Trên cơ sở thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, cố gắng đưa ra một khái niệm về trường ca và tìm đến những đặc điểm nổi bật của trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI BÁ ẤN
ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA
THU BỒN, NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ THANH THẢO
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62 22 34 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1.GS.TS LÊ VĂN LÂN
2 PGS.TS HỒ THẾ HÀ
Hà Nội - 2008
Trang 2A MỞ ĐẦU 01
Chương 1- TRƯỜNG CA VÀ TRƯỜNG CA
1.1.1 Từ sử thi đến trường ca trong văn học thế giới 15 1.1.2 Trường ca Việt Nam - từ quan niệm đến khái niệm 18
1.1.3 Phân biệt trường ca và một số thể loại thơ 22
1.2 Quan niệm của Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo
1.2.1 Quan niệm của Thu Bồn về thơ và trường ca 28 1.2.2 Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về thơ và trường ca 31
1.2.3 Quan niệm của Thanh Thảo về thơ và trường ca 34
1.3 Thành tựu trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo 38
Chương 2- TRƯỜNG CA THU BỒN, NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ
THANH THẢO - TÍNH ĐA TẦNG TRONG KHẢ NĂNG CHIẾM LĨNH
2.1 Hiện thực cuộc sống - từ lý tưởng đến bản chất và chiêm cảm 48
2.1.1 Hiện thực cuộc sống chiến tranh - từ lý tưởng
Trang 32.2 Con người - cái nhìn thống nhất và đối cực 70
2.3 Hiện thực máu lửa và khát vọng bình yên
qua những biểu trưng nghệ thuật tiêu biểu 106
Chương 3- TRƯỜNG CA THU BỒN, NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ
THANH THẢO - TÍNH PHỨC HỢP TRONG CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT 125
3.1 Sự đa dạng trong sử dụng các thể thơ 125
3.1.2.Sựđồng hành và lên ngôi của thơ Tự do và chiếm lĩnh của thơ Văn xuôi 134 3.1.3 Sự ra đời của thơ “Tích hợp các loại hình nghệ thuật” 140
3.2 Sự phức hợp trong các kiểu cấu trúc tác phẩm 148
3.2.3 Cấu trúc kiểu vòng tròn mở của trò chơi ru-bích 163
3.3 Sự vận động trong ngôn ngữ và giọng điệu thơ 166
D DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tính hoành tráng, không khí sử thi là đặc điểm nổi bật của trường ca Điều này
lý giải tại sao trong và sau hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc (chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ), trường ca hiện đại Việt Nam mới ra đời, mặc dù thơ ca hiện đại Việt Nam đã đạt đến đỉnh cao từ “Thơ Mới” Nhưng cũng như sử thi, cơ sở xã hội cho
sự ra đời của thể loại trường ca không nhất thiết là phải ở ngay thời điểm diễn ra sự kiện lịch sử ấy mà cần có một độ lùi thời gian cần thiết; cho nên, sự nở rộ và độ chín của trường ca hiện đại Việt Nam phải chờ đến những năm sau khi chiến tranh kết thúc Giờ là lúc, những nhà thơ mặc áo lính mới có đủ thời gian để nhìn nhận, tổng kết chặng đường sử thi hào hùng mà lịch sử dân tộc và bản thân họ đã đi qua Trong đó, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo là ba tác giả có những đóng góp lớn cho sự phát triển của trường ca Tuy số lượng sáng tác trường ca của ba tác giả này nhiều ít khác nhau; nhưng có thể nói, đây là ba tác giả tiêu biểu góp phần làm nên sự nở rộ; sự phong phú, đa dạng và sự hoàn thiện từng bước của trường ca Việt Nam Cả ba tác giả đều đã
có thành tựu quan trọng trong sự nghiệp văn học nước nhà Trong đó, Thu Bồn được xem là một tác giả có quá trình sáng tác trường ca liên tục nhất, xuyên suốt từ chiến tranh sang hoà bình với số lượng nhiều nhất: 12 trường ca (theo cách gọi của ông) Nguyễn Khoa Điềm cũng sáng tác rất nhiều những bài thơ dài mang dáng trường ca; tuy nhiên, ông chỉ viết có một trường ca; song, là một trường ca có vị trí rất quan trọng; mang tính chất bắc cầu từ thời chiến sang thời bình, từ giai đoạn trường ca mang đậm tính tự sự, có nhân vật và kết cấu theo cốt truyện trước đó sang trường ca kết cấu theo mạch tư tưởng, cảm xúc Người tiếp nối mạch trường ca này thành công nhất và cũng
là một tác giả viết trường ca với nhiều sáng tạo trong cấu trúc nhất, chính là Thanh Thảo với tám trường ca, trong đó có tới bốn trường ca đạt giải thưởng Nhà nước Ngoài
ra, nếu tính luôn cả năm bài thơ dài (trong đó có một bài thuộc dạng trích trường ca) là trường ca (như cách gọi của Thu Bồn) thì Thanh Thảo có đến 13 “trường ca” Như vậy,
có thể nói, trong thơ ca hiện đại Việt Nam, Thu Bồn và Thanh Thảo là hai nhà thơ sáng tác nhiều trường ca nhất: mỗi tác giả có tám trường ca Hơn nữa, qua nghiên cứu
Trang 5trường ca, chúng tôi nhận thấy rằng, đây là ba tác giả có những khám phá và sáng tạo trong quá trình vận động của thể loại, và đứng trên góc độ của cái nhìn địa - văn hoá thì
cả ba tác giả đều cùng sinh trưởng và gắn bó chặt chẽ với mảnh đất miền Trung và Tây Nguyên Chính vì thế, chúng tôi chọn trường ca của ba tác giả này để nghiên cứu, chỉ
ra những đặc điểm độc sáng, từ đó giúp cho người đọc phần nào nhận rõ hơn diện mạo của trường ca hiện đại Việt Nam
Trên cơ sở thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, cố gắng đưa ra một khái niệm về trường ca và tìm đến những đặc điểm nổi bật của trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo trong cái nhìn chung - riêng với đặc điểm của trường ca Việt Nam nhằm tìm ra phong cách của từng tác giả, chính là mục đích và ý nghĩa của đề tài Đề tài cũng bước đầu chú trọng nghiên cứu đến những tác giả thuộc thế hệ những nhà thơ chống Mỹ vốn xưa nay ít được đề cập thành một công trình riêng trong quá trình nghiên cứu văn học Việt Nam, nhằm tìm ra những đóng góp của họ trong tiến trình hiện đại hoá thơ ca dân tộc Đây cũng là một yêu cầu mang tính bức thiết mà đề tài hướng đến
2 Lịch sử vấn đề
Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào viết chung cho cả ba tác giả Chính vì vậy, để tiện việc theo dõi quá trình nghiên cứu về ba tác giả này từ trước đến nay, chúng tôi xin được khái lược lịch sử vấn đề đối với riêng từng tác giả theo trình tự thời gian xuất hiện các bài viết, để người đọc, phần nào, nhận ra sự tiến triển trong quá trình nghiên cứu, đánh giá về Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo
2.1 Những ý kiến về thơ và trường ca Thu Bồn
2.1.1 Những ý kiến chung về thơ Thu Bồn
Về phong cách thơ Thu Bồn, Bích Thu ở Theo dòng văn học (1984) nhận xét:
Thơ Thu Bồn “kết hợp hài hoà cảm xúc và trí tuệ Suy nghĩ mà vẫn gắn với tâm tình, khái quát mà vẫn không tách rời hiện thực” [97,tr.856] Nguyễn Trọng Tạo trong
Thương nhớ Thu Bồn - Hà Đức Trọng (2003) có nhận xét khá sắc nét: “Thơ văn anh có
thể ví với dòng sông đầy ghềnh thác, cuộn xiết và réo gọi… Ngòi bút anh cắm sâu vào
Trang 6những đề tài mang tính anh hùng ca, nhưng cũng chan hoà máu lệ trong những bi thương đau khổ của kiếp người” [97,tr.790] Bên cạnh cái dữ dội, mạnh mẽ của thơ
Thu Bồn, Ngô Thế Oanh trong Người hiến mình trọn vẹn cho thơ (2003) nhấn mạnh
đến yếu tố trữ tình, say đắm: “Trong các nhà thơ đương đại, Thu Bồn là một trong
những nhà thơ có nhiều bài thơ tình say đắm nhất” [28,tr.14] Trong Đã ngừng đập một cánh chim đại bàng…, Thanh Thảo cho rằng: “Về sáng tác, phần bản năng là phần
mạnh nhất trong tác phẩm của Thu Bồn”, nhưng do “quá lo âu để phần ý thức sáng rõ can thiệp” khiến “bản năng nghệ thuật” không dẫn dắt được cảm xúc tạo nên điểm yếu
trong nhiều bài, nhiều đoạn thơ của Thu Bồn [28,tr.551] Nguyễn Chiến trong Chim chơ rao đến từ núi lạ (2003) rút ra phong cách thơ Thu Bồn: “có cái giọng hào sảng rất
Quảng Nam Hồn thơ Thu Bồn vút lên như cánh chim chơ rao đến từ núi lạ Điều quan trọng nhất ở anh là đã làm nên một cõi Thu Bồn” [97,tr.508-510] Trung Trung Đỉnh ở
Tráng sĩ hề… dâu bể (2003) có một đánh giá khá khái quát về phong cách thơ Thu
Bồn: “cái dâu bể sâu nặng ân tình với đồng đội, nhân dân, Tổ quốc, chính nó đã tạo nên
vẻ đẹp thơ ông, cái vẻ đẹp phong trần, nhuốm bụi đời vừa gian nan khúc khuỷu vừa
ngạo nghễ kiêu hùng và lãng mạn” [97,tr.529-530], Phùng Tấn Đông trong Thu Bồn qua sông Thu Bồn (2003) cho rằng: giọng thơ “Thu Bồn nghiêng hẳn về tư duy nghệ thuật trữ tình” [97,tr.548] Trong Ấn tượng Thu Bồn qua hai thời lửa - gió (2003), Giao
Hưởng đi tìm phong cách thơ Thu Bồn qua hai biểu tượng tiêu biểu là Lửa và Gió để chứng minh chất thơ mạnh mẽ, dữ dội và phóng khoáng của ông [97,tr.596-600] Anh
Ngọc ở bài viết Có một dòng sông đã qua đời (2003) ghi nhận: Thu Bồn “là một gương
mặt thơ, một gương mặt người đầy bản sắc và bản lĩnh” [97,tr.718] Hồ Hoàng Thanh
trong Cảm hứng quê hương trong thơ ca Thu Bồn (2003) phân tích chất văn hoá Quảng
Nam trong thơ ông thông qua ám ảnh sông nước và những câu ca dao xứ Quảng
[97,tr.821-828] Trong Thu Bồn một đam mê thơ - một nhân cách lớn, Bùi Bình Thi
(2003) gọi “Thu Bồn đích thực là một hiệp sĩ thơ Thơ của anh vừa mãnh liệt cháy vừa lan toả; thăm thẳm mà đắm sâu” [97,tr.851]
Như vậy, đa số các bài nghiên cứu ở phần này chủ yếu là đưa ra những đánh giá
về phong cách thơ Thu Bồn; nhiều ý kiến thống nhất: chính chất văn hoá Tây Nguyên
Trang 7hùng vĩ, phóng khoáng và văn hoá đất Quảng chân thành, bộc trực cùng sự mê đắm hiến thân trong cả tình yêu, tình đời và lòng nhiệt thành cách mạng của tác giả đã làm nên một phong cách Thu Bồn vạm vỡ và lãng mạn
2.1.2 Những ý kiến riêng về trường ca Thu Bồn
Trong Bài ca chim chơ rao, một bản trường ca hay (1965), Nguyễn Viết Lãm
nghiên cứu khá kỹ và có những đánh giá xác đáng về ưu, nhược điểm ngay sau khi tác phẩm xuất hiện ở miền Bắc Đó là “chất anh hùng ca” thông qua cách chọn “những hình tượng nghệ thuật” và “phong thái lẫm liệt của nhân vật”; về nghệ thuật, nó “vừa mang hình thức trường ca, vừa mang hình thức truyện thơ”; về nhược điểm, ông cho rằng, kết cấu không cân xứng; hiện tại và hồi tưởng quá nhiều vì thế gây nên “đơn điệu” và có cảm giác bị “lặp”, bị “lẫn lộn” [78,tr.57-60] Nguyễn Trọng Tạo trong
Trường ca - cảm hứng, bản lĩnh, sức vóc của người viết (1980) cho rằng: “Bài ca chim chơ rao của Thu Bồn được dư luận đánh giá cao… chính là do sự hấp dẫn của cốt truyện, số phận có tính anh hùng ca của nhân vật” [108,tr.118] Hữu Thỉnh trong Vài suy nghĩ (1980) đánh giá sự chuyển biến về kết cấu của trường ca Thu Bồn [111,tr.121] Phạm Huy Thông trong Trường ca (1983) đánh giá: “Bài ca chim chơ rao hoà lẫn thơ trữ tình với anh hùng ca” [113,tr.17] Bích Thu ở Theo dòng văn học
(1984) đã tập trung nghiên cứu khái quát trường ca Thu Bồn và khẳng định: “Cho đến nay, Thu Bồn là người có sở trường về trường ca và viết trường ca vào loại khoẻ Trường ca Thu Bồn thường mang vẻ đẹp trong một chỉnh thể, có vóc dáng bề thế, khoẻ mạnh” [114,tr.858] Bài viết cũng đã phân tích khái lược kết cấu trường ca Thu Bồn và
đề cập đến thủ pháp điện ảnh, sân khấu trong cấu trúc ấy [97,tr.864] Vũ Văn Sỹ trong
Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1995 (1999) có một nhận xét khá đầy đủ
và khái quát: “Có thể nói, Thu Bồn là tác giả tiêu biểu viết trường ca theo kết cấu tuyến
sự kiện thông qua cốt truyện” [107,tr.172] Phạm Tiến Duật trong Người dựng lều trong đêm để viết (2003) khẳng định: “Thu Bồn là người có thành công và đi đầu trong
số những nhà thơ làm trường ca của ta” [97,tr.518] Ở Người hiến mình trọn vẹn cho thơ, Ngô Thế Oanh (2003) nhận xét: “Cùng một lúc vang lên trong Bài ca chim chơ rao âm hưởng rực rỡ, bi tráng của các khan trường ca Tây Nguyên và sự mềm mại, tha
Trang 8thiết của những điệu hò khoan hát ru trữ tình dọc những làng biển miền Trung quê
hương tác giả” [28,tr.12] Thanh Thảo (2003) trong Đã ngừng đập một cánh chim đại bàng… đánh giá tổng thể phong cách trường ca Thu Bồn như sau: “Tiếp nối truyền thống của những trường ca, những khan của các dân tộc Tây Nguyên, Trường ca Bài
ca chim chơ rao của Thu Bồn là một giọng thơ riêng, một tiếng thơ riêng, quyết liệt,
hào sảng, ngây thơ, dữ dội Nó có đủ những phẩm chất tưởng chừng đối nghịch, những đối cực của một thi pháp trường ca truyền thống cộng với cá tính nghệ thuật riêng của
Thu Bồn” [28,tr.549] Trung Trung Đỉnh trong Tráng sĩ hề… dâu bể (2003) cho rằng:
“có thể nói, trường ca Bài ca chim chơ rao của Thu Bồn đã đánh thức đúng lúc một thể
loại văn học nhiều năm trước đó gần như bị bỏ quên”, và “luôn luôn có ý thức về cấu
trúc tác phẩm của mình” [76,tr.536-537] Phùng Tấn Đông (2003) trong Thu Bồn qua sông Thu Bồn cho rằng: “Thành công của Bài ca chim chơ rao là đã kế thừa được về
mặt nghệ thuật từ sử thi Tây Nguyên… và trở thành trường ca của thời đại mới”
[97,tr.553] Bằng góc nhìn văn hoá, Vũ Khoa trong Bay và hát cùng Bài ca chim chơ rao khẳng định: “chất thơ tráng ca trữ tình của Tây Nguyên, miền Trung, xứ Quảng,
luôn là mạch thơ xuyên suốt” cuộc đời thơ Thu Bồn, và khẳng định: “Có nhiều nhà thơ hiện đại viết trường ca, nhưng chất tráng ca trong trường ca thơ thì chỉ có Thu Bồn”
[97,tr.605-607] Phan Hoàng trong Thương tiếc nhà thơ Thu Bồn - một cánh chim của đại ngàn (2003), đánh giá: “So với các nhà thơ cùng thời, trường ca là thế mạnh và
cũng là đóng góp lớn của Thu Bồn” [97,tr.583] Tương tự như thế, Trần Thanh Phương
trong Có một dòng sông đã… ngừng chảy, viết: “Bài ca chim chơ rao cùng nhiều
trường ca khác của Thu Bồn đã đặt dấu son lên những trang thơ chống Mỹ cứu nước
lẫn nền văn học hiện đại nước ta thế kỉ 20” [97,tr.749] Vĩnh Quang Lê trong Thu Bồn sống mãi cùng nhịp sống trường ca (2003) khẳng định: “Trường ca Chim chơ rao mở đầu một thời đại mới của trường ca” [97,tr.613] Nguyễn Đức Mậu trong Tưởng nhớ Thu Bồn (2003) nhận xét cụ thể về kết cấu của trường ca Bài ca chim chơ rao, là được
“viết theo lối truyền thống, có cốt truyện, có nhân vật” [97,tr.653] Về Bài ca chim chơ rao, H’Linh Niê trong Thương nhớ nhà thơ Thu Bồn (2003) đã thổ lộ: “tôi đã bị ấn
tượng rất mạnh bởi giọng thơ hào sảng mà rất trữ tình, rất riêng, viết về Tây Nguyên
Trang 9của ông” [97,tr.712] Hồ Hoàng Thanh trong Cảm hứng quê hương trong thơ ca Thu Bồn (2003) đã khái lược quá trình sáng tác trường ca của Thu Bồn; trong đó, tác giả
đánh đồng luôn cả những bài thơ dài của Thu Bồn vào và chỉ ra ba vùng đất được Thu Bồn lấy cảm hứng sáng tác nhiều nhất, đó là: Tây Nguyên, Quảng Nam và Campuchia Sau đó, Hồ Hoàng Thanh tập trung phân tích một số trường ca tiêu biểu Phần cuối bài viết, tác giả điểm qua đôi nét về một số ý kiến và quan điểm Thu Bồn về thơ [97,tr.829-844]
Từ những khái lược trên về lịch sử vấn đề, chúng ta thấy rằng, các tác giả đi trước nghiên cứu và đánh giá Thu Bồn chủ yếu là trên bình diện phong cách nghệ thuật một cách tổng thể thơ ca của Thu Bồn (gộp cả trường ca và thơ) Một số bài viết có đề cập đến trường ca thì cũng chỉ đi sâu phân tích giọng điệu, kết cấu, ngôn ngữ của
trường ca đầu tiên là Bài ca chim chơ rao hoặc có cái nhìn tổng thể về sự vận động
trong cấu trúc trường ca Thu Bồn Một số bài viết đề cập đến trường ca một cách cụ thể (Bích Thu, Hồ Hoàng Thanh) thì chưa phân định thơ dài và trường ca của Thu Bồn mà gọi tất cả là trường ca, vì thế cách đánh giá các trường ca tiêu biểu cũng chưa nhất quán Về cấu trúc trường ca Thu Bồn, bài viết của Bích Thu có đề cập, nhưng cũng chỉ thoáng qua để tìm ra sự chuyển đổi cấu trúc nói chung Chính vì vậy, từ trước đến nay, các bài viết về Thu Bồn thường ngắn gọn, chưa có một công trình nghiên cứu về toàn
bộ sự nghiệp trường ca của Thu Bồn
2.2 Những ý kiến về thơ và trường ca Nguyễn Khoa Điềm
2.2.1 Những ý kiến chung về thơ Nguyễn Khoa Điềm
Cũng như thơ Nguyễn Khoa Điềm, các bài viết, các công trình nghiên cứu về ông không nhiều, nhưng đều có những đánh giá khá nhất quán về phong cách thơ cũng
như nhược điểm thơ Tôn Phương Lan trong bài viết khá công phu Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng (1976) đã đề cập ngay đến phong cách riêng ấy; đó “là
những liên tưởng độc đáo, kết quả của một sự am hiểu cuộc sống và một cảm quan văn chương nhạy bén… Điều đó đã tạo nên những tứ thơ mênh mông, đậm đà mà bay
bổng, chân thành mà xao xuyến” [79,tr.326-328] Nguyễn Xuân Nam trong Thơ tìm hiểu và thưởng thức (1985) cũng nhấn mạnh đến sức mạnh của trường liên tưởng và
Trang 10chiều sâu văn hóa quá khứ: “Thơ Nguyễn Khoa Điềm không đặc sắc về tạo hình, về màu sắc nhưng anh có sức liên tưởng mạnh Anh thường dẫn người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từ khổ đau đến hạnh phúc, từ sách vở đến đời sống” nhưng nhược điểm của thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó là “có lúc quá dàn trải, thừa thãi” [71,tr.125-126]
Trong bài Gương mặt quê hương, gương mặt nhà thơ (1998), Võ Văn Trực thì chú tâm
đi tìm và phân tích chất văn hoá Huế trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và khẳng định: chính điều đó đã làm nên phong cách thơ: “tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía sau mỗi
dòng thơ” [theo 82,tr.4] Trong Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường (1999), các tác
giả khẳng định “chất suy tư, chính luận” và sự “dồn nén cảm xúc” cũng như sự “am hiểu hiện thực” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, cùng “những cái nhìn giàu tính phát
hiện sâu sắc, bất ngờ” [71,tr.115-116] Nguyễn Trọng Hoàn trong bài viết Cảm nhận thơ Nguyễn Khoa Điềm (1999) cảm nhận có phần hơi phiến diện về giai đoạn sáng tác
đầu của Nguyễn Khoa Điềm, chỉ nhận ra đó là: chất thơ “mộc mạc hàm chứa một vẻ đẹp giản dị, trong trẻo Tiếng thơ như chính tiếng lòng người chiến sĩ bình tĩnh, tự tin”
[71,tr.148] Trong Tác giả nói về tác phẩm (2000), Nguyễn Quang Thiều đánh giá:
“Thơ ca Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất liệu văn học và văn hoá dân gian Câu thơ dù ở thể thơ truyền thống hay thơ tự do bao giờ cũng phảng phất phong vị của
ca dao, tục ngữ Chất hiền minh của trí tuệ dân gian thấm đẫm trong từng từ” [110,tr.255] Vũ Tuấn Anh trong Mặt đường khát vọng đến Ngôi nhà có ngọn lửa ấm
chỉ ra tiến trình vận động thơ Nguyễn Khoa Điềm từ thời chiến sang thời bình và kết
luận: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm vừa nối tiếp vừa chuyển đổi cảm xúc, nên giọng thơ
“điềm đạm và sâu lắng, tách các lớp vỏ của sự vật để tìm cái cốt lõi bên trong, khơi gợi
từ đấy những triết lý đạo đức và nhân sinh” Còn Hoàng Thu Thuỷ trong Ngôi nhà tâm hồn của Nguyễn Khoa Điềm luôn có ngọn lửa ấm cũng đi sâu phân tích tập thơ mới
này của ông, và đánh giá: “sự vận động từ gân guốc, mạnh khoẻ một cách điềm tĩnh đến độ sâu sắc đến mức tĩnh tại, chạm vào phần sâu kín nhất của tâm hồn con người, làm bật lên những hiệu ứng thẩm mỹ phong phú” [theo 82,tr.4-5] Trong Luận văn
Thạc sĩ Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm (2005), Lưu Thị Lập sau khi nêu lên
những đóng góp của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong phong trào thơ chống Mỹ đã đưa ra
Trang 11và phân tích những cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Khoa Điềm (về đất nước, con người trong và sau chiến tranh) đã tập trung phân tích những hình ảnh thơ, ngôn ngữ thơ và màu sắc văn hoá dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm [82,tr.113]
Gần đây, sau khi từ giã quan trường, Nguyễn Khoa Điềm đã trở lại với thơ và đã công bố nhiều bài thơ cho một giai đoạn sáng tác mới Có một số bài viết giới thiệu, nhưng nhìn chung chỉ chủ yếu phân tích lẻ những bài thơ ấy và tập trung vào chuyện trở về “vườn chuối” của ông, do đó, chưa có những kết luận đáng chú ý
2.2.2 Những ý kiến riêng về trường ca Nguyễn Khoa Điềm
Nguyễn Văn Long trong bài viết Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng
(1974) đã nhấn mạnh đến lối thơ thời sự, chính luận và cách trữ tình khác biệt của Nguyễn Khoa Điềm Về nhược điểm: “Cũng dễ thấy là đọc thơ ông, có ấn tượng hơi căng thẳng, có khi nặng nề nữa” Cuối cùng, tác giả khẳng định: “Nguyễn Khoa Điềm
đã có những đóng góp nhất định và đáng kể vào bước phát triển của thơ ca cách mạng
miền Nam” [88,tr.386-388] Trong Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng
(1976), Tôn Phương Lan đề cập đến sự thể nghiệm mới và thành công của Nguyễn
Khoa Điềm từ thơ chuyển sang sáng tác trường ca: Trường ca Mặt đường khát vọng “là
một thể nghiệm mới trong vấn đề tìm tòi phương pháp thể hiện và là một thành công mới của anh” Về cấu trúc trường ca này, Tôn Phương Lan nhận xét khá xác đáng:
“không coi việc kể chuyện là chính Lấy suy nghĩ, cảm xúc làm chỗ dựa cho kết cấu để rồi từ đó triển khai cả bề rộng lẫn bề sâu” [79,tr.331-332] Trần Đăng Xuyền trong
cuốn Giảng văn Văn học Việt Nam (1998) chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá chương Đất nước: “Thông qua những vần thơ kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ
tình và chính luận, Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh ý thức, tinh thần dân tộc, tình cảm gắn bó với nhân dân, đất nước của thế hệ trẻ trong những năm chống Mỹ”
[71,tr.127] Trong cuốn Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam giai đoạn 1945-1995
(1999), Vũ Văn Sỹ sau khi giới thiệu kết cấu toàn bộ chín chương của trường ca, đã nhận xét: “Trường ca viết về phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Huế, nhưng tác giả không dừng lại khai thác những sự kiện ở Huế, mà còn mở rộng liên tưởng trên nhiều bình diện, nhiều phía của vấn đề: tình hình thời sự trong nước và thế giới, về
Trang 12lãnh tụ, về lịch sử, về ca dao, thần thoại Trong các trường đoạn này các biện pháp tự
sự vẫn được huy động một cách đắc lực” [107,tr.176] Nguyễn Trọng Hoàn trong Cảm nhận thơ Nguyễn Khoa Điềm (1999) đề cập đến độ chín về mọi mặt, độ khái quát cao
và sức vươn tới của thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Trường ca Mặt đường khát vọng hội tụ
không chỉ độ chín của tư tưởng, nhận thức mà còn thể hiện một phong cách thơ có chất
giọng riêng” [71,tr.146] Ngô Thị Bích Hương khi phân tích chương Đất nước (1999)
thì cho rằng: “Đoạn thơ được viết theo mạch suy tưởng, chất chứa bao ngẫm ngợi suy
tư (vừa giàu chất chính luận) chất chính luận và chất trữ tình” [71,tr.157] Trong Luận
văn Trường ca về đề tài chiến tranh chống Mỹ (nhìn từ góc độ thể loại), Diêu Thị Lan
Phương (2004) sau khi trình bày toàn bộ các chương của trường ca “Mặt đường khát vọng”, đã kết luận: “Kết cấu của nó là những mảng lớn của hiện thực, không có chỗ
cho những cảm xúc thuộc về cá nhân như một số trường ca sau này” [101,tr.88]
Nhìn chung, nghiên cứu về trường ca Nguyễn Khoa Điềm, các bài viết đa phần tập trung phân tích vẻ đẹp giá trị văn hóa truyền thống và chất thơ triết luận Một số bài
đã đề cập kĩ hơn đối với trường ca Mặt đường khát vọng, nhưng mức độ cũng chỉ dừng
lại ở bề mặt nội dung và hình thức tác phẩm, chưa phân tích sâu vào cấu trúc cũng như ngôn ngữ của trường ca
2.3 Những ý kiến về thơ và trường ca Thanh Thảo
2.3.1 Những ý kiến chung về thơ Thanh Thảo
Thiếu Mai trong bài Thanh Thảo - thơ và trường ca (1980) chủ yếu đánh giá về
phong cách: “Thơ Thanh Thảo có dáng riêng Đọc anh, dù chỉ mới một lần, thấy ngay dáng ấy” Tác giả cũng là người đầu tiên nói về độ mờ nhoè trong nghĩa thơ Thanh Thảo: “Có điều lạ, là mình chưa thể phân tích rạch ròi những sắc thái tình cảm như thường khi đọc thơ của nhiều tác giả khác, là thơ của tâm hồn giàu suy tưởng, giàu trí
tuệ đầy đặn cả hai mặt cảm xúc và suy nghĩ” [91,tr.97-98] Trong Chợt ghi về mấy nhà thơ cùng thời (1983), Nguyễn Trọng Tạo nhấn mạnh tính bí ẩn, độ mờ nhoè về
nghĩa trong thơ Thanh Thảo: “thơ anh không sờ mó được Nó là một tia chớp từ trời cao làm hiện lên lung linh tất cả sự vật chung quanh ta vốn chìm trong bóng tối bí mật,
Trang 13rồi vụt tắt sau những khoảnh khắc” [109,tr.139] Ở Suy nghĩ mới về nhân dân trong Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo (1983), Trần Đình Sử và Trần Đăng Xuyền
nhận xét: “Những tập thơ của Thanh Thảo đã góp phần làm sâu sắc thêm quan niệm
nghệ thuật về nhân dân trong văn học” [118,tr.119] Bích Thu trong Thanh Thảo; một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975 (1985) cũng khẳng định: “Thanh Thảo đã
đem đến cho người đọc “một thực đơn tinh thần” mới mẻ và độc đáo, góp phần làm phong phú thêm tiếng nói của thơ hôm nay” [114,tr.422] Bài viết còn nêu lên “Những tìm tòi mới trên hành trình sáng tạo” và cho rằng: đây là “một hiện tượng đặc biệt”, từ
“cái tôi từng trải, cái tôi chứng kiến” chuyển sang “cái tôi nhập cuộc, cái tôi hoá thân”
[83,tr.426] Trong Thanh Thảo, người lính và những khúc ca lính Việt (1999), Nguyễn
Thụy Kha nhận xét: “Sức tự ý thức đến ngột ngạt trong thơ Thanh Thảo dường như đã khắc hoạ rõ sự riêng biệt của thơ chống Mỹ” Để chống lại những luận điểm cho rằng thơ Thanh Thảo mới quá, liệu có còn bản sắc dân tộc?, Nguyễn Thụy Kha khẳng định:
“Theo tôi, cái chất Việt đã ngấm vào từng con người khiến cho anh khi viết ra câu thơ của mình, ở đó đã có bản sắc dân tộc rồi” Đề cập đến vấn đề cách tân nghệ thuật của Thanh Thảo, bài viết cho rằng: Thanh Thảo “đã thực sự cắm được một cái mốc trên
chặng đường tìm kiếm đầy gian truân này” [75,tr.78-81] Bùi Công Hùng trong Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại (2000) tập trung nhận xét: “Tính giao hưởng, tính phức điệu” của thơ Thanh Thảo [72,tr.92] Trong Thanh Thảo còn những bài thơ lẻ
(2007), Nguyễn Việt Chiến ghi nhận và khẳng định sự thành công của Thanh Thảo ở
cả thơ trước và sau chiến tranh: “Tôi thì cho rằng ở giai đoạn nào cũng vậy, Thanh Thảo vẫn là một tài năng thơ đích thực với một trái tim luôn luôn nồng nhiệt, chân thành và bất bình trước mọi giả trá, bất công và bạo lực” [51,tr,75] Tác giả cũng chú ý với mọi người về ý thức cách tân thơ ca của Thanh Thảo, nhưng cũng nhấn mạnh tính nhất quán phong cách thơ ông từ trước đến nay: “ông là một tài năng không chịu đựng nổi những con đường mòn cũ, quen thuộc trong thi ca Bởi tính năng động trong sáng tạo của con người thơ ông luôn bật lên những ý tưởng, những khát khao khám phá” [51,tr.77]
Như vậy, đa số các nhà nghiên cứu, nhà thơ khi đánh giá về Thanh Thảo đều có
Trang 14sự thống nhất cao về cái mới và “lạ”, đặc biệt là một bản lĩnh thơ luôn táo bạo, gai góc
và quyết liệt đầy thuyết phục, thể hiện ý thức cách tân thơ ca
2.3.2 Những ý kiến riêng về trường ca Thanh Thảo
Thiếu Mai trong bài Thanh Thảo - thơ và trường ca (1980) thì đề cập đến kết cấu của trường ca Những người đi tới biển và tác giả băn khoăn: “hình như về mặt kết
cấu, chúng ta vẫn chưa tìm ra một hướng nào khả dĩ tương đối thoả mãn” Về câu thơ:
“cũng có nhiều điều thú vị, đáng bàn” [91,tr.101-102] Nguyễn Trọng Tạo trong bài
Chất trẻ trong thơ chống Mỹ (1981) đã viết: Trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo “là một bước tiến vượt bậc đóng vai trò mở đầu cho trường ca viết về
chiến tranh sau chiến tranh, với một giọng điệu riêng, đưa thơ trẻ chống Mỹ lên đỉnh
cao đáng tin cậy” [109,tr.123-125] Trần Đình Sử và Trần Đăng Xuyền trong Suy nghĩ mới về nhân dân trong Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo (1983), khẳng định:
“Thể loại Trường ca nở rộ thời gian vừa qua là một đóng góp quan trọng” của “những cây bút trẻ xuất hiện trong thời chống Mỹ”, trong đó, “Thanh Thảo là một trong những
tác giả tiêu biểu” [118,tr.168] Bích Thu trong Thanh Thảo; một gương mặt tiêu biểu trong thơ từ sau 1975 (1985), sau khi phân tích phong cách thơ, đã kết luận: “Trường
ca Thanh Thảo mang đậm dấu vết cá nhân, không lặp lại bất cứ ai” [83,tr.426] Còn Vũ
Văn Sỹ trong Thơ 1975-1995, sự biến đổi thể loại (1995) cho rằng: Thanh Thảo là
người đi đầu trong sự “phân hoá cấu trúc thể loại trường ca” nhằm trữ tình hóa yếu tố
tự sự [106,tr.108] Trần Mạnh Hảo với Có một thời đại mới trong thơ ca (1996) nhận
xét: “Lần đầu xuất hiện trên thi đàn Lập tức thơ ông đã trở thành một hiện tượng vào
năm 1974 và nối dài qua những ngày giải phóng với Trường ca Những người đi tới biển” [64,tr.178] Trần Đình Sử trong bài Văn học Việt Nam trong những thập kỉ chuyển mình 1975-1985 (1996) cho rằng: Thanh Thảo có “ý thức nhìn nhận con người
ở nhiều hướng, nhiều chiều đang được nhiều nhà văn chia xẻ” [105,tr.206] Nguyễn
Thuỵ Kha ở Viết lại chiến tranh trong thời bình (1998) đánh giá: “Với cảm hứng giao
hưởng khoáng đạt, Thanh Thảo đã vùng vẫy trong thể loại đầy tính phức điệu này để
viết nên sự thật của cuộc chiến tranh” [74,tr.78] Đông Hải trong Khối vuông rubich và hình tượng tư duy thơ của Thanh Thảo (1999) có một cái nhìn khá khái quát về tư duy
Trang 15và cấu trúc trong thơ và trường ca Thanh Thảo: “thi sĩ là người xác lập những vòng tròn chuyển động bằng hình tượng tư duy muôn màu, muôn vẻ Và, Thanh Thảo đã thành công qua khả năng tạo nên những “vòng quay” sáng tạo bằng một cấu trúc thơ mới mẻ, đa dạng để tự khẳng định mình, khẳng định cuộc sống” [62,tr.102-103] Bùi
Công Hùng trong cuốn Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại (2000) nhận xét: “Thanh Thảo trong Những người đi tới biển”, bằng “tính giao hưởng, tính phức điệu” đã “bộc
lộ sự sung sức của tâm hồn, của kĩ năng thơ trên nhiều bậc thang khác nhau của sự biểu hiện, đồng thời nêu bật sự phong phú, đa dạng trong nội tâm, trong đời sống của con
người Việt Nam hiện đại” [72,tr.92] Khi bàn về trường ca Đêm trên cát (2003), Trung
Trung Đỉnh thổ lộ, nó “là một kiệt tác của phong cách thơ vụt sáng” [58,tr.7] Trong
Thanh Thảo - nghĩa khí và cách tân (2004), Chu Văn Sơn đề cập đến hai nội dung cơ
bản là tinh thần “nghĩa khí” và ý thức “cách tân” [103,tr.19-22] của Thanh Thảo thông qua đối tượng phản ánh và cấu trúc đa dạng của trường ca Xuân Cang trong bài viết
Đêm trên cát nhập hồn Cao Bá Quát (2007) đã hàm ý khẳng định giá trị nghệ thuật vượt tầm của trường ca Đêm trên cát vì nó được Thanh Thảo viết như thể được Cao Bá
Quát “nhập hồn” [47,tr.82]
Từ những kết quả nghiên cứu trên, chúng ta dễ nhận thấy rằng, các bài viết chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm của trường ca nói chung, trong đó, có đề cập đến Thanh Thảo Còn những bài viết riêng về Thanh Thảo thì đề cập đến cả thơ và trường ca Nếu
có riêng cho trường ca thì cũng chỉ để cập đến một mảng nào đó của một vài trường ca, hoặc một trường ca mang tính chất giới thiệu chung Về cấu trúc thể loại trường ca cũng chỉ được đề cập đến trên phương diện chung Vấn đề cách tân nghệ thuật thơ của Thanh Thảo; Bích Thu, Nguyễn Thuỵ Kha, Trung Trung Đỉnh, Chu Văn Sơn, Nguyễn Việt Chiến… có bàn đến, nhưng còn khái quát, chưa mang tính hệ thống và chứng minh cụ thể để thuyết phục
Có thể nói rằng, cho đến nay, phần lớn các bài viết đều đưa ra những nhận định khái quát phong cách của từng tác giả trong cái nhìn thống nhất về thơ (xem trường ca cũng là thơ) Tuy nhiên, do chưa có điều kiện đi sâu vào vấn đề lý thuyết thể loại nên
Trang 16các bài viết vẫn còn đánh đồng, lẫn lộn những bài thơ dài của các tác giả với trường ca, khiến cho sự nhìn nhận về đặc điểm thể loại chưa rõ nét Vì thế, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về lý thuyết thể loại và toàn bộ trường ca của từng tác giả, từ đó rút ra đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo để làm sáng tỏ thêm những đặc điểm chung của trường ca Việt Nam là một hướng nghiên cứu mới Điều quan trọng nhất trong luận án này chính là tìm ra nét chung của trường ca ba tác giả, nhưng đồng thời, phải giúp người đọc nhìn nhận rõ dấu ấn cá nhân từng tác giả trong quá trình sáng tạo, làm nên sự đa dạng trong cấu trúc thể loại trường ca
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Toàn bộ trường ca và thơ dài của Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo
- Ngoài ra, để nghiên cứu trường ca của ba tác giả một cách thuyết phục, chúng tôi tham khảo thêm thơ và các bài nghiên cứu của Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo
- Bên cạnh đó, chúng tôi còn liên hệ với trường ca hiện đại của các tác giả khác
để có cái nhìn đối sánh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đặc điểm trường ca của ba tác giả Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo ở các bình diện, yếu tố nổi trội về nội dung nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đi từ các quan niệm về sử thi và trường ca trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đưa ra một khái niệm về trường ca nhằm làm điểm tựa lý thuyết, mở hướng cho việc phân biệt một cách cơ bản giữa trường ca, thơ dài và truyện thơ đối với những tác phẩm cụ thể xưa nay thường bị nhầm lẫn Rút ra những quan niệm chính của
ba tác giả về thơ và trường ca; đồng thời điểm qua giá trị chung về nội dung và nghệ thuật từng trường ca của họ
4.2 Rút ra và phân tích những đặc điểm nổi bật của trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo về nội dung nghệ thuật và phương thức thể hiện Trên cơ
Trang 17sở đó, từ thực tiễn sáng tác trường ca của ba tác giả, phân tích được sự đa dạng, phong phú, sáng tạo trong khả năng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người; đồng thời nêu lên những đóng góp về cấu trúc nghệ thuật trường ca của ba tác giả
4.3 Đưa ra được những nét riêng phong cách trường ca của Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo nhằm khẳng định sự đóng góp của họ trong lịch sử văn học nói chung và sự phát triển của trường ca nói riêng, cũng như đóng góp của họ trong tiến trình hiện đại hoá thơ ca Việt Nam
4.4 Từ những kết quả nghiên cứu trên, luận án mở ra một hướng nghiên cứu tiếp cận các kiểu cấu trúc nghệ thuật của trường ca hiện đại Việt Nam, phân định đường biên giữa trường ca và các thể loại thơ; nhận ra tính thống nhất và sự độc lập của từng đoạn thơ trong trường ca, tạo thuận lợi cho những ai quan tâm khi tìm hiểu, giảng dạy từng trường ca riêng lẻ, những đoạn trích trường ca trong sách giáo khoa
5 Phương pháp nghiên cứu
Ở Luận án này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành nhằm nhìn nhận một cách toàn diện các bình diện nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật trong tính phức hợp của thể loại Trong đó nổi bật là: kiến thức tâm lý học, kiến thức văn hoá học (hay đúng hơn là địa - văn hoá), phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp thống kê và một số phương pháp bổ trợ khác
6 Cấu trúc của luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài được cấu trúc gồm 3
chương:
Chương 1: Trường ca và trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo Chương 2: Trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo - tính đa tầng trong khả năng chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống và con người
Chương 3: Trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo - tính phức hợp trong cấu trúc nghệ thuật
Trang 18B- NỘI DUNG Chương 1 TRƯỜNG CA
VÀ TRƯỜNG CA THU BỒN, NGUYỄN KHOA ĐIỀM VÀ THANH THẢO 1.1 Trường ca - từ quan niệm đến khái niệm
1.1.1 Từ sử thi đến trường ca trong văn học thế giới
Sử thi là thuật ngữ mà giới nghiên cứu Việt Nam dùng để dịch một thuật ngữ phương Tây: tiếng Pháp gọi là épopée, tiếng Anh là epic, tiếng Hi Lạp là epopoiia, và chính nhà triết học Hi Lạp Arixtốt (TK IV TCN) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này Theo tiếng Hi Lạp thì epopoiia có nghĩa là tự sự, kể chuyện Hêghen quan niệm: thơ ca là lĩnh vực cao nhất của nghệ thuật lãng mạn Trong thế giới thơ ca ấy thì sử thi lại mang tính khởi nguyên, mở đầu Tuy nhiên, Hêghen chỉ chấp nhận trường ca với tư cách là quyển “thánh kinh của một dân tộc” đối với những trường ca xuất hiện về sau,
đó là những trường ca chính thức - trường ca chân chính Hêghen cũng lưu ý rằng: không phải “từ cái thời đại anh hùng với ý nghĩa thực sự của nó, là thời đại sinh ra sử thi” mà thực chất thì “nghệ thuật nảy sinh chậm hơn nhiều, khi cuộc sống và tinh thần
từ lâu đã diễn biến trong một bầu không khí nên thơ” [65,tr.577] Điều này hoàn toàn
có lý vì như ta biết, các trường ca của Hôme về cuộc chiến tranh thành Tơroa ra đời khi cuộc chiến tranh ấy đã lùi vào quá khứ nhiều thế kỉ Cũng như trường ca về cuộc kháng chiến của Việt Nam chỉ thật sự nở rộ từ sau khi chiến tranh đã kết thúc Về tính cách sử thi, Hêghen cho rằng, tuy gắn với biểu hiện cộng đồng dân tộc, song sử thi “vẫn không kém mang tính chất cá nhân sinh động và cụ thể” Về chi tiết trong sử thi, Hêghen xác định: “không có một loại thơ nào mà trong đó chi tiết lại chiếm một địa vị to lớn như trong trường ca sử thi” [theo 76,tr.81-84] Các Mác thì quan niệm: Sử thi cổ đại đã trở thành những “mẫu mực không thể bắt chước được trên một vài phương diện nào đó” [theo 45,tr.83] Cũng như Hêghen, Mác cho rằng: phẩm chất anh hùng ca không thể có trong xã hội tư sản; còn Biêlinxki coi tiểu thuyết là “sử thi của thời đại mới” Nhưng đến thế kỉ XIX và XX đã xuất hiện nhiều quan điểm ngược lại trước sự xuất hiện hàng
Trang 19loạt những bộ tiểu thuyết đồ sộ Có người cho rằng thể loại tiểu thuyết không dính dáng gì đến sử thi anh hùng cổ đại Có người lại bảo: đó là những tiểu thuyết sử thi
(roman - épopée) I Kuzơmisép trong Anh hùng và nhân dân thì khuyên rằng: nên sáp
lập một biên giới thép giữa thể loại sử thi (kể cả cổ đại và hiện đại) với tiểu thuyết Sử thi, kể cả sử thi hiện đại là thi ca lý tưởng, “xuất phát từ lý tưởng”, trong khi đó tiểu thuyết là thi ca hiện thực [theo 45,tr.86] Bằng phương pháp nghiên cứu và so sánh, Bahktin đã nêu ra sự khác biệt rất rõ ràng giữa sử thi (cổ) và tiểu thuyết Theo ông, trường ca sử thi có ba đặc điểm: 1) Đối tượng của sử thi là cái quá khứ dân tộc anh hùng, “quá khứ tuyệt đối”; 2) Nguồn gốc sử thi là truyền thuyết dân tộc (chứ không phải kinh nghiệm cá nhân và hư cấu tự do nẩy nở trên cơ sở kinh nghiệm ấy); 3) Thế giới sử thi được cách ly khỏi thời đương đại, tức là thời của ca sĩ bằng một khoảng cách sử thi tuyệt đối [92, tr.35]
Trong lịch sử văn học Pháp, giai đoạn giữa thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XII được xem là giai đoạn mở đầu của lịch sử văn học Pháp, giai đoạn của sự hình thành thể loại,
và “những trường ca anh hùng cổ nhất cũng ra đời trong giai đoạn này như Bài ca Rôland, Bài ca Guilaure, [102,tr.33] Tên gọi “Bài ca anh hùng” (Chanson degeste)
trong văn học Pháp xuất hiện vào thế kỉ XII “chỉ những bài thơ dài được viết bằng ngôn ngữ thông tục” [102,tr.39] Như vậy, ở đây vẫn có sự đồng nhất giữa các khái niệm sử thi anh hùng, trường ca anh hùng và bài ca anh hùng Do đặc điểm thi pháp truyện kể của bài ca anh hùng, tác giả tập sách đã có sự phân biệt giữa bài ca anh hùng (truyện thơ) và trường ca (thơ - truyện) Còn về cơ bản, các tên gọi sử thi anh hùng, bài
ca anh hùng, trường ca anh hùng được xem như đồng nhất, khác với trường ca (Có lẽ ý tác giả ở đây là trường ca hiện đại) Đến thế kỉ XVIII, Vônte, tác giả tiêu biểu của thơ
ca Pháp thời đại Ánh sáng đã sáng tác “anh hùng ca La Henriade (1728), trường ca Nàng trinh nữ xứ Orléan (1755)” Tuy nhiên, bản anh hùng ca “La Henriade” lại
“mang dáng dấp khác với kiểu anh hùng ca thời cổ” Còn trường ca “Nàng trinh nữ xứ Orléan ” lại được xem như “một tác phẩm sử thi anh hùng - hài hước (épopée héroi-
comique)” [116,tr.41-42] Như vậy, dù có nói đến sự khác biệt của hai tác phẩm trên
Trang 20đây so với anh hùng ca thời cổ, nhưng dù sao, ở đây vẫn còn sự đồng nhất ranh giới giữa sử thi và trường ca Nghĩa là, chúng vẫn chỉ là một dạng cụ thể của sử thi anh
hùng và trường ca anh hùng Đến thế kỉ XIX, Lamactin sáng tác tác phẩm Jôcêlin
(1836) nhưng nó chỉ được gọi là “một tác phẩm thơ đồ sộ” mà không gọi là trường ca Rồi khoảng nửa sau thế kỉ XIX, Victo Huygô đã sáng tác nhiều tác phẩm thơ đồ sộ như
Truyền kì các thời đại, Nghệ thuật làm ông… nhưng vẫn không thấy gọi là sử thi hay
trường ca
Ở Nga, quá trình hình thành lý thuyết thể loại trường ca cũng khá phức tạp
Trong phần chú giải của Tuyển tập tác phẩm Puskin, ở mục trường ca, các tác giả cũng
đã đánh đồng trường ca với truyện thơ Trong cuốn Lịch sử văn học Nga do một nhóm tác giả Việt Nam biên soạn thì cũng gọi Rútxlan và Liútmila là trường ca và nhấn mạnh đây là môt “bản trường ca kiểu mới, lãng mạn chủ nghĩa” [44,tr.61] Gọi chung những tác phẩm trong “trường ca phương Nam” là trường ca và nhấn mạnh Người tù Cápcaz
là “loại trường ca lãng mạn cách mạng” [53,tr.64] Có lẽ chỉ những sáng tác dài này, ở trường hợp Puskin là còn có sự đồng nhất giữa trường ca và truyện thơ, còn từ Lécmontốp đến Maiacốpxki sau này và cả thời kỳ nở rộ trường ca Xô Viết những năm
50 - 60 của thế kỉ XX, thì tất cả đều được gọi là trường ca A N Sôkôlốp cho rằng: Thể loại trường ca được hiểu với hàm nghĩa rất rộng Trường ca mới do Maiacốpxki
tạo ra sau Cách mạng tháng Mười Nga, “xét về khía cạnh dạng văn học thì cái biến thể
mà ông tạo ra vẫn là trường ca” [124,tr.7] Tuy nhiên, Sôkôlốp cũng phản đối việc sử dụng rộng rãi tên gọi trường ca cho bất kì một tác phẩm trần thuật bằng thơ nào Về chức năng tư tưởng - nghệ thuật, theo ông: Trường ca là một tác phẩm “ca ngợi”; và vì vậy, nó mang tính chất anh hùng Cho dù, mỗi tác phẩm đó mang một thể loại đặc biệt (biến thể) của trường ca, nhưng vẫn mang đặc trưng là “nhân tố anh hùng” dù “nhân tố đặc trưng” này mỗi tác phẩm xuất hiện theo mỗi cách khác nhau [124,tr.10-11] Về trường ca hiện đại, G.L Abramôvit quan niệm: “Trường ca hiện đại là loại thơ gần gũi nhất với anh hùng ca” [61,tr.221] V Ivanixenkô cho rằng: “nội dung lớn” là đặc trưng thể loại cốt yếu của trường ca “Nội dung lớn” ở đây không chỉ là sự quy mô của hiện
Trang 21thực được phản ánh trong tác phẩm (nội dung) mà còn là “tính hoành tráng của tác phẩm” nhìn từ góc độ quy mô về hình thức bên ngoài “Nội dung lớn” còn thể hiện ở nhân cách của nhà thơ (nhân cách lớn) với những tư tưởng, tình cảm phóng khoáng, lành mạnh, ở “sức khái quát sâu sắc”, ở “những tư tưởng bay bổng” [theo 67,tr.10] Đó
là sức khái quát những kinh nghiệm của lịch sử, sự suy ngẫm về “kinh nghiệm đạo đức của thời đại”, sự tái hiện những biến cố trọng đại cùng những tính cách xã hội - lịch sử đặc sắc của thời đại T.Tatxô thì gọi cái “nội dung lớn” ấy chính là “cái kỳ diệu” - một
“phạm trù chủ đạo” của anh hùng ca [theo 73,tr.85] Viện sĩ Gulaiep thì quan niệm trường ca theo nghĩa xác định hơn: “Trường ca là những tác phẩm gồm nhiều phần mang đặc tính sử thi và trữ tình - trường ca, đó là một kế tục trực tiếp của sử thi cổ điển
và anh hùng ca” [94,tr.233] Về hình thức của trường ca hiện đại, một số quan điểm trong cuộc tranh luận chỉ chấp nhận những trường ca trữ tình, và cho rằng loại trường
ca kể theo cốt truyện đã lỗi thời Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng, trường ca hiện đại không thể chỉ giới hạn ở hình thức độc thoại trữ tình mà vẫn cần phải sử dụng cốt truyện [theo 66,tr.118-119]
1.1.2 Trường ca Việt Nam - từ quan niệm đến khái niệm
Khái niệm trường ca đã bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 50 của thế
kỉ XX, dùng để gọi tên những sáng tác dân gian có tính sử thi và có độ dài như Đam San, Xinh Nhã Theo cách gọi này, trường ca còn được hiểu như là sự đồng nhất với
sử thi, anh hùng ca (Iliat và Ôđixê, Ramayana, Mahabharata ) hoặc như các Khan ở
Tây Nguyên, các Mo của dân tộc Mường vùng núi Tây Bắc Thế nhưng, trường ca hiện đại không thể là sự vận động tự nhiên của các trường ca trong lịch sử (sử thi, anh hùng ca) Trên thực tế sáng tác, sự rầm rộ ra đời của trường ca hiện đại, đặc biệt là vào hai thập niên 70 và 80 của thế kỉ trước đã buộc các nhà nghiên cứu văn học phải đưa ra những lý thuyết về đặc trưng, về thi pháp của thể loại này
Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã xếp trường ca vào “hình thức thơ tự sự, hoặc ít nhiều dựa trên phương thức tự sự”; “nhưng không phải bất kỳ truyện thơ nào cũng là trường ca hoặc có màu sắc trường ca Nội dung của trường ca thường gắn liền
Trang 22với các phạm trù thẩm mỹ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả Trường ca thường có cốt truyện không hoàn chỉnh” [98,tr.311-312] Tạp chí Văn nghệ quân đội và tạp chí Văn học đầu thập niên 80 của thế kỉ XX có nhiều bài viết tranh luận, trao đổi về trường ca khá rầm rộ và phong phú với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, nhà thơ; nhưng rồi vẫn chỉ là những gợi mở để làm sáng tỏ chứ chưa có sự thống nhất chung Vũ Đức Phúc thì băn khoăn: “Trường ca là một thuật ngữ văn học mới, chưa chính xác, chưa ổn định, để chỉ các sáng tác thơ dài (thuộc loại gì thì ý kiến khác nhau)” [100,tr.93] Phạm Huy Thông thì chú ý về độ dài của hình thức và độ lớn của nội dung: “Trường ca, sau thời nguyên khai, có kém phần mênh mông dài rộng” [113,tr.13] Nguyễn Trọng Tạo, ngay từ đầu đã nghi ngờ về tính khả thi cho việc định nghĩa trường ca Ông chấp nhận
có hai loại trường ca là có cốt truyện và không có cốt truyện nhưng đều gặp nhau ở điểm chung là: “phải phản ánh được những sự kiện lịch sử có ý nghĩa rộng lớn và soi sáng được cuộc sống của nhân dân trong toàn bộ tính đa dạng của nó” [108,tr.119] Từ Sơn cho rằng: “Nếu còn gọi là trường ca, chỉ nên dùng cho những chuyện thơ có cốt truyện hoặc chỉ những bài thơ tự sự dài chừng năm trăm, một ngàn câu thơ trở lên” [104,tr.120] Về đặc điểm trường ca, sau khi so sánh với truyện thơ và thơ dài, Vương Trọng cho rằng: cốt truyện không phải là đặc trưng của trường ca mà là của truyện thơ, còn với thơ dài thì trường ca “thắng” thơ dài ở “tính lãng mạn, bay bổng” như là giữa
“bút ký” và “tùy bút” trong văn xuôi Cho nên “không nên quá vội vàng tách bạch chúng” [115,tr.122-123] Cũng tương tự như thế, Trần Mạnh Hảo “không phản đối dạng trường ca có cốt truyện, nhân vật, nhưng điều đó không phải là chủ yếu” [63,tr.124] Phạm Ngọc Cảnh sau khi lý giải nền tảng ra đời của trường ca, đặc biệt là vai trò quyết định của người viết, đã kết luận: “Trường ca phải là một sự khái quát nội dung rộng lớn, một cách thể hiện đa dạng nhưng còn phải là một lực hấp dẫn độc đáo” [48,tr.125-126] Phạm Tiến Duật quan niệm: không cần “ngắn” hay “dài”, cũng chưa cần “có một định nghĩa chính xác”, mà “cái quyết định là nội dung” nó đề cập [54,tr.115-118] Anh Ngọc cũng cho rằng: trường ca “không nhất thiết phải bao hàm
độ dài vật chất, mà nó nằm trong cái mục đích và quá trình phấn đấu nhất quán để đạt mục đích đó” Quan trọng nhất là tính tư tưởng của tác phẩm [93,tr.122-123] Hữu
Trang 23Thỉnh cũng nhận ra sự vận động của hai dạng trường ca trong thực tiễn: có cốt truyện
và không cốt truyện [111,tr.119-121] Lại Nguyên Ân nhận thấy: trường ca là sự thể hiện rõ nét nhất tính “mềm dẻo” hơn, linh hoạt hơn của các thể loại trong văn học hiện
đại [46,tr.122] Trần Đăng Xuyền quan niệm: Trường ca “có khả năng ôm chứa, tổng
hợp nhiều nhiều hình thức thể loại khác nhau, vừa đậm đà tính chất trữ tình, vừa giàu chất suy nghĩ, triết lý” [118,tr.123-124] Trần Ngọc Vương thì nói: Tính chất “tầm cỡ” của thể loại trường ca là ở “dung lượng cảm hứng Một cảm hứng lớn như vậy chỉ có thể xuất hiện ở một thời đại cách mạng Phạm trù cái cao thượng, cái anh hùng và cái
bi kịch đều có thể tìm thấy chỗ đứng chắc chắn trong thể loại này” Về sự vận động của thể loại, tác giả khẳng định: Trường ca sống mãi với hình thức thích hợp ở mỗi thời
[117,tr.129] Vũ Văn Sỹ nhận xét: “Về bản chất, trường ca khác với truyện thơ truyền
thống, khác với trường ca cổ điển (khan, diễn ca lịch sử ) nhưng lại gần với thơ trường thiên, thơ trữ tình”; tác giả kết luận: “Trường ca là kết quả sự mở rộng dung lượng phản ánh và quy mô cảm xúc của thơ trữ tình” [107,tr.162-166] Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu lý luận về trường ca trong văn học Liên Xô (cũ), Hoàng Ngọc Hiến khái quát: Trường ca là thuật ngữ văn học dịch từ chữ poema của Liên Xô “có thể hiểu với một nghĩa rất rộng” Ngoài nghĩa rộng trên, “trường ca còn có một nghĩa xác định hơn, chỉ một thể loại tác phẩm thơ đặc biệt có đặc trưng nội dung xác định” [68,tr.44-45] và “Trường ca là một thể loại lớn với hai nghĩa: có dung lượng lớn và mang “nội dung lớn” Trường ca hiện đại phát triển với xu hướng nguyên tắc trữ tình lấn át nguyên tắc tự sự” Cuối cùng, ông kết luận: “Trường ca là ca nhưng
trường ca hiện đại đòi hỏi chất thơ” [68,tr.52-56] Mã Giang Lân trong Trường ca, vấn
đề thể loại chú ý đến “điều kiện, sinh hoạt ý thức xã hội và trình độ thẩm mỹ của thời
đại mà thể loại ấy tồn tại” [80,tr.104] Và sau khi phân tích mối quan hệ giữa sử thi và tiểu thuyết, phân biệt giữa thơ dài và trường ca, Mã Giang Lân lại xác quyết rằng:
“Đường đi của sử thi là sử thi đến tiểu thuyết Còn thơ trữ tình là cái nôi của thơ dài và trường ca Trường ca đã tiếp thu, vận dụng và sáng tạo trên các yếu tố cơ bản của thơ trữ tình và sử thi nghĩa là kết hợp cả hai phương thức biểu hiện: tự sự và trữ tình”
[80,tr.152]
Trang 24Ta có thể khái quát về quá trình ra đời và phát triển quan niệm trường ca ở Việt Nam như sau: Tên gọi trường ca có nguồn gốc từ văn học phương Tây Ở Việt Nam, một thời, ta dùng nó để chỉ các sử thi dân gian, rồi dần dần được vận dụng để gọi tên những tác phẩm thơ hiện đại dài hơi có dung lượng lớn, sự kiện bao quát và quy mô cảm xúc, tư tưởng lớn Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ trường ca để gọi tên các sử thi là không chính xác vì bản thân sử thi là một thuật ngữ để chỉ một thể loại văn học xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn chương nhân loại Có thể xem trường ca là một biến thể của sử thi trong thời hiện đại chứ không thể lấy tên gọi này để chỉ các sử thi thời cổ được Trường ca hiện đại vận động và phát triển theo hướng trữ tình hóa yếu tố
tự sự, cốt truyện giảm dần, xúc cảm cá nhân thường gắn liền với những chấn động lịch
sử lớn lao Trường ca hiện đại Việt Nam còn là sự tổng kết những cái được mất mà dân tộc đã đi qua Nó kết hợp nhuần nhuyễn nhiều hình thức phát ngôn, nhiều giọng điệu, nhiều cách cảm hứng, nhiều chủ đề với sự tuôn chảy ồ ạt của nguồn mạch cảm xúc mãnh liệt Chính vì thế, theo chúng tôi nghĩ, trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời hiện đại, có hai giai đoạn lịch sử đảm bảo các yếu tố cho sự ra đời của trường ca, đó chính
là giai đoạn sau cuộc kháng chiến chống Pháp với thắng lợi Điện Biên lịch sử và giai đoạn trong và sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại Thực tế hàng loạt trường ca ra đời trước và sau 1975 đã minh chứng điều đó Riêng giai đoạn sau Điện Biên Phủ, có lẽ do yêu cầu “đại chúng hóa” thơ ca để gần gũi với hiện thực của đời sống dân tộc theo chủ trương của Đảng nên đã xuất hiện nhiều truyện thơ hơn là trường
ca Đồng thời, do thời gian hòa bình quá ngắn, lại thêm sự kiện “nhân văn giai phẩm” trong đời sống văn học đã khiến nhiều nhà thơ có năng lực trường ca chưa đủ điều kiện bùng nổ xúc cảm sử thi vốn có để làm nên gương mặt trường ca
Như vậy, xưa nay thường có hai cách hiểu về trường ca, một cách hiểu theo quan niệm rộng (gọi chung cả sử thi, truyện thơ và thơ dài) có dung lượng lớn; và một cách hiểu theo khái niệm hẹp dùng để chỉ những tác phẩm thơ có dung lượng lớn về cả nội dung và nghệ thuật nghiêng về hướng trữ tình hóa yếu tố tự sự với một cấu trúc nghệ thuật phức hợp Và trên thực tế sáng tác, ta có thể nhận thấy, từ cuối thập niên 80
Trang 25của thế kỉ trước về sau này, trường ca đã giảm dần tính sử thi, hoành tráng và bắt đầu
có chiều hướng nghiêng về nội dung đời tư, thế sự Tuy nhiên, loại trường ca này (theo
kiểu Hành trình của con kiến của Lê Minh Quốc được xuất bản gần đây) là chưa nhiều,
chưa tạo nên sự bứt phá mới thực sự so với giai đoạn nở rộ của trường ca trước đó; vì vậy, việc đưa ra một khái niệm trường ca để bao trùm cả những trường ca loại này là
chưa đến lúc Trong phạm vi nghiên cứu những trường ca đã được khẳng định giá trị
trong giai đoạn nở rộ của thể loại này, từ những quan niệm đã khái lược trên đây, với tinh thần dung nạp theo quan điểm kế thừa những ý kiến người đi trước, chúng tôi xin
đưa ra khái niệm chung nhất về trường ca như sau: Trường ca là một tác phẩm được viết bằng thơ trên phương thức kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ tình, có tính hoành tráng về cả phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được nhà thơ viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của lịch sử, của dân tộc và thời đại
1.1.3 Phân biệt trường ca và một số thể loại thơ
Từ trước đến nay, chúng ta thường hiểu trường ca theo khái niệm rộng nên nhiều tác phẩm thực chất là truyện thơ hoặc thơ dài, thậm chí là diễn ca vẫn được gọi là trường ca Nhưng trên thực tế sáng tác, nhiều nhà nghiên cứu đã nhìn ra sự khác biệt của chúng, từ đó, nẩy sinh nhiều cuộc tranh luận, bàn bạc về thể loại văn học đặc biệt này, mà đến nay vẫn chưa có công trình nào đưa đến một kết quả hoàn chỉnh Thật ra, xưa nay cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu làm công việc phân biệt này, nhưng đa số chỉ dựa vào lý thuyết rồi đem một vài tác phẩm cụ thể để phân biệt (tất nhiên luôn chọn những tác phẩm có sự khác biệt rõ ràng) Ở đây, trước khi đi vào phân biệt, chúng tôi muốn nhìn trường ca trong mối quan hệ của văn học thời kỳ kháng chiến và những thập niên hòa bình đầu tiên còn hừng hực khí thế chiến thắng của dân tộc Ta biết rằng, nền văn học kháng chiến của chúng ta luôn có xu hướng quần chúng hóa để phục vụ trực tiếp cho đội ngũ công nông binh; vì thế, đã hình thành một hệ thống thể loại mang tính đại chúng như ca dao kháng chiến, hò vè, tấu, diễn ca, kịch thơ, truyện thơ Nền văn học ấy lại theo phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa nên luôn phản ánh hiện thực theo chiều hướng vận động và phát triển Hiện thực phản ánh là chiến tranh,
Trang 26nên tất cả thường tập trung vào vấn đề thể tài với những sự kiện lớn, biến cố lớn của lịch sử, dân tộc và thời đại; ít quan tâm đến vấn đề đời tư Nghiã là, luôn quan tâm đến tính cộng đồng và hoàn toàn dị ứng với cái cá nhân, nhỏ bé Hiện thực chiến tranh bề bộn, nên về mặt thi pháp, văn học kháng chiến ưu tiên cho yếu tố tự sự, chính vì thế mà phát khởi của thơ ca kháng chiến thời chống Pháp chính là các thể loại nghiêng hẳn về
tự sự (hò, vè, tấu, ca dao ), sau đó phát triển hình thức diễn ca, kịch thơ, truyện thơ Vào những năm 1955-1956, thể loại truyện thơ rất phát triển, đặc biệt là các truyện thơ
như Đôn và Thanh (Vĩnh Mai - 1954) Mẹ tôi kể lại, Hoa đào trước ngõ (Hoàng Cầm - 1955), Chú Hai Neo (Nguyễn Hải Trừng - 1955), Mẹ con đồng chí Chanh (Nguyễn Đình Thi -1955), Ai về Kẻ Sặt (Hữu Loan - 1955) được quần chúng, đặc biệt là nông dân yêu chuộng, truyện thơ kháng chiến tiếp tục phát triển với Bài thơ Sông Hồng (Quang Dũng), Chị Nụ thôn Cam, Đảo Nai vàng, Trọn đạo ven tình (Huyền Kiêu), Người con gái sông Gianh (Lưu Trọng Lư), Chị Minh Khai (Trần Hữu Thung),
Nhưng, như ta đã biết, đặc trưng truyền thống của truyện thơ lại là đề tài thế sự, đời thường Bây giờ, do yêu cầu của nền văn học cách mạng, phải chuyển sang đề tài lịch
sử, nên đa số truyện thơ kháng chiến cấu trúc theo mô-tip “đổi đời” của những số phận người trước và sau cách mạng tháng Tám, nói lên những điều ân nghĩa của người nông dân đối với cách mạng Vậy là, đề tài thế sự của truyện thơ truyền thống dần dần chuyển sang các đề tài lịch sử, dân tộc Như vậy, thể loại truyện thơ tưởng đã chết đi sau khi thơ ca lãng mạn và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (1930-1945) chiếm lĩnh văn đàn, giờ bỗng nhiên sống lại Nhưng rồi, hầu hết các truyện thơ kháng chiến giai đoạn này đã dần dần bị lãng quên khi văn xuôi kháng chiến bắt đầu phát triển Vì lẽ đó, đời sống văn học đòi hỏi phải có một thể loại thơ phù hợp với yêu cầu phản ánh một cách rộng rãi và hoành tráng cuộc sống kháng chiến đầy chất sử thi, cho nên thơ trữ tình dần dần mở rộng biên độ phản ánh, để ra đời thể loại diễn ca và các bài thơ dài (thơ trường thiên) đẫm yếu tố sự kiện, nghiêng về hướng sử thi Nhưng dường như sự “nống sức” của diễn ca và thơ dài vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực một cách nghệ thuật; do đó, những tác phẩm có độ dài vừa mang yếu tố tự sự vừa thiên về hướng trữ tình mà đậm tính sử thi theo yêu cầu của thời đại dần dần được khẳng định, mà sự
Trang 27thành công của Bài ca chim chơ rao của Thu Bồn là một minh chứng Trường ca hiện
đại ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu bức thiết đó Sự nở rộ của trường ca được tự sự theo hướng trữ tình hóa từ sau 1975 chính là hướng đến tất yếu của thể loại sau khi vượt qua
những nhập nhằng giai đoạn ban đầu Theo Likhasốp trong cuốn Thi pháp của văn học Nga cổ thì tự sự và trữ tình trong một tác phẩm văn học là vấn đề thuộc về bản chất
chung, vấn đề quan trọng là sự biến đổi thể loại để thực hiện chức năng trong từng giai đoạn lịch sử Cho nên, Hêghen đã từng gọi tiểu thuyết là “sử thi tư sản” Từ đây, ta có thể nhận ra con đường đi của trường ca Việt Nam hiện đại như sau: sau kháng chiến chống Pháp là giai đoạn nở rộ của truyện thơ (mà có nhiều tác giả nhầm lẫn gọi là trường ca có cốt truyện) nhằm thực hiện chức năng phản ánh cuộc sống kháng chiến, cuộc đổi đời của người nông dân sau cách mạng theo quan điểm “đại chúng hóa” thơ
ca Sau khi truyện thơ kháng chiến không đáp ứng được yêu cầu của đời sống văn học, các nhà thơ đã mở rộng biên độ phản ánh của thơ trữ tình thành thơ dài bằng cách đưa vào nhiều hơn yếu tố tự sự (nhiều người cũng gọi là trường ca kết cấu không có cốt truyện mà chỉ còn là những sự kiện) nhằm thực hiện chức năng phản ánh sử thi của thời đại mới mà truyện thơ không thực hiện được Những năm sau đó, cùng với hiện thực vĩ đại đầy chất sử thi của cuộc kháng chiến chống Mỹ là sự thâm nhập của trường
ca Nga, trường ca theo hướng trữ tình hóa yếu tố tự sự bằng một cấu trúc nghệ thuật phức hợp và hoành tráng bắt đầu ra đời và gặt hái được thành tựu lớn chưa từng có để
nở rộ vào những thập niên 70-80 của thế kỷ XX như ta đã biết Sở dĩ như thế bởi những tác phẩm này đã thực hiện được chức năng mà giai đoạn lịch sử đó yêu cầu Tương tự như thế, trường ca những năm gần đây, chất sử thi thời chiến bắt đầu giảm dần và đang có khuynh hướng nghiêng về những cảm xúc đời tư nhằm thực hiện chức năng mới, mặc dầu, cho đến nay, loại trường ca này chưa thực sự định hình, chỉ xuất hiện lẻ tẻ và đôi lúc đơn độc Như vậy, thể loại trường ca chúng ta nghiên cứu ở đây chính là những tác phẩm thơ theo hướng tự sự được trữ tình hóa bằng một cấu trúc nghệ thuật phức hợp và hoành tráng về cả phương diện nội dung và hình thức như đã nói trên Từ những lý luận trên, chúng ta có thể rút ra những khác biệt giữa trường ca
và một số thể loại thơ như sau:
Trang 281.1.3.1 Trường ca và thơ trữ tình
Suy cho cùng, ngoài yếu tố ngắn, dài của hình thức; giữa thơ trữ tình và trường
ca chỉ khác nhau ở dung lượng nội dung hiện thực phản ánh và cảm xúc Nói như vậy cũng không có nghĩa thơ chỉ là sản phẩm của những “cảm xúc nhỏ” Tất cả đều bắt nguồn từ cảm xúc cao độ, nhưng cảm xúc cao độ của một bài thơ có thể tắt đi trong chớp nhoáng sau khi bài thơ kết thúc Còn nguồn mạch cảm xúc cao độ của trường ca phải lâu bền, phải được “ủ men và bốc lên” qua từng đoạn, từng chương nối tiếp nhau trong một thời gian dài với nội dung phản ánh đa diện, với một trí tưởng tượng đa chiều và một trí tuệ đủ tầm văn hóa, lịch sử xuyên suốt trong quá trình sáng tạo Chính
vì thế, trường ca dung chứa được nhiều thể thơ hơn thơ Có những thể thơ không thể tự
nó độc lập làm phương tiện phản ánh trong một bài thơ (đặc biệt là thơ dài) vì dễ gây nhàm chán, nhưng lại có thể đứng rất vững vàng cả một đoạn dài trong một trường ca,
vì trước nó và sau nó đã được sự bảo bọc của rất nhiều thể thơ khác (ví dụ thơ 3 chữ và
4 chữ nếu chỉ là một bài thơ thì dễ có cảm giác bị “vè hóa”, “văn vần hóa”) Như vậy, thực chất trường ca là sự mở rộng dung lượng và cấu trúc của thơ trữ tình, bởi lẽ: 1) Có rất nhiều bài thơ lẻ nằm trong trường ca Hay nói đúng hơn là trong cấu trúc nghệ thuật phức hợp của trường ca có đoạn thơ vốn là những bài thơ lẻ của chính tác giả đó đã được in riêng 2) Nếu thử tách một đoạn thơ trong trường ca ra khỏi chỉnh thể (tất nhiên là có chọn lọc), ta nhận thấy nó sẽ tồn tại như một bài thơ độc lập thật sự
(Chương Đất nước trong Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm hay đoạn thơ
có nhan đề Vĩnh biệt ở Mặt trời trong lòng đất của Trần Mạnh Hảo ) Như vậy, có thể
nói, trường ca và thơ trữ tình giống nhau ở chỗ: đều là thơ, điểm khác nhau cơ bản là trường ca đã thực hiện tốt chức năng “tự sự được trữ tình hóa” những “nội dung lớn” mang tính sử thi thời đại mà thơ trữ tình không thể thực hiện được Cho nên, trường ca
là hệ quả của sự mở rộng quy mô trữ tình của thơ trữ tình, cũng chính vì lẽ đó, mà trường ca hiện đại có sức sống lâu bền, cho dù nó vẫn tự sự về những “nội dung lớn” mang tính sử thi thời hiện đại (khác hoàn toàn với hiện tượng bị người đọc lãng quên của các truyện thơ kháng chiến) Đã là thơ trữ tình tất phải có “cái tôi trữ tình”, vì thế, đọc trường ca, ta dễ nhận ra hiện tượng phổ biến là: “cái tôi” trong trường ca đã phải
Trang 29thoát ra để “không phải là tôi” nhằm thực hiện chức năng phản ánh khách quan hiện thực lớn mang tính sử thi, cho nên, đôi lúc nó là “ta”, “chúng ta”, hoặc giấu “tôi” đi để mang lại không khí khách quan cho sự kiện lịch sử được phản ánh: “Cái hay ở các
“trường ca” của ta không chỉ có cái tôi chứng nhân lịch sử của nhà thơ chiến sĩ, mà còn
có các chân dung tiêu biểu, rất tự nhiên, bộn bề, nhưng vẫn toàn thể, duy nhất, tất cả
làm thành cái hơi thở mát mẻ nhưng bao trùm toát ra từ trung tâm cuộc sống, và cái
này là điều tất yếu phải có đối với một nền sử thi dân tộc” [76,tr.87]
1.1.3.2 Trường ca và thơ dài
Thơ dài thực chất là thơ trữ tình nhưng mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực bằng cách tăng cường yếu tố tự sự, và vì thế, nhiều năm dài, chúng ta có sự đánh đồng giữa trường ca và thơ dài Mã Giang Lân đã có sự khu biệt giữa hai thể loại này qua ba bình diện: 1) Về âm hưởng sử thi; 2) Về kết cấu tác phẩm; 3) Về phương thức biểu hiện [80,tr.108-109] Những ý kiến khu biệt này, ở cái nhìn khái quát, chúng ta dễ dàng chia sẻ và thống nhất, tuy nhiên, nếu lấy hai tác phẩm bất kỳ ra để đối chiếu cụ thể thì những khu biệt trên cũng chưa đủ sức tạo lập một đường biên rõ rệt Ở đây, chúng ta có thể thống nhất rằng: thơ dài là thơ trữ tình nới rộng trường độ mà thôi Nghĩa là, suy cho cùng, nó là thơ; cũng như ở thể loại truyện, ta có truyện ngắn và truyện dài Chính
độ ngắn và độ dài đó làm cho chúng có khác biệt về nội dung phản ánh Vì muốn phản ánh nội dung rộng lớn, nhà thơ phải nới dài độ rộng lớn của hình thức thơ để “mặc vào” cho phù hợp với “thân hình” hiện thực phản ánh, mà đã mở rộng hiện thực phản ánh tất phải nghiêng nặng hơn về phía tự sự mới giữ được “độ trường” Nhưng dù có
cố gắng thế nào thì độ nống của một bài thơ (dù là thơ dài) cũng có giới hạn của nó theo dòng sự kiện (vì ở thơ dài hình bóng “nhân vật” không lấn át được cái tôi của thơ
trữ tình) Theo chân Bác của Tố Hữu thực chất là một bài thơ dài, hình tượng Bác được
phản ánh qua cảm xúc chủ quan của tác giả, chưa trở thành “nhân vật” khách quan của thời đại như hình tượng nhân vật ẩn mình Hồ Chí Minh phía sau dòng chữ khắc trên
Vách đá Hồ Chí Minh của Thu Bồn hay hình tượng Tôn Đức Thắng trong Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi, hoặc hình tượng Cao Bá Quát trong Đêm trên cát của
Thanh Thảo Như vậy, giữa trường ca và thơ dài, chúng ta có thể phân biệt qua một
Trang 30đường biên mang tính lô-gic như sau: Nếu thơ dài là sự mở rộng dung lượng của thơ trữ tình ở mức độ vẫn còn được gọi là thơ thì trường ca cũng là sự mở rộng dung lượng của thơ trữ tình nhưng “lượng” mở rộng này đã tích lũy đủ để biến thành một “chất” mới: thể loại trường ca Nó hoàn toàn không phải là thơ trữ tình mà nhận thơ trữ tình trở thành một “bộ phận con” trong chỉnh thể tác phẩm trường ca
1.1.3.3 Trường ca và truyện thơ
Trong lịch sử văn học, truyện thơ Nôm đã trở thành một thể loại phát triển rầm
rộ và đạt đến đỉnh cao làm nên diện mạo văn học trung đại Việt Nam Người Việt vốn
là cư dân nông nghiệp lúa nước thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình, cho nên vốn rất mạnh về tư duy tổng hợp và yếu trong tư duy phân tích Vì lẽ đó, người Việt trọng thơ hơn văn, xem thơ là thể loại nghệ thuật siêu phàm nhất trong mọi loại hình văn học nghệ thuật Chữ viết của người Việt cổ sớm bị hủy diệt vì âm mưu đồng hóa của ngoại xâm, các loại chữ Hán, Nôm xuất hiện sau này lại quá khó học, khó phổ cập, nên từ Cách mạng tháng Tám (1945) về trước, lượng người Việt biết chữ để đọc được không nhiều, cho nên họ thích nghe Mà đã nghe thì phải nhớ để mà kể lại, vì thế,
họ thích chuyện được viết bằng thơ, có vần Cũng do xuất phát từ đặc trưng văn hóa này mà trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam vào đầu thế kỉ XX đã xảy ra hiện tượng “sống lại” của truyện thơ sau khi tiểu thuyết bằng văn xuôi hiện đại đầu tiên
là Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản vừa ra đời đã không được người
đọc chấp nhận và lập tức chìm vào quên lãng Mãi đến khi văn xuôi Tự lực văn đoàn ra đời và chiếm lĩnh văn đàn, truyện thơ mới lại lui vào im lặng Thực ra, văn xuôi Tự lực văn đoàn thắng thế do lượng người đọc ở đô thị (trí thức tiểu tư sản, tiểu thương thành thị) chứ quảng đại quần chúng công nông thì vẫn còn mê truyện thơ; vì thế, khi bước vào kháng chiến với khẩu hiệu “đại chúng hóa” văn học để phục vụ công nông binh, truyện thơ đột nhiên sống lại Điều đặc biệt là lần này nó được sống lại bằng chính sáng tác của những nhà thơ hiện đại (Huy Cận, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Huyền Kiêu, Hoàng Cầm ) Điều này cho ta thấy, chức năng thể loại trước yêu cầu hiện thực quả là yếu tố quyết định đối với đời sống văn học như đã nói ở phần trên Nghĩa là, do tính
“bảo thủ” của các giá trị văn hóa mà trong lịch sử văn học nước ta, truyện thơ cứ sống
Trang 31dai dẳng trong khi thực tế nó đã hoàn thành “sứ mạng thể loại” từ văn học trung đại Chỉ sống chứ không thể phát triển cao hơn truyện thơ Nôm truyền thống vì bản chất truyện thơ là tự sự - trữ tình về đề tài thế sự, đời tư, không thể đủ sức hoành tráng hóa hiện thực sử thi Vì lẽ đó mà cho đến nay, tất cả các truyện thơ hiện đại đều không còn sống được mà duy chỉ có truyện thơ Nôm truyền thống là tồn tại vĩnh viễn với thời gian Như vậy, sự giống nhau và khác nhau của truyện thơ và trường ca là dễ dàng nhìn thấy Cả hai đều được viết bằng thơ nhưng truyện thơ nghiêng về phía tự sự kết hợp với trữ tình trên nền một cốt truyện và nhân vật có tính cách , trong khi trường ca lại trữ tình hóa các yếu tố tự sự mà không cần cốt truyện hoàn chỉnh, không cần hình tượng nhân vật điển hình, mà chỉ khơi gợi những số phận nhân vật trong những lóe sáng tính cách đậm chất thơ Có thể ví truyện thơ như là những truyện (văn xuôi) có cốt truyện, nhân vật hoàn chỉnh theo lối truyền thống, còn trường ca như là những truyện (văn xuôi) không có cốt truyện, nhân vật rõ nét; đang làm nên điểm nhấn đổi mới trong văn xuôi Việt Nam đương đại
1.2 Quan niệm của Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo về thơ và trường ca
Như ở phần lý thuyết thể loại đã đề cập, trường ca là kết quả của sự mở rộng nội dung, tư tưởng, cảm xúc và hình thức của thơ trữ tình để làm chức năng phản ánh hiện thực mang tính sử thi của thời đại mới, cho nên trước khi tìm hiểu quan niệm của ba tác giả về trường ca, chúng ta cần phải xem quan niệm về thơ của họ như thế nào để làm nền tảng đối sánh khi đi vào phân tích thơ trong trường ca của ba tác giả Nhằm mục đích có sự phân định để tìm ra phong cách trường ca của từng tác giả từ lý thuyết đến thực tiễn sáng tác của mỗi người, nên chúng tôi xin trình bày riêng quan niệm của từng tác giả để tiện theo dõi và phân biệt
1.2.1 Quan niệm của Thu Bồn về thơ và trường ca
1.2.1.1 Quan niệm của Thu Bồn về thơ
Tập tiểu luận Đánh đu cùng dâu bể đã cho thấy: có thêm một Thu Bồn tiểu luận
Tiểu luận của Thu Bồn chủ yếu là những bài giới thiệu thơ của các tác giả, các tuyển tập thơ mà ông tâm đắc Là một người cả trong đời sống và sáng tác luôn sống và viết
Trang 32bằng một thứ tình cảm mãnh liệt đến dữ dội nên Thu Bồn rất chú trọng cái tâm trong thơ Theo ông, cái “tâm thơ” là đặc biệt quan trọng và vô cùng phong phú: “Ngành nào cũng có cái tâm nhưng văn chương nghệ thuật thì chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”
“Cái tâm đây là tâm hồn, tâm linh, tâm trí, tâm tình, tâm sự, tâm trạng, lương tâm còn bao nhiêu cái tâm khác nữa” [27,tr.193] Về vai trò và tác động của thơ ca đối với con người, cuộc sống; Thu Bồn có những quan niệm khá mới mẻ, tưởng như đối lập, nhưng lại hoàn toàn thống nhất đối với thơ Thơ “trẻ hóa” con người qua vừng trán nhăn nheo của người đọc, thơ “giải tỏa con người”, chắp cánh cho con người bay qua bể khổ trần gian vượt ra khỏi sự kìm tỏa của nỗi cô đơn thân phận: “Thơ làm cho con người trẻ lại Vầng trán càng nhăn quả tim càng trẻ Trong gian khổ của đời thường thơ giải tỏa cho con người Thơ bay là là trên cuộc sống nhân gian, thơ cho con người đôi cánh để bay qua nhân tình thế thái Để rồi yêu thương mơ mộng rạo rực sức sống Trí tưởng tượng của thơ đưa con người ra khỏi cảnh cô đơn” [27,tr.206] Thơ còn là “khát vọng” làm mát dịu lòng người khô hạn, “cứu vớt những cơn mơ”: “Trong khi lương tâm và niềm tin bị pha chế bằng sự hoài nghi và chán nản, thơ có thể không cứu vớt được thực tại nhưng ít ra cũng cứu vớt được những cơn mơ” [27,tr.255-256] Theo Thu Bồn: muốn bật ra thơ (thơ hay), nhà thơ cần trải nghiệm cuộc sống, thấm nỗi đau đời Khi giới thiệu thơ của một bác sĩ, Thu Bồn gửi gắm quan niệm về “nỗi đau trần thế” trong thơ: “Anh chữa bao nhiêu nỗi đau thân xác của bệnh nhân nhưng còn nỗi đau trần thế làm sao anh chữa nổi; thôi thì phải đến với thơ vậy” [27,tr.210] và “Làm thơ” là “bơi lội trong cuộc sống, thấm đẫm nước mắt mồ hôi” [27,tr.212] Thu Bồn quan niệm, nguồn gốc quê hương, gia đình có tác động rất lớn đến phong cách thơ của từng tác giả: “Con đường đến với thơ ca mỗi người mỗi kiểu Nguồn gốc xuất xứ của từng người có ảnh hưởng đến sự nghiệp, phong cách, tâm lý, nguồn cảm hứng chủ đạo” [27,tr.214] Cái đẹp của thơ ca rất đa dạng, phong phú, có khi là sự “giải bày và lòng nhân ái” với những tình yêu về quê hương, đất nước; có khi vẻ đẹp được làm nên cả nỗi đắng cay: “Nó là thức ăn nhưng cũng có thể chữa được bệnh vì đó là một loại rau hiền mang đầy dược liệu” [27,tr.266] Về xu hướng sáng tác, Thu Bồn quan niệm, ở mỗi tác giả đều có sự tổng hợp của rất nhiều xu hướng, trường phái để nhà thơ chọn
Trang 33“nghiêng” về mình một xu hướng sáng tác: “Thật ra nhà thơ nào mà không lãng mạn, không hiện thực, không siêu thực Không có những cái đó làm gì có thơ” [27,tr.248] Thu Bồn còn quan niệm: thơ phải “đủ lửa để thành cơm”, ông không chấp nhận những câu thơ nhàn nhạt như “gạo sình” cùng với sự tâng bốc của những nhà phê bình, những hội đồng giải thưởng đối với những bài thơ “õng ẹo làm duyên” như một trò “ảo thuật chữ nghĩa” [27,tr.272] Mục đích của làm thơ, theo ông, là một cuộc kiếm tìm bất tận, gian lao nhưng đầy niềm tin hi vọng Đó là “Tìm lại cội nguồn, tìm cái mới, tìm lại chính mình Tìm lại những gì trong chiến tranh mất mát, tìm thấy những cái gì trong xây dựng gian lao, tìm thấy những gì trong căn nhà tình nghĩa Tìm những tình yêu, hạnh phúc và tìm cả trong đổ vỡ những bông hoa mọc lên từ kẽ đá của lòng tin Thơ ca
là một cuộc kiếm tìm hi vọng” [27,tr.315] Và ông khẳng định mục đích của thơ là
“hướng về chân thiện mỹ, niềm tin và tình yêu là mặt trời trong thi ca” [27,tr.316]
1.2.1.2 Quan niệm của Thu Bồn về trường ca
Khác với những quan niệm về thơ, đa phần là khái quát lên từ thực tiễn thơ; với trường ca, Thu Bồn đã có những chiêm nghiệm sâu về lý thuyết (kể cả sử thi) kết hợp với thực tiễn sáng tác của mình, đưa ra những quan niệm đáng suy ngẫm về thể loại Theo Thu Bồn, trường ca chính là sử thi, ông gọi sử thi là trường ca: “Những bản trường ca vĩ đại trên thế giới đều đánh giá những giai đoạn lớn, những bước ngoặt lịch
sử Trường ca Đam San, Xing Nhã của Tây Nguyên ta cũng thuộc vào loại có cỡ trên
thế giới” [28,tr.531] Nhưng ông không đồng ý đánh đồng giữa truyện thơ và trường
ca, vì như thế dễ “tự đánh mất chân dung của mình” [28,tr.532] Thu Bồn khẳng định,
đã có một thể loại văn học mới tồn tại nghiễm nhiên mà không được quyền nhầm lẫn,
đó là trường ca [28,tr.534] Về nguồn gốc nảy sinh của trường ca hiện đại Việt Nam, theo ông là: xuất phát từ “Cuộc chiến đấu cực kỳ gian khổ đầy hi sinh của dân tộc ta trong 35 năm qua” [28,tr.352] Thu Bồn cũng phân biệt giữa thơ trữ tình và trường ca như sau: “Thơ trữ tình thường né tránh những đề tài quá ư phức tạp trong đời sống và nếu có thể hiện thì phần nhiều sử dụng phương pháp lãng mạn Trường ca có thể xông vào hiện thực cuộc sống với tất cả sức mạnh của nó” [28,tr.533] Vì thế, theo ông, trường ca là một kiến trúc hoàn hảo, có đủ khả năng hiện thực và trữ tình để phản ánh
Trang 34cuộc sống Vì vậy, ngôn ngữ và hình ảnh thơ trong trường ca cũng thoát khỏi lối diễn đạt trong thơ trữ tình để tự “chuyển hóa và nâng mình lên” để mang “một vẻ đẹp riêng” [tr.534] Và để trả lời câu hỏi: Trường ca là gì? Bằng cái nhìn xuyên suốt từ sử thi đến trường ca, Thu Bồn đã nêu lên suy nghĩ của mình: “Những định nghĩa của nhà trường
về trường ca thì đã cũ quá, chỉ thích hợp cho những trường ca cổ điển mang tính chất anh hùng ca Ngày nay, huyền thoại đã thuộc về nhân dân, con người có thể bay vào
vũ trụ và làm nên những chuyện phi thường khác Trường ca đã phát triển và đi vào đời sống văn học từ lâu, nhưng chưa thấy nhà nghiên cứu văn học nào xê dịch định nghĩa cho phù hợp với đặc trưng của nó” [28,tr.534-535] Theo ông: “Trường ca là một thể loại thơ dài nhằm thể hiện một chủ đề tư tưởng thông qua hình tượng thơ ca, sử dụng ngôn ngữ, nhân vật, âm điệu, bố cục một cách điêu luyện và tinh xảo nhất của toàn
bộ nghệ thuật thơ ca hình thức rất phong phú và đa dạng” [28,tr.536] Chính vì quan niệm này mà Thu Bồn gọi những bài thơ dài của mình là những trường ca Chỉ quan niệm trường ca là thơ dài, còn với thơ truyện (truyện thơ) và diễn ca, Thu Bồn phân định rất rõ: “Có thể ví tạm trường ca là một tòa lâu đài, thơ truyện là một tòa nhà, diễn
ca là một dãy trại lán” Từ đó, ông kết luận: “Trường ca là một tòa lâu đài của thơ ca, là một kiến trúc tổng hợp của thơ ca” [28,tr.538]
1.2.2 Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về thơ và trường ca
1.2.2.1 Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về thơ
So với Thu Bồn và Thanh Thảo thì Nguyễn Khoa Điềm có rất ít những phát biểu về lý luận thơ ca cũng như trường ca Các quan niệm của ông chủ yếu tập trung vào những vấn đề cốt tử của thơ, chưa có điều kiện nói nhiều về những đổi mới của thơ
ca trong thời đương đại, đặc biệt là chặng đường đổi mới văn học từ những thập niên cuối thế kỉ XX trở lại đây Là một trí thức lăn thân trực tiếp vào phong trào đấu tranh của tuổi trẻ miền Nam, vì thế Nguyễn Khoa Điềm xác định sứ mệnh của nhà thơ và thơ
ca là góp phần chung vào cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc: “Tôi cũng vậy, luôn thường trực ý nghĩ mình viết cái gì, mỗi một từ ngữ hình ảnh giản dị bình thường nhất thì cũng phải có lợi cho cuộc chiến đấu” [30,tr.267] Trong thơ, theo Nguyễn Khoa Điềm, cảm xúc đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là thơ viết về cuộc kháng
Trang 35chiến hào hùng của thời đánh Mỹ Nếu ai đó có nói rằng thơ thời chiến chủ yếu là cái
ta cộng đồng trữ tình nên cảm xúc không thật, Nguyễn Khoa Điềm hoàn toàn bác bỏ ý kiến này Ông cho rằng: “Lúc bấy giờ cảm xúc về chủ nghĩa anh hùng, sự vươn lên trong chiến đấu, hi sinh là những cảm xúc có thật đối với mỗi người, đặc biệt là những người làm văn học Nếu không có cảm xúc thì làm một người bình thường cũng khó, chưa nói đến sáng tác” [29,tr.122] Chiều sâu văn hóa truyền thống cùng những tri thức triết lý sâu sắc với trường liên tưởng mạnh mẽ rút ra từ thực tiễn cuộc sống là hai yếu
tố làm nên gương mặt thơ Nguyễn Khoa Điềm Lý giải điều này, ông khẳng định: mối quan hệ giữa văn hóa và thơ là mối quan hệ máu thịt, đặc biệt là đối với cái thời mà kẻ thù muốn hủy diệt chúng ta cả về văn hóa: “trong cái không khí sặc mùi khói súng ấy, giữa cái giáp ranh giữa sự sống và cái chết, tôi muốn đưa vào bài thơ những hình ảnh đậm nét văn hoá nhất của quê hương đất nước mình” [29,tr.124] Sinh ra và gắn bó với
cố đô, với dòng Hương giang như chiếc nôi đưa của văn hóa Huế, lại chứng kiến bao thăng trầm lịch sử trên vùng đất thần kinh, Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận rất rõ sự ảnh hưởng của văn hóa Huế trong thơ ca: “Tôi thường nhìn thấy Huế trong dáng vẻ u trầm Những rêu phong cổ kính ở đó đều mang nét u trầm và buồn… Huế cũng đã một lần
“tiêu thổ kháng chiến”, và Huế Mậu Thân bị bom đạn tàn phá ghê gớm Thân phận hoài nhớ vàng son của người Huế đã khiến cho xứ này trầm xuống Người ta luôn sống với chiều sâu tâm linh Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ gặp Huế đã để lại những bài thơ hay, ảo diệu và sâu sắc… Huế đẹp và gian khổ luôn ám ảnh tôi” [31,tr.5] Được hỏi về mối quan hệ giữa nhà chính trị và nhà thơ, rất chân thành, Nguyễn Khoa Điềm xác nhận và tỏ rõ quan điểm của mình: “Thơ như người bạn tâm giao, mỗi lần gặp lại nhau đều như chuyện kỳ ngộ” Đã là “người bạn tâm giao” thì rõ ràng “người bạn” thơ ấy không bao giờ bỏ bạn Đến với một câu thơ hay, một bài thơ hay, ngay cả những nhà thơ chuyên nghiệp cũng đều là duyên “kỳ ngộ” chứ không phải lúc nào cũng gặp, mặc
dù nhà thơ luôn thường trực làm thơ Thơ là bạn, là thường gặp, nhưng thơ hay phải là
“bạn tâm giao” gặp nhau là “kỳ ngộ” Cuối cùng, Nguyễn Khoa Điềm khái quát về phẩm chất của văn chương nói chung, cũng chính là phẩm chất của thơ ca, bao gồm ba yếu tố chính: “Lời” - “Hành động” - “Tấm lòng”, trong đó, theo ông, “Tấm lòng” cần
Trang 36xem là cội nguồn của thơ ca: “Tôi nghĩ có ba yếu tố làm nên phẩm chất của văn chương, đó là: - Lời (lời văn, cách viết) - Hành động (ý tưởng văn chương thúc giục người ta hành động) - Tấm lòng (là tâm hồn tác giả trên từng trang sách) Có lời văn hay, có khát vọng hành động mạnh mẽ, nhưng thiếu đi tấm lòng nhân hậu, cao thượng thì chưa thể có văn hay Cho nên có sách nói thuỷ tổ là Lời, có sách nói thuỷ tổ là Hành động, cũng nên có sách nói thuỷ tổ là Tấm lòng” [31,tr.4]
1.2.2.2 Quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm về trường ca
Là một người uyên thâm nhưng thâm trầm, sâu sắc và khiêm nhường, Nguyễn Khoa Điềm luôn xem mình là một người ngoại đạo đối với trường ca, vì thế, những phát biểu của ông về lý thuyết thể loại này cùng không nhiều so với Thu Bồn và Thanh Thảo Tuy nhiên, bằng thực tiễn sáng tác thơ dài và trường ca của mình, Nguyễn Khoa Điềm cũng bày tỏ những quan niệm đáng được chú ý về thể loại và cấu trúc tác phẩm Theo ông, trường ca dù là một tác phẩm dài nhưng cần đảm bảo tính chỉnh thể của tác phẩm Sở dĩ, trường ca đảm bảo được tính chỉnh thể ấy là vì nó là kết quả của cả một cảm xúc dài hơi và bền bỉ của nhà thơ : “một chỉnh thể tác phẩm trong một trường cảm xúc” được “kết cấu theo từng mảng, mảng này khơi gợi, dẫn dắt cho mảng kia »
Đồng thời Nguyễn Khoa Điềm cũng xác nhận sự độc lập tương đối trong từng mảng cảm xúc của từng đoạn, trường đoạn trong một trường ca nhằm mục đích đào sâu cảm xúc cần thể hiện: “nhưng từng mảng lại đi sâu vào một vấn đề, một ý tưởng do đó nó cũng có tính trọn vẹn riêng” [29,tr.258] Và theo ông, cái hay của trường ca không phải chỉ là những đoạn thơ, những câu thơ đơn lẻ mà là cái hay của cả một chỉnh thể cấu trúc:
“toàn bộ trường ca Mặt đường khát vọng, ngôn ngữ ca dao, tục ngữ, ngôn ngữ của đời
sống dân gian được sử dụng rất nhiều Vậy phân tích tác phẩm này không có nghĩa là phải tìm ra những câu thơ hay hoặc những chữ nghĩa độc đáo; tác phẩm phải được cảm nhận trong trường cảm xúc, trong những suy tư, ngẫm nghĩ” [29,tr.270] Bàn về không khí sử thi trong trường ca, ông quan niệm: chính hiện thực vĩ đại của lịch sử đã góp phần tạo nên cảm xúc hoành tráng của trường ca: “cảm xúc được cộng hưởng bởi tiếng bom nổ, bởi khói bom và mưa rừng Có khi viết xong, một trận bom làm cho bản thảo bay tung toé, lượm lại trang còn trang mất, lại ngồi viết tiếp” Và cũng như Thu Bồn và
Trang 37Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm quan niệm: trường ca là kết quả sự dồn tụ của cảm xúc mãnh liệt, tuôn trào Trường ca được viết như “cảm xúc đã dồn tụ một cách mãnh liệt giờ chỉ việc tuôn chảy ra thôi” [29,tr.259] Về nhân vật trong trường ca, Nguyễn Khoa Điềm cũng đồng nhất quan điểm là kiểu nhân vật không hoàn chỉnh Nhân vật của trường ca không nhất thiết là phải có tên tuổi cụ thể mà có thể là nhân vật trữ tình của thơ trữ tình miễn là những nhân vật đó có số phận và những số phận nhân vật đó đều gắn kết trong số phận chung của toàn dân tộc: “Nhân vật của tôi là anh và em Đó
là lời đằm thắm của một người con trai nói với một người con gái… mỗi người có một
số phận khác nhau nhưng đều gắn kết trong một số phận chung là số phận Đất nước” [29,tr.259] Về vấn đề chuyện trong trường ca, Nguyễn Khoa Điềm cũng quan niệm hoàn toàn khác với chuyện trong truyện thơ truyền thống Nếu truyện thơ truyền thống
là chuyện kể mang tính đời tư, thế sự theo cốt truyện và nhân vật thì chuyện trong trường ca được “kể” bằng xúc cảm và tâm trạng của chính nhà thơ trước những sự kiện lịch sử lớn trên cơ sở sự nối kết của các mảng chủ đề làm nên giai điệu chung của toàn tác phẩm: “Đó không phải là thơ theo kiểu chuyện ngày xưa mà là xúc cảm, tâm trạng của mình trải ra trước các sự kiện lớn Các chủ đề nối với nhau tạo nên giai điệu” [30,tr.123]
1.2.3 Quan niệm của Thanh Thảo về thơ và trường ca
1.2.3.1 Quan niệm của Thanh Thảo về thơ
Là một nhà thơ luôn có ý thức cách tân, Thanh Thảo lại là một nhà thơ ham đọc những lý thuyết sáng tác mới của văn học phương Tây; vì thế, bên cạnh thơ và trường
ca, ông còn là một nhà thơ viết tiểu luận, phê bình văn học khá sắc sảo với nhiều phát hiện thú vị và độc đáo Tiểu luận, phê bình của Thanh Thảo là một kiểu viết “đồng sáng tạo” thật sự cùng nhà thơ theo quan niệm của “Lý thuyết tiếp nhận hiện đại”
phương Tây Đến nay, Thanh Thảo đã cho ra mắt hai tập phê bình - tiểu luận là Ngón thứ sáu của bàn tay và Mãi mãi là bí mật Trong một bài viết như một lời bạt ở cuối tập Ngón thứ sáu của bàn tay, Nguyễn Đỗ đánh giá: “Điều mà Thanh Thảo có được
trong tập sách này - cái thành công nhất - chính là anh đã được sáng tác, anh viết tiểu luận như là một hối thúc bên trong, giống khi làm thơ” [59,tr.63] Có lẽ vì thế mà quan
Trang 38niệm thơ của Thanh Thảo khá hiện đại so với những quan niệm của Thu Bồn và Nguyễn Khoa Điềm, được ông phát biểu khá đa dạng, độc đáo với cách nói không giống ai, mà theo cách cảm, cách nghĩ của riêng mình: “Thơ là cái lặng lẽ của con hổ Ngay con hổ cũng có lúc giật mình vì một tiếng lá rụng Thơ đi giữa can trường và hoảng hốt, đi giữa cái liều và nỗi sợ Thơ là con dao găm “tôi ném vào khoảng trống” (Văn Cao), nhưng người bị thương lại chính là tôi” [32,tr.5] Chỗ khác, Thanh Thảo lại phát biểu: “Thơ là chữ nghĩa nhưng cũng không là chữ nghĩa, là ý thức mà không phải
là ý thức, là vô thức mà không hẳn vô thức Thơ đúng nghĩa là sự bộc lộ tận cùng của nhà thơ” [36,tr.66] Về bản chất của thơ, ông quan niệm: “là tiếng nói của tâm linh, tiếng nói của sự chiêm nghiệm nhiều khi là cả đời người, của nhiều đời người”, những tập thơ có giá trị thực sự, chúng có thể là “kinh Thánh của tâm hồn”, là thứ “không thể mua và không thể bán Nhưng lại không thể thiếu cho con người” [43,tr.233] Nhưng
“Thơ khác kinh cầu Nó không tạo ra những cơn mê tập thể Nó không “ru rín” mà nó
mê hoặc con người bằng sự thức tỉnh”, “Thơ chỉ dành cho từng người một Và khi một người đọc thơ cho mình, là người ấy đã đồng hiện với một giáo đường Vì vậy có thể coi một người đọc thơ như nghìn người đọc kinh” [43,tr.222-223] Về quan hệ giữa thơ
và cuộc sống, đặc biệt là với hiện thực chiến tranh, là một người lăn thân ngay trong cuộc chiến, Thanh Thảo tâm sự: “Chiến tranh là một trải nghiệm khốc liệt” không ai muốn, “nhưng rồi khi phải đối đầu với nó, phải ngập chìm trong nó, và may mắn cuối cùng là thoát ra khỏi nó”, lúc đó, “người ta có thể coi những bài thơ rất bình thường mình viết được trong chiến tranh như những vắt cơm đã nuôi mình khi đói, như hớp nước cuối cùng trong bi-đông mà mình sẻ chia với đồng đội, lại như một ân sủng mà mình tình cờ nhận được” [38,tr.4] Con đường sáng tạo của từng nhà thơ là con đường
mà chính họ phải tự vạch đường mở ra hoàn toàn mới lạ: “Thơ chẳng ai giống ai, chẳng ai mong giống ai, và không có lối đi nào chung cho cả hai nhà thơ cả Đó là thách thức, và cũng là cái làm nên sức quyến rũ của thơ” [43,tr.239] Về chức năng giáo dục của thơ, Thanh Thảo có một quan niệm khá mới lạ, hướng quan niệm đi về phía hiện đại hóa, cả quan niệm về chức năng thơ: “Thơ có ích không chỉ vì thơ giáo huấn ai, giáo dục ai, cải tạo ai, mà vì thơ thức tỉnh con người trước cái “trăm năm”, thơ
Trang 39đặt con người đối diện với nghìn năm, thơ cho con người một thoáng nhìn lại chính mình một cách bình thản” [37,tr.80] Là một nhà bình luận bóng đá khá nổi tiếng, khi bàn về thi pháp, Thanh Thảo bắt đầu bằng sự liên tưởng: Dấu ấn thi pháp của từng nhà thơ chính là những “cú sút” từ ngữ trong thơ, “sút lọt” vào “khung thành ẩn hiện của thơ” Thi pháp của một nhà thơ “được coi như một thứ kĩ thuật đi bóng, dắt bóng”, chỉ khác là “khung thành trong bóng đá luôn hiện rõ trước mặt cầu thủ, còn “khung thành” trong thơ lại lúc ẩn lúc hiện, và người làm thơ chẳng biết khi nào thì mình đưa được ngôn từ vào đúng dòng thơ, vào “lọt” bài thơ Những “cú sút” từ ngữ trong thơ mang nặng dấu ấn thi pháp của từng nhà thơ” [43,tr.275] Đề cập đến ngôn ngữ, hình tượng, biểu tượng thơ, Thanh Thảo quan niệm: Chớ nên tưởng rằng “ngôn ngữ thơ là làm phong phú ngôn ngữ con người” mà “nó chỉ chắc lọc tinh túy của ngôn ngữ con người” Cũng đừng nghĩ rằng: những hình ảnh, những biểu tượng thơ chỉ có kích thích trí tưởng tượng của con người, mà “nó còn khiến con người vững tin rằng ngoài những hình ảnh về thế giới mà mình thấy được, cảm nhận được, còn những hình ảnh mà mình chưa thấy nhưng sẽ thấy, chưa cảm được nhưng sẽ cảm được Có những giấc mơ mình
sẽ mơ, và có những cuộc đời mình sẽ sống cùng với cuộc đời mình đang sống” [37,tr.81] Có người phỏng vấn hỏi rằng: “có cảm giác anh đã bắt kịp một chân sang thơ hiện đại - điều đó rất khó đối với một thế hệ thơ thời chiến?”, Thanh Thảo bộc bạch: “Thực ra, nhà thơ cách tân không phải lúc nào cũng chăm chăm làm cho mình quái lạ đi Làm thơ phải cực kỳ đơn giản, làm mà như không ấy” [40,tr.88] Nhân bàn
về sự “bền lòng” của Đường thi, Thanh Thảo đã khái quát về sức sống vĩnh cửu của thơ: “Thơ có trước Thiên Chúa giáo, có trước Phật giáo, có trước Hồi giáo Nhưng cho đến thời hiện đại này, thơ vẫn sống mà không có tín đồ” [40,tr.79] Khi được hỏi về sự ảnh hưởng của phương Tây trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam, Thanh Thảo trả lời rất đơn giản: “tính hiện đại” không phải do “những kĩ thuật thơ phương Tây” mang đến “mà còn đến từ sự phối hợp tự nhiên và bất ngờ của thơ phương Tây với khả năng dồn nén, tích chứa, u mặc, phẳng lặng mà sâu thẳm của thơ phương Đông, của tâm hồn thơ Việt Và cái chính là phải qua ngôn ngữ riêng biệt của từng nhà thơ” [41,tr.83] Được hỏi về cái đẹp trong thơ, đặc biệt là thơ hiện đại, Thanh Thảo cho
Trang 40rằng: Đây là vấn đề không đơn giản, nhưng ông khẳng định: “Cái đẹp của thơ bây giờ phải khác thôi có thể tục (vulgarism), có thể bẩn (dirty) mà vẫn đẹp đấy Bởi chỉ có Đức Mẹ Đồng Trinh mới sinh con mà hoàn toàn sạch sẽ, tinh khiết thôi Các cuộc sinh
nở bình thường khác, như cuộc sinh nở của con người, đều có phần “vulgarism” và
“dirty” Thơ cũng vậy thôi Có điều, cái cuối cùng là “đứa con”, là “bài thơ” như một sản phẩm tự nhiên, sống” [41,tr.85]
1.2.3.2 Quan niệm của Thanh Thảo về trường ca
Là một trong hai nhà thơ viết nhiều trường ca nhất trong thơ hiện đại Việt Nam, Thanh Thảo suy ngẫm nhiều về thể loại này, nên mỗi lần được phỏng vấn hoặc mỗi lần giới thiệu trường ca của các bạn thơ, ông đều nêu lên quan niệm của mình Ông nhận xét: “Thể loại anh hùng ca thường gắn với những thời điểm trọng đại của lịch sử, nó trước tiên là kết quả của sự lựa chọn tư tưởng của nhà thơ, nó luôn cực đoan trong sự khách quan, nó là lịch sử được hát lên, là văn xuôi được trào lên như phún thạch núi lửa” Về nguồn gốc trường ca, Thanh Thảo phát biểu: “Khi những cảm nhận cá nhân và không khí chung của một xã hội, một dân tộc còn chưa nguôi, chưa lặng, đó là thời điểm của xuất hiện những anh hùng ca, những trường ca” Về sự khác nhau và giống nhau giữa Anh hùng ca cổ đại và trường ca, ông so sánh: “Nếu nhân vật chính của anh hùng ca cổ đại là Định Mệnh, thì nhân vật chính của anh hùng ca hiện đại (trường ca - MBA) là Nhân Dân, là ý chí của nhân dân chiến đấu với định mệnh lịch sử Chính chiến tranh đã đẻ ra anh hùng ca, trường ca, bi ca” Lý giải sự xuất hiện ồ ạt của Anh hùng ca, trường ca trong lịch sử văn học ở những thời điểm nhất định, Thanh Thảo,
bằng kiến văn của Lý thuyết tiếp nhận hiện đại cùng với thực tiễn sáng tác của “người
trong cuộc” có những ý kiến đáng quan tâm: “Theo tôi, chỉ có thể lý giải” nó “bằng vô thức tập thể, bằng sự chuyển động âm thầm của vô thức tập thể, mà nhà thơ, với ăng-ten nhạy cảm của mình, đã bắt được sóng của nó, và đã có sự tự thôi thúc bên trong muốn thể hiện nó dưới một hình thức tương xứng, nghĩa là hoành tráng” Nhà thơ chính là người nói hộ cho “bao nhiêu người chết thảm trong chiến tranh, bao nhiêu liệt
sĩ hi sinh khi còn rất trẻ” Trong bối cảnh ấy, trong tâm trạng ấy, “nâng cây đàn lyre của vô thức tập thể, nhà thơ hiện đại có thể sững sờ khi những dòng thơ của mình bỗng