhnhịp nhàng của nhịp đôi trong dòng thơ và giữa các cặp 6/8 với nhau.Trong thơ lục bát, tiếng Việt nhịp chẵn 2/2/2/2 và tiết tấu nhịp đôi đã hìnhthành từ lâu Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta loại trừ nhịp lẻ - dù choloại nhịp này ít phù hợp với tính thích cân đối hài hòa của người Việt Vì

Trang 23

thế, nhịp lẻ xuất hiện trước hết là nhịp lẻ cân đối 3/3, sau đó mới đến nhịp

lẻ độc lập - một loại nhịp biến cách và không phổ biến ở thơ lục bát Trongkhi đó thể thơ tự do có những câu thơ rất giống với câu văn xuôi song lại

có sức ngân vang rất lớn Có được điều đó là bởi vì trong thể thơ này cáctác giả đã cố ý tạo ra nhịp thơ dài- ngắn, nhanh - chậm, mạnh - yếu khácnhau theo cảm xúc của mình Như vậy, nhịp thơ là cái được nhận thứcthông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chu kì, cách quãng hoặc luân phiêntheo thời gian của những chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bảnnhư câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ

Có thể nói vần và nhịp là hai yếu tố quan trọng về mặt hình thức trongthơ ca, là những đơn vị ngữ âm không thể thiếu trong ngôn ngữ thơ Giữavần và nhịp luôn có mối quan hệ hữu cơ và tương hỗ lẫn nhau Nhịp là yếu

tố cơ bản, là xương sống của bài thơ, là cơ sở, tiền đề cho việc gieo vầntrong thơ

1.1.2.2 Bình diện ngữ nghĩa

Tính nhạc là dấu hiệu đặc thù đầu tiên, quan trọng nhất của thơ,nhưng chỉ riêng tính nhạc thôi thì chưa đủ, chưa thể tạo nên thơ Dấu hiệuthứ hai tạo nên sức ngân vang của thơ thuộc về bình diện ngôn từ Cùng vớingữ âm thì ngữ nghĩa cũng là một yếu tố cấu thành tác phẩm thơ ca Ngữnghĩa trong thơ khác với ngôn ngữ giao tiếp thường nhật và khác với ngữnghĩa trong văn xuôi Sở dĩ có điều đó là vì ngôn ngữ thơ thường cô đọng,hàm súc về từ ngữ, hình ảnh Một từ ngữ nào đó khi được đưa vào thơ đều

đã trải qua lựa chọn của tác giả vào vị trí của mình Ngữ nghĩa trong thơkhông chỉ có giá trị biểu hiện mà còn có những giá trị khác Khi đi vào thơ,

do áp lực của cấu trúc- hệ thống mà ngữ nghĩa của ngôn từ không dừng lại

ở nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu mà nó mang những nghĩa mới, nghĩaphái sinh tinh tế đa dạng hơn tạo nên hiện tượng nhòe về nghĩa (chữ dùngtheo Nguyễn Phan Cảnh) của thơ Chính đặc tính này đã làm cho mỗi từ ngữ

Trang 24

trong thơ chứa đựng một sức mạnh tiềm tàng, chưa đựng cái đẹp đẽ, tinh tế,sâu sắc Trong thơ có những từ ngữ được sử dụng bởi phép chuyển nghĩathông qua những hình thức như ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, chơi chữ…làm chonội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác định, phải lựachọn, liên tưởng, tưởng tượng mới có thể giải mã, cảm thụ hết vẻ đẹp tối đacủa câu thơ.

Tính nhòe về nghĩa trong thơ đã góp phần tạo ra nhiều kiểu cấu trúcđặc biệt, nhiều khi là bất bình thường cho thơ Thơ cho phép sự tỉnh lược,thiếu vắng những thành phần ngữ pháp, kể cả những thành phần chính củacâu như chủ ngữ, vị ngữ, dùng các biện pháp đảo ngữ, đảo từ, đảo cú pháp,những kết hợp không bình thường, kể cả cách ngắt câu lạ mà trong văn xuôikhông được phép Mục tiêu muôn đời của thơ ca là hiệu quả diễn đạt ý tạingôn ngoại Chính đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sứccuốn hút kì lạ đối với độc giả Bởi thế đến với thơ ca chúng ta không chỉ tiếpnhận bằng mắt, bằng tai mà còn tiếp nhận bằng cả tình cảm, cảm xúc, bằngtrí tưởng tượng và liên tưởng Ngôn ngữ thơ vì thế không chỉ là phương tiệngiao tiếp mà còn là thứ gì đó chưa từng được nói, chưa từng được nghe

1.1.2.3 Bình diện ngữ pháp

Bình diện ngữ pháp trong thơ được thể hiện ở những điểm cụ thể ở: sựphân chia các dòng thơ, câu thơ, những kiểu câu và cách tổ chức sắp xếp từngữ trong thơ

Xét từ sự phân chia các dòng thơ, có người quan niệm dòng thơ tươngứng với câu thơ Tuy nhiên trong thực tế ranh giới này nhiều khi khôngtrùng nhau, bởi lẽ: Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ, có khi mộtcâu thơ là cả một đoạn thơ dài trong đó mỗi dòng thơ là một đoạn của câu

Về cách sắp xếp từ ngữ trong thơ cũng khác so với văn xuôi ở chỗ cókhi các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự Các từ

Trang 25

không sắp xếp theo lo gic bình thường, nhất là trong những câu thơ xảy rahiện tượng vắt dòng.

Góc độ cấu trúc câu trong thơ cũng khác với văn xuôi Nếu câu trongvăn xuôi bắt buộc phải tuân theo quy tắc chặt chẽ thì câu trong thơ khônghoàn toàn tuân theo quy tắc bắt buộc và chặt chẽ Nhà thơ có thể sáng tạo và

sử dụng nhiều kiểu câu lạ, những loại câu quái đản mà vẫn không ảnh hưởng

gì đến quá trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản thơ Ngược lại, sự kết hợpbất bình thường đó lại mở ra những giá trị mới, nghĩa mới cho ngôn ngữ thơtrong quá trình diễn đạt cũng như trong quá trình tạo lập những phong cáchriêng của mỗi nhà thơ

1.2 Khái niệm trường ca

Thể loại ta vẫn quen gọi là “trường ca” (tiếng Pháp: poème, trong

thuật ngữ văn học Liên Xô cũ gọi là poema), được hiểu với một nghĩa rất

rộng, nội hàm không xác định Trường ca chỉ có nghĩa là tác phẩm thơ dài,

số lượng câu thơ lớn: hàng trăm, hàng ngàn câu Bêlinxki là nhà lý luận vănhọc đầu tiên cho rằng trường ca là một tác phẩm thơ dài đặc biệt, có đặc

trưng về nội dung V Yvanixenkô khẳng định nội dung lớn là đặc trưng thể loại cốt yếu của trường ca Theo V Yvanixenkô thì nội dung lớn ở đây

không chỉ thể hiện ở quy mô của thực tế được tổng hợp trong tác phẩm để

tạo ra tính hoành tráng của tác phẩm mà còn thể hiện ở nhân cách nhà thơ

với những tình cảm phóng khoáng, lành mạnh hết sức phong phú; ở tư tưởng

nhà thơ có sức khái quát sâu sắc Nội dung lớn của trường ca trước hết là ở

tư tưởng, tình cảm lớn của tác giả trường ca Về vấn đề tư tưởng lớn trong trường ca, Maiacôpxki nhấn mạnh: Có thể không viết về chiến tranh nhưng nhất thiết phải viết bằng chiến tranh Theo cách diễn đạt này, cái quyết định

nội dung lớn là viết bằng tư tưởng gì Những ý kiến kinh điển của Biêlinxki

về trường ca khẳng định rõ hơn tính chất nội dung lớn trong trường ca: Trong thơ đương đại, có một thể loại tự sự đặc biệt, nó không dung nạp văn

Trang 26

xuôi của đời sống, nó chỉ chớp lấy những yếu tố mang chất thơ, chất lý tưởng của cuộc sống mà nội dung là những chiêm nghiệm sâu sắc nhất về thế giới và những vấn đề đạo đức cao sâu nhất của nhân loại hiện tại Thể loại tự sự này giữ riêng cho mình từ poema [dẫn theo 26, 5].

Khái niệm trường ca bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ giữa những năm

50 của thế kỷ XX, dùng để gọi tên những sáng tác dân gian có tính sử thi và

có độ dài như Đam San, Xinh Nhã Theo cách gọi này, trường ca còn được hiểu như là sự đồng nhất với sử thi, anh hùng ca (Iliat, Ôđixê, Ramayana ) hoặc như các Khan ở Tây Nguyên, các Mo của dân tộc Mường vùng núi Tây

Bắc Khái niệm trường ca dần dần được vận dụng để gọi tên những tác phẩmthơ hiện đại dài hơi có dung lượng lớn, sự kiện bao quát và quy mô cảm xúc,

tư tưởng lớn Thế nhưng trường ca hiện đại không chỉ là sự vận động tựnhiên của các trường ca trong lịch sử Thực tế sáng tác, sự phát triển rầm rộcủa trường ca hiện đại đặc biệt là vào hai thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước

đã buộc các nhà nghiên cứu văn học phải đưa ra những lý thuyết về đặctrưng, về thi pháp của thể loại này

Thể loại trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại đã từng là mốiquan tâm của các nhà nghiên cứu và của chính các tác giả viết trường ca Sựbăn khoăn lớn nhất vẫn là một khái niệm có thể áp dụng cho trường ca hiệnđại ở Việt Nam Trên đường đi tìm một định nghĩa về trường ca, có rất nhiều

ý kiến khác nhau Cho đến nay, nội dung khái niệm trường ca vẫn chưa cóquan niệm thống nhất Bùi Văn Nguyên, Hà Mịnh Đức xếp trường ca vào

hình thức thơ tự sự, hoặc ít nhiều dựa trên phương thức tự sự Nội dung của trường ca thường gắn liền với các phạm trù thẩm mỹ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả [42, 395] Lại Nguyên Ân cho rằng: Có thể gọi chung các sáng tác thơ dài hiện nay là "trường ca" với nhiều kiểu kết cấu khác nhau: trường

ca kể chuyện, thơ sân khấu, trường ca trữ tình chính luận Xu hướng chung là Truyện thơ tăng thêm yếu tố trữ tình để gần với trường ca Thơ trữ

Trang 27

tình nói chung, và thơ trường thiên cũng mở rộng hình thức và khuôn khổ để gần gũi với trường ca [5, 28] Trần Ngọc Vương khẳng định: Trường ca của

ta bây giờ không phải là cùng một khuôn với các thể loại trường ca đã từng tồn tại trong lịch sử Thế nhưng có một điểm gặp gỡ là tính chất tầm cỡ của thể loại này Thu Bồn kết luận rằng đến nay chúng ta chưa có một định

nghĩa nào về trường ca Những định nghĩa của nhà trường về trường ca thì

đã quá cũ, chỉ thích hợp cho những trường ca cổ điển mang tính chất anhhùng ca Ông đề nghị cần có sự xê dịch định nghĩa cho phù hợp với đặc

trưng của nó Theo ông, Trường ca là một thể loại dài hơi nhằm thể hiện một chủ đề tư tưởng thông qua hình tượng thơ ca, sử dụng ngôn ngữ, nhân vật, âm điệu, bố cục một cách điêu luyện và tinh xảo nhất của toàn bộ nghệ thuật thơ ca Nó động viên nhiều phương pháp, vốn sống, xúc cảm, lao động trí tuệ nhằm ca ngợi con người, tình yêu, chiến đấu, lao động sáng tạo

và thiên nhiên [7, 536] Vũ Văn Sỹ trong cuốn Về một đặc trưng thi pháp của thơ Việt Nam (1945-1995), trên cơ sở tổng hợp những ý kiến của những người đi trước cho rằng: trường ca là một hiện tượng thâm nhập của các thể loại thơ, là một kết cấu mềm dẻo và đa diện [49, 152].

Định nghĩa chính thức về trường ca được nêu ra trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (2004), Nxb Giáo dục, Hà Nội, do Lê Bá Hán, Trần Đình

Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên): Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca (Poème) cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi (épopée) thời cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả ( ) Tên gọi trường ca một thời dùng chỉ các sử thi dân gian như Đăm san, nay thường được dùng để chỉ các sáng tác thơ dài của các tác giả như Bài ca chim Chơrao của Thu Bồn, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh… [26, 319].

Trang 28

Trên cơ sở các ý kiến đã nêu, thông qua việc nghiên cứu, khảo sát cáctác phẩm trường ca đã ra đời trong và sau kháng chiến chống Mỹ, chúng tôi

đề xuất khái niệm trường ca như sau: Trường ca là những tác phẩm thơ códung lượng lớn, ra đời và phát triển trong hoàn cảnh xã hội có những biến cốlịch sử trọng đại, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Đến thế kỷ XX,trường ca phát triển theo hướng trữ tình không có cốt truyện Trường ca hiệnđại Việt Nam, đặc biệt là trường ca chống Mỹ vận động và phát triển theohướng trữ tình hoá yếu tố tự sự, cốt truyện giảm dần, xúc cảm cá nhân gắnliền với những chấn động lịch sử lớn lao, có xu hướng tổng kết, khái quátnhững vấn đề lớn của nhân dân, thời đại, dân tộc Vì có dung lượng lớn, sựkiện bao quát, quy mô cảm xúc, tư tưởng lớn nên trường ca kết hợp nhuầnnhuyễn nhiều thể thơ, nhiều hình thức phát ngôn, nhiều giọng điệu, nhiềucảm hứng, nhiều chủ đề với nguồn cảm xúc mãnh liệt

1.3 Trường ca Mặt đường khát vọng trong sự nghiệp sáng tác của

Nguyễn Khoa Điềm

1.3.1 Vài nét về tiểu sử

Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943 tại thôn ƯuĐiềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, trong mộtgia đình tri thức cách mạng Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm HàNội năm 1964, Nguyễn Khoa Điềm vào miền Nam tham gia chiến đấuchống đế quốc Mỹ; từ chiến khi Trị - Thiên vào hoạt động trong nội thànhHuế, từng bị địch bắt giam Tổng tiến công Mậu Thân 1968, ông được giảithoát và lại lên chiến khu Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ từ thời kì này

và là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những nămkháng chiến chống Mỹ Sau năm 1975, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục hoạtđộng văn nghệ và công tác chính trị ở thành phố Huế quê hương, từng làTổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam (khóa V), Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông

Trang 29

tin, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư Văn hóa Trung ương.

Trang 30

tưởng-1.3.2 Quá trình sáng tác

Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha ônglại hoạt động nhiều trong lĩnh vực văn chương, báo chí nên ít nhiều đã ảnhhưởng đến tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của ông sau này Ngay từ nhỏ,Nguyễn Khoa Điềm đã thích văn học, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh hỗnloạn, gia đình li tán nên ông chưa thể giành nhiều thời gian và tâm huyết choviệc sáng tác Mãi đến 1969 do hoàn cảnh đặc biệt: địch phản kích mạnh,một số anh chị em được cơ quan chuyển về tuyến sau thuộc Khu ủy Trị -Thiên Trong thời gian tương đối yên tỉnh này đã tạo điều kiện cho ông sángtác một số bài thơ, và đã thực sự tạo được dấn ấn riêng

Thời gian đầu, được sự cổ vũ của một số anh chị em văn nghệ, NguyễnKhoa Điềm đã hăng hái sáng tác, ông gửi thơ ra Bắc, một số bài thơ được đăngphát trên đài tạo nguồn cổ vũ cho ông cầm bút Năm 1972, tập thơ đầu tay của

ông là Đất ngoại ô ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp

thơ ca của nhà thơ Những bài thơ đầu tiên ông viết về chính tuổi trẻ của mình,viết về đồng đội và nhân dân những năm chiến tranh oanh liệt nhưng nó lại đểlại trong lòng bạn đọc những dấu ấn tốt đẹp Người ta bắt đầu biết đến thơNguyễn Khoa Điềm với những vần thơ mộc mạc hàm chứa một vẻ đẹp giản dị

trong trẻo Đó là một thứ thơ thấm đẫm chất mên say khát vọng và hành động Một thứ thơ giàu chất sử thi của một thời.[ 47, 289 ].

Có thể thấy năng khiếu thơ văn đến với Nguyễn Khoa Điềm khôngphải trong những ngày ông còn học tập dưới mái trường đại học, tuy rằngđây cũng là thời kì quan trọng để ông tích lũy vốn kiến thức cho công việcsáng tác sau này Khi vào chiến khu Trị - Thiên, chính môi trường khắcnghiệt của chiến trường đã khơi nguồn cho ông những cảm xúc, những suynghĩ sâu xa về trách nhiệm của thế hệ trẻ trước sự sống còn của tổ quốc Vớitập thơ đầu tay này, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được dấu ấn riêng của mình

trong phong trào thơ ca chống Mỹ lúc bấy giờ Năm 1974, trường ca Mặt

Trang 31

đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm ra mắt bạn đọc, nó vẫn tiếp tục đi

theo xu hướng khai thác những vấn đề của tuổi trẻ nhưng trên một bình diệnmới: Đó là quá trình tìm đến với cách mạng của tuổi trẻ thành thị miền Nam

Khác với tạp thơ đầu tay Đất ngoại ô, ở tập thơ này Nguyễn Khoa Điềm đã

huy động vào đây nhiều sự từng trải, tư duy đậm chất trí tuệ, gửi gắm vàođây bao kỉ niệm về dân tộc đất nước Mang trong mình một cảm xúc cuồncuộn của tuổi trẻ trước vận mệnh, tương lai của đất nước, Nguyễn KhoaĐiềm với tài năng của mình đã làm bật lên được sự tìm về với dân tộc, thamgia vào cuộc chiến đấu chung là con đường đúng đắn với thanh niên yêunước Sau ngày nước nhà thống nhất, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lần lượtđược giao nhiều trọng trách: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thôngtin; Tổng Thư ký BCH Hội Nhà văn khóa V; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thưTrung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương nên ít có

thời gian làm thơ Tuy vậy, vào năm 1986, ông vẫn cho ra đời tập Ngôi nhà

có ngọn lửa ấm Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghỉ hưu, ông đã hoàn thành tập thơ Cõi lặng (Nxb Văn học - 2007) gây xôn xao dư luận Trong Ngôi nhà có ngọn lửa ấm và Cõi lặng, Nguyễn Khoa Điềm nghiêng về chiêm

nghiệm đời sống xã hội, nhân tình thế thái Bên cạnh những cái hay, cái đẹpông còn nhận thấy những cái chưa hay, chưa đẹp trong cuộc sống hiện tại.Những chiêm nghiệm này không chỉ cần thiết cho bản thân tác giả mà còn lànhững bài học hết sức quý giá cho tất cả mọi người

Là người con xứ Huế, lại xuất thân trong một gia đình giàu truyềnthống văn học nghệ thuật cùng với sự trải nghiệm của những năm tháng đầybiến động, Nguyễn Khoa Điềm trở thành một ngòi bút thơ ca có phong cáchgiàu chất trí tuệ, chất triết luận uyên bác Thơ ông giàu chất suy tư, xúc cảmdồn nén, thể hiện tâm tư của người tri thức tham gia tích cực vào cuộc chiếnđấu của nhân dân

Trang 32

1.3.3 Trường ca Mặt đường khát vọng

Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trongvăn học Việt Nam xuất hiện một thế hệ nhà thơ trẻ như: Phạm Tiến Duật,Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh…có chung tưtưởng nghệ thuật, chung cảm hứng sáng tác Đó là thế hệ thơ trẻ - nhữngngười đang cầm súng chiến đấu đã nói lên bằng thơ ca sự tự ý thức về vaitrò, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với đất nước Cái tôi trữ tình trong thơ họ là

cái tôi - thế hệ qua trải nghiệm của bản thân đã nhận thức sâu sắc cội nguồn

tư tưởng, cảm hứng thơ ca là nhân dân, đất nước anh hùng:

Và cứ thế nhân dân thường ít nói

Và cứ thế nhân dân cao vòi vọi

(Thanh Thảo- Những người đi tới biển) Ngày mai chúng tôi đánh trận cuối cùng

Một nửa nhân dân ngày mai ta nhận mặt

Nhân dân trở về từ bên kia mặt trăng

(Hữu Thỉnh- Đường tới thành phố)

Nguyễn Khoa Điềm viết Mặt đường khát vọng ở chiến khu Trị - Thiên

năm 1971 Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ đi vào giai đoạn ácliệt nhất Ý chí và khát vọng giải phóng đất nước của nhân dân Việt Nam lúcnày đã mạnh mẽ và quyết liệt hơn bao giờ hết Tắm mình trong không khílịch sử này, cảm hứng nghệ thuật của Nguyễn Khoa Điềm đã cất lên tiếngthơ thức nhận sâu sắc về đất nước, nhân dân anh hùng Sự thức nhận của nhàthơ cũng là sự thức tỉnh của tuổi các thành thị vùng tạm chiếm miền Nam,nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ, hướng về nhân dân, đất nước, ýthức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hòanhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc Nguyễn Khoa Điềm từng tâm sự: Thời ấy là sinh viên từ miền Bắc vào, tôi rất thích nhạc giao hưởng,

nó nhiều giọng điệu, có đoạn đằm thắm nhẹ nhàng, có đoạn suy tư, có đoạn

Trang 33

cao trào gay gắt sôi nổi Tôi nghĩ sẽ viết một bản giao hưởng bằng ngôn ngữ [dẫn theo 62, 41]

Thế là bản giao hưởng ngôn ngữ Mặt đường khát vọng của Nguyễn

Khoa Điềm đã ra đời Tác phẩm gồm chín chương:

Chương 1: Lời chào Chương 2: Báo động.

Chương 3: Giặc Mỹ.

Chương 4: Tuổi trẻ không yên.

Chương 5: Đất nước.

Chương 6: Áo trắng và mặt đường.

Chương 7: Xuống đường.

Chương 8: Khoảng lớn âm vang.

Chương 9: Báo bão

1.4 Tiểu kết

Trong toàn bộ chương 1, chúng tôi đã điểm qua một số khái niệm liênquan đến đề tài như: thơ và các đặc điểm ngôn ngữ thơ trong sự đối lập vớingôn ngữ văn xuôi Chúng tôi cũng đã trình bày những nét cơ bản về cuộcđời, sự nghiệp và những đặc điểm nổi bật của thơ Nguyễn Khoa Điềm

Ngoài ra, chúng tôi cũng trình bài những nét khái quát về trường ca Mặt đường khát vọng Tất cả những vấn đề này sẽ là những tiền đề quan trọng để

chúng tôi trình bày những nội dung tiếp theo của luận văn

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM THỂ THƠ, VẦN THƠ, NHỊP THƠ

TRONG TRƯỜNG CA MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG

2.1 Đặc điểm thể thơ trong trường ca Mặt đường khát vọng

Cùng với quá trình phát triển của lịch sử văn học dân tộc là sự hìnhthành rồi biến thể của các thể thơ Lịch sử văn học dân tộc đã ghi nhận sựhình thành của các thể thơ theo những con đường khác nhau Nhiều thể thơ

có nguồn gốc bản địa, từ văn học dân gian mà phát triển lên Một số khác lại

du nhập từ ngoài vào, trải qua quá trình Việt hóa của người Việt mà hìnhthành Do đó những tác phẩm xuất sắc dù ở thể thơ này hay thể thơ khác đềuchan chứa tâm hồn và tính cách con người Việt Nam

Từ trước đến nay, để phân loại thể thơ, người ta dựa vào các tiêu chí sau:

- Căn cứ vào số lượng âm tiết trong câu thơ, thì có: Thơ 4 chữ, thơ 5chữ, thơ 7, 8 chữ, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, thơ tự do (không giốngnhau về số âm tiết giữa các dòng thơ)

- Căn cứ vào vần luật, thì có hai loại: Thơ cách luật (có quy tắc vần ổnđịnh như: thơ Đường luật, thơ lục bát, thơ song thất lục bát) và thơ khôngcách luật (tự do số tiếng trong câu và số câu trong bài)

Trong quá trình tìm hiểu trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn

Khoa Điềm, chúng tôi nhận thấy toàn bộ 9 chương của trường ca này đượcviết bằng thể thơ tự do Qua thống kê, chúng tôi thu được kết quả như sau:

Trang 35

Bảng 1 Thống kê dòng thơ theo số lượng âm tiết

Bảng thống kê cho chúng ta thấy Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng một

cách đa dạng các thể thơ từ 2 đến 30 âm tiết trong đó số lượng các câu thơ

có 7, 8, 9 âm tiết vẫn chiếm tỉ lệ lớn nhất Sự đa dạng về số âm tiết của các

dòng thơ cũng cho thấy trường ca Mặt đường khát vọng có một hình thức

nghệ thuật hấp dẫn ngay từ đầu Tính chất co duỗi của các dòng thơ trong

toàn bộ trường ca cũng thể hiện rất rõ ý đồ sáng tạo nghệ thuật của người

sáng tác

2.1.1 Tần số xuất hiện của những dòng thơ ngắn

Những dòng thơ 2 - 3 tiếng chiếm số lượng không lớn: 46 dòng

(3, 36 %), do cấu trúc hoàn toàn phóng túng tùy thuộc theo mạch cảm xúc

cho nên trong trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã chọn

Trang 36

cách thể hiện dòng thơ một cách ngắn gọn Nhiều khi những câu thơ 6,7(hay nhiều hơn ) tiếng được bẻ gãy thành nhiều dòng thơ:

“Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta Thì ta còn tiếp tục chiến đáu quét sạch nó đi”

Quét sạch nó đi!

Thưa Bác Chúng con thề Chúng con nghe lời Bác dặn Trong trận đánh này

Chúng con nguyện làm người lao công chân thành cần mẫn Luôn có mặt mỗi mặt đường khát vọng

Rất rự hào Quét sạch nó đi!

(Chương 9 Báo bão)

Sự xuất hiện đan xen những dòng thơ ngắn dài lam cho đoạn thơ cómột tiết tấu biến hóa diến tả được nhịp đập của trái tim, lòng nhiệt tình cũngnhư tinh thần quật khởi của quân và dân ta trong cuộc chiến đấu một mấtmột con với kẻ thù xâm lược Những dòng thơ ngắn này tuy không nhiềunhưng lại có hầu hết ở các chương của bản trường ca và tồn tại dưới dạng

từ, cụm từ, câu ngắn Điều này chứng tỏ loại dòng thơ này chiếm vị trí quantrọng trong việc diễn tả những trạng thái cảm xúc đặc biệt của nhà thơ

- Những dòng thơ hai tiếng xuất hiện không nhiều (23 lượt, chiếm tỉ lệ1,68 %), cũng không theo quy luật nào mà hoàn toàn phụ thuộc vào cảm xúccủa tác giả:

Em cùng anh ra mặt đường Đại lộ hai hàng cửa mở

Áo trắng hiện lên từ mỗi căn nhà Rất tươi, rất khỏe

Trang 37

Như những cánh chim câu thành phố Bay ra…

Bay ra…

Phố lớn Phố con Chuyên chở niềm vui về đại lộ Đại lộ và công trường

Như nắng Như gió

(Chương 6 Áo trắng và mặt đường)

Trong đoạn thơ ngắn này, nhà thơ đã cho người đọc thấy được giá trịcủa những dòng thơ hai tiếng Các dòng thơ được cấu tạo dưới dạng điệp

cụm từ đặc biệt: Cụm động từ (Bay ra, Bay ra), cụm danh từ (Phố lớn, Phố nhỏ), cụm tính từ (Như nắng, Như gió) Tất cả vạn vật, con người như đang

nói, đang cười, hòa chung một nhịp sống rộn ràng, náo nhiệt Đoạn thơ mở

ra trước mắt người đọc một không gian đầy sức trẻ, căng tràn nhựa sống,đầy ánh sáng và âm thanh Chính sự ngắt nhịp đặc biệt này đã làm cho đoạnthơ diện tả được cái không khí “rất tươi, rất khỏe” của những đường phố nơi

có những thanh niên đang hăng hái xuống đường đấu đấu tranh dành độclập, tự do vì hòa bình đất nước

Cách sử dụng những câu thơ hai tiếng của tác giả cũng đầy biến hóa

Có khi là để diễn tả niềm vui niềm phấn khởi trước trước một sự kiện lớnvới sự xuất hiện của đông đảo mọi người nhưng có khi lại sử dụng nó như

là một sự nhấn mạnh một cảm xúc thông qua chỉ một cụm danh từ:

Đất nước Phải chặt tre, đóng cọc mà giữ lấy!

Đất nước

Trang 38

Phải đan phên, đổ đất mà giữ lấy!

Đất nước Phải phá nhà, chặt cây vườn vác ra mà giữ lấy!

Đất nước Phải neo người xuống sông, chặn nước mà giữ lấy! Đất nước

Đất nước không thể trôi được!

-kề lại đóng vai trò là “Thuyết” Sự lặp lại về mặt cú pháp do sự tách câu này

đã làm cho ý thơ được nhấn mạnh: Đất nước được tạo nên từ mỗi hànhđộng, việc làm cụ thể dù rất nhỏ nhưng đầy ý nghĩa và vô cùng quan trọngcủa mỗi người dân Tình yêu Đất nước bắt đầu từ tình yêu trong lao động,chiến đấu tự giác của mỗi người Chính những dòng thơ hai tiếng này đã làmcho hình ảnh Đất nước vốn dĩ vô hình, trừu tượng trở nên cụ thể, sống động,khắc sâu trong tâm trí người đọc, người nghe

- Những dòng thơ ba tiếng vốn quen thuộc với người Việt trong đồng dao:

Xỉa cá mè

Đè cá chép Chân nào đẹp

Đi buôn men

Ngày nay, thơ ba tiếng vẫn được sử dụng, nhất là những sáng tác chotrẻ thơ bởi âm điệu vui tươi, rộn ràng:

Hươu cao cổ

Trang 39

Có móc câu Gật gật đầu Trông ngộ quá.

Trong trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm đã sử

dụng những dòng thơ ba tiếng với số lượng 23 lượt (tỉ lệ 1,68%) xuất hiện ở

6 trên 9 chương của tác phẩm Cách sử dụng dòng thơ ba tiếng của nhà thơcũng hết sức linh hoạt sáng tạo Có khi là một cụm danh từ chỉ thời gian, báohiệu một sự kiện sắp xẩy ra:

Buổi sáng ấy

Ta không quên Hình dáng những chiếc tàu há mồm ngoạm vào thành phố Trên bến đổ quân của trăm năm giặc Pháp

Lại những kiểu giày kiểu mới dẫm lên Những lốt giày viễn chinh

Cắt hình răng chó Cắm ngập vào phù sa đỏ

………

Buổi sáng nay Khi chúng tôi còn trên tàu Chúng tôi đã ném xuống tàu những lon đồ hộp Cho những đứa bé Việt Nam lặn mò ngoi ngóp

………

Buổi chiều ấy Trước con tàu và trước dòng sông Chúng ta hỏi nhau và như tự hỏi:

Chúng ta hiểu thế nào là cam kết?

Sự có mặt này để cam kết với ai?

(Chương 2 Báo động)

Trang 40

Cũng có khi dòng thơ ba tiếng trở thành một tiếng gọi đồng tình, đồngchí thể hiện cảm xúc, tâm trạng chia sẻ của nhân vật trữ tình với đối tượngtrữ tình tạo nên sự đồng điệu, ngân vang cho cả đoạn thơ:

Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái con trai bằng tuổi chúng ta

Xuống đường!

Trần Hưng Đạo gối lên Phan Bội Châu Phan Bội Châu nối tay Huỳnh Thúc Kháng Qua cầu là Chi Lăng, Nguyễn Du

Vào đại nội có Mai Thúc Loan, Đoàn Thị Điểm (Chương 6 Áo trắng và mặt đường)

2.1.2 Tần số xuất hiện của những dòng thơ vừa

Dòng thơ 4- 6 tiếng chiếm số lượng và tỉ lệ trung bình trong toàn bộtrường ca: 245 dòng, chiếm tỉ lệ 18 % Điểu đặc biệt là tần số xuất hiện củacác dòng thơ này khá tương đương nhau và đều có ở bảy trên chín chươngcủa tác phẩm Trong đó, những dòng thơ 4 tiếng, 5 tiếng thường được dùng

ở dạng điệp cú pháp để nhằm “định nghĩa hóa” một ý thơ nào đó:

Khi Người đạt tay lên

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca
Tác giả: Aristote
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
2. Dương Viết Á (2000), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, Viện âm nhạc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam
Tác giả: Dương Viết Á
Năm: 2000
3. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
4. Mai Bá An (2008), Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Luận án tiến sĩ Văn học, Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo
Tác giả: Mai Bá An
Năm: 2008
5. Lại Nguyên Ân (1980), “Mấy vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại”, Văn học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thể loại sử thi của văn học hiện đại”, "Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1980
6. Võ Bình (1975), Bàn thêm một số vấn đề về thơ, Tạp chí Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm một số vấn đề về thơ", Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Võ Bình
Năm: 1975
7. Thu Bồn (2003), Thơ và trường ca, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và trường ca
Tác giả: Thu Bồn
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
8. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1987
9. Phạm Ngọc Cảnh (1980), “Trường ca và người viết trường ca, Văn nghệ Quân đội, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca và người viết trường ca, "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Phạm Ngọc Cảnh
Năm: 1980
10. Nguyễn Tài Cẩn (1997), Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
11.Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
12.Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
13.Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
14. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2003
15. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2006), Đại cương ngôn ngữ học, Tập1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, Tập1
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16.Vũ Thị Sao Chi (2005), “Một số vấn đề nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ Việt Nam”, Tạp chí Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nhịp điệu trong ngôn ngữ thơ Việt Nam"”", Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Vũ Thị Sao Chi
Năm: 2005
17. Mai Ngọc Chừ (2005), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học
Tác giả: Mai Ngọc Chừ
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2005
19. Phạm Tiến Duật (1981), "Nhân bàn về trường ca đôi điều nghĩ về hình thức", Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân bàn về trường ca đôi điều nghĩ về hình thức
Tác giả: Phạm Tiến Duật
Năm: 1981
20. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
21. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thống kê dòng thơ theo số lượng âm tiết - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 1. Thống kê dòng thơ theo số lượng âm tiết (Trang 33)
Bảng 2. Thống kê  phân loại  vần theo vị trí gieo vần 2.2.2.1. Vần chân - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 2. Thống kê phân loại vần theo vị trí gieo vần 2.2.2.1. Vần chân (Trang 47)
Bảng 3. Thống kê phân loại vần theo độ hòa âm 2.2.3.1. Vần chính - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 3. Thống kê phân loại vần theo độ hòa âm 2.2.3.1. Vần chính (Trang 52)
Bảng 4. Thống kê phân loại vần theo biến thiên thanh điệu - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 4. Thống kê phân loại vần theo biến thiên thanh điệu (Trang 56)
Bảng 5. Thống kê cách ngắt nhịp nhiều, ít trong Mặt đường khát vọng - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 5. Thống kê cách ngắt nhịp nhiều, ít trong Mặt đường khát vọng (Trang 60)
Bảng 8. Thống kê cách nhịp luân phiên hoặc đối xứng - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 8. Thống kê cách nhịp luân phiên hoặc đối xứng (Trang 66)
Bảng 11. Thống kê lớp từ chỉ không gian trong Mặt đường khát vọng - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 11. Thống kê lớp từ chỉ không gian trong Mặt đường khát vọng (Trang 77)
Bảng 14. Thống kê loại dòng thơ theo số lượng âm tiết  trong Mặt đường khát vọng - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 14. Thống kê loại dòng thơ theo số lượng âm tiết trong Mặt đường khát vọng (Trang 110)
Bảng 15. Thống kê sự phân bố khổ thơ, đoạn thơ, dòng thơ trong Mặt đường khát vọng - Đặc điểm ngôn ngữ trong trường ca mặt đường khát vọng của nguyễn khoa điềm
Bảng 15. Thống kê sự phân bố khổ thơ, đoạn thơ, dòng thơ trong Mặt đường khát vọng (Trang 113)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w