1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiểu thuyết biển và chim bói cá của bùi ngọc tấn luận văn thạc sỹ ngữ văn

103 1,4K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm tiểu thuyết biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn
Tác giả Bùi Ngọc Tấn
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 563 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Ngọc Tấn là một cây bút được nhiều người biết đến không phảichỉ vì cuộc đời ông lận đận, có phần bởi nguyên nhân dính líu đến những án vănchương, mà bởi ông có một số tác phẩm để lại

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

2 Lịch sử vấn đề

3 Đối tượng nghiên cứu

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

5 Phương pháp nghiên cứu

6 Đóng góp của đề tài

7 Cấu trúc luận văn Chương 1: Sự xuất hiện của Biển và chim bói cá trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1 Mấy vấn đề về tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

1.1.2 Một số biểu hiện của hành động tìm tòi trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.2 Bùi Ngọc Tấn - tiểu sử và văn nghiệp

1.2.1 Tiểu sử

1.2.2 Hành trình sáng tạo

1.2.3 Quan niệm về nghệ thuật

1.3 Biển và chim bói cá - tiểu thuyết xuất sắc của Bùi Ngọc Tấn

1.3.1 Biển và chim bói cá - hồi ức của nhà văn về một quãng sống đáng nhớ 1.3.2 Nhìn chung về thế giới nghệ thuật của Biển và chim bói cá

Chương 2: Những cảm hứng cơ bản của Biển và chim bói cá

2.1 Cảm hứng nhận thức lại

2.1.1 Cảm hứng nhận thức lại - một xu thế tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại

Trang 2

2.1.2 Con đường nhận thức những vấn đề của xã hội

2.1.3 Nhận thức lại về con người

2.2 Cái nhìn mang màu sắc bi kịch về cuộc sống

2.2.1 Một số biểu hiện về cảm hứng bi kịch trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

2.2.2 Bi kịch cộng đồng

2.2.3 Bi kịch cá nhân

2.3 Cảm hứng trào lộng

2.3.1 Cái nhìn trào lộng trong văn xuôi Việt Nam đương đại

2.3.2 Cái nhìn trào lộng về thế giới

2.3.3 Cái nhìn hài hước về con người

Chương 3: Nghệ thuật của tiểu thuyết Biển và chim bói cá

3.1 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện

3.1.1 Một số giới thuyết về việc nghiên cứu cốt truyện của Biển và chim bói cá

3.1.2 Cốt truyện song hành

3.1.3 Cốt truyện lồng ghép

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

3.2.1 Xây dựng nhân vật bằng chi tiết trào lộng

3.2.2 Xây dựng nhân vật bằng sử dụng yếu tố tình dục

3.2.3 Xây dựng nhân vật bằng gợi nhớ kí ức

3.3 Ngôn ngữ trần thuật

3.3.1 “Ngôn ngữ” đặc thù của nghề biển

3.3.2 “Ngôn ngữ” của kí ức

3.3.3 “Ngôn ngữ” mang màu sắc giễu nhại

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đến nay vẫn đang vận động vớinhững tìm tòi, khám phá Sự xuất hiện của một tác phẩm mới bao giờ cũng khiếnngười đọc, nhất là giới chuyên môn quan tâm Điều đó minh chứng cho sự ngóngđợi những thành tựu mới Nghiên cứu tiểu thuyết trong hoàn cảnh ấy là tiếp tụcgóp một cái nhìn, góp phần phát hiện những tín hiệu mới, từ đó góp phần vàoviệc khẳng định những thành tựu, diện mạo của cho tiểu thuyết

1.2 Bùi Ngọc Tấn là một cây bút được nhiều người biết đến không phảichỉ vì cuộc đời ông lận đận, có phần bởi nguyên nhân dính líu đến những án vănchương, mà bởi ông có một số tác phẩm để lại ấn tượng khá tốt trong lòng bạnđọc Nghiên cứu Bùi Ngọc Tấn là góp phần làm rõ thêm chân dung tác phẩm tácgiả này

1.3 Biển và chim bói cá là tiểu thuyết được viết sau nhiều năm dừng bút

của Bùi Ngọc Tấn Đây không phải là một tác phẩm mang đến cái hay, cái lạbằng những chi tiết gây shock, bằng những tìm tòi sôi nổi của tiểu thuyết hiệnđại, nhưng là một tiểu thuyết có giá trị, có nét riêng không thể lẫn trong nền tiểu

thuyết Việt Nam đương đại Nghiên cứu Biển và chim bói cá là góp phần nào đó

cho vấn đề cách viết tiểu thuyết

2 Lịch sử vấn đề

Biển và chim bói cá là tiểu thuyết được Bùi Ngọc Tấn công bố Sau 20 năm ngừng bút (nếu không tính Chuyện kể năm 2000 hiện nay bị cấm lưu hành).

Tác phẩm đánh dấu sự xuất hiện trở lạin của nhà văn ở thể loại tự sự cỡ lớn này,

và ngay từ khi mới xuất hiện thì nó đã được một số bạn đọc chủ ý

Trong bài viết Sum suê và khúc khích, Nguyễn Xuân Khánh quan tâm

nghiên cứu trên nhiều bình diện và khía cạnh khác nhau như: chi tiết, ngôn ngữ,

Trang 4

cốt truyện, tính hư cấu và cả bản chất của xã hội và con người trong tác phẩm.

Tác giả của bài viết chú ý đến Biển và chim bói cá trước hết ở việc miêu tả chi

tiết Ông nhìn nhận đây như là một điểm mạnh của người viết Theo đó, BùiNgọc Tấn là người nắm bắt chi tiết rất giỏi Tác giả đã tung sự ê hề ấy ra trướcmắt người đọc Sự ê hề ấy sẽ trở thành nỗi ám ảnh Đó là một thủ pháp tiểuthuyết hiện đại Sự sinh động hấp dẫn của cuốn sách là ở chỗ ấy Nguyễn XuânKhánh cũng đánh giá cao biệt tài khiến Bùi Ngọc Tấn làm cho văn ông có nétriêng: tếu táo, hài hước Cái đó hợp với môi trường ông miêu tả Thế giới laođộng, nhất là người lao động biển, thường ưa cách nói toạc, nói thẳng, nói trắngtrợn, lắm khi rất tục tĩu Cái ngôn ngữ thô tháp, suồng sã ấy đầy rẫy trong sáchcủa tác giả Điều đáng lưu tâm là tác giả đã đề cập đến một yếu tố tương đối phổbiến trong tiểu thuyết đó là vấn đề cốt truyện Cốt truyện theo Nguyễn Xuân

Khánh ở đây bị phá vỡ, nó lỏng lẻo Trong khi khám phá nghệ thuật của Biển và chim bói cá Nguyễn Xuân Khánh thấy rằng tác phẩm có sự hư cấu nhiều “Theo

ông thế giới hư cấu trong tác phẩm chủ yếu là Bùi Ngọc Tấn đã sử dụng nhữngkinh nghiệm của đời ông lăn lộn ở đất Hải Phòng Chỉ riêng việc lựa chọn cácchi tiết cả đời ấy cái nào bỏ, cái nào dùng, rồi sắp xếp sao cho có nghệ thuật.Điều ấy cũng là hư cấu theo nghĩa rộng” [553] Tác giả không dừng lại ở việcnghiên cứu nghệ thuật mà còn đào sâu vào phản ánh xã hội với những ung nhọt:bệnh thành tích, bệnh tủ kính, bệnh giáo điều rồi cả cách dùng người tài, ngườitrí thức… Đây là bài nghiên cứu có tính chất khá toàn diện và sâu sắc về nội

dung và nghệ thuật tiểu thuyết Biển và chim bói cá.

Dương Tường trong bài viết Biển và chim bói cá đã đề cập đến tính dứt

khoát phi tuyến tính của cấu trúc Ông cho rằng tác phẩm không có cốt truyệncũng chẳng có nhân vật chính Trong bài viết này ông đã khái quát một bức tranh

xã hội trong tác phẩm “Cuốn tiểu thuyết khoảng 500 trang bày ra hỗn độn, tungtãi những mẩu đời vụn của những người làm công ăn lương cố sống cố chết ngoingóp trong nguy cơ đắm tàu Những câu chuyện kì cục khiến người ta vừa phì

Trang 5

cười vừa muốn khóc Những con người cùn mằn tội nghiệp - nhân viên vănphòng, cạo giấy, thủy thủ…Một chồng chất hỗn độn những nhân vật tuy khắchọa sắc nét, đôi khi nổi bật như một tác phẩm điêu khắc, nhưng hòa trộn thànhmột khối vô dạng hình, qua đó lấp ló sự suy tàn không tránh khỏi của hệ thống”[583] Và ông cho rằng tác phẩm là một sử thi của sự tan rã Đây là bài nghiêncứu mang tính chất định hướng, mở đầu trong việc tiếp cận và nghiên cứu tiểu

thuyết Biển và chim bói cá.

Khánh Phương trong bài viết “Cái hài hước, giễu nhại trong Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn” đã dành một số trang viết tập trung vào nghiên cứu cái hài hước và giễu nhại trong tác phẩm Ông cho rằng Biển và chim bói cá vốn

không phải là tiểu thuyết hoạt kê Vì vậy khi xem xét lối biểu đạt hài hước khôngcần thiết phải áp đặt những tiêu chí của thể loại hoạt kê, mà hợp lý hơn là tìmhiểu những biểu hiện, thành công sáng tạo của nó trong lối thể hiện đặc sắc củatoàn bộ tác phẩm Khi nói về cái hài hước trong tác phẩm, ông cho rằng BùiNgọc Tấn đã cố tình xóa đi nhân vật trung tâm Đây là một dụng công thi phápchứ không đơn thuần là vấn đề nội dung Ông đã chỉ ra những biểu hiện của cáihài hước trong tác phẩm đó là: tính chất vui nhộn, cái thậm xưng, dị hợm đếnmức gây cười sảng khoái của ngôn ngữ dân gian Thủ pháp dùng nghịch lý, cáibất ngờ để tạo nên tính hài hước đi liền với giễu nhại, là lối xây dựng nhân vậtchính yếu của tác phẩm Ông cho rằng “Cái hài đóng một vai trò linh hoạt vàquan trọng Trong rừng rừng chi tiết, nhấp nhô những nhóm tỏ, nhóm mờ, cái hàihước của Bùi Ngọc Tấn giúp xác định nhân vật mang tính chất phê phán đếnđâu, cái hài trở thành phương tiện để khắc họa cái bi, nhiều lúc bi hài đồng thờiđược hiển lộ trên cơ sở cái nghịch lý, cái bất ngờ, đồng nhất với nhau trở nênkhó phân định ranh giới” [569]

Cũng theo tác giả Khánh Phương “Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn

là trường hợp hiếm gặp, khi tiếng cười cân bằng và ngang hàng với cảm hứng bi

Trang 6

thương” [573] Có thể nói rằng Khánh Phương là người có công khai mở và đi

sâu vào giọng điệu và ngôn ngữ trong tác phẩm Biển và chim bói cá.

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trong một bài viết trên mạng[http://evan.vnexpress.net/news/doi-song-van-nghe/2009] nhận xét: “Đây là một

đề tài khó viết, nhưng đọc vẫn thấy hấp dẫn, bởi nhà văn đã có khoảng thời gian

đủ lâu để trải nghiệm, có những nguyên mẫu còn hay hơn cả hư cấu” “Với ưuthế của người dày dặn vốn sống, Bùi Ngọc Tấn còn rất tinh tế khi thể hiện cáinghèo, cái khổ khiến con người ta hèn đi của thời đại bấy giờ Nhưng cái vốnsống phong phú, tràn trề ấy, lúc này lúc kia khiến nhà văn rối trí Chi tiết quánhiều khiến nhà văn rối rắm, khó đọc, khó nắm bắt” Phạm Xuân Nguyên đãnhấn mạnh tính chân thực trong ngòi bút của Bùi Ngọc Tấn và sự hạn chế khiông sử dụng quá nhiều chi tiết trong tác phẩm Đây là bài nghiên cứu mang tính

chất định hướng, mở đầu trong việc tiếp cận và nghiên cứu tiểu thuyết Biển và chim bói cá.

Khác với Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Thanh Sơn lại cho rằng: “chi tiếtrất quan trọng trong tiểu thuyết Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổchức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh chưa hẳn là một thànhcông Nguyễn Thanh Sơn nhận xét sự ngồn ngộn chi tiết khiến độc giả rất khóđọc, rất mệt để đọc đến dòng cuối cùng” [http://evan.vnexpress.net/news/doi-song-van-nghe/2009]

Ngoài những đánh giá, những bài viết trên đây, một số tờ báo cũng đã

đđăng tải nhiều ý kiến đánh giá, nhận xét về Biển và chim bói cá.

Báo lao động viết: “Câu chuyện là kết tinh vốn sống của nhà văn BùiNgọc Tấn trong suốt hai mươi năm chứng kiến những chìm nổi, ngang trái củacuộc sống và con người trong một đơn vị quốc doanh đánh cá lừng danh và cũnglắm truân chuyên”

Trang 7

“Khắc họa nhân vật chủ yếu trên phương diện cuộc sống riêng tư, BùiNgọc Tấn, qua đó tái hiện thành công diện mạo tinh thần của một thế hệ, mộtthời đại với những bi kịch của lòng tốt, sự chân thiện chất phác, những khát vọngđẹp đẽ trước hiện thực tàn nhẫn và lạnh lùng, vượt xa khỏi sự hình dung vềnhững quy phạm luân lý và ranh giới tình người Bên cạnh mạch truyện được

trần thuật khách quan, Biển và chim bói cá còn tồn tại một mạch truyện song

song, đó là những dòng nhật ký về chuyến đi biển đầu tiên của cậu bé Ngô XuânPhong” [77] Đánh giá này nhấn mạnh đến việc khắc họa nhân vật và mạchtruyện tác phẩm Tuy không mới và không có những phát hiện mới mẻ gì vềnghệ thuật nhưng nhìn một cách khái quát đánh giá đã góp phần nhìn nhận lạimột hành trình sáng tạo đầy gian lao, thử thách của Bùi Ngọc Tấn

Báo Hà Nội mới viết: “Thời gian phản ánh của tiểu thuyết vào quãngnhững năm tám mươi, còn "nhân vật" là một quốc doanh đánh cá trên biển Nóithế là vì ở tuổi ngoài 70, Bùi Ngọc Tấn còn rất chịu làm mới mình khi sử dụngnhiều người kể, thời gian không nhất thiết tuyến tính, cũng không đi theo tiêu chíxây dựng nhân vật” [78] Đánh giá này chỉ mới nêu lên một cách sơ lược vềnghệ thuật kể chuyện cũng như về thời gian được sử dụng trong tác phẩm vàthực sự chưa đem lại một cái nhìn mới mẻ về nghệ thuật của tiểu thuyết này

Nhìn chung những đánh giá của các tác giả đối với tác phẩm này vẫn chưa

thực sự đầy đủ và việc nghiên cứu tiểu thuyết Biển và chim bói cá vẫn còn nhiều

khoảng trống

Báo Hà Nội mới viết: “Thời gian phản ánh của tiểu thuyết vào quãng

những năm tám mươi, còn "nhân vật" là một quốc doanh đánh cá trên biển Nóithế là vì ở tuổi ngoài 70, Bùi Ngọc Tấn còn rất chịu làm mới mình khi sử dụngnhiều người kể, thời gian không nhất thiết tuyến tính, cũng không đi theo tiêu chíxây dựng nhân vật” [http://www.baomoi.com/Bien-va-chim-boi-ca]

Trang 8

Đánh giá này chỉ mới nêu lên một cách sơ lược về nghệ thuật kể chuyệncũng như về thời gian được sử dụng trong tác phẩm và thực sự chưa đem lại mộtcái nhìn mới mẻ về nghệ thuật của tiểu thuyết này

Nhìn chung những đánh giá của các tác giả đối với tác phẩm này vẫn chưa

thực sự đầy đủ và việc nghiên cứu tiểu thuyết Biển và chim bói cá vẫn còn nhiều

khoảng trống Tuy nhiên, tất cả những ý kiến ấy đều sẽ là gợi ý quý báu chochúng tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này

3 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm

tiểu thuyết Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn.

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu sự xuất hiện của Biển và chim bói cá trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại

Tìm hiểu những cảm hứng cơ bản của Biển và chim bói cá.

Tìm hiểu nghệ thuật của tiểu thuyết Biển và chim bói cá.

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu cơ bản:Phương pháp lịch sử - xã hội, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích

6 Đóng góp của đề tài

Nghiên cứu một cách tương đối hệ thống một số đặc điểm tiểu thuyết

Biển và chim bói cá.

7 Cấu trúc luận văn

Trang 9

Tương ứng với nhiệm vụ, mục đích nghiên cứu được đặt ra, ngoài phần

mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3chương:

Chương 1: Sự xuất hiện của Biển và chim bói cá trong tiểu thuyết Việt

Nam đương đại

Chương 2: Những cảm hứng cơ bản trong Biển và chim bói cá của Bùi

Ngọc Tấn

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật Biển và chim bói cá

Trang 10

Chương 1

SỰ XUẤT HIỆN CỦA BIỂN VÀ CHIM BÓI CÁ

TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Mấy vấn đề tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết (tiếng pháp: Roman, Tiếng anh: novel, fiction) theo Từ điển thuật ngữ văn học là “tác phẩm tự sự cỡ lớn” có khả năng phản ánh hiện thực đời

sống ở mọi giới hạn không và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận củanhiều cuộc đời, những bức tranh của của thiên nhiên, đạo đức của xã hội, miêu tảcác điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [Từ điển thuật

ngữ văn học;328] 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân cho rằng, tiểu

thuyết “là tác phẩm tự sự, trong đó trần thuật tập trung vào số phận một cá nhântrong qua trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật ở đây được triểnkhai trong không gian thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt “cơ cấu”của nhân cách Belinski gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư” do chỗ nó “miêu tảnhững tình cảm, dục vọng và biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâmcủa con người”[Lại nguyên Ân, 327]

Tuy là trình bày đời sống cá nhân và đời sống xã hội như những tố chất cótính độc lập tương đối, không làm cạn kiệt được nhau, không nuốt được nhau,nhưng tiểu thuyết bao giờ cũng thông qua câu chuyện số phận cá nhân để mangđến một ý nghĩa khái quát chung, ý nghĩa bản thể

Với tư cách là một thể loại của văn học châu Âu, tiểu thuyết đã ra đời từthời cổ đại trong văn học Hi La Đến thời trung đại, xu hướng tiểu thuyết bọc lộ

rõ nhất trong các sáng tác thuộc thể tài tiểu thuyết hiệp sĩ Tiểu thuyết đặc biệtphát triển với nhiều tìm tòi sáng tạo bắt đầu từ thời kì Phục Hưng Nhưng, đểvươn đến độ hoàn thiện với tinh thần “cổ điển”ở quy mô thế giới, người ta phảiđợi đến thế kỉ XIX với các sáng tác của Stendhal, Balzac, Flaubert, Zola

Trang 11

(Pháp),Dickens, Thackeray (Anh)… với việc hướng tiểu thuyết vào việc phântích, nhận thức, cắt nghĩa về con người xã hội, tìm tòi tính quy luật xã hội, tinhthần, thậm chí cả quy luật tâm sinh lí Văn học Nga, sau khi tiếp xúc với văn họcchâu Âu và đạt ngang trình độ phát triển của các nền văn học châu Âu, đã cónhững đóng góp lớn vào thành tựu của thể loại tiểu thuyết, trong đó L.Tolstoiđược xem như lần đầu tiên tái hiện được “biện chứng tâm hồn”, mô tả đời sốngbên trong nhân vật như một quá trình tâm lí nội tại, tự vận động; đồng thời sựtrần thuật ở ông lại đạt tới chiều rộng và bao quát mang tính sử thi; Dostoievskiđem vào tiểu thuyết những cách tân lớn lao: con người đời tư được đặt với tươngquan với cả thế giới, sự chuyển dịch từ bối cảnh nhỏ hẹp của đời sống riêng tư ởmột thời nhất định đến những cảnh khái quát mang tính toàn nhân loại với những

“vấn đề cuối cùng” của tồn tại và ý thức; ngôn từ tự bạch của nhân vật chứađựng sự hòa giọng với ngôn từ về nhân thế; trải nghiệm riêng tư hòa với suy tư

về thế giới Tiểu thuyết của Dostoievski là tiểu thuyết đối thoại - sự đối thoạigiữa những giọng nói ngang quyền và ngang giá trị, chứa đựng những “sự thật”không bác bỏ được nhau Nhìn chung, tiểu thuyết hiện thực thế kỉ XIX, đã địnhhình cơ bản với việc xây dựng nhân vật dựa trên nguyên tắc điển hình hóa, phảnánh hiện thực bằng chính hình thức bản thân hiện thực, nhìn sự vật trong mốiquan hệ ràng buộc và tất yếu dưới ánh sáng của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, trong nguyên lí của chủ thuyết vận động và chủ thuyếttiến hóa… Tiểu thuyết hiện thực phê phán bộc lộ rõ khả năng mô tả chân thựccuộc sống theo quan điểm lịch sử với một bức tranh khái quát xã hội rộng lớn vẽlên những quan hệ đấu tranh phức tạp giữa những lực lượng xã hội khác nhau

Bước sang thế kỉ XX, cục diện thế giới có nhiều biến động dữ dội, đặcbiệt là những sự kiện lịch sử quan trọng như cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 -

1932, hai cuộc chiến tranh quy mô cướp đi sinh mệnh của 90 triệu người và làmthương phế 60 triệu người khác; sự phân chia thế giới thành hai cực với cuộcchiến tranh lạnh kéo dài hàng thập kỉ đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần

Trang 12

của con người Thêm vào đó là sự xuất hiện và phổ biến của triết học nhân sinhvới tác động mạnh mẽ của nó đến đời sống tinh thần nhân loại, nhất là phân tâmhọc và triết học hiện sinh Về khoa học tự nhiên - kĩ thuật, thuyết tương đối củaEnsten, máy ghi âm và máy bay lên thẳng là những phát minh khiến con người

có những bước đột biến về nhận thức thế giới Sự phát triển của nền kinh tế - kĩthuật một mặt đem lại năng suất lao động và thỏa mãn hơn nhu cầu đời sống vậtchất của con người, nhưng mặt khác, nó trở thành lực lượng nô dịch, trói buộccon người Để quản lí nền kinh tế - xã hội trong tình hình đó, các bộ máy xã hộitoàn trị ra đời và con người trở nên bị áp bức trên tất cả mọi mặt Điều kiện xãhội ấy đặt ra yêu cầu phản ánh con người và trạng thái tồn tại của xã hội theochiều sâu, nó đòi hỏi văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng tìm ra một lốikhái quát hiện thực mới Và tiểu thuyết hiện đại ra đồ để đáp ứng đòi hỏi đó

Tiểu thuyết hiện đại có thể bắt đầu từ Joyce, Prouds… nhưng được đánh

dấu sự trưởng thành từ F.Kafka Với sự xuất hiện của Lâu đài, Vụ án, Nước Mĩ… tiểu thuyết đã thoát khỏi mô hình cổ điển được xây dựng ở thế kỉ XIX, nó

khước từ lối phản ánh hiện thực theo mô típ điển hình, xóa bỏ tính chất tiêu biểu,đại diện của nhân vật, nó thủ tiêu cốt truyện… và đặc biệt việc mở ra những bútpháp, thủ pháp nghệ thuật mới khiến tiểu thuyết ngày càng trở nên đa dạng, đasắc, đáp ứng nhu cầu khái quát hiện thực trong thời đại mới Tiếp sau Kafka, ta

sẽ thấy những nhà tiểu thuyết xuất sắc như Faulkner, Hemingway, Camus, CaoHành Kiện… Các tác giả này đã mang đến cho tiểu thuyết một luồng sinh khímới, bằng việc sử dụng các kĩ thuật hiện đại để miêu tả nỗi cô đơn, lưu đày củacon người trong xã hội vô thường

Với những gì đã nói trên, có thể khẳng định, như ý của Bakhtin, tiểuthuyết luôn là một thể loại chưa hoàn thành Và, trong diễn trình của nó, cònchưa có thể tiên liệu được đâu sẽ là những cách tân tiếp theo của thể loại này

1.1.2 Một số tìm tòi trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trang 13

Ở Việt Nam, từ sau 1986, với công cuộc đổi mới toàn diện do Đảng cộngsản khởi xướng, văn học cũng chuyển mình mạnh mẽ với những tìm tòi đổi mới.Trên địa hạt tiểu thuyết, người ta cũng thấy những khám phá mới về nội dung và

cả hình thức nghệ thuật Tiểu thuyết Việt Nam đã du nhập những yếu tố kĩ thuậtmới của nền tiểu thuyết phương Tây hiện đại như việc thủ tiêu cốt truyện, đi sâuvào tâm lí nhân vật với thủ pháp dòng kí ức, sử dụng các yếu tố kì ảo, huyềnthoại hiện đại… Có thể thấy những đổi mới, tìm tòi diễn ra hết sức sôi nổi, vàđôi khi, khá ồn ào

Trong những năm gần đây tiểu thuyết ngày càng khẳng định được vị thếcủa mình trên văn đàn bởi sự nỗ lực đổi mới trên nhiều phương diện Nhìn lạimột chặng đường tiểu thuyết đã đi qua cho thấy bản thân tiểu thuyết đã có nhữngbước tiến dài về cả chất lượng lẫn số lượng Bên cạnh những cây bút già tay, đầykinh nghiệm với lối viết truyền thống, hàng loạt cây bút trẻ đã và đang tìm tòi,đổi mới trên một số mặt cơ bản Mỗi cây bút tiểu thuyết là mỗi dòng mạch mới,mỗi nguồn cảm xúc mới cho độc giả Chưa bao giờ những quan niệm mới về vănchương, về hiện thực và con người, về đổi mới tư duy nghệ thuật lại cởi mở, dânchủ như lúc này

Từ năm 1975 với tác phẩm Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải) Đến 1986

và những năm tiếp sau tiểu thuyết đã bộc lộ ưu thế của mình trên con đường dânchủ hóa nội dung nghệ thuật Tiểu thuyết giai đoạn này để lại nhiều dấu ấn khá

ấn tượng cho độc giả không chỉ về số lượng mà còn ở quan niệm nghệ thuật, ở tưtưởng Tác phẩm của họ đi tới mọi góc khuất của cuộc sống, “tiêu điểm” của họ

là hướng tới chất lượng cuộc sống, sống sao cho đúng là cuộc sống con người.Các tác giả đã không ngần ngại “bóc trần” những mặt xấu những lối sống hủ bạitrong con người Tiểu thuyết chú ý quan tâm đến mọi vấn đề, mọi phương diệncuộc sống, nó chú ý đi sâu khám phá sự bề bộn, phức tạp của cuộc sống, số phậncon người ở ý nghĩa triết học, bản thể, nó tập trung khám phá chiều sâu tâm hồn

Trang 14

con người, nó là những trăn trở, dằn vặt, suy tư về con người và cuộc sống, vềlịch sử, nó nhìn lại lịch sử, nhìn lại chiến tranh…

Một trong những điểm mới mẻ trong kĩ thuật tiểu thuyết Việt Nam sau

1986 là việc sử dụng dòng ý thức Phá vỡ trật tự thời gian thông thường, kết cấu

dòng ý thức ở Nỗi buồn chiến tranh là hệ quả của việc tạo ra một thời gian trần

thuật chỉ phụ thuộc vào thời gian tâm trạng, vào dòng tâm tư của nhân vật Kiên

Trong Nỗi buồn chiến tranh có sự đan cài giữa thời gian trần thuật và thời gian

câu chuyện xoay quanh những hồi ức, những kỉ niệm và giấc mơ của nhân vậtKiên Việc tổ chức thời gian đồng hiện theo kĩ thuật điện ảnh của tác giả nhằmsoi chiếu cặn kẽ con người hiện đại với nhiều chiều kích Chính nhờ hình thứcđồng hiện này mà Bảo Ninh có thể nối kết những chuyện thuộc về những khoảngthời gian khác nhau và vì thế rút ngắn được thời gian kể Đây là đóng góp lớncủa các nhà tiểu thuyết trong việc góp phần hiện đại hóa ngôn ngữ văn chương,thúc đẩy sự phát triển của thể loại Cốt truyện tiểu thuyết hiện đại thường lỏnglẻo, mơ hồ, co giãn, khó tóm tắt, khó kể lại Tiểu thuyết là sự đan xen tiếng nóihiện tại, quá khứ, hồi ức, giấc mơ thể hiện sự vận động không ngừng của hiện

tại Trong Chim én bay (Nguyễn Trí Huân) quá khứ đậm nhạt luôn có mặt trong hiện tại, Nỗi buồn chiến tranh tác phẩm phát triển theo dòng tâm trạng nhân vật.

Bên cạnh đó là thủ pháp lắp ghép và sự di chuyển điểm nhìn Có thể nói Ma Văn

Kháng là sáng tạo của nghệ thuật lắp ghép, trong Ngược dòng nước lũ là sự đan

xen giữa hư và thực, giữa giấc mơ và hiện tại, hiện thực và lãng mạn, ngợi ca vàphê phán Tiểu thuyết có thể chứa trong nó những hình thức: nhật ký, chuyện kể,thơ, thư từ… Mỗi nhà văn đều tìm cho mình một lối viết sao cho đáp ứng thịhiếu của người đọc, thể hiện đúng ý đồ nghệ thuật của mỗi người Bùi Ngọc Tấn

xây dựng Biển và chim bói cá dựa trên hình thức ghi chép hay nhật ký của cậu

bé tên Phong Cậu thiếu niên đã theo cha là thuyền trưởng đi một chuyến dàingày trên biển Đó là những ghi chép của một tâm hồn rất trong sáng, ngây thơ,ngưỡng mộ biển cả và ngưỡng mộ những con người lao động trên biển

Trang 15

Tiểu thuyết luôn coi con người là nhân vật trung tâm, hướng tới sự quantâm con người ở nhiều khía cạnh, quan tâm tới số phận, mâu thuẫn giữa bi kịch

và khát vọng, giữa nhân bản và phi nhân bản Chưa bao giờ con người với tưcách là một cái tôi, một con người cá thể lại được văn học quan tâm nhiều nhưvậy Con người được hiểu ở đây với nghĩa tự nhiên nhất, bản chất nhất, là con

người đời thường gắn với hàng trăm số phận: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thoạt kỳ thủy (Nguyễn Bình Phương), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Dòng sông mía (Đào Thắng)…

Tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới không chỉ đi sâu vào số phận con người

mà đề cập tới khát vọng sống, hạnh phúc cá nhân, về tình yêu đôi lứa Trong tìnhyêu tiểu thuyết đi sâu vào địa hạt nhạy cảm của con người đó là tính dục “Tínhdục, tình dục không chỉ thể hiện một cách mờ nhạt mà nó trở thành một đề tàinóng hổi, một cơn lốc xoáy trong tiểu thuyết” Các tác phẩm đi đầu trong lĩnh

vực này cần phải kể đến: Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)…

Khám phá đi sâu vào nội tâm nhân vật là một việc không mấy dễ dàng.Tiểu thuyết đã tìm cho mình hướng đi mới để thể hiện khía cạnh tâm linh con

người bằng việc sử dụng những giấc mơ, cõi vô thức: Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)…Con

người trong tiểu thuyết là con người “nếm trải”, con người sống để đấu tranh,luôn đối diện với những khó khăn, ẩn sâu trong họ là sự giằng xé nội tâm, dằn

vặt đau khổ: Nhân vật Kiên (Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh), Sài (Thời xa vắng - Lê Lựu), Lão Khổ (Lão Khổ - Tạ Duy Anh), Khuê (Dòng sông mía - Đào

Thắng)…

Tiểu thuyết đề cập tới con người ở mọi góc độ, khai thác mọi khía cạnh,

đi sâu vào những điều thầm kín thiêng liêng, xoáy sâu vào những bi kịch mấtmát Họ là những con người thật, như những con người thật, luôn có những ước

Trang 16

mơ hoài bão, vươn tới những gì là chân - thiện - mĩ Đó là nét nổi bật mang ýnghĩa nhân sinh, tạo nên tiếng nói đa thanh trong tiểu thuyết.

Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại thì ngôn ngữ độc thoại nội tâm cũng đóngvai trò chủ yếu trong phương thức trần thuật của tiểu thuyết thời kì đổi mới.Ngôn ngữ độc thoại thể hiện trực tiếp quá trình tâm lý nội tâm, mô phỏng cảmxúc suy nghĩ của con người Điều này xuất phát từ tư duy hướng vào đời tư, bámvào hiện thực đời sống

Nhưng, trong sự sôi nổi, ồn ào đó, chúng ta vẫn thấy một Bùi Ngọc Tấn

lặng lẽ suy ngẫm, lặng lẽ viết Biển và chim bói cá dường như được viết ra trong trạng thái trầm lắng, trong sự tự nghiệm của tác giả Biển và chim bói cá, bên

cạnh những cách tân khiêm nhường, vừa để đủ khẳng định rằng tác giả khôngđứng ngoài công cuộc đổi mới văn học, vẫn giữ được lối viết cổ điển Nhưngkhông vì lối viết cổ điển ấy mà gây nhàm chán, gây thất vọng cho người đọc, bởitác phẩm để lại những dấu ấn rất riêng trong lòng người đọc

1.2 Bùi Ngọc Tấn - tiểu sử và văn nghiệp

1.2.1 Tiểu sử

Bùi Ngọc Tấn sinh ngày 3-7-1934 trong một gia đình địa chủ nhỏ tại Câu

Tử, Hợp Thành, Thủy Nguyên, Hải Phòng Ngày sinh cũng không biết là ngàyTây (dương lịch) hay ngày ta (âm lịch) Bố mẹ ông có 4 con trai, ông là út Anh

cả ông (Bùi Ngọc Châu) và anh thứ ba ông (Bùi Ngọc Chương) đã mất Còn lạianh thứ hai (Bùi Đức Thành) và ông

Như nhiều gia đình địa chủ và tư sản cũng như nhân dân ta hồi năm 1945,

bố mẹ ông, và các anh em đến với cách mạng với lòng khát khao độc lập tự do

Bố ông làm chủ tịch xã khi cách mạng thành công và làm chủ tịch mặt trận LiênViệt huyện Thủy Nguyên khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ Năm 1947 ThủyNguyên bị quân Pháp chiếm đóng, ông theo bố mẹ tản cư lên Bắc Giang, TháiNguyên và tiếp tục học văn hóa Ông học giỏi, thi tiểu học, đỗ đầu liên khu Việt

Trang 17

Bắc Phần thưởng là một chiếc cặp da do thầy Hoàng Ngọc Phách, nhà tiểuthuyết đầu tiên ở nước ta, tác giả Tố Tâm, giám đốc sở Giáo dục Liên khu tặng.

Suốt thời gian học trung học, ông đều nhất lớp, được học bổng toàn phần.Năm 1954, ông vào đội Thanh niên xung phong tiếp quản Thủ Đô

Cuối năm 1954, hết đợt tiếp quản ông từ chối đi học kỹ thuật ở nướcngoài, về báo Tiền Phong (Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam)làm phóng viên… Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954 Bùi Ngọc Tấn có sángtác in ở các nhà xuất bản, Văn học, Lao động, Thanh niên, Phổ thông… khi mớingoài hai mươi tuổi Trước khi viết văn, ông là phóng viên báo Tiền Phong ở HàNội, viết với bút danh Tân Sắc

Cuối năm 1959 ông chuyển về báo Hải Phòng, thành phố quê hương,thâm nhập công nông để “viết tác phẩm của đời mình” Tháng 11 năm 1968 ông

bị bắt với tội danh “Tuyên truyền phản cách mạng” và bị đưa đi tập trung cải tạođến tháng 4 năm 1973 thì được tha Bùi Ngọc Tấn im lặng hơn 20 năm từ 1968đến 1989

Thất nghiệp 2 năm, đến tháng 5-1975, nhờ sự giúp đỡ của ông Hoàng HữuNhân, tổng cục trưởng Tổng cục Thủy Sản, nguyên Bí thư Thành ủy thành phốHải Phòng, ông được đi làm nhân viên văn phòng Quốc doanh đánh cá Hạ Long

và nghỉ hưu từ tháng 5 - 1995 cho tới hôm nay Trong thời gian thất nghiệp ông

đã trải qua các nghề: bốc vác, thợ sắt, đi buôn, kéo xe bò và cả viết chui đểkiếm sống

Đọc và biết về tiểu sử của Bùi Ngọc Tấn độc giả hiểu hơn về con ngườiông và thấy được chiều sâu ảnh hưởng của cuộc đời đến sự nghiệp văn chươngông Sẵn có lòng đam mê đọc thơ văn từ thuở nhỏ, lớn lên lại tham gia viết báo,viết văn từ rất sớm, đó là một nền tảng vun đắp cho những thành công khôngnhỏ sau này của Bùi Ngọc Tấn

Cuộc đời trải qua 20 năm bị tù đày với muôn vàn khó khăn, bầm dập đãgiúp Bùi Ngọc Tấn có được những trải nghiệm đau thương, và điều đó giúp ông

Trang 18

hiểu hơn về những con người nghèo khổ dưới đáy xã hội, hiểu hơn về những góc

khuất và hạn chế của xã hội Tập Chuyện kể năm 2000 (hiện vẫn bị cấm lưu hành) và Người chăn kiến ra đời từ những trải nghiệm ấy.

Những năm tháng sống và làm việc tại quốc doanh đánh cá Hạ Long vàchứng kiến những đổi thay tại quốc doanh này đã là một cơ sở để ông viết nên

tiểu thuyết Biển và chim bói cá - một tác phẩm có giá trị về nội dung và hình

thức Tác phẩm đã phản ánh được những góc khuất của xã hội và đã có nhữngđóng góp nhất định về mặt hình thức Tác phẩm tuy không đồ sộ về số lượngtrang nhưng với những đóng góp đó đã khẳng định hơn vị trí của Bùi Ngọc Tấnsau 20 năm ngừng bút

Trải qua biết bao vùi dập đắng cay của số mệnh nhưng Bùi Ngọc Tấnkhông hề chua chát mà chỉ thêm bao dung, lạc quan Chính sự bao dung và lạcquan đó đã là động lực để ông vượt lên tất cả để tiếp tục viết và cống hiến chonghề văn

1.2.2 Hành trình sáng tạo

Sau khi ở rừng núi chiến khu Việt Bắc về tiếp quản thủ đô Hà Nội, BùiNgọc Tấn với bút danh Tân Sắc về làm việc ở báo Tiền Phong Thời kỳ này ôngđược đi nhiều xuống nông thôn, công trường, xí nghiệp để viết những bài báophản ánh công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc mới giải phóng

Nhưng Bùi Ngọc Tấn vẫn mơ ước được trở về thành phố quê hương đểsống và viết về đất và người nơi ông sinh ra, hy vọng có “một tác phẩm của đờimình”

Ngoài viết báo, phóng sự, bút ký làm trường ca phản ánh cuộc chiến đấuanh dũng của quân và dân thành phố chống chiến tranh phá hoại của đế quốc

Mỹ, ông còn viết sách

Trang 19

Các tác phẩm: Mùa cưới, Ngày và đêm trên Vịnh Bái Tử Long, Đêm tháng 10, Người gác đèn cửa Nam Triệu, Nhật ký xi măng, Nhằm thẳng quân thù mà bắn… lần lượt đến với độc giả

Bùi Ngọc Tấn bắt đầu viết văn từ năm 1954 khi ông tròn 20 tuổi Cùnglớp với Lê Bầu, Lê Mạc Lân, Vũ Thư Hiên, Nguyên Bình, Vũ Bão Truyện

ngắn đầu tay gửi dự thi báo Văn Nghệ - Chị Trúc - được Tô Hoài khen hay,

nhưng không được in và cũng không được giải vì nói quá nhiền đến những mấtmát của chiến tranh

Vào làm phóng viên báo Tiền phong, việc kỳ cục đầu tiên ông nhận thấy

là người ta cấm nhà báo viết văn, muốn viết phải chui, viết văn chui, ký tên khác.Thế hệ ông, nhiều người bạn đã mắc vòng hệ lụy, như Bùi Minh Quốc, như VũThư Hiên, như Phù Thăng, như Vũ Bão

Cuộc đời viết văn của ông chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất: từnăm 1954 tới tháng 11-1968, nghĩa là tới khi ông bị bắt, cũng đã in được một sốtruyện ngắn, có 3 tiểu thuyết sắp sửa trình làng, 2 kịch bản phim chưa quaynhưng đã ký hợp đồng với Cục điện ảnh và đã được tạm ứng 1 phần 3 tiền nhuậnbút thì bị tịch thu (khi tác giả bị bắt) Những sáng tác này đều theo trường phái

“tụng ca”, ca ngợi con người mới cuộc sống mới, ca ngợi Đảng Cộng Sản ViệtNam, ca ngợi những người làm ra lịch sử Mười bốn năm đầu tiên, ông viết theophương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, mô tả cuộc sống dưới sự lãnh đạo củaĐảng, đang phát triển, đang đi lên, một xã hội không có bi kịch như nhà thơ TốHữu, người lãnh đạo văn nghệ Việt Nam đã khẳng định

Giai đoạn thứ hai: Từ 1990 tới nay Đây là thời gian ông viết về những người cam chịu lịch sử, về những thân phận bé nhỏ, về những người cố gắng tồn tại giữa những bánh xe của lịch sử, đặc biệt là những phận người rơi vào thảm cảnh tù đầy, những người chịu sự khinh bỉ của xã hội

Trang 20

Năm 1990 Bùi Ngọc Tấn bắt đầu viết trở lại sau khi đã ngừng viết 20

năm Tập sách đầu tiên được in là tập hồi ký "Một thời để mất" xuất bản năm

1995, viết về Nguyên Hồng và thế hệ viết văn của ông

Từ bấy đến nay, Bùi Ngọc Tấn đã xuất bản các tập sách sau đây: Nguyên Hồng thời đã mất (1993), Một thời để mất (1995), Những người rách việc (truyện ngắn - 1996), Một ngày dài đằng đẵng (truyện ngắn - 1999), Chuyện kể năm 2000 (tiểu thuyết - 2000), Rừng xưa xanh lá (Chân dung văn học - 2004), Biển và chim bói cá (tiểu thuyết - 2009), Người chăn kiến (tuyển truyện ngắn - 2010) Các tập này đều đã tái bản nhiều lần Hiện chỉ còn hai tập Biển và chim bói cá (in lần thứ 2) và tập Người chăn kiến đang bày bán ở các hiệu sách trong nước Việt Nam Ngoài ra, trong Chuyện Kể Năm 2000, tác giả nói đến hơn ngàn trang pelure bản thảo chữ nhỏ li ti, gồm những tác phẩm: Hải đăng, tiểu thuyết: Hoa cau, truyện dài: Làn sóng thứ nhất, tiểu thuyết: Những người đang sống, kịch bản phim: Những chuyện trên một vùng cửa biển, truyện ngắn: Ðầu cầu,

trường ca

Ngoài những cuốn đã in, Bùi Ngọc Tấn còn tích cóp vốn sống, kỷ niệm vớiđất người thành phố nơi ông sống Ông hăm hở trút lên ngọn bút mình trong hơnngàn trang bản thảo với những xúc động, tâm huyết hào hứng và hy vọng…

Ông bị một tai nạn bất ngờ và phải ngừng bút hơn 20 năm, đó là quãng thờigian vô cùng khó khăn của Bùi Ngọc Tấn Trước một thực tế muôn vàn khắcnghiệt, không được viết lên những gì mình muốn viết nhưng trong tâm hồn của ôngluôn khao khát vượt qua để trải lòng mình với những trang viết Một con người đãtừng sống trong gian khổ, trải qua biết bao bầm dập của cuộc sống thì càng sángngời trong thử thách Với Bùi Ngọc Tấn nghề văn giống như một cái nghiệp không

dễ gì chối bỏ Nó cứ thôi thúc ông cầm bút và viết

Viết về bạn bè là một đề tài được Bùi Ngọc Tấn hết sức quan tâm.Nguyên Hồng là một người anh của nghiệp văn, một người bạn vong niên, cuốn

Một thời để mất là một trong những hồi ức xuất sắc nhất viết về nhà văn lớn

Trang 21

Nguyên Hồng Có thể nói đây là tác phẩm xuât sắc nhất viết về nhà văn NguyênHồng và cũng là thành công của Bùi Ngọc Tấn sau 20 năm ngừng bút

Bên cạnh những tác phẩm dài hơi, Bùi Ngọc Tấn còn sáng tác một loạt

truyện ngắn: Người chăn kiến, Cún, Người ở cực bên kia, Trung sĩ, Đồng hương… Hầu hết các tác phẩm của ông viết về những con người bình thường với

ức, chân dung, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhân vật chính trên các trang văn của BùiNgọc Tấn là chính ông và những người bạn cùng thế hệ được soi chiếu từ hai phíacủa một khoảng thời gian đã thành vạch phân cách đời người đời văn: 5 năm (1968 -1973) Con dấu đóng giáp lai văn nghiệp Bùi Ngọc Tấn mang số hiệu CR 880

Nhìn một cách khái quát đóng góp của Bùi Ngọc Tấn cho nền văn học ViệtNam có ý nghĩa lớn phải kể đến các tiểu thuyết Sự lựa chọn thể tiểu thuyết nơi BùiNgọc Tấn, là một sự lựa chọn độc sáng Với tiểu thuyết, nhà văn có thể tung hoành,sống nhiều cái tôi, đứng trên muôn vàn khía cạnh để rọi những lăng kính khác vàocuộc đời Những đóng góp và thành công của Bùi Ngọc Tấn đã minh chứng chonhững năm tháng quật quã trải nghiệm đầy bản lĩnh, trước những oan nghiệt của cáinghiệp văn chương: buồn vui và cay đắng và càng làm cho Bùi Ngọc Tấn thêm baodung, độ lượng và lạc quan

Trang 22

1.2.3 Quan niệm về nghệ thuật

Bùi Ngọc Tấn bắt đầu sự nghiệp bằng thể loại truyện ngắn và thực sự nổilên bằng tiểu thuyết Ông không phải là nhà văn hiện thực lớn, không phải là nhàviết tiểu thuyết vĩ đại, một nhà nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhưng sáng tác củaông đã vượt qua những thử thách của thời gian, của số phận, càng thử thách lạcàng ngời sáng Không có những tác phẩm với số lượng đồ sộ nhưng với hàng

loạt truyện ngắn: Cún, Người chăn kiến, Khói…và tiểu thuyết Chuyển kể năm

2000, Biển và chim bói cá…Bùi Ngọc Tấn đã làm bộc lộ được ý nghĩa hiện thực

sâu sắc, tư tưởng nhân đạo cao cả và vẻ đẹp nghệ thuật điêu luyện

Mặc dù trải qua hai mươi năm ngừng bút nhưng niềm đam mê sống vàviết vẫn không hề vơi cạn trong con người ông Cả một đời ông luôn tâm niệmmột điều “Với tôi, văn chương thuộc về những kẻ yếu, những người tầng đáy,những người chịu đựng lịch sử” “Văn chương không có chức năng lên án cóchăng chỉ nói lên thân phận con người” Những kẻ cam chịu lịch sử đó là nhữngcon người đã góp phần vào chiến thắng, bằng cuộc đời mình, bằng sự đóng gópcao quý nhất của mình đó là Tự do Tổng kết về cuộc chiến tranh không quênđược người đó Họ có quyền được chia sẻ niềm tự hào, dẫu đó là niềm tự hàonhục nhã dù họ là những con người cam chịu lịch sử Lịch sử phải viết về họ.Văn học phải viết về họ Dường như quan điểm của Bùi Ngọc Tấn trùng vớiAlbert Camus về nhà văn và nghề văn: “Theo định nghĩa, nhà văn giờ đây khôngthể phụng sự những người làm ra lịch sử, anh ta phục vụ những kẻ cam chịu lịch

sử Nếu không anh ta sẽ cô đơn và đánh mất nghệ thuật của mình Tất cả nhữngđạo quân của bạo cường với hàng triệu người cũng sẽ không cứu nổi anh ta rakhỏi sự cô đơn, ngay cả và nhất là nếu anh ta thuận tình đi đều bước với họ.Nhưng sự im lặng của một người tù không quen biết ở tận cùng thế giới, bị bỏmặc trong nhục nhằn, cũng đủ kéo nhà văn ra khỏi trạng thái lưu đầy ấy mỗi khi,giữa những đặc quyền đặc lợi của tự do, anh ta có thể vượt lên để không quên sự

im lặng đó và làm cho nó vang lên bằng những phương tiện của nghệ thuật.”

Trang 23

Chính với những suy nghĩ như vậy ông đã cầm bút viết văn trở lại sau hơn

20 năm im lặng Những con người cam chịu lịch sử trong sáng tác của ông đó là:một người có công với cách mạng bị nghi vấn, tất cả bạn bè đều xa lánh anh ta.Quấn quít trung thành với anh ta chỉ còn một con chó

Một chị gái điếm chuyên phục vụ đám ăn mày

Một anh tù bị giải đi trong một ô xà lim bịt kín trên xe com măng ca, trênmột quãng đường 30 km nhưng từ sáng đến tối mới tới nơi, cực kỳ hoang mang

vì những người áp tải thỉnh thoảng lại dừng lại để bắn chim mà anh ta không biết

vì sao

Một anh tù đi họp hội trường, gặp lại thầy cũ bạn cũ, từ dưới đáy xã hội,anh ta trở lại bậc thang học giỏi nhất lớp của mình Nhưng khi cuộc họp mặt vừatan, anh ta đã trở về vị trí “phó người” trong xã hội

Một giám đốc bị bắt oan, vào tù bị “đầu gấu” đánh đập và bắt khoả thânđứng làm Nữ thần Tự Do, khao khát được như những người khác là chăn và giữmấy con kiến trong một vòng tròn trên nền buồng giam nhưng không được “đạibàng” cho phép Chỉ đến khi ra tù ông mới có thể thực hiện khát vọng ấy: “Càitrái cửa, giám đốc rút ngăn kéo lấy ra một lọ nhỏ, trong đựng 4 con kiến, thả lũkiến vào một vòng tròn bằng phấn vẽ trên bàn Ông bẻ bánh cho chúng ăn và lấynhững các vidit (có rất nhiều - trong ngăn kéo của khách và của ông) chặn chúnglại Thỉnh thoảng ông còn đặt cả ghế lên bàn làm việc Và khoả thân trên ghế.Đứng thẳng Mắt hướng về phía xa Tay giơ cao Như nữ thần Tự Do”

Quan niệm về văn chương của Bùi Ngọc Tấn là một quan niệm hết sứctiến bộ và thấm đẫm tinh thần nhân văn Ông viết văn là để thấu hiểu và bênhvực những con người nghèo khổ, dưới đáy xã hội

Bùi Ngọc Tấn cả một đời hi sinh cho nghệ thuật, ông luôn dành mọi tâmhuyết cho đứa con tinh thần của mình Quan điểm nghệ thuật của ông cũng thểhiện giống với bản chất của con người ông Ông ghét lối viết dối trá, tránh né, lạigiả vờ táo bạo Trên tinh thần đó ông quan niệm về nghệ thuật “chỉ có viết thật,

Trang 24

thật với lòng mình Người ta không thể lảng tránh sự thật, và tôi chấp nhận” BùiNgọc Tấn viết văn trầm tĩnh và đôn hậu Hình như đây là kết quả của sự kết hợpbản tính người và trải nghiệm đời nơi ông Sau những gì đã xẩy đến với ông, nếuvăn ông có giọng cay độc, chua chát cũng là điều dễ hiểu Nhưng không! Ngay

cả sự trầm tĩnh đôn hậu ở đây cũng không hề là phải cố ý, gồng mình, tỏ vẻ Ôngđưa lại cho người đọc những dòng văn tự nhiên dung dị, khi những oan trái khổđau lặn vào sau câu chữ làm nên sức nặng, chiều sâu của những điều được viết

ra Một giọng điệu văn chương làm người đọc hiểu ông, tin ông, đồng cảm vớiông và cùng ông đồng cảm với những phận người, những kiếp bụi nhân sinh.Cao hơn chuyện văn chương là chuyện cuộc đời Bùi Ngọc Tấn là nhân vật củavăn ông và đồng thời ông cũng là tác giả của những điều ông viết ra Đó là vănchương của sự thật ( )

Một nhà văn có kinh nghiệm lâu năm, trải qua nhiều thăng trầm của cuộcsống Đi nhiều, viết nhiều nên Bùi Ngọc Tấn rất thấm thía về nghề viết văn.Theo ông nghề viết là nghề rất khó khăn và “nguy hiểm” và là “một lao độngcực nhọc” Cái cực nhọc đó thể hiện ở chổ để có một tác phẩm chống chọi đượcvới thời gian, theo ông chỉ cần nhà văn có tài, có trách nhiệm với ngòi bút củamình, hiểu sâu sắc những gì mình viết và nhất định không uốn cong ngòi bút,cũng như không ngong ngóng được in và được trao giải thưởng

Suy nghĩ về nghề văn ông viết: “Viết văn quả là đáng sợ” Điều đó đượcông cắt nghĩa như sau:

“…đó là một trò chơi nhiều khi phải trả bằng cả cuộc đời mà không đạtđược một kết quả nào, chỉ là một con số không, đó là một cuộc dấn thân, một tròchơi nguy hiểm đến tính mạng nữa Nhiều điều đáng sợ lắm, ai mắc vào khôngthể bỏ được

Với tôi, mỗi lần ngồi vào bàn viết là một lần tôi tốt hơn lên bởi lúc đó tôigạt hết mọi ưu tư phiền muộn, những thù hận nhỏ nhen và cả những sợ hãi vẫncòn trong con người mình, thanh lọc mình khỏi những vướng mắc, những ham

Trang 25

muốn của cuộc đời thường nhật, sao cho sát gần với Chân - Thiện - Mỹ để đắmmình vào những dòng chữ, một công việc tôi gọi là “dọn mình đối thoại với vôcùng”[Nguồn trích dẫn?].

Ông quan niệm nghề viết “phải hòa nhập vào cuộc sống thì anh mới cóthể viết được Phải biết vui cái vui, buồn cái buồn của cuộc đời thì anh mới cóthể cầm bút” Đó là một sự trải nghiệm, và đó cũng là một chân lý Nếu một nhàvăn mà không hòa mình vào cuộc sống, không hiểu được cuộc sống thì khôngthể viết nên một tác phẩm đích thực Suốt cuộc đời Bùi Ngọc Tấn sống như thế,sáng tác như thế với hệ thống quan điểm sáng tác nêu trên

1.3 Biển và chim bói cá - tiểu thuyết xuất sắc của Bùi Ngọc Tấn

1.3.1 Biển và chim bói cá - hồi ức của nhà văn về một quãng sống đáng nhớ

Biển và chim bói cá được sáng tác sau 20 năm ngừng bút từ 1968 đến

1989 và trải qua những bầm dập của cuộc đời, của số phận, của nghề nghiệp Làkết tinh vốn sống của nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong suốt hai mươi năm chứngkiến những chìm nổi, ngang trái của cuộc sống và con người trong một đơn vịquốc doanh đánh cá lừng danh và cũng lắm truân chuyên Tác phẩm kể lại nhữngcâu chuyện về “đêm trước giai đoạn đổi mới của một liên hiệp đánh cá biểnĐông đầy thành tích nhưng cũng lắm cơ hội tha hóa, nhiều nhân văn nhưng cũngkhông ít lưu manh Bên dưới những câu chuyện, cuộc đời là những đợt sóngngầm của một thời kỳ dữ dội và cũng đầy khắc khoải Cái không khí, tinh thầnquốc doanh đầy khẩu hiệu thi đua nhưng ẩn sau rất nhiều góc khuất: từ chuyệnbuôn lậu vài kí đá lửa từ Trung Quốc đến chuyện “khai phá” con đường nhập lậuđiện tử gia dụng, từ chuyện mua chuộc hải quan, những vụ thanh toán lẫn nhautheo luật rừng trên biển… như chuyện vừa mới xảy ra Có lẽ với sự am hiểu vốnsống của một thời kì từng là nhân viên quốc doanh đánh cá Hạ Long (1975 -1995), Bùi Ngọc Tấn muốn lật lại ký ức về một thời kỳ, một bối cảnh nhỏ đặttrong tương quan bối cảnh lớn của dân tộc, thời đại đầy biến động ngấm ngầm và

Trang 26

dữ dội mà mình đã sống qua, còn đem lại nhiều ngẫm nghĩ day dứt Bản thânnhà văn cũng thừa nhận, ngay từ những ngày đầu còn lênh đênh đánh cá trênbiển, ông đã tự nhủ, đây sẽ là mảnh đất phì nhiêu để ông canh tác “Tôi nghĩ thếnào cũng phải viết”, ông nói và đã viết, trải rộng trên tất cả những gì mắt thấy tainghe và ghim sâu những trăn trở của bao nhiêu năm tháng chiêm nghiệm

Với ưu thế của một người dày dạn vốn sống, Bùi Ngọc Tấn rất tinh tế khithể hiện cái nghèo, cái khổ khiến con người ta hèn đi của thời đoạn bấy giờ Ôngkhông bình luận, chỉ thản nhiên tả những chi tiết rất thực: "Khi thuyền trưởngđem bia và nước ngọt ra mời, anh đã làm ra vẻ rất tự nhiên, cười rất vô tư vàkhảng khái: “Hôm nay bị đầy hơi, chỉ xin thuyền trưởng chén trà thôi Còn cáinày xin phép thuyền trưởng mang về, lúc khác uống Thực ra có phải bụng dạlàm sao đâu Mà nó nằm trong kế hoạch của anh Phải đem được ít nhất một lonbia, một lon nước ngọt về cho mẹ, anh Vận và lũ cháu Anh mở lon nước ngọt,rót ra cốc Cả nhà tròn mắt nhìn những bọt nước thẫm màu nảy lên lách tách nhưmưa trong cốc Mẹ uống một ngụm Mẹ bảo ngon rồi đưa cho cả nhà nếm mỗingười một ngụm…"

Chính vì viết như một cuộc hồi cố về với quãng đời cực nhọc của mình và

cả dân tộc bằng vốn sống phong phú, tràn trề ấy, lúc này lúc kia cũng khiếnngười đọc ngỡ rằng nhà văn đang rối trong chính kho tư liệu của mình Tất cảmọi chi tiết đều được ông nỗ lực đưa vào, khiến cuốn tiểu thuyết dày hơn 500trang có lúc như hỗn độn, như rối rắm và khó đọc, khó nắm bắt Chính vì thế,

nhà văn Châu Diên nhận định, có thể coi "Biển và chim bói cá là cuốn tiểu

thuyết tư liệu, kết quả từ cách làm việc của một nhà báo mang tâm hồn của mộtnhà văn"

Biển và chim bói cá được viết trong cái tinh thần khổ ải, của một thời khổ

ải của một miền đất Thành thử những chi tiết ở trong đó, thì đều là những cáitên riêng của rất nhiều từng cá nhân con người, ở một cái hợp tác xã, trong mộtthời kỳ bao cấp

Trang 27

Biển và chim bói cá viết dựa vào bối cảnh thời bao cấp Một thời đại luôn

tồn tại chuyện chạy chọt, cầu cạnh, bon chen, vụ lợi Chính bối cảnh đó đã chiphối nội dung thể hiện trong tác phẩm Tồn tại trong tác phẩm là hình ảnh nhữngbọn quan tham, nhũng nhiễu, tiêu biểu là giám đốc Hoàng Quốc Thắng, rồi những

kẻ bợ đỡ, nịnh nọt sẵn sàng dâng vợ cho sếp để được nâng cấp tiêu biểu là nhânvật Huy Trong cái cơ chế quyền và tiền đó là sự thể hiện một hệ thống hành chínhthối nát, con cái của những kẻ làm sếp thì được ưu tiên, coi trọng mặc dù họ lànhững kẻ dốt nát, đua đòi Ngược lại một thế hệ những con người cống hiến chođất nước thì không hề được chiếu cố

Những chiêm nghiệm của tác giả được vẽ lại bằng một lối văn nhẹ nhàngđầy ắp hình ảnh, không hờn oán, hơn thế, nhiều khi như trải một tấm lòng đônhậu Trong suốt 500 trang giấy, trang nào cũng là một bức tranh nhỏ mang tính sựthật, phảng phất tâm hồn bao dung của tác giả Con người còn tất cả những nétđẹp trong tác phẩm của ông Xấu chăng chỉ là cái hệ thống, cái chế độ chính trị hưhỏng làm con người đi xuống, đi xuống mà không biết mình đi xuống

1.3.2 Nhìn chung về thế giới nghệ thuật Biển và chim bói cá

Tiểu thuyết Biển và chim bói cá dài hơn 500 trang, tập trung vào khoảng

20 nhân vật Một tác phẩm có thể nói không đồ sộ về số lượng trang, không qui

mô về nhân vật như các tiểu thuyết ở nước ngoài nhưng tác phẩm đã để lại được

ấn tượng cho độc giả vì ở đó bên cạnh giá trị về nội dung thì giá trị về nghệthuật cũng không kém phần độc đáo

Biển và chim bói cá là một truyện không có cốt truyện, cuốn tiểu thuyết

viết về những mẩu đời vụn của những người làm công, ăn lương cố sống, cố chếtbám lấy cái xí nghiệp đang ngoi ngóp trong nguy cơ “đắm tàu” Đó là những conngười cùn mằn, tội nghiệp - nhân viên văn phòng, cạo giấy, thủy thủ…

Bùi Ngọc Tấn quan niệm về con người và cuộc đời bằng con mắt củangười đã trải qua những cay đắng của cuộc đời Con người trong quan niệm củaông là những số phận khổ đau, họ là những người gánh chịu lịch sử Số phận của

Trang 28

họ chịu sự “áp bức” của cơ chế quyền, tiền Những con người thuộc biên chếtrên biển nhưng vì những lí do thuộc cơ chế nên phải nằm bờ chờ việc, ăn lươngthất nghiệp và một bộ phận những con người ăn theo tại vô số phòng, ban bệ trên

bờ họ đang cố công cố sức tự thay đổi trong một cuộc cải cách tuyệt vọng

Biển và chim bói cá tập trung vào khoảng hai mươi nhân vật, được miêu

tả như những hình tượng đa phương, có phần lỏng lẻo như trong một tác phẩmsắp đặt của nghệ thuật thị giác, nói bằng thứ ngôn ngữ trực quan của mồ hôi,nước mắt, máu và cả tiếng thở dài… với vài chục ngàn chi tiết lớn nhỏ, chi tiếtnào cũng hóm hỉnh khiến người đọc phải bật cười tức khắc hoặc lay động nhữngcảm giác sâu kín của lòng trắc ẩn, lương tri… cứ như vậy, những góc khuất củađời sống và con người tại một Liên hiệp đánh cá biển Đông lẫy lừng thành tích

và cũng chứa chất những trái ngang hiện ra trước bạn đọc như vật chứng khôngthể chối từ của một thời đại Truyện gồm nhiều "mảnh ghép" về hiện thực, dễđọc, sinh động, thể hiện sự từng trải, chiêm nghiệm đến từng chi tiết mà không

để lại cái cảm giác "chỉ thấy tìm tòi hình thức" như ở nhiều cuốn sách ra gầnđây

Có thể xem Bùi Ngọc Tấn là một người kể chuyện thuần theo lối truyềnthống, kể bằng sự kiện, nhưng lại không thể nói ông là nhà văn bị lệ thuộc vàohiện thực ở cái vỏ diễn tiến bề ngoài Ông viết văn như người thiền quán tưởngtừng hơi thở, mỗi chi tiết của cuốn sách óng lên một nỗi suy tư day dứt và cả tìnhcảm mãnh liệt của người viết đối với quê hương, với những nghịch lý thản nhiênđến lạnh lùng của hiện thực vượt khỏi những tiêu chí đạo đức và làm người vẫnđược mặc nhiên thừa nhận

Trên phương diện xây dựng hình tượng nhân vật, Bùi Ngọc Tấn đã chọnhình tượng trung tâm trong sáng tạo của mình (khác với quan niệm “nhân vật

trung tâm” của từng tác phẩm ) là con người bình thường, hay nói cách khác, là

đặc tính “phổ biến”, không nổi trội, phần phổ quát nhất trong con người nóichung, biến nó thành đối tượng mô tả văn học Nhờ thế, phần bản năng, duy

Trang 29

cảm, riêng tư mà các nhà văn khác chỉ nhìn như biểu hiện đơn lẻ, hoặc coi nó làthiểu số, là bi kịch trong thời đại ý chí tập thể, lại trở thành kênh riêng biệt đểkhám phá một bản chất khác đầy tràn, mới mẻ, về con người, thậm chí đây mới

là bản chất thiết yếu vốn dĩ, cho mọi đối tượng

Không gian và thời gian là một trong những yếu tố cấu thành nên bộ mặtcủa tiểu thuyết Nó góp phần xây dựng nội dung của tác phẩm, và cũng là mộtthủ pháp nghệ thuật nằm trong ý đồ sáng tác của nhà văn Nếu trước đây khônggian và thời gian được miêu tả cụ thể, rõ ràng thì trong tiểu thuyết mới nói chung

và tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn nói riêng không gian và thời gian bị phá vỡ hoàntoàn Không gian thời gian trong tiểu thuyết Bùi Ngọc Tấn được xắp xếp mộtcách lộn xộn, không theo bất kì trật tự nào Cả câu chuyện là những mảng ghépcủa kí ức, trí nhớ của nhân vật

Do sự chi phối của những hoang tưởng, thực và ảo lẫn lộn, quá khứ vàhiện tại đan cài, thời gian trong tác phẩm cũng bị phá vỡ hoàn toàn, không thểhiện được sự liên tục của một sự tái diễn bình thường trong cuộc sống quá khứ,hiện tại, tương lai Mọi thứ đều bị đảo lộn, chồng chéo lên nhau, không thể xácđịnh được yếu tố thời gian được đưa vào trong tác phẩm khi các chi tiết, sự kiệnrất rời rạc, trong những ám ảnh của người chồng mà thông qua người kể chuyệnđược thể hiện

Thời gian không xác định với các từ như sáng hôm sau, sáng nay, đếnchiều, buổi chiều hôm ấy, bữa cơm chiều, mẻ lưới sáng sớm… thời gian đấykhông cụ thể, nó có thể là bất cứ ở đâu, dường như thời gian không trôi qua màmãi đứng yên

Cũng như thời gian, không gian trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá

không được xác định rõ ràng và nó rất hẹp, mọi thứ chỉ nằm trong tầm ngắm củamắt thường Không gian câu chuyện trở nên khép kín, quay tròn không lối thoát,làm nền cho ý đồ nghệ thuật của tác giả Điều này cũng nằm trong đặc trưng củatiểu thuyết mới Có một sự đối nghịch rằng không gian trong tác phẩm bị thu hẹp

Trang 30

đến mức tối đa nhưng nhân vật như không bao giờ với tới được, các nhân vật

không bao giờ tìm thấy sự thật về mình Trong Biển và chim bói cá ta có thể bắt

gặp một số không gian quen thuộc như không gian của biển Biển dưới tầm nhìncủa nhân vật, có khi được mở rộng, có khi thu hẹp Và nhân vật Tôi chưa bao giờrời khỏi phạm vi biển Đôi lúc anh ta có phóng tầm mắt ra phía chân trời theo

hướng sóng “Con tàu vẫn thẳng hướng xé nước ra khơi Tôi quay lại nhìn về phía Tây Mặt trời đã xuống thấp Chân trời đỏ rực” Anh ta chỉ quẩn quanh trên

tàu Con tàu như một ám ảnh trong anh Dù đã bị giới hạn một cách tối đa vềkhông gian nhưng cái nhìn của nhân vật vẫn không thể thấu suốt Bởi anh ta luôngặp phải những vật cản trước mắt tác động, những gì mà một con người chưa đủkinh nghiệm như anh đã chứng kiến Chính điều này đã làm cho toàn bộ câuchuyện không có kết thúc

Như vậy cả không gian và thời gian trong truyện đã được nhà văn nén lạimột cách tối đa Thời gian không chuyển động, không gian thì hẹp dưới đôi mắtcủa nhân vật Tôi Nhân vật mệt mỏi và không buồn phóng tầm mắt của mình đi

xa hơn cái cầu tàu, hay chân trời trước mặt

Biển và chim bói cá là cuốn tiểu thuyết mới nổi bật bởi những tìm tòi đổi

mới của nó Nó phá vỡ hoàn toàn cấu trúc thông thường Không gian thời gian bịthu hẹp tối đa, không có cốt truyện, nhân vật không có nhân vật chính Câuchuyện là những mảnh ghép của dòng suy tưởng của nhân vật kể chuyện xưngTôi Tất cả đã tạo nên một tiếng vang lớn Vì nó khác với những tiểu thuyết

trước đây nên Biển và chim bói cá đôi khi bị coi là khó đọc Nhưng đó là cả một

công trình, một nỗ lực tìm tòi một phương thức mới, con đường mới cho tiểuthuyết đương đại

Trang 31

Nhận thức lại thực tại không phải là “phản bội lịch sử” không phải là sựnuối tiếc hay đào xới quá khứ mà là nhìn thẳng vào đó mà vươn tới lẽ sống tốtđẹp hơn trong hiện tại và tương lai Nhận thức lại thực tại trên tinh thần khoa học

“chân lý phải được phát hiện nhiều lần” và trên cảm quan “cuộc sống ngày càngphức tạp hơn”

Nhận thức lại là một nội dung phức tạp vì nó phải được nhìn nhận trênnhiều góc độ, nhiều phương diện Lịch sử và quá khứ là vấn đề cần được quantâm và nhìn nhận lại nhiều hơn cả Tiểu thuyết hậu chiến là sự nhận thức lại vềbản chất chiến tranh Sự nhận thức ấy gắn với những trăn trở, day dứt của ngườilính về vấn đề nhân tính Chiến tranh tàn phá nhân tính trong cuộc chiến hẳn làmột lẽ, nhưng chưa thôi, chiến tranh bịt chặt cả con đường trở lại với bản thểsáng trong của tâm hồn con người Đấy chính là những cảm giác, những ám ảnh

Trang 32

triền miên trở đi trở lại trong Nỗi buồn chiến tranh với những biểu hiện của căn

bệnh tâm thần phân liệt của nhân vật Kiên Từ cuộc sống hiện tại đầy những bất

an, nhân vật lia ống kính kí ức của mình về phía những năm tháng chiến tranh đểnhận ra những mất mát đau thương - những đau khổ mà chiến tranh đã gieo rắc

về cả phương diện vật chất, thể chất và phương diện đời sống tinh thần Cái chếtcủa những người lính, sự đứt gãy của những mối tình, sự hủy diệt khát vọng vànăng lực sáng tạo cá nhân Và cao hơn hết, đấy là sự hủy diệt nhân tính trongnhững người lính Đấy là những hành động man rợ đầy tính chất thổ phỉ màtrước đó, trong chiến tranh, những người lính ấy có thể nhìn nhận nó như là mộthành động anh hùng, thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc – một phẩm chất thiếtyếu của người chiến sĩ cách mạng

Bên cạnh việc nhận thức lại các khía cạnh của chiến tranh là việc nhậnthức lại vấn đề của mô hình tổ chức sản xuất, kết cấu, các mối quan hệ xã hội,quan hệ người với người và sự chi phối, những áp lực của tập thể lên số phận các

cá nhân riêng lẻ Mùa lá rụng trong vườn có thể xem là tiếng nói của tác giả trước

hiện thực hôm nay, một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia đình và xã hội, vềtrách nhiệm của mỗi người với cuộc sống, và cuộc sống giành cho mỗi người.Những nét mới cũ đan chéo nhau, những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ giữangười thân trong gia đình cụ Bằng, cũng phản ánh một cách rõ nét trong nhữngxung đột mới cũ trong xã hội cũng như trong gia đình…

Nền kinh tế thị trường đã xới tung nhiều vấn đề xã hội trước đây vốn suôn

sẻ thuận chiều Bảng giá trị quen thuộc về đạo đức, nhân cách cũng có nhiều

thay đổi Trên cái nền chung đó thì "Cái nhất thời trong cái muôn đời, cái tội ác nằm giữa cái nhân hậu, cái cực đoan nằm giữa cái tinh thần xởi lởi, cởi mở, cái nhảy cẫng bên lấc láo, giữa cái dung dị, thái độ bình thản chịu đựng và tinh thần trách nhiệm đầy suy nghĩ” [4;51] Đưa hiện thực nhân sinh vào trang viết,

tiểu thuyết sau 1975 không chỉ đánh giá con người trong quá khứ mòn cũ mà cònkhám phá, phơi bày những điều đau đớn, nhọc lòng của con người trong hiện tại

Trang 33

Các nhà văn đã và đang chiêm nghiệm, vừa ở trong tư thế nhập cuộc,vừa biết lùi xa và đứng trên tầm cao của đất nước trong những năm chuyển động

dữ dội để dựng những góc nhìn Họ đã nhận ra trạng thái "chấn thương" củanhững dòng đời trong cơn vây bủa Đó là lối sống thực dụng chạy theo vật chất,

xem đồng tiền là "chúa tể", là thước đo tất cả Trong Đời im lặng của Chu Lai,

người đọc bàng hoàng với những mưu ma chước quỷ của những kẻ vì đồng tiền

và quyền lực đã hãm hại những người ngay thẳng, trung thực và bần cùng hóangười lao động Ở đây, cái ác không phải là một cá nhân nữa mà có nguy cơ lan

bùng cả tập thể Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú (Ma

Văn Kháng), bên cạnh bài học mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, còn là cái nhìnbao quát về quá trình sa đọa đạo đức, nhân cách, thui chột nhân tính Lối sốngthực dụng đã làm đảo lộn, lung lay và có nguy cơ sụp đổ những giá trị đạo đức

truyền thống dân tộc trước cơn sóng gió của thời cuộc Với Lý trong Mùa lá rụng trong vườn thì, "đời chỉ có một chữ T" nên đã rơi vào lối sống buông thả

trong hưởng lạc Người đọc chưa hết ngỡ ngàng trước hành động của Quàng

(Mảnh đất lắm người nhiều ma) quyết định chôn cất người anh xấu số của mình

bằng bó chiếu chỉ vì sợ tốn kém Đồng tiền với sức mạnh của nó cũng nhưnhững vị kỷ của cá nhân đã len lỏi vào, che lấp các mối quan hệ thiêng liêng củagia đình, hủy hoại dần những giá trị đạo đức cao quý truyền thống của dân tộc.Guồng quay nghiệt ngã của cuộc sống làm xói mòn giá trị đạo đức của conngười

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới hòa nhập để phản ánh chân thực, gần gũinhững vấn đề mà các nhà văn trăn trở Ở đó, đặt ra yêu cầu về ý thức, tráchnhiệm, lương tri trước những biến động ghê gớm của các chuẩn mực giá trị đạođức, góp phần làm cuộc sống hoàn thiện, tốt đẹp hơn Hàng loạt những tác phẩm

như Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Đời im lặng (Chu Lai), Khoảng sáng không mất (Nguyễn Bảo), Lão Khổ (Tạ Duy Anh),

Trang 34

Hơn cả tình yêu (Nguyễn Trường) cũng như sự góp mặt của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Bức tranh), Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu), Phan Thị Vàng Anh (Kịch câm), Nguyễn Thị Thu Huệ (Hậu thiên đường) đã cho thấy

đời sống xã hội không là một chiều, giản đơn, dễ hiểu mà chúng luôn biếnchuyển phức tạp, sinh động và đa thanh

Mệnh đề “văn học phản ánh hiện thực” từng bị hiểu giản đơn thành sao chépcác sự kiện của thời đại, tôn sùng nguyên mẫu, miêu tả người thật việc thật, phảnánh các mâu thuẫn bản chất của xã hội, thời đại…Mặc dù có lúc đã sáng tạo nênnhững sáng tác đáp ứng yêu cầu thực tế lịch sử, nhưng do nghèo nàn về tư tưởng vàthẩm mĩ, thiếu sức tưởng tượng, cá tính sáng tạo nhợt nhạt…cách hiểu đó đã bị phêphán vào thời đổi mới những năm 80 - 90 thế kỉ XX

Đối với các bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực, phản ánh hiện thực có nghĩa

là tìm kiếm các gía trị nhận thức, đạo đức, thẩm mĩ của đời sống, lột trần các dốitrá, phơi bày mọi ung nhọt, xé toạc mọi mặt nạ, là dấn thân vào tiến trình tiến bộcủa xã hội Các tư tưởng đó đã diễn đạt khá đúng và hay về mối quan hệ giữavăn học và đời sống lịch sử trên tầm vĩ mô, nghĩa là toàn bộ các sự kiện, nhânvật, tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn học nghệ thuật đều là sự phản ánh củađời sống xã hội

Trước đây do điều kiện lịch sử, cái chung được phản ánh và là vấn đềtrung tâm nên số phận riêng của con người chưa được chú ý đến Chúng ta vẫnbắt gặp con người nhưng phần lớn đó là con người - tập thể, con người - quầnchúng, con người - nhân dân, chứ chưa phải là những cá nhân, những số phận.Các nhà văn thường tập trung nói lên quyết tâm, ý chí, sức mạnh của con người.Sau khi đất nước thống nhất, văn học có điều kiện quan tâm tới con người hơn,khám phá đời sống nội tâm cũng như những mất mát đau khổ của con người

Đã đến lúc cần chấm dứt hẳn quan niệm cho rằng những gì viết về cái xấu và

sự kém cỏi của con người, nỗi đau và sự mất mát, bi kịch và hạnh phúc cá nhân,những buồn vui phi lý, những xung đột tưởng như không đâu trong khuôn khổ gia

Trang 35

đình đều là tạp nham, nhỏ bé, thua kém các đề tài lớn về sản xuất và chiến đấu,thậm chí không lợi, không xứng đáng với sự nghiệp cách mạng.

2.1.2 Con đường nhận thức những vấn đề của xã hội

Tài năng văn học của Bùi Ngọc Tấn kết tinh ở thể loại phóng sự và tiểuthuyết viết theo khuynh hướng hiện thực Điều đó giải thích vì sao sau 27 năm

ngừng bút, Bùi Ngọc Tấn đã viết nên ba cuốn sách nổi tiếng Rừng xưa xanh lá, Biển và chim bói cá, Tuyển tập truyện ngắn Người chăn kiến Bùi Ngọc Tấn đã

viết ra gần như đồng thời ba cuốn sách trên đem lại giá trị cho nền tiểu thuyếtViệt Nam hiện đại Điều đó có liên quan đến cảm hứng chủ đạo, cái linh hồnsáng tác của Bùi Ngọc Tấn Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông, ấy làlòng căm thù mãnh liệt đối với bọn có chức, có quyền nhưng thiếu đạo đức, làkhát vọng phanh phui, phơi bày những tệ nạn xấu xa, vạch trần bản chất thối nát,chạy theo đồng tiền và lối sống ăn chơi đồi bại …Hoàn cảnh lịch sử xã hội, hoàncảnh riêng của nhà văn đã tạo nên con người cá nhân nhà văn với những đặcđiểm riêng về mặt tâm lý xã hội Đeo vào số phận mình cái nghèo gia truyềncùng với những ảnh hưởng của một thời gian bị giam cầm đã tạo nên ở BùiNgọc Tấn một thái độ với chế độ xã hội đương thời Bùi Ngọc Tấn đã đi vàonhững ung nhọt xã hội không dùng những ngôn từ “đao to búa lớn” nhưngnhững gì ông gửi gắm vào tác phẩm của mình làm cho độc giả nhớ mãi Nhữnglời nhắn nhủ của ông trong tác phẩm thể hiện qua câu chuyện một cách hết sức

nhẹ nhàng Rồi trong tác phẩm Cún, Bùi Ngọc Tấn nhẹ nhàng tố cáo một thứ

bệnh của con người là chạy theo đồng tiền mà quên đi tình nghĩa Qua hìnhtượng con Cún, tác giả đã cho ta thấy sự đi xuống của lương tri, đạo đức của conngười Trên góc độ hiện thực, tác phẩm của ông không gây dị ứng mạnh mẽ như

Vũ Trọng Phụng, ông không cường điệu, không ngoa ngôn nhưng bằng những gì

đã chứng kiến và được trải nghiệm người ta thấy được ông đã truyền vào tư liệu

ấy, thông tin ấy thái độ tình cảm uất ức của mình Bùi Ngọc Tấn đã khai thác tối

Trang 36

đa những cái những cái bất thường, luôn sử dụng chúng để làm nổi bật bản chất

xã hội Việt Nam và sự đảo điên chìm nổi của những số phận

Một trong những đặc điểm quan trọng sáng tác của Bùi Ngọc Tấn là ông cókhả năng bao quát hiện thực rộng lớn với một thế giới nhân vật đông đảo, gần như

gồm đủ những giai cấp, tầng lớp người Với những tác phẩm: Người chăn kiến, Cún và Biển và chim bói cá… mỗi tác phẩm tập trung vào những mảng hiện thực

khác nhau, khi gộp lại tạo nên một bức tranh liên hoàn bao quát toàn cảnh xã hộiViệt Nam đương thời Bùi Ngọc Tấn đã khai thác xã hội ở trên một tầm rộng lớn,

ở nhiều phương diện Một bức tranh bao hàm cả sự đánh giá bản chất của tầng lớpquan lại lúc bấy giờ và thực trạng đời sống nhân dân lao động, tóm lại phản ánhsâu sắc những tính cách số phận của con người trong một xã hội coi “thực phẩmcao hơn nhân phẩm”

Những vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm là mô hình kinh tế - xã hội baocấp, mô hình tư duy bao cấp, dẫn đến bao cấp về tình cảm Sự cào bằng của nềnkinh tế hợp tác xã đã cào bằng nhân cách, cào bằng tư duy…nhét con người vàotrong một rọ tư duy chung chung, bóp nghẹt tự do cá nhân, bóp nghẹt tự do sángtạo…

Kinh tế - xã hội thời kỳ bao cấp: nông thôn vào hợp tác xã, đồng ruộngchung, lao động chung, phân chia đều cho đầu người dẫn đến tìn trạng “chachung không ai khóc”, điều đó dẫn đến hiện tượng cả xã hội tồn tại trong một sức

ì ghê gớm Công nhân cũng vậy cứ vào biên chế nhà nước là có tiêu chuẩn đã địnhsẵn cho đầu người, làm việc được chăng hay chớ công nhân suốt ngày chỉ tìmcách trốn việc làm, và hở cái gì trong nhà máy có thể lấy về bán Bùi Ngọc Tấn

đã cho ta thấy cả một thiết chế vô cùng thiếu tự nhiên, gửi thân trong một hệ thốngđánh cá quan liêu bao cấp Và trong cái cơ chế làm việc đó bộc lộ lên cái cungcách làm việc của một số người Chỉ bằng vài nét mô tả cô Phòng và những ngườicán bộ hành chính - những “con chim bói cá” ăn theo trên bờ ta thấy ngay đượcmột khái niệm cơ bản thế nào là hiện tượng vô văn hóa Những người “cán bộ” ấy

Trang 37

cả nam và nữ cả già lẫn trẻ đều xưng với nhau là bố, các bố, các bố, gọi ngườikhác là con, các con Bùi Ngọc Tấn đã cho ta thường dùng để cất dấu cá, đem vềnhà cải thiện đời sống, có khi chỉ là một bọc cá cũng có giá trị bằng cả một tháng

lương “Họ xin cá của các tàu đánh cá, đem về nhà cải thiện đời sống Họ xin cá của các tàu đánh cá như những kẻ hành khất sang trọng! Xin được nhiều, ăn không hết đem bán Ai cũng là con mẹ hàng cá Từ cầu cảng về, nhìn trước nhìn sau không thấy sếp, cánh phòng ban, người trước kẻ sau xách túi cá nặng vào buồng làm việc, mở tủ đứng hay tủ bàn dúi vào, và khép nhanh cánh cửa tủ lại, đi

ra ngoài của, đứng nghênh ngó xem có ai nhìn thấy mình vừa xách cá về không rồi trở vào ghế ngồi trước bàn làm việc, giở tài liệu ra xem như người có trách nhiệm nhất trên đời” [trang 336].

Do cứ vào biên chế là có tiêu chuẩn, nên nhất thân nhì quen - cứ là họ hàngdây mơ dễ má của lãnh đạo là đều kéo tuột vô biên chế, mặc dù họ chẳng có trình

độ nghề ngỗng gì Cái sức mạnh dây chuyền ấy đã dẫn đến những tệ hại mà có thểnói là rất nguy hiểm và là một mầm mống không thể nào lường hết hậu quả của

nó Trường hợp của Hoan bố là giám đốc Thằng Hoan học hành dở dang Tụ bạbạn bè chơi bời Giám đốc cho đi học một lớp sơ cấp nghành boong rồi cho xuốngtàu vận tải ngoại thương, đi nước ngoài hơn năm nay rồi” Đây là một việc gây ranhiều bất bình trong cán bộ công nhân xí nghiệp nhất là với những người kì cựu

“xuống tàu từ thời còn vô gỗ, phá vòng vây thủy lôi mà đi giờ đây vẫn hì hục đánh cá và vẫn ngong ngóng được làm hộ chiếu” Rồi Khương con ông Nguyễn Thạc, phó giám đốc công an thành phố Học mãi, thi mãi không đỗ trung học phổ thông, đàn đúm ăn chơi với những đứa bạn bè toàn những như mình, bố mẹ làm sếp, lắm tiền nhiều của Nhờ mối quan hệ qua lại với tổng giám đốc Hoàng Quốc Thắng, Khương đã được nhận vào làm việc với cái chứng chỉ đã tốt nghiệp khoa bong của trường công nhân kỹ thuật mà ông phó giám đốc công an thành phố vưa mới mua Khương xuống tàu đi hơn hai mươi chuyến Hơn hai mươi chuyến tàu

19 an toàn Không bị khám Không bị thu Không xảy ra một hiện tượng đáng tiếc

Trang 38

nào, một trục trặc kỹ thuật nào Trong khi đó bao nhiêu cán bộ công nhân cả khối dưới nước lẫn trên bờ cống hiến cho xí nghiệp từ thời còn tàu võ gỗ, đánh giã đôi, cho tới thời chiến tranh bắn phá vẫn còn phải xếp hàng chờ đợi” [trang 304, 306].

Rồi đến Phan Đình Liễn “người thuyền trưởng bình thường như trăm người khác, nói ít người nghe, đánh cá không giỏi, vừa bị án kỉ luật bỗng sáng ngời lên vì những chuyến đi tàu vượt thủy thủ lôi vũ khí vào khu Bốn, giờ đã nghỉ hưu, đi thuyền đánh cá thổ công, chẳng ai còn nhớ đến Người ta chỉ nhớ đến Phiến Ngô Đình Phiến Thuyền trưởng tàu Hạ Long 10 Con tàu chở đầy tôm lạnh đi Hồng Kong, Xingapo, Nhật Bản Người ta nói đến số chuyến đi nước ngoài của Phiến, đến sự giàu có không tưởng nổi của Phiến ….”

Qua đó ta thấy được mãnh lực đồng tiền lớn như thế nào, có tiền, có địa vịthì việc gì cũng làm được và ngược lại sẽ thành vô nghĩa khi trong tay không cómột xu nào Trường hợp của Hoan và Khương đã minh chứng cho chân lý của

một câu danh ngôn: “Cả một đời phấn đấu không bằng cơ cấu một dây” [trang

403] Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của cơ chế như thế nào

Hơn nữa các thành phần ô dù ăn theo này cậy quyền cậy thế thấy công nhânnhún nhường quỵ lụy lãnh đaọ cũng ra oai bắt họ kính nể mình cho dù anh tài giỏiđến mấy nhưng không luồn cúi quị lụy, không về hùa với phe cánh của họ sẽ bị côlập và sa thải Số phận của những con người thuyền viên đã cho ta thấy bi kịch cánhân, vì miếng cơm manh áo mà họ phải chịu đựng sống tủi, sống nhục Lê Mâymột ông thuyền trưởng già ngoài việc chuyên chăm nom sinh hoạt ăn uống, cơm

áo, gạo tiền học cách buôn lậu và cung cúc phục vụ cánh hải quan trẻ chỉ bằngtuổi con ông Họ xách mé láo xược ông ngay cả khi ông đang chìm trong giấc

ngủ, “tiếng đập cửa thình thình, tiếng “Mây ơi! Mây ơi” xách mé, láo xược Chỉ với một câu phản đối lại chúng là ông đã bị chúng “giết” Ông bị tịch thu sạch Một thùng thuốc con nhộng Năm chục cái Xây cô Xà phòng thơm cũng thu hết, chỉ còn một “đố” và một cái bánh đang dùng dở Ti vi, cát xét không còn cái nào Cái quạt ghẻ cũng thu Suốt đêm ông đứng vịn lan can nhìn dòng sông nước chảy.

Trang 39

Ông nghĩ đến vợ con, đến món nợ để đi buôn đến bao giờ trả được” [trang 501].

“Cùng chung cảnh ngộ với ông Mây là ông Đay, ông Thuấn thanh tra Nhưng ông Đay được nuôi béo rồi mới giết Còn ông Mây và ông Thuấn thanh tra thì bị giết khi còn gầy” [trang 504].

Điều đó ta hiểu chế độ bao cấp là chế độ quan liêu, cửa quyền, là cái nôicho bọn quan chức thả sức lộng hành, ăn chặn dân chúng, kìm hãm phát triển kinh

tế, trí thức của người dân, làm đất nước bị tụt hậu dài dài

Nền kinh tế hợp tác xã với bản chất chung chung của nó, ai mạnh thì người

ấy thắng, tình trạng cha chung không ai khóc là rất phổ biến Sống trong nền kinh

tế đó nhân cách con người cũng bị cào bằng Sống trong một xã hội quan liêu baocấp ấy, quan hệ giữa con người với nhau chỉ là giải quyết bằng tiền và nhiều tiền

Họ phải sống là con người “bửu kiến”, sống không phải là người thực, họ phải dấu

đi ý nghĩa thực của mình Từ những ông sếp, là những người lãnh đạo mà cũngchỉ là “trằn trọc trăn trở” sao cho được việc chung để từ đó bòn rút rối đa chomình Lương tâm con người bị bào mòn đi trước sức mạnh của đồng tiền Tiền trởthành thước đo của sự thành công trong công việc, trở thành sức mạnh vạn năngcủa con người Dường như giữa con người với nhau chỉ tồn tại một mối quan hệ

lạnh lùng của đồng tiền “Sếp chỉ nhận những thứ thật gon nhẹ thôi Gọn nhẹ nhưng giá trị gấp trăm, gấp ngàn lần” Những con người là “sếp”, là “giám đốc”,

là “thủ trưởng” đều là những con người luôn tạo cho mình một tấm lá chắn, luônnói tới đạo đức để che mắt thiên hạ Con người luôn là sản phẩm của hoàn cảnh,

tư duy của con người cũng bị chi phối bởi hoàn cảnh

Sự chi phối bởi đồng tiền, bởi quyền lực dường như là một lực cản bópnghẹt tự do cá nhân, bóp nghẹt khả năng sáng tạo Những số phận “con sâu cáikiến” chỉ biết răm rắp cung phụng những người chức quyền, họ không có sự tự do

để tìm cho mình một hướng cải thiện đời sống Dù họ đã cố thoát ra ngoài sự kìmkẹp của quyền lực nhưng không thể thoát được Họ đã cố làm một công việc khácvới nghề đi biển, thoát khỏi hệ thống quan chức mong tìm được sự yên thân mà

Trang 40

cũng không được Đó là cha con Thuyền, họ sống bằng nghề đúc dép, được miếngsắt họ sáng tạo thành vật để khuôn dép nhưng rồi cũng bị hạnh họe bởi người làmthuế, bởi những người công an, họ là Lê Mây, là Faraday Họ làm bất cứ việc gì

dù chỉ để kiếm miếng cơm manh áo nhưng đều bị chi phối, bị mất tự do Đồngtiền chính là lực cản con đường sống và kìm hãm khả năng sáng tạo của họ

Cảm hứng phê phán gay gắt, mãnh liệt cùng với “biệt nhãn” của một nhàvăn Bùi Ngọc Tấn đã phát hiện ra cái xấu của con người, đẩy những nhân vật

phản diện lên tuyến trước Trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá, nhân vật Huy,

giám đốc Hoàng Quốc Thắng có thể nói là những điển hình cho tuyến nhân vậtphản diện Còn Lê Mây, Trần Bôn, Cương, Nhược là những nhân vật đại diện chonhững con người lương thiện

Biển và chim bói cá xoay quanh vấn đề cơm áo, đồng tiền Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng con người co ép lẫn nhau theo dây chuyền “Anh

em ép lên Trên ép xuống Hai chiều cùng ép lên anh …ai cũng là một thứ đệm chống va mà thôi”.

Xoay quanh chủ đề quan liêu trong xã hội Tác phẩm nói về một tệ nạn phổ

biến là tệ nạn tham nhũng đút lót Trong câu chuyện giữa Mây và Quán Mèo “Sếp

ăn dữ quá Chúng nó ức lắm Chúng nó sẽ đưa thằng Hoan vào ma túy Một chuyến đi Hồng Koong về được là bao Sếp xuống gặp thuyền trưởng nói thẳng: chuyến này tàu lo cho hai trăm triệu nhé Ông nguyên ngơ ngác: Báo cáo giám đốc…Chưa kịp nói hết câu, sếp đã bảo: Một con tàu chuyến này đi Hông Kong, chuyến sau đi Nhật, chuyến sau nữa đi Xingapo mà không lấy nổi hai trăm triệu thì đi làm gì…” [trang 198] “Sếp” là một trong những nhân tố gây sức ép, là đối

tượng khiến cho mọi người phải quay cuồng Trong câu nói xanh rờn, lạnh lùng

của trưởng phong tổ chức “Tàu chuẩn bị nhé Chuyến này có một số thay đổi về nhân lực đấy” [trang 307] Một thông báo như vậy đã làm cho tất cả nháo nhào

lên, xôn xao, hoang mang Một câu nói như vậy trưởng phòng tổ chức đã thu được

một số chiến lợi phẩm “Và người ta không ai bảo ai đều tìm đến nhà trưởng

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12: Đặng Anh Đào (1994), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí văn nghệ (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1994
14: Đặng Anh Đào (2006), “Vai trò của cái kì ảo trong truyện và tiểu thuyết Việt Nam”, Tạp chí văn học, (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của cái kì ảo trong truyện và tiểuthuyết Việt Nam
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 2006
20: Đông La (2009), “Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng của nó ở nước ta”, http://www.vanhoanghathuat.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng của nó ởnước ta
Tác giả: Đông La
Năm: 2009
22: Hà Minh Đức (2002), “Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thờ kì đổi mới”, Tạp chí văn học, (07) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của văn học Việt Namtrong thờ kì đổi mới
Tác giả: Hà Minh Đức
Năm: 2002
25: Kundera.M (2005), “Đối thoại về nghệ thuật tiểu thuyết”, Trịnh Y Thư dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại về nghệ thuật tiểu thuyết
Tác giả: Kundera.M
Năm: 2005
27: La Khắc Hòa (2008), “Những dấu hiệu hậu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”, http://www.vienvanhoc.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những dấu hiệu hậu của chủ nghĩa hậu hiệnđại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp vàPhạm Thị Hoài
Tác giả: La Khắc Hòa
Năm: 2008
28: Lại Nguyên Ân (1981): “Nhìn chủ nghĩa hiện thực trong sự vận động lịch sử”, Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn chủ nghĩa hiện thực trong sự vậnđộng lịch sử
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1981
32: Lê Chí Dũng (2004), “Phải chăng chẳng bao lâu nữa lối viết hậu hiện đại sẽ trở nên phổ biiến ở Việt Nam?”,http://www.tienve.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phải chăng chẳng bao lâu nữa lối viết hậuhiện đại sẽ trở nên phổ biiến ở Việt Nam
Tác giả: Lê Chí Dũng
Năm: 2004
34: Lê Ngọc Trà (1998), “Vấn đề văn học phản ánh hiện thực”, Báo Văn nghệ, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề văn học phản ánh hiện thực
Tác giả: Lê Ngọc Trà
Năm: 1998
37: Mai Hải Oanh (2007), “Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”http://www.vanhoanghathuat.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng về bút pháp nghệ thuật trongtiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới
Tác giả: Mai Hải Oanh
Năm: 2007
41: Nguyễn Bích Thu (2006), “Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới”, http://www.viện văn học.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Namthời kì đổi mới
Tác giả: Nguyễn Bích Thu
Năm: 2006
42: Nguyễn Hưng Quốc (2005), “Giễu nhại như một ý niệm”, http://www.tiền vệ.org/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giễu nhại như một ý niệm
Tác giả: Nguyễn Hưng Quốc
Năm: 2005
43: Nguyễn Thị Bình (2001), “Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975”, Tạp chí văn học, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2001
47: Nguyễn Xuân Khánh (2001), “Vài suy nghĩ về nghề văn”, Báo văn nghệ mới, (39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về nghề văn
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Năm: 2001
48: Nguyễn Xuân Khánh (2001), “Về nghệ thuật viết tiểu thuyết”, báo văn nghệ (138) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghệ thuật viết tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh
Năm: 2001
50: Phùng Gia Thế (2008), “Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986”, http://www.evan.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dấu ấn hậu hiện đại trong văn học ViệtNam sau 1986
Tác giả: Phùng Gia Thế
Năm: 2008
65: Trần Thị Mai Nhân (2006), “Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000”, http://www.viện văn học.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về tiểu thuyết trong vănhọc Việt Nam giai đoạn 1986 – 2000
Tác giả: Trần Thị Mai Nhân
Năm: 2006
1.Griliet.A.R. Vì một nền tiểu thuyết mới, (Lê Phong Tuyết dịch), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Khác
2: Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca,(Lê Đăng Bảng, Thành Thế Thái Bình, Đỗ Xuân hà, Thành Thế Yên Báy dịch - Đoàn Tử Huyến hiệu đính), Nxb Văn học, Hà Nội Khác
3: Bakhtin. M (1992), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w