Trong cuốn Thơ Việt Nam hiện đại PGS.TS Lưu Khánh Thơ đã cho rằng: một trong những đặc điểm nổi bật trong các sáng tác của Hữu Thỉnh nói chung và trường ca nói riêng là mang đậm màu sắc
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THẾ ANH
ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA HỮU THỈNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THẾ ANH
ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA HỮU THỈNH
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Khoa sau đại học trường Đại học
sư phạm Thái nguyên, cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 4 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Anh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôi trong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thế Anh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI TRƯỜNG CA VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỮU THỈNH 8
1.1 Những tiền đề lý luận 8
1.1.1 Khái niệm trường ca 8
1.1.2 Một số ý kiến về trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại 10
1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại 14
1.1.4 Nội dung trường ca hiện đại 20
1 2 Quá trình sáng tác của nhà thơ Hữu Thỉnh 24
1.2.1.Các giai đoạn sáng tác 24
1.2.2 Quan niệm về thơ của Hữu Thỉnh 26
Chương 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRONG TRƯỜNG CA HỮU THỈNH 32
2.1 Hình tượng người lính 32
2.1.1 Người lính khi đối diện với hiện thực khốc liệt của chiến tranh 33
2.1.2 Tâm trạng người lính trong chiến trận 36
2.1.3 Lí tưởng cách mạng và hành trình đi tới chiến thắng 42
2.1.4 Khát vọng hạnh phúc 47
2.2 Hình tượng người phụ nữ 50
2.2.1 Người Mẹ tảo tần, nhân hậu và giầu đức hy sinh 51
2.2.2 Người Mẹ - điểm tựa vững vàng nơi hậu phương 54
2.2.3 Người phụ nữ - biểu tượng của sự chịu đựng 56
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2.4 Người phụ nữ với những góc khuất trong cuộc chiến tranh 58
2.3 Hình tượng đất nước 63
2.4 Hình tượng biển 69
Chương 3 ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG TRƯỜNG CA HỮU THỈNH 75 3.1 Ngôn ngữ 75
3.1.1 Ngôn ngữ thơ gần với ngôn ngữ đời sống 75
3.1.2 Ngôn ngữ thơ mang màu sắc dân gian 78
3.1.3 Ngôn ngữ thơ sáng tạo mới mẻ 84
3.2 Thể thơ 86
3.2.1 Thơ tự do 86
3.2.2 Thơ văn xuôi 90
3.3 Giọng điệu 92
3.3.1 Giọng điệu ngợi ca, mang âm hưởng sử thi 92
3.3.2 Giọng điệu xót thương, cay đắng 96
3.3.3 Giọng điệu trữ tình, triết lí 99
PHẦN KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hữu Thỉnh là nhà thơ xuất hiện và trưởng thành trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ Nhìn vào chặng đường sáng tác của Hữu Thỉnh, điều dễ dàng nhận ra ở ông là sức sáng tạo bền bỉ không mệt mỏi Gần nửa thế kỉ cầm bút, Hữu Thỉnh đã tạo dựng cho mình một sự nghiệp thơ ca phong phú và đa dạng
về thể loại Khá nhiều bài thơ và nhất là trường ca của ông qua sự thẩm định của thời gian vẫn còn nguyên giá trị
1.2 Chính “sức bền ” sáng tạo, niềm say mê văn chương đã giúp cho
Hữu Thỉnh sớm khẳng định mình qua các giải thưởng văn học Đầu tiên phải
kể đến là giải Ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1973 với bài Mùa xuân đi đón, tiếp đó là giải A cuộc thi thơ 1975 - 1976 cho tác phẩm Chuyến đò đêm giáp
ranh và trường ca Sức bền của đất Năm 1991, tác giả lại tiếp tục nhận giải
Nhất trong cuộc thi thơ viết về Nhà trường do Bộ ĐH&THCN cùng
TWĐTNCSHCM tổ chức với bài Thưa thầy Năm 1994, Hữu Thỉnh được Bộ quốc phòng tặng thưởng giải xuất sắc với tác phẩm Trường ca biển Đặc biệt
ông đã hai lần được trao giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam
với trường ca Đường tới thành phố (1980) và tập thơ Thư mùa đông (giải A năm 1995) Và cũng với tập thơ Thư mùa đông, Hữu Thỉnh lại đoạt giải thơ ASEAN năm 1999 Trường ca Biển (2004), đoạt giải thưởng văn học của
Nxb Quân đội nhân dân
1.3 Hữu Thỉnh là một trong số không nhiều nhà thơ viết trường ca và đạt được những thành công nhất định Nguồn cảm hứng từ truyền thống dân
tộc và thời đại anh hùng, cùng với vốn sống thực tế ở chiến trường đã tạo tiền
đề cho thể loại trường ca phát triển Trong đội ngũ tác giả có thành tựu ở thể loại trường ca như Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Trần Mạnh
Hảo, Nguyễn Trọng Tạo…nhà thơ Hữu Thỉnh với các bản trường ca Đường
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tới thành phố, Sức bền của đất, Trường ca biển đã được ghi nhận như là một
trong những gương mặt tiêu biểu Trường ca của ông có sức ôm chứa nhiều vấn đề, về cả độ rộng của không gian và độ dài của thời gian, có khả năng khái quát hiện thực rộng lớn, không những nhiều về số lượng mà còn đạt giá trị về chất lượng Vì vậy mà trường ca của Hữu Thỉnh là một dấu ấn nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của ông Nó như “miền đất hứa” ẩn chứa bao điều cần chúng ta khám phá
1.4 Với mong muốn tìm hiểu và khẳng định những nét độc đáo cũng
như những đóng góp trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật
trong các sáng tác trường ca của Hữu Thỉnh, chúng tôi chọn Đặc điểm
trường ca Hữu Thỉnh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Nghiên cứu Đặc điểm trường ca Hữu Thỉnh giúp chúng ta có cái nhìn toàn
diện hơn về sự nghiệp sáng tác của ông
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn được trau dồi thêm kiến thức về thơ hiện đại Việt Nam trước và sau 1975 Hy vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho những bạn đọc yêu thơ Hữu Thỉnh, cho việc giảng dạy văn thơ Hữu Thỉnh nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung
2 Lịch sử vấn đề
Năm 1975, tập thơ Âm vang chiến hào (in chung với Lâm Huy Nhuận)
ra đời Ngay ở tập thơ đầu tay, Hữu Thỉnh đã thể hiện một phong cách, một giọng điệu riêng Trải qua thời gian, thơ ông ngày càng chiếm được cảm tình của người đọc và thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu phê bình
Số lượng các công trình, bài viết về sự nghiệp sáng tác của Hữu Thỉnh khá phong phú Có những bài viết đánh giá, phân tích từng tác phẩm cụ thể,
có những đánh giá chung về sự nghiệp, phong cách thơ Hữu Thỉnh; nhìn chung đều đi vào giải mã tác phẩm và khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà thơ
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1 Những bài viết đánh giá về các tập thơ
1 Đọc tập thơ “Thư mùa đông” Trần Mạnh Hảo nhận thấy, thơ Hữu
Thỉnh cô đọng, hàm súc, giàu chất trí tuệ, mang màu sắc thơ cổ điển phương
Đông “ý tại ngôn ngoại”, thiên về cảm nhận, do đó “khả năng dồn nén tư
tưởng, cảm xúc, dồn nén chữ nghĩa” [21, 103] Bài viết của tác giả đã chỉ ra nét
tiêu biểu của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh, tuy nhiên tác giả chưa phân tích, lí giải
cặn kẽ đặc điểm ấy được biểu hiện như thế nào, trên những phương diện gì?
2 Một trong những người đầu tiên nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh phải kể
đến là Thiếu Mai Với bài viết “Hữu Thỉnh trên đường tới thành phố”, Thiếu Mai đã chỉ ra nét đặc sắc trong trường ca Hữu Thỉnh: Dường như “thấp
thoáng đằng sau câu thơ của Hữu Thỉnh dáng dấp của ca dao, nhưng rõ ràng thơ anh không rập khuân theo ca dao, không bị ca dao lấn át” Nhìn chung
tác giả đã nhận ra được chất dân gian trong trường ca “Đường tới thành phố”,
tuy nhiên tác giả chưa phân tích sâu sắc, cặn kẽ những đặc điểm ấy [42]
3 Cùng hướng tiếp cận trên, Mai Hương đã lí giải, phân tích, chứng
minh sự thành công của Hữu Thỉnh khi vận dụng vốn văn học dân gian: “Hữu
Thỉnh có khả năng vận dụng thông minh, sáng tạo vốn văn học dân gian Cách nghĩ và cách nói bằng hình ảnh của quần chúng được anh tiếp nhận tự nhiên và thành công” [27, 112] Đây là đóng góp và cũng là thành công của Hữu Thỉnh
Bài viết đã có những kiến giải khoa học, xác thực, rõ ràng trong việc chỉ ra dấu
ấn của ca dao trong trường ca “Đường tới thành phố”
4 Cùng hướng tiếp cận thơ Hữu Thỉnh như tác giả thiếu Mai và Mai
Hương, khi đọc “Trường ca biển” Hữu Đạt cho rằng “Thơ Hữu Thỉnh có
nhiều cái mới mà không xa cái truyền thống, thậm chí có khi tái tạo lại cái đó
có từ trong truyền thống mà vẫn có dấu hiệu riêng về phong cách của mình”
[12, 163] Tác giả thấy được trường ca này là một sáng tạo về hình tượng và
ngôn ngữ thơ ca Bài viết đã bước đầu chỉ ra những cách tân nghệ thuật trên
cơ sở truyền thống trong thơ Hữu Thỉnh
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5 Ngoài ra còn có bài viết “Dài rộng với thời gian” của Đặng Hiển
với những nhận định khá xác đáng về đặc điểm, nội dung tập thơ “kết hợp
nhuần nhuyễn tính trữ tình và triết lí” Đặc biệt tác giả đi sâu khai thác đặc
sắc nghệ thuật tập thơ, đó là sự kết hợp tính dân tộc với tính hiện đại từ ngôn
ngữ tới hình ảnh, trong đó “sử dụng rộng rãi một cách sáng tạo các biện
pháp tu từ, nhân hóa, ẩn dụ, chuyển đổi cảm giác” [26, 16] Nó khẳng định
phong cách thơ Hữu Thỉnh một cách độc đáo trong nền thơ ca Việt Nam đương đại
2.2 Những bài viết nhận xét, đánh giá chung về nhà thơ Hữu Thỉnh
1 Lưu Khánh Thơ trong bài viết “Hữu Thỉnh – một phong cách thơ
sáng tạo” Sau khi khảo sát từ tập thơ “Âm vang chiến hào”, trường ca “Sức bền của đất”, “Những người đi tới biển” đã nhận định: Thơ ông có “giọng điệu tươi mát, hồn nhiên, tinh tế” Tác giả đã phát hiện ra ảnh hưởng của chất
liệu văn hóa dân gian đến thơ Hữu Thỉnh, cùng những tìm tòi, sáng tạo của
nhà thơ: “Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở
những cách nói, cách ví von, so sánh, mà còn ở cách tư duy, liên tưởng độc đáo, ở một âm hưởng xa xôi khó nhận biết đó là nguyên nhân khiến cho Hữu Thỉnh có những câu thơ đa nghĩa, có tính hàm ẩn cao, mới lạ trong cách diễn đạt, bất ngờ trong cảm xúc” [59, 410] Cuối cùng tác giả rút ra kết luận khá
xác đáng về phong cách thơ Hữu Thỉnh: “Đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về
phía rợp mát Cái trầm lắng yêu thương lấn át cái ồn ào sôi sục” [59, 421]
2 Trong cuốn Thơ Việt Nam hiện đại PGS.TS Lưu Khánh Thơ đã cho
rằng: một trong những đặc điểm nổi bật trong các sáng tác của Hữu Thỉnh nói
chung và trường ca nói riêng là mang đậm màu sắc dân gian “Trong làng
thơ, anh nổi tiếng là người mê và thuộc nhiều ca dao tục ngữ Hữu Thỉnh có thể nói chuyện say sưa suốt ngày về ca dao Anh phân tích thấu đáo, cặn kẽ, hiểu biết từng cái hay, cái đẹp của những câu ca dao như một người chuyên
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghiên cứu văn học dân gian Vốn kiến thức phong phú này đã làm Hữu Thỉnh thêm giàu có, tạo thuận lợi cho những tìm tòi sáng tạo của thơ anh Hữu Thỉnh tiếp thu truyền thống dân tộc không những chỉ là ở cách nói, cách
ví von, so sánh mà còn ở cách tư duy, cách liên tưởng độc đáo, ở một âm
hưởng xa xôi khó nhận biết” [35, 411]
3 Nguyễn Đăng Điệp đã nhận thấy một số sự thay đổi trong cấu trúc
thơ, dòng thơ, tứ thơ của Hữu Thỉnh để tạo nên sự mới mẻ trong thơ: “Mô
hình câu thơ, sự vật hiện tượng đem ra để so sánh thường nhỏ bé, tương quan
sự xuất hiện của những con số, tứ nằm ngay trong đơn vị câu”, giọng điệu thì
trầm lắng suy tư và cuối cùng tác giả nhận xét “Xuất phát từ nền móng văn
học dân gian nhưng đã xử lí chất liệu truyền thống bằng cái nhìn hiện đại nhằm tạo nên những đột phá về thi pháp thể loại” [15, 226]
4 Từ góc độ thi pháp, Trúc Thông đã phân biệt cái tôi trữ tình trong
thơ Hữu Thỉnh với ba biểu hiện: “Người lính cách mạng mà tình yêu nước rất
cụ thể trong tình yêu thương rất mực quê hương, đồng đất; người bảo toàn và đấu tranh phát triển nhân cách và nhà thơ của một thế hệ” Song nhìn vào
toàn bộ sáng tác thơ Hữu Thỉnh ta thấy “ba nhân vật trữ tình ấy trộn hòa,
xoắn bện, hiển hiện chỉ trong duy nhất một con người – nhà thơ, người lính Hữu Thỉnh” Tác giả đã phát hiện và nhận định “chất liệu văn hóa dân gian ngàn năm đã thấm dưỡng linh hồn những câu thơ, chữ thơ Những mảng dữ dội của đời sống thật, sự khỏe khoắn của thể trạng tâm hồn con người tham gia trực tiếp vào đời sống ấy đã bồi đắp nên chất hiện đại cho những dòng thơ mềm mại Giữ vững và làm tươi mới hơn câu thơ Việt trong cuộc vật mình đổi mới ngôn ngữ thơ đang dần dà mà quyết liệt diễn ra trong toàn bộ nền thơ ta, đó là đóng góp đáng trân trọng của thế hệ nhà thơ chống Mỹ mà Hữu
Thỉnh là một trong số đại biểu xứng đáng nhất” [68]
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5 Xuất phát từ đặc trưng thể loại, sau khi khảo sát các tập thơ Tiếng
hát trong rừng, Thư mùa đông, trường ca Đường tới thành phố, Trường ca biển, Lý Hoài Thu tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ Hữu
Thỉnh và chỉ ra tư duy thơ đích thực của ông: “Một trong những tiềm năng
thơ Hữu Thỉnh là sự nhạy cảm trực giác dĩ nhiên là không thể bắt bằng sự quan sát của thị giác, sự lắng nghe âm thanh của thính giác nhưng nhiều khi chúng bị đẩy lại và thay thế bằng cảm giác” [69, 45] Bằng cái nhìn khái
quát, tác giả nhận thấy “Thơ Hữu Thỉnh giàu sức mạnh nội lực gắn bó máu
thịt với đời sống tâm linh và truyền thống thơ ca dân tộc Việt Vam Thơ anh
có sự kết hợp phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lí và độ cảm xúc tràn trào, giữa sự hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khả năng viết những tác phẩm trường ca dài và thơ trữ tình ngắn” [69]
Nhìn chung những bài viết chỉ khái quát những nét chính trong thơ Hữu Thỉnh hoặc mới tập trung vào một số khía cạnh nổi bật trong các tác phẩm cụ thể Bởi vậy rất cần có những công trình nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về trường ca Hữu Thỉnh Tuy vậy những ý kiến nhận xét, đánh giá của những người nghiên cứu đi trước là những định hướng và gợi mở vô cùng quý giá cho chúng tôi khi thực hiện đề tài của mình
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ở cả hai chặng đường sáng tác trước và sau 1975 Hữu Thỉnh đều có
những đóng góp đáng kể cho nền thơ hiện đại Bên cạnh những tập thơ: Tiếng
hát trong rừng, Thư mùa đông, Thương lượng với thời gian; Hữu Thỉnh
còn có những bản trường ca: Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Trường
ca Biển…
Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào các bản trường ca nhưng cũng khảo sát cả các tập thơ của tác giả :
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bên cạnh đó luận văn còn tìm hiểu sáng tác ở các thể loại khác của Hữu
Thỉnh để hiểu rõ hơn hành trình sáng tạo của tác giả
Ngoài ra chúng tôi còn mở rộng phạm vi khảo sát và tham khảo các tập thơ, trường ca của thế hệ các nhà thơ chống Mĩ để đối sánh, tìm ra những nét tương đồng và khác biệt trong trường ca Hữu Thỉnh
4 Đóng góp của luận văn
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu trường ca Hữu Thỉnh, luận văn chỉ ra
những đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong Trường ca của ông
Qua đó nhằm khẳng định những đóng góp nổi bật về mặt thể loại trường ca cho thơ ca Việt Nam hiện đại của tác giả Luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những độc giả quan tâm, yêu thích thơ Hữu Thỉnh nói riêng và cho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích - tổng hợp
- Đối chiếu - so sánh
- Thống kê – phân loại
- Thi pháp học
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu tạo thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về thể loại trường ca và quá trình
sáng tác của Hữu Thỉnh
Chương 2: Thế giới hình tượng trong trường ca Hữu Thỉnh
Chương 3: Đặc sắc nghệ thuật trong trường ca Hữu Thỉnh
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỂ LOẠI TRƯỜNG CA
VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA HỮU THỈNH
1.1 Những tiền đề lý luận
1.1.1 Khái niệm trường ca
Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm: “Trường ca là tác phẩm
thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ và trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả” [44] Như vậy trường ca một thời dùng để chỉ các sử thi dân
gian như sử thi Đam San, nay thường dùng để chỉ các sáng tác thơ dài của các
tác giả như “Bài ca chim Chơ Rao” của Thu Bồn, “Đường tới thành phố”
của Hữu Thỉnh
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng “Trường ca có
dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình Chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sử thi và truyện kể hoặc bằng nới rộng một vài truyền thuyết dân gian (Ahoyler) hoặc bằng cách cải biên các cốt truyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian Trường ca với tư cách một thể loại tổng hợp, trữ tình – tự sự, hoành tráng cho phép kết hợp những chấn động lớn, những cảm xúc trầm sâu và những quan niệm về lịch sử vẫn là một thể loại hiệu năng của thơ ca thế giới” [4]
Như vậy, khái niệm trường ca có nguồn gốc từ văn học phương Tây
“trường ca là thuật ngữ văn học dịch từ chữ pòeme của Liên Xô” [25], đã bắt
đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX, dùng để gọi tên những sáng tác dân gian có tính chất sử thi và có độ dài như Đam San, Xinh Nhã Theo cách gọi này thì trường ca đồng nhất với sử thi, anh hùng ca (Iliats, Ôđixê, Ramyana, Mahabharata ) hoặc các khan của Tây Nguyên Tuy
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhiên trường ca hiện đại không thể là sự vận động tự nhiên của các trường ca trong lịch sử như sử thi, anh hùng ca Mặc dù có những điểm giao thoa song trường ca với tư cách là một thể lọai văn học độc lập luôn có những đặc trưng khu biệt với sử thi, truyện thơ và thơ dài Điều dễ nhận thấy là trường ca và sử
thi đều là những tác phẩm có “tầm vóc” lớn lao cả về hình thức lẫn nội dung,
có sức ôm chứa những vấn đề trọng đại của dân tộc và thời đại Thế nhưng trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại có sự khác biệt nhất định so với trường ca truyền thống (sử thi) Kế thừa các sử thi cổ, trường ca trong văn học hiện đại không chỉ ca ngợi những anh hùng kiệt xuất, đứng đầu và là đại diện cho khí phách, tâm hồn, sức mạnh của một bộ tộc, dân tộc cụ thể, mà còn thể hiện chân dung, tầm vóc của dân tộc ấy trong chiều dài của lịch sử, chiều rộng của không gian, dưới ánh sáng của một hệ quy chiếu mang tính thời sự, thời đại và nhân loại
Vì vậy, muốn chỉ ra đặc thù của trường ca cần phải gắn liền với bối
cảnh thời đại và bối cảnh văn học mà nó ra đời Trường ca hiện đại Việt Nam
ra đời và phát triển trên nền hiện thực sôi động của các cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh Có thể thấy rõ rằng,
sự nghiệp cách mạng Việt Nam phát triển theo xu hướng ngày càng dữ dội, quyết liệt (trong chống giặc ngoại xâm) và ngày càng đổi mới (trong cuộc đấu tranh chống cái lạc hậu, cũ kĩ để xây dựng đất nước theo xu hướng hiện đại, tiếp cận các nước trong khu vực và trên thế giới) Đây là tiền đề xã hội thúc đẩy
sự phát triển của văn học nói chung và cả trường ca nói riêng: “Thời đại chúng
ta là thời đại của các bản trường ca Thực tiễn cách mạng trên đất nước ta là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho ai muốn viết trường ca” [30]
Trong các kết quả nghiên cứu của người đi trước, chúng tôi nhận thấy
quan niệm về trường ca của tác giả Đào Thị Bình (“Thể trường ca trong văn
học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX” – LATS, 2008) là khá xác đáng:
“Trường ca thường là các tác phẩm trữ tình có dung lượng lớn hoặc vừa, có khả năng tổng hợp và phát huy những ưu thế nổi trội của cả ba loại
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hình: trữ tình, tự sự và kịch Với kiểu kết cấu và phát triển theo hướng đan xen nhiều kiểu kết cấu hoặc kết cấu phức hợp, trường ca có thể bao quát và miêu tả những mảng hiện thực lớn ở cả bề rộng lẫn chiều sâu Ngôn ngữ, giọng điệu phong phú, đa dạng, giàu chất trí tuệ, vừa mang âm hưởng hào hùng của sử thi vừa thấm đẫm hơi thở của cuộc sống” [7]
1.1.2 Một số ý kiến về trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại
Trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại ra đời từ yêu cầu của hiện thực cuộc sống dân tộc, từ khát vọng của một lớp thế hệ nhà văn muốn ghi lại thời đại hào hùng trong lịch sử Hàng trăm trường ca viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ ra mắt bạn đọc thu hút sự quan tâm của giới sáng tác và phê bình văn học Trong một thời gian dài từ 1980, 1981, 1982 nhiều cuộc hội thảo
về trường ca diễn ra sôi nổi Tạp chí Văn nghệ quân đội và tạp chí Văn học là hai diễn đàn để các nhà nghiên cứu trao đổi về vấn đề này Đã có nhiều bài viết công phu được đăng tải ở đây Nhìn chung, những người quan tâm đều cố gắng đi sâu vào thực tiễn thể loại để tìm ra những nét đặc thù của trường ca hiện đại Về cơ bản các bài viết thường đi theo hai hướng: Thứ nhất là đi tìm định nghĩa, thứ hai là cố gắng tìm ra các đặc điểm thể loại hoặc nói về một đặc điểm nào đó
Về vấn đề định nghĩa trường ca có rất nhiều ý kiến khác nhau Có thể lược qua những bài viết tiêu biểu như: Nhiều tác giả nêu ra vấn đề tên gọi
trường ca nhưng cuối cùng đều thừa nhận như một thực tế và xem “mỗi tác
phẩm là một cách định nghĩa của tác giả về chính thể loại đó” [64] (Hữu
Thỉnh); Tác giả Từ Sơn lại cho rằng “các tác phẩm dài hơi nên gọi là truyện
thơ” Về khái niệm “Trường ca” Lại Nguyên Ân lại cho rằng “trường ca là một hiện tượng giao thoa giữa tự sự và trữ tình” [2] (Bàn góp về trường ca)
Tác giả Đỗ Văn Khang lại khẳng định “trường ca trong văn học Việt Nam
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hiện đại chỉ có ý nghĩa mỹ học đầy đủ khi có tên gọi là trường ca sử thi hiện đại” [29] (Từ ý kiến về trường ca sử thi của Hêghen đến trường ca hiện đại ở ta)
Như vậy các ý kiến trên đã phần nào làm sáng rõ hơn về định nghĩa trường ca nói chung và trường ca hiện đại nói riêng Trong các ý kiến về định nghĩa trường ca, chúng tôi tâm đắc với ý kiến của Đỗ Văn Khang khi ông cho
rằng “trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại chỉ có ý nghĩa mỹ học đầy
đủ khi có tên gọi là trường ca sử thi hiện đại” [29] Đây là ý kiến xác đáng về
trường ca hiện đại Bởi trường ca hiện đại ra đời trong hoàn cảnh đất nước có những biến cố dữ dội Dân tộc ta đã có những trang sử đau thương mà vô cùng anh dũng, không thể coi là nhỏ bé, vụn vặt bởi lẽ nó đã vượt ra khỏi phạm vi một dân tộc, nó là những chiến công mà cha ông ta và nhân dân ta đã gây dựng
Về đặc trưng thể loại, có nhiều bài viết đã nghiên cứu một cách khá công phu Các tác giả thường dựa vào sự so sánh giữa trường ca với thơ dài, trường ca với truyện thơ để nói lên đặc trưng của thể loại như: Trần Ngọc Vương, Mã Giang Lân, Vũ Đức Phúc, Mai Bá Ấn Trong các bài viết này đáng chú ý nhất là ý kiến của tác giả Mai Bá Ấn Theo tác giả giữa trường ca
và thơ dài cũng cần có sự khu biệt để nhận thức đầy đủ đặc trưng của từng thể
loại Xu hướng “trường ca hóa” các tác phẩm thơ dài sẽ hạ thấp vai trò của
trường ca, xóa nhòa những yếu tố đặc trưng phân biệt nó với các thể loại khác Bởi thơ dài thực chất là thơ trữ tình mở rộng phạm vi phản ánh hiện
thực bằng cách tăng cường yếu tố tự sự - “Thơ dài là thơ trữ tình nới rộng
trường độ mà thôi” [5] Vì thế dù có cố gắng thế nào thì “độ dướn” của một
bài thơ, dù là thơ dài cũng chỉ là sự phát triển của những mạch lẻ cảm xúc
Còn trường ca không phải là thơ trữ tình mà coi thơ trữ tình là “một bộ phận
con” trong chỉnh thể tác phẩm trường ca Cảm xúc trong trường ca phải được
ủ men và bốc lửa qua từng đoạn, từng chương nối tiếp nhau trong một thời
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
gian dài với nội dung phản ánh đa diện, với một trí tưởng tượng đa chiều và
một trí tuệ đủ tầm văn hóa, lịch sử xuyên suốt trong quá trình sáng tạo Bên
cạnh đó một số tác giả đi từ sự vận động của các thể loại được gọi là trường ca hoặc từ những lí thuyết về thể loại của nước ngoài để xem xét trường ca hiện đại như các tác giả : Phạm Huy Thông, Đỗ Văn Khang, Hoàng Ngọc Hiến
Ngoài các bài viết được đăng tải trên báo chí, trong một số công trình nghiên cứu cũng xuất hiện một số bài viết về trường ca Sớm nhất, có lẽ là bài viết của Lại Nguyên Ân, đầu tiên được đăng trên báo, sau được tập hợp trong
cuốn Văn học và phê bình Trong đó, bài viết “Mấy suy nghĩ về trường ca”
được viết trước 30 tháng 4 năm 1975 là bài viết công phu; ngoài việc ghi nhận những thử nghiệm về trường ca, tác giả đã phân biệt rõ trường ca với các thể tài khác, nêu lên những đặc trưng cốt yếu của trường ca, các hình thức trường
ca được viết trong thời gian đó Bài viết “Thể trường ca trong thơ gần đây”
được Lại Nguyên Ân viết năm 1982 Trong đó, ông xem trường ca như một
thể tài và cẩn trọng cho rằng “trong phạm vi thơ hiện đại ở ta, có lẽ vẫn còn
đủ thận trọng để coi trường ca như là một thể tài đang hình thành và phát triển, với xu hướng chung là đưa yếu tố suy nghĩ trữ tình thành yếu tố chủ đạo của tác phẩm trường ca” Có thể nói rằng, với cuốn “Văn học và phê bình”,
Lại Nguyên Ân đã dành mối quan tâm lớn nhất cho thể loại trường ca Những nhận xét đưa ra tuy vẫn dè dặt nhưng lại vô cùng quan trọng đối với phê bình
và sáng tác văn học thời điểm ấy
Sau này, khi Vũ Văn Sỹ đề cập đến trường ca, ông đặc biệt chú ý đến
vai trò của thể loại trong hệ thống thơ Việt Nam hiện đại Trong bài Trường
ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại tác giả đã luận giải một cách
hợp lí về sự phát triển của thể loại này Đặc biệt, năm 1999 Hoàng Ngọc Hiến
đã xuất bản giáo trình Năm bài giảng về thể loại và một trong số những vấn
đề được ông đưa ra là “Mấy vấn đề đặc trưng thể loại và thi pháp của trường
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ca” Đây là lần đầu tiên thể loại trường ca mới ở Việt Nam được đưa vào giáo
trình Có thể nói Hoàng Ngọc Hiến là người dành nhiều tâm sức cho việc nghiên cứu trường ca Từ các bản dịch, các bài giới thiệu về trường ca của Maicôpxki, các lí thuyết về thể loại của Nga, ông đã khái quát nên những đặc
điểm cơ bản của trường ca hiện đại như: nội dung lớn, cảm hứng lớn, mối
tương quan giữa tự sự và trữ tình Có thể nhận thấy đây là công trình công
phu, kết hợp chặt chẽ lí thuyết và thực tiễn với cách trình bày mang tính mô phạm, tuy ngay trong cách đặt tên quyển sách đã ít nhiều mang tính nội bộ
Về những nghiên cứu mang tính trường qui, chúng tôi thấy trường ca ít nhiều đã được quan tâm, tuy số lượng các công trình vẫn còn ít và chủ yếu là
đề cập đến một vài khía cạnh, một vài tác giả viết trường ca Từ luận văn thạc
sĩ trở lên, có thể kể đến một số công trình như: Chất sử thi trong trường ca
hiện đại 1954 – 1985 của Lê Thị Hồng Liên (Luận văn thạc sĩ Đại học sư
phạm Huế - 2001); Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến đầu
thế kỉ XXI của Đào Thị Bình (Luận án tiến sĩ, 2008); Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo của Mai Bá Ấn (Luận án tiến sĩ, 2008)
Những công trình này tuy không nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ thi pháp thể loại nhưng đều là những tài liệu bổ ích cho người nghiên cứu và người viết trường ca Đặc biệt qua đây cũng thấy được, hiện nay trường ca đang là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, để ý
Gần đây, nghiên cứu trường ca dường như lại trở nên sôi nổi với các
cuộc tọa đàm: về Trường ca Trầm tích (Hoàng Trần Cương) năm 2002, hai
cuộc tọa đàm về trường ca của Trần Anh Thái; với vô số các bài viết trên mạng Internet; với sự hồi phục của một số tác phẩm được khai sinh bởi những tên tuổi lớn một thời bị lãng quên như trường ca của Trần Dần, Văn Cao và
sự ra đời của một số dạng trường ca mới Điều đó cho thấy thể loại này ở Việt Nam vẫn tiềm tàng một lực hấp dẫn lâu bền
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại
1.1.3.1 Trước 1945 – những tiền đề và sự hình thành thể loại
Có thể nói, trước 1945, dạng trường ca hiện đại hầu như chưa có Tuy nhiên những tiền đề để hình thành nó thì đã tiềm tàng từ xa xưa, trong sâu thẳm hoài vọng của dân tộc Có thể do hạn chế về thời đại, đặc biệt về mặt tư duy, mà tầm vóc vĩ đại của trường ca chưa được khẳng định, chưa được khởi sắc Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có hai tiền đề chính cho sự hình thành của trường ca hiện đại
Trạng thái chống chiến tranh liên miên – tiền đề đầu tiên cho sự ra đời của trường ca Việt Nam là mảnh đất đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lúa
nước Cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng hay nhiều thiết chế văn hóa sau này dĩ nhiên đều không thể tách rời yếu tố gốc rễ ấy Có lẽ, cũng từ cội nguồn này mà trạng thái xã hội truyền thống Việt Nam đa phần là bình lặng Nhịp độ sống trong truyền thống của người Việt là chậm rãi, là đủng đỉnh, ngại ngùng trước những đổi thay Điều này đã được thể hiện rất rõ trong văn thơ trung đại Đó là những bài thơ tĩnh lặng trong đêm mưa của Nguyễn Trãi, hay giống
như “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” của Nguyễn Khuyến Cũng bởi lẽ bản
chất con người là yên phận, ít tham vọng bá vương và qui phục Cũng bởi lẽ, những đổi thay trong xã hội đa phần làm người ta sợ hãi, vì những bất thường trong xã hội ấy đều gắn liền với chiến tranh, mà có lẽ ba điều người ta sợ nhất
là ốm đau, đói nghèo và chiến tranh; trong đó chiến tranh vẫn khủng khiếp hơn cả vì nó là bất thường nhất, và nó là tai họa của toàn xã hội, toàn dân tộc chứ không riêng một gia đình nào Đương nhiên, một trạng thái xã hội bình lặng thì khó sinh ra trường ca
Song không phải sống điềm đạm trung dung thì không có sức mạnh
cộng đồng Bởi cái “đạm” trong phong cách người châu Á nói chung và
người Việt nói riêng khi được đánh thức cũng đầy uy lực Người Việt lúc bình
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thường ngại va chạm nhưng khi có tai biến thì biết gồng mình và dám hy sinh Cuộc sống thiên về tập thể tạo cho họ có tình yêu quê hương đất nước nồng nàn Điều này luôn là những tiền đề cho những bản trường ca Có thể nói chiến tranh chính là lúc ý thức cộng đồng của người Việt được thức tỉnh mạnh
mẽ nhất, và trạng thái chống chiến tranh liên miên cũng tạo cho người ta tâm thế hướng đến bảo vệ đời sống cộng đồng, bảo vệ lãnh thổ dân tộc Chỉ tính
sơ bộ, từ cuộc kháng chiến chống Tần (Thế kỉ III Tr.CN) đến cuộc chiến tranh chống xâm lược từ hai đầu biên giới (1979) Dân tộc ta đã trải qua 20 cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng Có thể nói hơn 20 thế kỉ vừa qua, hầu như thế kỉ nào người Việt cũng phải chống giặc ngoại xâm Các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều là bất khả kháng, cần thiết phải xẩy ra (bởi Việt Nam là nước nhỏ, thường
bị nước khác kéo quân sang xâm lấn, cho nên đó là hình thức tự vệ cần thiết)
Và vì thế chiến tranh Việt Nam thường thể hiện lòng yêu nước của nhân dân
và là những cuộc chiến tranh chính nghĩa Như Hêghen đã phân tích, “không
có nghĩa là mọi cuộc chiến tranh bình thường giữa hai dân tộc đối địch nhau đều là sự kiện sử thi Cuộc chiến tranh còn phải diễn ra nhân danh một đòi hỏi có tính toàn nhân loại và có tính lịch sử ” [24, 597] Có thể nói, chính ý
nghĩa của cuộc chiến tranh mới làm nên giá trị của nó Điều này, ngoài ý nghĩa chính trị và xã hội, nó sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa, tới tâm thức cộng đồng, tới lòng tự hào dân tộc Với dạng trường ca mang tính chất sử thi nói riêng điều đó có ý nghĩa vô cùng quyết định, bởi không có tâm thức cộng đồng, không có lòng tự hào dân tộc thì mọi tiềm năng của thể loại đều bị xóa bỏ
Trong các cuộc chiến ở Việt Nam, đặc biệt là những cuộc chiến chống lại giặc ngoại xâm, dù dưới chế độ nào, đều có sự tham gia tích cực của nhân dân Trước Nguyễn Trãi, hình ảnh nhân dân và vai trò của nhân dân ít được
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
nhắc đến trong văn học, trong quan niệm phong kiến họ vẫn là dân đen, con
đỏ, nhưng với lòng yêu nước, trong các cuộc kháng chiến, họ đều tự nguyện dốc hết sức mình Không thể có chiến thắng nếu vắng bóng dáng họ Nhân dân là lực lượng đại diện cho sức mạnh cộng đồng, vì thế cũng mang đậm tâm thức, ý thức cộng đồng Các thể loại văn học mang tính chất sử thi luôn lấy đó làm tiền đề, làm cơ sở
Với một lịch sử như thế, đương nhiên, chủ nghĩa yêu nước là truyền thống lớn nhất trong văn học Việt Nam Và âm hưởng anh hùng ca trong sử thi có dấu ấn trong toàn bộ nền văn học chống chiến tranh ở Việt Nam, từ văn học trung đại đến hiện đại Quả thật cha ông ta từ xưa đã không ngừng xây lên những Đại tự sự Từ các truyền thuyết như Thánh Gióng, Nỏ thần đến hào khí Đông A, văn thơ thế kỉ XIX, văn thơ cách mạng hiện đại tất cả đều xoay quanh sự sống còn của dân tộc Trường ca hiện đại đã nối tiếp mạch tự
sự ấy và lấy đó như là linh hồn của mình Như vậy, trạng thái chống chiến
tranh liên miên vừa là tiền đề xã hội, vừa là tiền đề nội dung của trường ca
Thơ trường thiên – tiền đề của tư duy về hình thức của trường ca hiện đại
Các thể loại thường có sự kế thừa lẫn nhau giữa, nhất thiết phải hồi đáp những thể loại khác cũng như với những điều kiện xã hội khuôn đúc lên chúng Điều đó có nghĩa là, các thể loại như là sự liên thông và diễn giải lẫn nhau, và như vậy, chắc chắn trường ca cũng là sự hồi đáp của một tư duy về thể loại đã có trong lịch sử Do dung lượng hạn chế của luận văn cho nên tìm hiểu mối quan hệ và tương quan giữa trường ca hiện đại và các thể thơ trường thiên trước đây sẽ được chúng tôi phân tích ngắn gọn trên cứ liệu ba thể loại tiêu biểu thuộc dòng văn học viết: diễn ca lịch sử, truyện nôm và ngâm khúc
Trước tiên xin được bàn về diễn ca lịch sử Diễn ca lịch sử là những tác phẩm thơ Nôm trường thiên, mà phần lớn nội dung đều dựa vào quốc sử cùng với truyền thuyết dân gian Thể lục bát và song thất lục bát là hai thể thơ quen
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thuộc mà diễn ca lịch sử sử dụng Trong lịch sử văn học Việt Nam, có một số
tác phẩm diễn ca lịch sử tiêu biểu như: Việt sử diễn âm, Thiên Nam minh
giám, Thiên Nam ngữ lục, (hầu hết chưa biết tác giả là ai?) Nhìn chung về
dung lượng, diễn ca lịch sử là dạng thơ trường thiên đầu tiên ở Việt Nam Qui
mô của nó tạo nền tảng chuẩn bị cho tất cả các thể văn vần dài hơi sau này Diễn ca lịch sử chú ý đến sự kiện và nhân vật lịch sử, nhưng nó lại không hoàn toàn là chính sử, nó vẫn mang trong mình các yếu tố truyền thuyết và gia tăng thêm yếu tố hư cấu Về chủ đề của diễn ca lịch sử đều liên quan đến lịch sử đất nước, cộng thêm cách diễn đạt giàu cảm xúc làm cho tác phẩm diễn ca mang đậm chất sử thi Các yếu tố này dù ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, nhưng bóng dáng của nó thấp thoáng trong kiểu trường ca mang khuynh hướng sử thi của văn học Việt Nam hiện đại
Thể loại thứ hai cần được nhắc đến là ngâm khúc Theo chúng tôi, đây
là thể loại có dấu ấn đậm nét trên kết cấu bề mặt của trường ca Một số tác
phẩm nổi tiếng như: Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ
ngâm (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm), Đây là thể loại nghiêng về biểu
hiện thế giới nội tâm, thể hiện nỗi buồn đau triền miên, dai dẳng Có thể nói
cơ cấu mạch trữ tình – tự sự của khúc ngâm tương ứng với mạch trữ tình – tự
sự của dạng trường ca được xếp vào loại hình trữ tình - loại phổ biến trong trường ca hiện đại
Thể loại thứ ba chính là truyện Nôm, mà chủ yếu là truyện Nôm bác học Phần lớn các truyện này vay mượn cốt truyện Trung Quốc hoặc tự sáng tác Có thể nói, đây là dạng tự sự hư cấu – thiên về sáng tác các câu chuyện
đời thường tương tự tiểu thuyết Các tác phẩm tiêu biểu như: Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình
Chiểu) Trong tương quan với thể loại dài hơi sau này, có một số điểm theo chúng tôi là đáng chú ý: Thứ nhất, vì đều được viết bằng văn vần nên các tác
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
phẩm này thường kết hợp cả trữ tình và tự sự Thứ hai, ngôn ngữ trần thuật bằng văn vần đến truyện Nôm đã đạt đến mức độ phong phú và khá nhuần nhuyễn, điều này đã trở thành hành trang cho các thi sĩ hiện đại sáng tác, kể lại những câu chuyện đáng tự hào của đất nước mình
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, một thể loại không thể khai sinh trên mảnh đất trống Sự liên thông và diễn giải lẫn nhau luôn là đặc điểm của một nền văn học có truyền thống Các thể loại văn học nêu trên có thể không giống với trường ca hiện đại nhưng nó có liên quan và góp phần diễn giải – đặc biệt về mặt hình thức của trường ca Chính tính sử thi, tính anh hùng ca tồn tại trong các thể loại văn học quá khứ đã ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung lớn – hay tư duy thể loại của trường ca
1.1.3.2 Sau 1945 – thời kì phát triển và khẳng định của trường ca
Một nền văn học phát triển hoàn toàn trong chiến tranh bao giờ cũng mang những nét đặc biệt của nó Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nền văn học bắt đầu phát triển theo những yêu cầu, những định hướng tiêu chí mới Văn học được định hướng theo sự lãnh đạo duy nhất của Đảng và là một
bộ phận, một vũ khí trong sự nghiệp cách mạng Đó là nền văn học cách mạng hướng về đại chúng, phục vụ công nông binh Năm 1951, Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh
chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Tinh thần chiến sĩ và danh hiệu nhà văn –
chiến sĩ được đề cao như phẩm chất chủ yếu của nghệ sĩ Hai câu thơ tiêu biểu cho định hướng văn học thời kì này là:
Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi – Hồ Chí Minh)
Định hướng này càng về sau, đặc biệt bước sang cuộc chiến tranh chống Mỹ, lại càng được quán triệt một cách triệt để Như vậy, văn học từ mục đích là hướng tới số phận con người đã chuyển sang hướng tới số phận
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
dân tộc, số phận lịch sử Thể loại trường ca “không nằm ngoài qui luật chung
nhất của văn học Việt Nam, đó là định hướng tự giác của các thể loại vào thể tài lịch sử cách mạng” [19, 705] Nếu trạng thái của đời sống xã hội Việt
Nam suốt mấy chục năm là những cuộc chiến tranh và cách mạng nhằm thay đổi vận mệnh lịch sử dân tộc, thì có thể nói, văn học Việt Nam đương thời đã
thể hiện được trạng thái đó Nó đã đạt đến “trạng thái sử thi”, không chỉ bó
hẹp trong một số tác phẩm mà gần như là hơi thở xuyên suốt nền văn học này
Với tư cách là những người nghệ sĩ - chiến sĩ, trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, người cầm bút không nên nói nhiều về những đau thương mất
mát, những khát vọng riêng tư của cuộc sống đời thường Bởi vì “vóc nhà thơ
đứng ngang tầm chiến lũy” (Chế Lan Viên), cuộc chiến tranh của chúng ta là
cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện nên mọi lực lượng đều vì vận mệnh dân tộc, của Tổ quốc mà chiến đấu hi sinh Chức năng chính của văn học giai đoạn này là phục vụ chính trị, phục vụ kháng chiến, vì vậy mọi đề tài đều hướng đến ca ngợi lý tưởng và những con người cao cả của cách mạng Trường ca không thể không nằm ngoài qui luật đó Chính Hữu Thỉnh, một
nhà thơ với những bản trường ca nổi tiếng đã khẳng định: “Hiện thực chiến
tranh, cuộc sống của người lính dội vào tôi mạnh đến mức vượt ra khỏi một thời đoạn, một đề tài Nó thành một tâm thế Nhưng tại sao lại trường ca, mà không phải là cái gì khác? Và còn cái lẽ nữa là cuộc sống lớn lao, bi tráng quá, đòi hỏi phải mở rộng các kích cỡ” [62, 7]
Do nhiều yếu tố, thời gian sáng tác cũng như những đặc điểm thi pháp của thể loại, trường ca trong văn học sau 1945 có ý nghĩa tổng kết một chặng đường vừa đau thương vừa hào hùng của dân tộc Nguồn cảm hứng của một dân tộc và thời đại anh hùng, cùng với vốn sống thực tế ở chiến trường đã tạo tiền đề cho thể loại trường ca phát triển Những trường ca đầu tiên được ra đời
trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Từ đêm mười chín (Khương Hữu Dụng),
Những thanh gươm báu (Nguyễn Bính), Trường ca sông Gianh (Xuân
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hoàng) Nhưng đến kháng chiến chống Mỹ, trường ca phát triển hơn hẳn về
số lượng và nâng cao về chất lượng, hàng loạt tác phẩm ra đời như : Nước
non ngàn dặm (Tố Hữu), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm); Bài ca chim Chơ Rao, Ba dan khát, (Thu Bồn); Những người đi tới biển, Trẻ con ở Sơn Mỹ, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bùng nổ mùa xuân, Đêm trên cát, Khối vuông Rubic (Thanh Thảo); Con đường của những vì sao, Tình ca người lính
(Nguyễn Trọng Tạo); Đường tới thành phố, Sức bền của đất, Trường ca biển (Hữu Thỉnh); Ngày hội của rạng đông, Hành khúc mùa xuân (Võ Văn Trực)
Có lẽ hiện tượng này cũng là một tất yếu của nền văn học, để đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, với thời đại hào hùng của dân tộc Các tác giả đã phát hiện ra trong thơ - trường ca có sức ôm chứa lớn về nhiều vấn đề, nhiều chủ
đề tư tưởng, về cả độ rộng của không gian và độ dài của thời gian có khả năng khái quát hiện thực rộng lớn
Trường ca giai đoạn này chủ yếu nói đến cả một cuộc hành trình, cuộc hành trình của một cá nhân – một người lính, cũng như cuộc hành trình của một dân tộc Có thể nói, giai đoạn chống Mỹ và hậu chống Mỹ là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của trường ca
1.1.4 Nội dung trường ca hiện đại
Một điều đặc biệt trong nội dung trường ca hiện đại là bản thân các chủ thể sáng tác đều là những người trực tiếp tham gia chiến tranh Họ đi ra từ cuộc chiến đấu gian khổ, khốc liệt với tinh thần tự hào của một người lính đã cống hiến hết mình cho Tổ quốc Những kỉ niệm của một thời lửa cháy, những người đồng đội đã ngã xuống thôi thúc họ luôn tưởng niệm, nhớ về quá khứ Trường ca hiện đại khác trường ca cổ điển chính là ở sự xuất hiện của cái Tôi này Tác phẩm của họ vì vậy mang nhiều tính tự bạch, tự thuật, là bài
ca nói về đồng đội mình, những người cùng thời với mình Điều đó đồng nghĩa với việc nội dung của trường ca được nhìn với con mắt của người trong cuộc, thường là cái nhìn ở phía chính diện, cái nhìn về những người cùng chí
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
hướng Chúng ta có thể nhận thấy trường ca hiện đại Việt Nam xoay quanh hai nội dung, đề tài lớn:
Thứ nhất là chiến tranh và người lính
Lịch sử chiến tranh liên miên đã để lại dấu ấn không thể phai mờ trong tâm thức cộng đồng người Việt Văn học với tư cách là một hình thái ý thức
xã hội, là nơi tái diễn một cách chân thực nhất tâm thức ấy Nếu lịch sử ghi lại các sự kiện, thì văn học ghi lại tâm hồn, tâm linh con người Nếu lịch sử ghi lại các con số có thể nhìn thấy, thì văn học còn ghi lại những dòng chảy ý thức, những vùng mờ lí tính, những dự cảm và trải nghiệm của bản thân con người Trường ca nói chung và trường ca hiện đại Việt Nam nói riêng, chiến tranh luôn là đề tài chính, là mấu chốt cho những trải nghiệm được tự sự Không ai khác chính người lính là người trực tiếp, là nhân chứng sống cho những cuộc chiến ấy
Thứ hai là đất nước và số phận con người
Đất nước là hình tượng trung tâm của văn học cách mạng Lịch sử dựng nước và giữ nước nhiều thăng trầm đã hình thành nên ý thức dân tộc vô cùng sâu sắc trong con người Việt Nam Trong lịch sử văn học, cảm hứng về đất nước vẫn luôn là một trong những cảm hứng lớn nhất của mỗi giai đoạn Và trường ca hiện đại cũng đã thể hiện rất rõ nội dung ấy Đất nước trong đời thường và đất nước trong văn học được kết tinh từ tất cả những mảnh ghép cuộc sống
Trước 1975, hình ảnh đất nước hiện lên thường hào hùng và mang tầm vóc sử thi :
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng lòa
(Nguyễn Đình Thi)
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đến Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo đều muốn tái diễn lại bức tranh hoành tráng đó Các tác giả này thường gắn kết hình ảnh đất nước với hành trình mở nước và truyền thống văn hóa lịch sử hào hùng, bởi vậy Thu Bồn viết:
Chúng sợ An Dương Vương, Thánh Gióng
Sợ trăm dòng sông đều nổi sóng Bạch Đằng Những súng thần công cổ sơ không bao giờ bắn nữa Nhưng chúng sợ lửa bắn về tứ phía bốn nghìn năm
(Thu Bồn – Người gồng gánh phương Đông)
Nguyễn Khoa Điềm viết:
Đất nước muôn năm Những ngựa đá lại xuống đường Những bà mẹ đo chân vào thần tích
Để hoài thai triệu triệu những anh hùng
(Nguyễn Khoa Điềm - Mặt đường khát vọng)
Truyền thống dân tộc đã tạo nên những anh hùng, tạo nên sức mạnh tiềm tàng mà quật cường để dân tộc có thể chiến thắng giặc ngoại xâm Với Hữu Thỉnh đất nước còn gần gũi và quen thuộc hơn với từng dáng cây, ngọn cỏ tất cả đều cần dược bảo vệ:
Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được Chỉ một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn
Tổ quốc sẽ ra sao? Tổ quốc!
(Hữu Thỉnh – Đường tới thành phố)
Và Tổ quốc còn là đất mẹ thiêng liêng:
Nơi đây đã nguồn sông Chốn tận cùng
Thì cắm bàn chân xuống đất này mà sống
Đó là Tổ quốc
(Thanh Thảo – Những người đi tới biển)
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong các trường ca được viết sau năm 1975 – khi chiến tranh đã kết thúc, các nhà thơ đã thể hiện cảm hứng về đất nước một cách vô cùng chân thực Lịch sử dân tộc đã được ý thức và gắn liền với số phận khốn khó vất vả của từng người dân bình dị, đặc biệt là hình ảnh người mẹ Có lẽ, khi đọc những dòng thơ sau đây của Thanh Thảo không ai là không ngậm ngùi, xúc động về hình ảnh đất nước:
Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người
Mồ hôi vã một trời sao trên đất Trời sao lặn hóa thành muôn mạch nước Chảy âm thầm chảy dọc thời gian
(Những người đi tới biển)
Gắn với đất nước là số phận con người Có thể nói trường ca hiện đại thường xoáy sâu vào số phận con người, đặt con người vào mối tương quan với hoàn cảnh, thời gian và không gian tồn tại Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi đi sâu vào khía cạnh số phận con người với hoàn cảnh
Con người và hoàn cảnh sống, con người và thời đại luôn có mối tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ Trong trường ca mối quan hệ giữa số phận con người với hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ khốc liệt, thời đại cách mạng mà dân tộc đã trải qua được thể hiện rất cụ thể Trường ca trước 1975 chủ yếu đề cập đến những con người mang tính tập thể, sống bằng
lí tưởng mà ít đời sống nội tâm Song một điểm nhấn trong trường ca hiện đại
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
sau 1975 là đã đề cập đến những số phận riêng mà những số phận ấy phải chịu ảnh hưởng sâu sắc của chiến tranh Các số phận con người đời tư nhiều đau khổ, trái ngang đã được các trường ca sau 1975 đề cập đến như một minh chứng hùng hồn về tội ác của giặc Mỹ
Biết bao người đã không tìm được hạnh phúc vì chiến tranh, để sự nuối tiếc khổ đau cho cả cuộc đời:
Những mảnh vỡ mối tình đầu như thủy tinh nhọn sắc Bao đợi chờ ứa máu đến xa sau
(Tình ca người lính – Nguyễn Trọng Tạo)
Và trường ca Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh đã nói đến cái mất
mát, hi sinh, một sự ám ảnh khôn cùng về hình ảnh những người mẹ, người
vợ (phần này chúng tôi sẽ đi sâu ở chương 2)
Và nỗi lòng se sắt một người mẹ trong trường ca Đất nước hình tia
chớp của Trần Mạnh Hảo:
Mẹ ơi suốt chiều dài lịch sử
Mẹ vẫn sinh nhiều những đứa con trai Mỗi bận chiến trường tin báo tử
Mẹ lại hoài thai bằng nỗi đau dài
Như vậy, con người đã chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhưng đồng thời trong chiến tranh con người cũng đã thể hiện sức mạnh kì diệu Họ không chỉ vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt đau thương của đất nước mà còn chiến thắng chính bản thân mình, chiến thắng số phận nhiều lúc không tránh khỏi hẩm hiu Song, dù phải chịu những mất mát lớn lao, con người vẫn chịu đựng vì sự vĩnh hằng của Tổ quốc
1 2 Quá trình sáng tác của nhà thơ Hữu Thỉnh
1.2.1.Các giai đoạn sáng tác
Hữu Thỉnh tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, bút danh là Vũ Hữu, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1942 tại làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Được sinh trưởng trong một gia đình nông dân có truyền thống Nho học, và nhà thơ tự hào khi được sinh ra trên mảnh đất quê
hương giàu truyền thống văn hóa Miền đất “thiếu nước, bạc màu” (Hữu
Thỉnh) nhưng lại lưu giữ nhiều phong tục cổ, các di tích đền chùa Phải chăng chính yếu tố này đã làm nên một Hữu Thỉnh đôn hậu, mộc mạc, chân chất; ngay cả trong sáng tác thơ ca cái đôn hậu ấy cũng không hề mất đi, thấm đẫm màu sắc dân gian
Hữu Thỉnh có một tuổi thơ với đầy đủ vị ngọt, đắng của cuộc đời Mười tuổi ông đã phải đi làm phu, làm đủ mọi thứ lao dịch cho các đồn binh Pháp Đến năm 1954 ông mới được đi học, tốt nghiệp phổ thông năm 1963 Ngay sau đó ông vào bộ đội tăng thiết giáp, Trung đoàn 202, đã từng học lái
xe, làm cán bộ tiểu đội, dạy bổ túc văn hóa và làm cán bộ tuyên huấn, hòa mình vào cuộc kháng chiến đầy gian khổ hào hùng của dân tộc Có thể khẳng định ông là một nhà thơ – chiến sĩ, trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ Những đoạn đường 9 - Nam Lào, Quảng Trị, Tây Nguyên, chiến dịch Hồ Chí Minh đã đi vào kí ức không thể phai mờ của nhà thơ Đây chính là giai
đoạn để ông “thai nghén” những bài thơ, bản trường ca nổi tiếng sau này
Sau năm 1975, Hữu Thỉnh học Đại học Văn hóa và là một trong số những sinh viên khóa đầu tiên của trường Viết văn Nguyễn Du
Từ năm 1982, ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ cán bộ biên tập, Trưởng ban thơ, Phó tổng Biên tập của Tạp chí Văn nghệ Quân đội
Từ 1990 đến nay, Ông chuyển sang công tác tại Hội nhà văn Việt Nam, trở thành Tổng biên tập Tuần báo văn nghệ, tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn các khóa III, IV, V, ủy viên Ban thư ký khóa 3 Hiện ông là Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam
Tác phẩm đã xuất bản: Âm vang chiến hào (Thơ in chung - 1975); Trường ca Đường tới thành phố (1979); Thơ ngắn, trường ca Từ chiến hào tới
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thành phố (1985); Khi bé Hoa ra đời (Thơ thiếu nhi, in chung - 1985); Tập thơ Thư mùa đông (1994); Trường ca biển (1994); Thơ Hữu Thỉnh (1998); Trường
ca Sức bền của đất (2004); Tập thơ Thương lượng với thời gian (2005)
Với các giải thưởng cao quí: Giải ba cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ với
bài thơ Mùa xuân đi đón Giải A cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ năm 1975
-1976 (Tác phẩm Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất) Với Trường ca biển tác giả lại lần nữa được nhận giải thưởng xuất sắc của Bộ
Quốc phòng vào năm 1994, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 và nhiều giải thưởng cao quí khác Những giải thưởng lớn về thơ đã ghi nhận sức sáng tạo bền bỉ không mệt mỏi và khẳng định tài năng, vị trí của nhà thơ trong ngôi nhà văn học Việt Nam Điều đó càng khẳng định hơn nữa
sức sống lâu bền của những bài thơ trong lòng công chúng “Hữu Thỉnh có
cái may mắn là khá nhiều bài thơ và nhất là trường ca của anh qua sự thẩm định của thời gian vẫn có giá trị tương đối ổn định” [59, 31]
1.2.2 Quan niệm về thơ của Hữu Thỉnh
Chưa từng có một giai đoạn lịch sử nào mà dân tộc ta lại sản sinh ra nhiều nhà thơ có chung chí hướng và gần gũi quan niệm sáng tạo như thời chống Mỹ Cả một đội ngũ cầm bút hừng hực khí phách, tươi rói hồn thơ Rất nhiều gương mặt thơ sáng giá như: Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm… Họ luôn coi làm thơ là một hành động đầy ý thức Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ có quan niệm về thơ rất đúng đắn Thiết nghĩ ngoài những nhân tố về thời đại, quê hương, gia đình mà chúng ta được biết thì những suy nghĩ, quan niệm
của ông về “nghề thơ” cũng góp phần giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện
hơn về tâm hồn thơ, phong cách thơ ông
Nói “quan niệm thơ Hữu Thỉnh” là đề cập đến những yếu tố xã hội được chuyển hóa vào tư duy nghệ thuật để trở thành quan niệm văn chương
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nếu Bằng Việt quan niệm sáng tác thơ ca là quá trình đi từ ngoại cảnh đến nội tâm, từ cuộc sống khách quan đến cuộc sống chủ quan, là sự va chạm với hiện thực sắc cạnh tác động đến tâm hồn và cuối cùng là sự tư duy trí tuệ Thì Hữu Thỉnh lại có những quan niệm cụ thể hơn:
“Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”: Trên những chặng đường hành quân gian khổ, người chiến sĩ trẻ - nhà thơ Hữu Thỉnh đã không quên ghi lại những giây phút, những thời khắc một đi không trở lại nơi chiến trường ác liệt Phải chăng đó cũng chính là quan niệm về thơ ca của một người chiến sĩ, là những tuyên ngôn về thơ được nảy sinh từ chính hiện thực khốc liệt Chính vì vậy ông quan niệm làm thơ là ghi lại cuộc đời mình và của
dân tộc Ông cho rằng “chiến tranh là một hiện tượng xã hội đột xuất Ở đó
lịch sử chảy xiết hơn Phản ánh cuộc chiến tranh đó vừa là trách nhiệm vừa
là niềm say mê của mỗi chúng tôi Chiến tranh ra bài thi nhập môn cũng là nơi thử sức lâu dài của mỗi người Sự gắn bó tự thân với cuộc chiến đấu, sống hết mình trong thử thách hy sinh là cử chỉ đầu tiên của một người cầm bút trung thực Thơ ca của thế hệ chống Mỹ là tiếng nói sống động và tự tin của những người trong cuộc Người ta bắt gặp rất nhiều trường hợp nhân danh, nhưng mọi sự nhân danh đều tìm được sự cảm thông của người đọc vì
nó được đảm bảo bằng chỗ đứng của người viết Thơ ở đây được đảm bảo bằng máu” [18, 417] Không có trang nhật kí nào có thể vừa ngắn gọn lại vừa
đầy đủ, chân thực hơn những dòng thơ của người chiến sĩ vừa trực tiếp tham gia cầm súng chiến đấu vừa cầm bút ghi lại những khoảnh khắc diễn ra trong cuộc đời mình ở thời điểm đặc biệt ấy:
Gạo chỉ mang đủ mười ngày còn dành mang súng Còn mang thuốc
Còn mang nhau Mang bao nhiêu tai biến dọc đường
(Đường tới thành phố)
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Câu thơ thật chân thực minh chứng rất rõ quan niệm thơ ca của Hữu Thỉnh Đọc thơ Hữu Thỉnh người đọc cảm thấy tác giả không cố ý làm thơ mà chỉ việc nhìn, nghe và ghi chép lại Dường như đó chính là tiếng nói của sự
sống chứ không phải là tiếng nói của thơ ca Hữu Thỉnh đã “chuyển sự sống
chung thành nỗi niềm riêng của chính mình” Qua thơ Hữu Thỉnh, cuộc sống
chiến trận đã hiện lên với dáng vẻ sinh động và thật nhất Nhà thơ không phải
là người đứng ngoài cuộc tưởng tượng về chiến tranh mà thực sự sống giữa chiến trường Hiện thực cuộc sống kháng chiến chính là chiếc nôi nuôi dưỡng hồn thơ Hữu Thỉnh, cho nhà thơ những cảm nhận phong phú để làm nên những hình ảnh thơ đa dạng, trong sáng, đậm màu sắc dân gian Với ông
không có thứ thơ như những “dây bìm trang trí”:
(Đường tới thành phố) Với Hữu Thỉnh, và những người cầm bút như ông thơ phải là hơi thở,
là tiếng nói chân thành được lấy từ hiện thực cuộc sống, bởi vậy họ muốn:
Thơ phải là ngọn lửa sưởi ấm trái tim mình (Thơ là bữa tiệc của tâm
hồn [65, 160]): Hiện thực chiến trường quả là khốc liệt, người lính sẽ gục ngã
trước hiện thực nếu không có “tiếng hát át tiếng bom”, và dù nếu không có
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
tiếng hát thì thơ sẽ là nơi cho những chiến sĩ trẻ gửi gắm một tâm sự, một niềm tin hay đôi khi đó chỉ là một cảm xúc rất đỗi bình thường:
Một bức thư nhà Hôm nay ta đọc Trong chiến hào chuẩn bị tiến công
Ta mới hiểu thêm từng chữ từng dòng chưa bao giờ hiểu hết
(Chính Hữu) Thơ ca sẽ là đôi cánh giúp người lính quên đi những nghiệt ngã trước mắt, hướng đến ngày mai tươi sáng Là một nhà thơ cầm súng Hữu Thỉnh thấm thía ý nghĩa của thơ ca đối với cuộc đời, nhất là thơ ca trong kháng chiến Với Hữu Thỉnh thơ như ngọn lửa sưởi ấm tâm hồn người lính trên những chặng đường hành quân đánh giặc Mỗi khi nhớ nhà, nhớ quê hương
và nhớ người yêu dấu:
Chúng tôi sưởi trên những câu thơ ấy
Cứ thế qua đi nhiều mùa mưa
(Đường tới thành phố) Trong chiến tranh, hoàn cảnh đôi khi bắt họ phải lựa chọn giữa đạn và sách, họ đã chọn đạn Nhưng như thế không có nghĩa là người lính sẽ phải
đoạn tuyệt với sách vở, với thơ ca “Không có sách chúng tôi làm ra sách”
Không thể mang theo sách, họ tự làm ra sách của mình, bằng cách:
Chúng tôi vừa đi vừa nhẩm dọc đường Thơ cứ đến và mưa chiều mau ngớt
(Đường tới thành phố) Thơ ca đã giúp họ quên đi những khó khăn, nhọc nhằn vất vả của cuộc chiến Người lính và nhà thơ đã hoà làm một Họ viết về mình, về những đồng đội của mình, về một thời điểm lịch sử oanh liệt của dân tộc để thấy tự hào về sự có mặt của mình trong dòng chảy lịch sử đó Người lính trong thơ
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ông ý thức rất rõ sức mạnh của thơ ca đối với cuộc chiến đấu của mình và đồng đội Khó khăn, vất vả, bom đạn, chết chóc không làm cho người lính chùn bước, có thể nói đó là nhờ vào một phần không nhỏ của thơ ca Vì vậy
mà họ luôn chờ đón thơ ca mỗi ngày: “Thơ hãy đến góp một vài que củi / Cho
em nhận ra anh, đồng đội nhận ra mình” Sức mạnh của thơ ca giống như sức
nóng của lửa đem lại hơi ấm cho mỗi người lính qua mỗi chặng đường hành
quân đầy mưa gió: “chúng tôi sưởi trên những câu thơ ấy / Cứ thế qua đi
nhiều mùa mưa” Ngọn lửa thơ ca người lính dùng để sưởi ấm tâm hồn mình
qua mỗi chặng đường đánh giặc chính là ngọn lửa được duy trì từ nhiều thế hệ
nên họ “sưởi bằng ngọn lửa của mình” nhưng “lại thấy ấm” từ thơ của thế
hệ đi trước Chính sự chuẩn bị của những thế hệ nhà thơ đi trước đã tạo nên một tài sản chung mà thơ trẻ may mắn được thừa hưởng Sự thành công của mỗi nhà thơ, trước hết phải từ sự cố gắng nỗ lực chủ quan của chính nhà thơ
đó Nhưng mặt khác, là thế hệ đi sau các nhà thơ luôn có sự kế thừa từ những thế hệ đi trước Điều đó không tạo nên sự “lặp lại” mà tạo nên sự phong phú,
đa dạng cho thơ ca và bản lĩnh của mỗi nhà thơ
Bên cạnh đó Hữu Thỉnh còn dồn tâm huyết để cho ra mắt bạn đọc cuốn
tiểu luận phê bình văn học – Lý do của hy vọng Đây có thể coi là đứa con
tinh thần của nhà thơ, nó là những đánh giá, thẩm bình về văn chương Hơn thế nó còn chứa đựng những ý kiến quí báu về nghề thơ Chúng tôi rất tâm
đắc với một số quan điểm của ông trong cuốn tiểu luận này, như các bài: Góp
thêm vài ý nghĩ về thơ, đây là những quan điểm của nhà thơ về thơ Nhà thơ
đã lí giải, cắt nghĩa thơ là gì rồi đi đến kết luận: mỗi bài thơ là một định
nghĩa về thơ Hay bài viết Thơ là nơi trú ngụ của tâm hồn thể hiện niềm vui
rất riêng tư của nhà thơ khi những đứa con tinh thần của mình được bạn đọc tin yêu và quí mến
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Không chỉ vậy, Hữu Thỉnh còn cho rằng thơ có được là do “nhập
cuộc, dấn thân”, “chắt lọc kinh nghiệm” Chính vì thế người đọc dễ dàng
nhận thấy thơ ông “ngồn ngộn cuộc sống” Làm thơ là cách tốt nhất để Hữu Thỉnh “ghi lại” những hình ảnh, những màu sắc, những thanh âm đa dạng của
cuộc đời Song để làm nên những độc đáo trong phong cách thơ Hữu Thỉnh ta không thể không nói đến ảnh hưởng của văn học dân gian đối với thơ ông
Chính ngôi đền thơ ca dân gian đã giúp cho thơ ông có nét gần gũi và độc đáo
so với các nhà thơ cùng trang lứa Với Hữu Thỉnh cội nguồn dân gian truyền thống luôn là nơi ông tìm về, là nguồn sống tạo nên bản sắc thơ ông Tìm cái lớn lao trong cái bình thường nhỏ bé, cái kì diệu trong cái mộc mạc đơn sơ chính là nét riêng, chỉ ở Hữu Thỉnh mới có
Trang 38
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Chương 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRONG TRƯỜNG CA
HỮU THỈNH
Hình tượng nghệ thuật là trung tâm của tác phẩm văn học, là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình Sự chiếm lĩnh đời sống của nhà thơ chỉ được thể hiện thông qua hình tượng nghệ thuật Hình tượng là nơi nhà văn, nhà thơ gửi gắm, kí thác tâm tư, tình cảm, cũng như tư tưởng của mình Như vậy, hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa nhân tố chủ thể và khách thể đời sống Tuy vậy không phải hình tượng nào cũng là hình tượng nghệ thuật Chỉ có hình tượng nào nhằm thể hiện một quan niệm, một tư tưởng của nhà thơ về con người, về cuộc đời mới trở thành hình tượng nghệ thuật Qua việc khảo sát, tìm hiểu trường ca của Hữu Thỉnh, chúng tôi nhận thấy có một số hình tượng nổi bật sau:
2.1 Hình tượng người lính
Hình tượng người lính trong thơ Hữu Thỉnh hiện lên với vẻ đẹp đời thường, không tô vẽ: Đó là những ngày tháng gian khổ, cái khốc liệt, máu lửa
có thể “tướp da, đỏ máu” mà nhà thơ đã trải qua Nó thể hiện chân dung tinh
thần của nhà thơ trong những ngày trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường Đó còn là chân dung tiêu biểu của thế hệ chống Mỹ Như Hữu Thỉnh
có lần nói: “Thơ ca của thế hệ chống Mĩ là tiếng nói sống động và tự tin của
những người trong cuộc Người ta bắt gặp khá nhiều trường hợp nhân danh, nhưng mọi sự nhân danh đều tìm được sự cảm thông của người đọc vì nó được đảm bảo bằng chỗ đứng của người viết Thơ ở đây được đảm bảo bằng máu” [18, 417] Hình ảnh người lính là một chủ đề xuyên suốt các tập thơ
của Hữu Thỉnh, nó trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh, như một niềm thôi thúc khôn nguôi Hình tượng người lính được nhà thơ nhìn nhận qua nhiều góc
độ khác nhau
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.1.1 Người lính khi đối diện với hiện thực khốc liệt của chiến tranh
Đã có một thời văn chương và thơ ca cách mạng “kị” viết về sự thật, về
những mất mát hy sinh của dân tộc, cá nhân Song sự thật vẫn mãi là sự thật,
mà không có sự thật nào lại dai dẳng, ám ảnh như sự thật về chiến tranh Là một người lính trực tiếp cầm súng đánh giặc, Hữu Thỉnh cũng như bao người lính khác luôn bị ám ảnh bởi hiện thực hãi hùng ấy Khi chiến tranh qua đi, hòa bình lập lại, con người ngày nay sống trong êm ấm hạnh phúc, ta có đủ tỉnh táo và can đảm nhìn lại chặng đường gian khổ đã qua Bởi chính niềm thôi thúc ấy nên không chỉ trong trường ca mà cả những sáng tác thơ của ông
đều viết về sự thật Cùng với quan điểm ấy, trong Trường ca sư đoàn Nguyễn
Đức Mậu viết:
Xin đừng ai chối từ sự thật Chúng ta nhìn trong suốt cuộc đời nhau Trong chiến tranh tinh thân dân tộc bao giờ cũng phát triển ở mức cao
nhất Bi kịch anh hùng là một đặc điểm lớn và nó không hoàn toàn trái ngược, mâu thuẫn với tính chất anh hùng ca, tính chất ngợi ca, khẳng định Đương nhiên, hiện thực khốc liệt của cuộc chiến tranh đã được các nhà thơ chuyển tải theo nghĩa thực của nó Đã từng là người lính trực tiếp tham gia chiến tranh, cầm bút và cầm súng là hai nhiệm vụ không phải ai cũng dễ hoàn thành Đặc biệt khi phản ánh chiến tranh ở khía cạnh hiện thực càng không hề đơn giản chút nào Cảm nhận chung khi đọc ba trường ca của Hữu Thỉnh là ông đã có cái nhìn về chiến tranh bằng con mắt của người từng trải, từng đi qua cuộc chiến tranh, không ai khác chính ông có những cảm nhận thật nhất về những
gì mình đã chứng kiến, đã trải qua Viết về hình ảnh người lính khi đối diện với hiện thực khốc liệt của chiến tranh tác giả như có dịp trải lòng mình, có dịp được tưởng niệm lại những kí ức một thời máu lửa
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Đó là cuộc sống người lính với bao khốn khó:
Phơi chiếc khăn sương sớm mai rửa mặt Ngủ nhát gừng giữa hai đợt tấn công Tay thêm chai mỗi bận moi hầm Ném cho nhau những khẩu phần khô khốc
(Sức bền của đất)
Có những cuộc hành quân “mưa trơn quá chân tuồi ra khỏi dép” Và cả những vết thương theo suốt cuộc đời người lính “hai vết thương vì rừng, ba
vết thương vì pháo” Những đợt sốt rét rừng đeo đẳng họ:
Mưa tối mặt áo quần dán chặt Trận rét rừng xoắn tím cả làn môi
(Đường tới thành phố) Nếu Chính Hữu miêu tả những khó khăn gian khổ của người lính trong
cuộc kháng chiến chống Pháp với bao thiếu thốn, gian khổ áo rách, quần
vá những trận sốt rét ớn lạnh thì Hữu Thỉnh khắc họa hình ảnh người lính
trong trận sốt rét rừng xoắn tím cả làn môi Hình ảnh người lính hiện lên trong
câu thơ của ông thật tội nghiệp Những trận hành quân trèo đèo, lội suối, đội
cả những trận mưa rừng mà đi Đã không ít người lính phải bỏ lại thân mình sau những cuộc hành quân
Đâu chỉ vậy, người lính còn phải đối mặt với những rình rập của kẻ thù:
Thằng sống sót rình bắn anh sau gáy Thằng viện binh gào đại bác tầm xa
(Sức bền của đất) Hay những đợt tấn công dữ dội của người lính trong trận giáp lá cà:
Báng súng gẫy Lưỡi lê quăm Trong trận giáp lá cà Giặc chạy rồi
Anh dựa vào gốc cây ô môi mà thở
(Sức bền của đất)