1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm trường ca lê thị mây

111 422 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 709,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường ca Việt Nam đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử trong kháng chiến, với những cây bút nổi tiếng: Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA LÊ THỊ MÂY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ THÙY TRANG

ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG CA LÊ THỊ MÂY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Khánh Thơ

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy cô giáo, đặc biệt là PGS TS Lưu Khánh Thơ, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình cùng bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ở bên, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người viết

Nguyễn Thị Thùy Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu được nêu trong luận văn là trung thực Các kết quả nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Thùy Trang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc của luận văn 12

Chương 1 ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRƯỜNG CA VÀ CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO CỦA LÊ THỊ MÂY 13

1.1 Cơ sở lý luận về thể loại trường ca 13

1.1.1 Khái niệm trường ca 13

1.1.2 Một số ý kiến về thể loại trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại 15 1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại 17 1.1.3.1 Trước 1945 – những tiền đề về sự hình thành thể loại 17

1.1.3.2 Sau 1945 – thời kỳ phát triển và khẳng định của trường ca 19 1.1.4 Nội dung trường ca hiện đại 21

1.2 Con đường sáng tạo của Lê Thị Mây 26

1.2.1 Vài nét về tiểu sử 26

1.2.2 Khái quát về tác phẩm 29

Tiểu kết 35

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG THẨM MỸ TRONG TRƯỜNG CA LÊ THỊ MÂY 36

2.1 Hình ảnh người chiến sĩ 36

2.1.1 Những người lính trực tiếp chiến đấu 36

2.1.2 Những nữ giao liên mở đường 39

2.1.3 Những chiến sĩ làm nhiệm vụ phục vụ chiến đấu 43

Trang 6

2.2 Hình ảnh người phụ nữ 45

2.2.1 Hình ảnh người mẹ 45

2.2.2 Khát vọng hạnh phúc 49

2.3 Hình ảnh đất nước 53

2.3.1 Hình ảnh đất nước trong chiến tranh 53

2.3.2 Hình ảnh đất nước trong thời bình 56

2.4 Lý tưởng và hành trình đi tới chiến thắng 58

Tiểu kết 62

CHƯƠNG 3 NGHỆ THUẬT TRONG TRƯỜNG CA LÊ THỊ MÂY 63

3.1 Hình thức tổ chức văn bản 63

3.1.1 Cách thức tổ chức đoạn thơ, câu thơ 63

3.1.2 Ngôn ngữ 65

3.1.2.1 Ngôn ngữ giàu tính tượng trưng, ám gợi 66

3.1.2.2 Nhiều khoảng trống, khoảng lặng trong thơ 68

3.1.2.3 Ngôn ngữ đời sống 72

3.1.2.4 Ngôn ngữ mang sắc thái dân gian 73

3.1.3 Thể thơ 77

3.1.3.1 Thể thơ tự do 77

3.1.3.2 Thể thơ lục bát 81

3.1.3.3 Vĩ thanh 83

3.2 Giọng điệu 86

3.2.1 Giọng điệu ngợi ca mang âm hưởng sử thi 86

3.2.2 Giọng điệu bi thương 88

3.2.3 Giọng điệu trữ tình triết lý 90

Tiểu kết 95

PHẦN KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trường ca là thể loại có khả năng thâu tóm và phản ánh những nội dung khá hoành tráng và cảm hứng mãnh liệt, giàu chất triết lý, trữ tình Trường ca Việt Nam đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử trong kháng chiến, với những cây bút nổi tiếng: Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Trọng Tạo, Lê Thị Mây…

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những kí ức anh dũng hào hùng của dân tộc vẫn vẹn nguyên trong trái tim và trang viết của các nhà văn, nhà thơ – chiến sĩ Các tác phẩm ra đời góp phần vào dòng chảy liên tục trong sự phát triển của trường ca Việt Nam bằng sự nhạy cảm, những chiêm nghiệm suy tư của những tác giả đã đi qua cuộc chiến tranh máu lửa của dân tộc

Dưới ngòi bút của các tác giả, cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ hiện lên chân thực và sinh động Với đặc trưng của thể loại, sự đa dạng của cấu trúc và dung lượng đồ sộ, trường ca Việt Nam hiện đại đã phát huy sức mạnh trong việc lưu giữ những hình ảnh của cuộc kháng chiến

Nếu như trong chiến tranh, văn học Việt Nam nói chung, thơ ca nói riêng thường hiện lên với cái nhìn lãng mạn hóa, lý tưởng hóa; vấn đề phản ánh trong thơ phải là những vấn đề lớn lao, chứa đựng vận mệnh cả dân tộc;

“cái tôi” phải nhường chỗ cho “cái ta” chung…Thì từ sau 1975 đã có những đổi thay rõ rệt cùng với sự đổi thay của đời sống xã hội Sự thay đổi được thể hiện trên mọi bình diện từ quan điểm sáng tác, chủ đề, đề tài, tư tưởng… của nhà văn Trong thời đại mở cửa, con người có quyền tự do sáng tác, tự do bộc

lộ cái tôi cá tính riêng Trong thơ xuất hiện những mạch ngầm cảm xúc suy tư của tác giả

Trang 8

1.2 Lê Thị Mây từ lâu là một gương mặt được nhiều nhà nghiên cứu yêu mến và quan tâm Đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về Lê Thị Mây với vai trò là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu thế kỷ XX, với một loạt những sáng tác ghi dấu ấn trong lòng người đọc, trong một giai đoạn văn học hiện đại sôi động và phong phú Lê Thị Mây nổi bật với giọng thơ riêng độc đáo Ở Lê Thị Mây, người đọc bắt gặp một giọng thơ đằm thắm dịu dàng, nhiều trăn trở lo âu mà khát khao mãnh liệt Đã có nhiều công trình, bài viết về thơ Lê Thị Mây tuy nhiên còn nhiều phương diện trong thơ vẫn chưa được nói đến kĩ lưỡng

Đặc biệt, nhà thơ là gương mặt nữ đầu tiên thuộc thế hệ chống Mỹ viết trường ca và đạt được những thành công đáng ghi nhận Ba trường ca được

xuất bản từ năm 2003 đến nay: Lửa mùa hong áo (Nxb Quân đội 2003), Tự

khúc ánh sáng (Nxb Quân đội 2006), Người sau chân sóng (Nxb Quân đội

2013), tuy không nhiều so với số lượng thơ và truyện ngắn tác giả sáng tác nhưng với những giá trị đạt được cũng đủ ghi dấu ấn trong lòng người đọc

bao thế hệ Đặc biệt, trường ca Người sau chân sóng của Lê Thị Mây đoạt

giải nhất cuộc thi “Đây biển Việt Nam” do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2011 – 2012

1.3 Nghiên cứu đề tài Đặc điểm trường ca Lê Thị Mây giúp người đọc

có cái nhìn toàn diện và hệ thống hơn về cuộc đời và phong cách sáng tác của một tác giả Đề tài vận dụng những phương pháp nghiên cứu, khảo sát hiệu quả về đặc điểm trường ca, mong muốn đem đến một đóng góp về đặc điểm trường ca độc đáo của Lê Thị Mây Trường ca Lê Thị Mây có dung lượng lớn, kết cấu chặt chẽ, giàu chất trữ tình và tính sử thi Càng về sau chất triết lý chiêm nghiệm càng tăng

Thơ Lê Thị Mây tiêu biểu cho phong cách đặc trưng của tác giả thơ nữ

Lê Thị Mây đi sâu vào những ẩn ức trong chiều sâu tâm hồn con người, khắc

Trang 9

họa những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam, người phụ nữ Việt Nam trong thời chiến và thời bình

1.4 Hiện nay, trường ca được chú ý và quan tâm trong công việc nghiên cứu và giảng dạy ở các cấp học Đặc biệt nhiều tập trường ca được đưa vào nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở các trường đại học Tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm trường ca Lê Thị Mây góp phần làm rõ hơn thế giới nghệ thuật trường ca Lê Thị Mây nói riêng, thơ Lê Thị Mây nói chung, phần nào giúp ích cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trường ca trong các trường học hiện nay

Trên cơ sở tiếp thu những công trình của các nhà nghiên cứu từ trước

và xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm trường ca Lê

Thị Mây Từ đó có cái nhìn toàn vẹn hơn về trường ca của một nhà thơ nữ tiêu

biểu thế kỷ XX

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu Đặc điểm trường ca Lê Thị Mây trong toàn bộ sáng tác của

tác giả giúp người đọc có được cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về cuộc đời,

sự nghiệp và những ẩn ức trong thơ Đã có nhiều bài viết, công trình bàn về

đặc điểm trường ca của một tác giả văn học, giai đoạn văn học: Trường ca

Nguyễn Trọng tạo (Nguyễn Thế Lượng), Mấy suy nghĩ về thể trường ca (Lại

Nguyên Ân), Tình yêu đôi lứa trong trường ca về thời chống Mỹ (Nguyễn Thị Liên Tâm), Trường ca Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ thể loại (Nguyễn Thị Hậu), Trường ca Việt, một cách nhìn (Yến Nhi), Về các khuynh hướng phát

triển trường ca Việt (Hà Quảng), Đặc điểm giọng điệu trong trường ca sử thi hiện đại (Diêu Lan Phương)

2.1 Nghiên cứu về thơ Lê Thị Mây

Thơ chiếm đa số trong sáng tác của Lê Thị Mây Sự tâm huyết say mê, triết lý suy tư về con người, cuộc đời cũng được tác giả bày tỏ nhiều trong

Trang 10

thơ Trong Lê Thị Mây - tìm tòi và thể hiện, Bích Thu đã nhận định: “Với năm tập thơ in trong khoảng mười năm trở lại đây: Những mùa trăng mong chờ (in chung: 1980), Dịu dàng (1987), Tuổi mười ba (1990), đặc biệt với Tặng riêng

một người (1990), người đọc đã cảm nhận được những rung động mới mẻ về

sự bừng tỉnh con người cá nhân, khẳng định cá tính và niềm khát khao tình yêu của một tâm hồn đầy nữ tính, trong cuộc hành trình đến với thơ và đến với bản thân mình của Lê Thị Mây” [43, tr 484] và cũng chỉ rõ: “Đọc thơ Lê Thị Mây, độc giả nhận thấy những suy nghĩ về tâm trạng, về số phận, về nhân tình thế thái là một ý thức khá rõ tạo nên chiều sâu và sự phức hợp của các cảm xúc, với mô típ nhân vật trữ tình đi tìm bản thân, trải qua những bất hạnh, những đớn đau tinh thần, những nghiền ngẫm về tình yêu, hạnh phúc” [43, tr 487] Cuộc đời nhiều mất mát, khổ đau, nhiều nỗi buồn tạo nên một hồn thơ

Lê Thị Mây đằm thắm dịu dàng đầy nữ tính, một: “Lê Thị Mây không chỉ trầm ngâm với “cái tôi” của mình mà còn quan tâm, đồng cảm với những thân phận người phụ nữ thời hậu chiến, những éo le, những dở dang, những đợi chờ, cay đắng: “Giấc mơ của người thiếu phụ chờ chồng, nửa vầng trăng” [43, tr 491]

Vũ Nho trong bài viết Hờn nửa vầng trăng (Về tập Du ca cây lựu tình)

đã nhận xét về thơ Lê Thị Mây rằng: “Trước hết và trên hết, chị đã nhặt lên những gì quanh chị, gắn liền với chị Những gì đã trải nghiệm, đã hy vọng, đã đớn đau, đã sống với tư cách một công dân, một tình nhân, một người đàn bà, một thi sĩ Có đôi khi cái hiện thực bộn bề được chị chưng cất: “Ta chưng cất nỗi niềm cay đắng” (…) Vẫn là những câu chuyện muôn đời không cũ: Những khát khao, hi vọng, những đợi chờ, lỡ dở, mất mát, những cay đắng, hờn lẫy… đa dạng và đa diện như cuộc sống nhưng được nói với một cách thức mới” [52, tr 273].Và tác giả cũng rất thành thực khi ca ngợi Lê Thị Mây

trong lời bình cho bài thơ Gió quả phụ: “Phải có một trái tim nhạy cảm, có

tấm lòng đầy vị tha, có sự cảm thông sâu sắc của người đàn bà mới thấy hết

Trang 11

những mất mát hi sinh của người phụ nữ trong chiến tranh và nhất là những

mất mát hy sinh khi chiến tranh đã kết thúc từ lâu Gió quả phụ là một lời

hiệu triệu có ý nghĩa toàn cầu nhân danh những khổ đau, mất mát của người phụ nữ: hãy vĩnh viễn ngăn chặn và chấm dứt chiến tranh Để mãi mãi gió không là quả phụ Gió không là trầm ca Để mãi mãi Gió chỉ là người đàn bà hát những khúc ca ngọt ngào hạnh phúc” [52, tr 289]

Trong bài Lê Thị Mây và vết sẹo thơ, tác giả Ngô Minh đã trải dài

những kỉ niệm, những nỗi buồn của Lê Thị Mây ra trước mắt người đọc Tác giả viết: “Nói đến Lê Thị Mây là nói đến nỗi buồn Nỗi buồn đau do chiến tranh và số phận ấy đã thành sẹo trong thơ chị, nó làm nên hình hài và ruột

gan thơ chị Ngồi buồn cầm hết mông lung/ Vết thương năm cũ thủy chung dễ

gì Vết thương ấy là vết thương chiến tranh và đau hơn là những vết thương

lòng đã nhiều lần mưng mủ” [50] Tác giả cũng cho rằng: “Chị đã lao động cật lực, đã chịu đựng biết bao mất mát đau thương của số phận, kể cả sự cô đơn và quyền được làm mẹ, để ghi tên mình vào danh sách những cây bút nữ xuất sắc nhất của làng thơ Việt thế kỉ XX” [50] “Cô thanh niên xung phong nhiều năm trên Trường Sơn ấy đến nay đã xuất bản 20 tác phẩm thơ văn;

được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam về tập thơ Tặng riêng một người (1990) và tặng thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam cho truyện dài Huyết ngọc (1998) Chị có bài thơ nổi tiếng “Những mùa trăng mong chờ” được chọn vào

100 bài thơ hay nhất thế kỷ” [50] Đó là những ghi nhận xứng đáng cho sự hi sinh và cống hiến hết mình cho nghệ thuật của Lê Thị Mây

Trong bài viết Nhà thơ Lê Thị Mây – nỗi buồn như con cọp rình mồi

tháng chạp, tác giả Như Bình cũng có chung những nhận định như Ngô Minh

về nỗi buồn, những mất mát lớn lao trong cuộc đời Lê Thị Mây để cống hiến cho đời những vần thơ hay, “Chiếm lĩnh bạn đọc một thời gian dài bởi những bài thơ xuất thần, tài hoa và sâu sắc khi nói về tình yêu, về thân phận của

Trang 12

những người đàn bà đi qua chiến tranh” [6] “Bao nhiêu sự duyên dáng, xinh đẹp và gợi cảm chị chắt chiu, dành dụm và trút hết vào thơ, dành cho thơ Bên ngoài chị là một người đàn bà giản đơn, không quan tâm nhan sắc như muôn ngàn người đàn bà khác Chị dành tất cả cho con đường thơ, và khi đó, con cọp trong chị dường như đang bước ra từ phiên bản chị để lao động cật lực, để đạt bằng được cái đích chị đã vạch sẵn Phải là một tâm hồn vô cùng mẫn cảm trước cái đẹp, hạnh phúc, khổ đau” [6]

Trong bài Tình yêu dài suốt cuộc đời, tác giả Đinh Quang Tốn đã viết:

“Ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh mà thơ Lê Thị Mây không nói trực tiếp

về chiến tranh như đa số các nhà thơ thời ấy Thơ chị nói về tình yêu và thân phận con người (…) Ở thơ chị, cuộc sống hiện thực cứ lặn đi, chỉ còn lại cách nói riêng của chị (…) Đọc thơ Lê Thị Mây hôm nay, dẫu chị chẳng cố tình, tôi vẫn thấy chị đang đi ở giữa hai quan niệm thơ truyền thống và thơ

“hiện đại”, tuy không phải bài nào cũng đạt được như vậy Đó là đổi mới, hiện đại một cách lặng lẽ bình dị, chứ không bí hiểm kỳ quặc Lê Thị Mây là một trong những nhà thơ đi đến hiện đại một cách tự nhiên, không cần tuyên ngôn, la hét” [69] Lời tác giả trích dẫn tâm sự của Lê Thị Mây giúp người đọc có cái nhìn rõ nét hơn về những ẩn ức chị gửi vào trong thơ: “Tôi nghĩ, thơ là nỗi buồn thầm kín của tôi đã cất tiếng khóc khi còn lại một mình”

(“Nhà văn Việt Nam hiện đại” – Hội Nhà văn Việt Nam – 2007) [69]

Tác giả Hà Quang Thiều trong bài viết về bài thơ Trăng cây rơm của

Lê Thị Mây đã cảm nhận được tâm trạng của người con gái: “Khao khát tình yêu như cây rơm đợi lửa… Nhưng vẫn hồn hậu, bâng khuâng và huyền hoặc như một vầng trăng xa vời” [73] Tác giả viết: “ Bài thơ viết về tâm trạng của một người con gái, khắc khoải chờ mong tình yêu đến với mình Một câu chuyện rất bình thường mà ở đâu cũng có những cô gái đợi chờ tình yêu như thế… Nhưng ở đây, tình cảm ấy được gửi gắm vào hình thái nửa thực, nửa

Trang 13

hư, làm người đọc phải liên tưởng đến nhiều chiều của một diễn biến tâm lý,

đó là trăng cây rơm… Trăng là hình tượng của những giấc mộng, của những khát khao lãng mạn không cùng… Nhưng cây rơm ở đây lại quá đỗi thực” [73] Tình yêu, niềm tin trong người con gái ấy luôn song song tồn tại với sự dằn vặt, đợi chờ Đó cũng là một trong những nguồn thi hứng để Lê Thị Mây sáng tác: “Vẫn tràn đầy sức sống, tràn đầy khát khao… Song vẫn chỉ là sự đợi chờ Một sự đợi chờ dằn vặt nhưng lại thanh thản, bình tĩnh… Và một niềm tin, niềm hi vọng vẫn còn nung nấu, ấp ủ… trong trái tim người con gái đợi chờ” [73]

Trong bài bình Lỡ hẹn “Đám cỏ xanh” Võ Văn Luyến đã có những

nhận xét và thấu hiểu với tâm trạng của người con gái trong bài thơ: giận hờn,

lo sợ, cô đơn khi người yêu lỡ hẹn: “Rõ là nỗi buồn thu lại, cất giấu ở góc

khuất trái tim Thành thử tình yêu bị đẩy lên vời vợi “chỉ sao trời yêu nhau”

Đằng sau câu thơ rưng rưng nỗi tủi phận rất đáng yêu, rất nữ tính của người bị đơn sai lỗi hẹn” [42] Tác giả cũng cho rằng: “Hình như ngóng – mong – trông – đợi ở người phụ nữ mới da diết, và nếu được giãi bày thì ngoài họ ra ít

có ai nói được hay hơn, thấm đẫm hơn, xúc động hơn” [42]

2.2 Nghiên cứu về trường ca Lê Thị Mây

Trường ca tuy chiếm số lượng không nhiều trong sáng tác của Lê Thị Mây nhưng với lối viết độc đáo, sâu sắc, chân thật và ý nghĩa, ba tập trường

ca có sức khái quát và khắc họa lớn về những giai đoạn lịch sử của dân tộc, bằng chính chiêm nghiệm cuộc đời tác giả đã trải qua Trường ca góp phần hoàn thành sứ mệnh trong việc chuyên chở tâm huyết, tuyên ngôn , những ẩn

ức triết lý của nhà thơ tới người đọc

Hoàng Kim Dung trong Một ngày xưa yêu cho đến bây giờ đã nhận định về trường ca Lửa mùa hong áo (2003) của Lê Thị Mây: "Tính đến thời

điểm hiện nay, có lẽ chị là nhà thơ nữ duy nhất viết trường ca về đề tài chiến

Trang 14

tranh cách mạng" [13] Tác giả bài viết có nhận xét khá chính xác: "Cảm hứng chủ đạo về những người phụ nữ Việt Nam bình dị yêu thương nhân hậu

mà dũng cảm anh hùng đã được nhà thơ tâm niệm, ấp ủ, đã sáng lên ngọn lửa sáng tạo từ trong thẳm sâu của tâm hồn thi sĩ Từ những ý tưởng đó Lê Thị

Mây đã viết nên trường ca Lửa mùa hong áo với mười bảy chương, 143 trang sách Trong Lửa mùa hong áo nhà thơ đã có một nội lực thi ca dồi dào và tài

hoa Cảm hứng chủ đạo định hướng cho lý tưởng thẩm mỹ, lý tưởng yêu quê hương đất nước da diết Như một cuốn phim trôi dòng về quá khứ với các sự kiện bi thương và hào hùng" [13] Chính: "Trái tim thi sĩ rung động sâu xa đã đưa người đọc về những bến bờ của cội nguồn tình cảm Những khát vọng về tình yêu, về hạnh phúc của tuổi trẻ Nó đẹp, thơ mộng nhưng sao giản dị và thương mến lạ lùng giữa cuộc chiến tranh ác liệt" [13]

Cùng nói về trường ca Lửa mùa hong áo (2003) của Lê Thị Mây, tác giả Nguyễn Thị Hậu trong Trường ca Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ thể

loại nhận định: "Trường ca Lửa mùa hong áo của Lê Thị Mây khi xuất hiện

đã làm ngỡ ngàng nhiều người Qua trường ca này chị đã chứng tỏ phụ nữ cũng mạnh mẽ chẳng kém gì nam giới Chị cũng gia nhập vào cái mạch trữ tình - suy tư lịch sử của các đồng nghiệp nam giới Chất trữ tình lịch sử đã thể hiện sâu đậm trong trường ca của chị" [29, tr 123] và "Điều đặc biệt đây lại là nhà thơ nữ duy nhất viết trường ca" [29, tr 123]

Nói về trường ca Lửa mùa hong áo (2003) và Tự khúc ánh sáng (2006), Ngân Hà trong Lê Thị Mây - nữ sĩ viết trường ca nhận định: "Nếu phải kể tên

các nhà thơ từng viết trường ca thì có thể kể tới các tên tuổi như Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái… mới giật mình nhận ra những tên tuổi ấy chiếm hơn 99% là nam và tính đến nay chúng ta chỉ có duy nhất một nhà thơ nữ viết trường ca,

đó là Lê Thị Mây " [27] Và: "đọc trường ca của Lê Thị Mây “nhiều người

Trang 15

không dứt ra được” cho đến khi những dòng chữ cuối cùng xuất hiện Dù là

kể lại, nhớ lại con người, sự kiện… trong chiến tranh thì Lê Thị Mây cũng không dùng giọng trần thuật, tường thuật đều đều mà lúc nào cũng chứa chan tình cảm, lúc dồn dập, tha thiết tạo nên sức hấp dẫn của thể thơ" [27]

Vĩ Lam đã nhận định về trường ca Người sau chân sóng (2013) trong

Lê Thị Mây: 40 năm mang trong mình đứa con từ biển: "Phải đến khi gặp

được nữ nhà thơ, những người tổ chức chương trình mới thấu hiểu, và cảm nhận hết sự ngây thơ, trong trẻo, chỉ biết sống với Thơ của một cô cựu thanh niên xung phong, đã suốt 40 năm liền đi trong giấc mơ dài về biển" [35] "40 năm, từ giây phút vỡ nát của trái tim trong đôi mắt của cô gái thanh niên xung phong khi trở về quê hương để đứng trước cảnh hoang tàn của chiến tranh Bao nỗi nhớ quê hương, gia đình và những kỉ niệm bỗng chốc chỉ còn lại trong những giọt nước mắt để rồi từ đó đứa con tinh thần bắt đầu hình thành trong cô từ ấy"[35] Và sau 40 năm ấy, mạch chảy trong thơ Lê Thị Mây vẫn luôn mãnh liệt và giằng xé, vẫn chưa bao giờ ngơi nghỉ

Đọc thơ Lê Thị Mây chúng ta không chỉ nhận ra nhiều nỗi buồn thấm thía, trong thơ luôn ẩn giấu sự khắc khoải đợi chờ Ẩn chứa trong thơ còn vẻ đẹp của sức sống, hi vọng và niềm tin, tin vào tương lai và yêu mến con người tốt đẹp Nhà thơ yêu và đợi chờ, hi vọng bằng trái tim rất đỗi hiền lành, vị tha của người con gái Chị san sẻ những nỗi buồn, niềm tin và tình yêu ấy cho cả những số phận người phụ nữ khác kém may mắn trong tình yêu, những mảnh đời mất mát lớn lao qua chiến tranh ác liệt, mà ít khi giữ cho riêng mình, bằng cách rất dung dị đáng yêu, rất nữ tính là gửi vào trong thơ Càng về sau tính

ẩn ức trong thơ Lê Thị Mây càng rõ nét

Trên đây là một số bài viết, ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu về nhà thơ Lê Thị Mây Tuy nhiên chưa công trình, bài viết nào có một cái nhìn

hệ thống và toàn diện về Đặc điểm trường ca Lê Thị Mây.Trên cơ sở tiếp thu

Trang 16

những ý kiến trước, luận văn tiếp tục làm rõ những đặc sắc nổi bật đó trong trường ca Lê Thị Mây

3 Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn nghiên cứu đề tài Đặc điểm trường ca Lê Thị Mây, mục đích

của chúng tôi ở đề tài này nhằm xác định khái niệm trường ca; tìm hiểu đặc điểm trường ca Lê Thị Mây qua nội dung và nghệ thuật biểu hiện qua đó nhằm làm rõ hơn phong cách nhà thơ và những đóng góp đáng kể của tác giả

ở thể loại này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích khoa học đã đặt ra, luận văn về đề tài Đặc điểm trường

ca Lê Thị Mây tập trung xem xét và làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến

đề tài Cụ thể là cảm hứng sáng tác, những đặc sắc về nội dung, những đặc sắc về nghệ thuật của trường ca Lê Thị Mây Từ đó thấy được những đóng

góp riêng của nhà thơ về thể loại trường ca

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích khoa học và đối tượng nghiên cứu của đề tài, ở đề

tài Đặc điểm trường ca Lê Thị Mây, chúng tôi tập trung đi sâu vào khai thác

ba trường ca đã xuất bản của tác giả:

Lửa mùa hong áo (Nxb Quân đội 2003)

Tự khúc ánh sáng (Nxb Quân đội 2006)

Người sau chân sóng (Nxb Quân đội 2013)

Bên cạnh đó luận văn còn tìm hiểu một số tập thơ tiêu biểu của Lê Thị Mây:

Tình yêu dài suốt cuộc đời (Hội nhà văn, 2004)

Thương nhớ một ngày (Hội nhà văn, 2006)

Thơ và trường ca Lê Thị Mây (Hội nhà văn, 2009)

Trang 17

Ngoài ra, luận văn còn đi vào khảo sát và tham khảo thơ, trường ca của một số nhà thơ Việt Nam tiêu biểu qua các thời kì để đối chiếu, so sánh, tìm

ra những nét tương đồng và khác biệt trong trường ca Lê Thị Mây

Để tiến hành nghiên cứu đề tài Đặc điểm trường ca Lê Thị Mây, chúng

tôi có những hướng tiếp cận tư liệu để triển khai như sau:

Trước hết, tìm đọc tất cả các trường ca đã xuất bản của Lê Thị Mây cho

đến nay

Thứ hai, tìm các bài viết, công trình nghiên cứu bàn về thể loại trường

ca, về trường ca của các tác giả nữ, trường ca Lê Thị Mây

Thứ ba, khảo sát đặc điểm từng trường ca từ đó khái quát những đặc

điểm tiêu biểu của trường ca Lê Thị Mây

Thứ tư, so sánh với một số tác giả cùng thể loại, cùng thời

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp sau: phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp tiếp cận thi pháp học, xã hội học, văn học…; phương pháp thống kê; phương pháp đối chiếu so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm trường ca Lê Thị Mây, luận văn chỉ ra những đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật trong trường ca của tác giả Qua đó có cái nhìn đầy đủ và có hệ thống toàn diện hơn về đặc điểm trường

ca Lê Thị Mây, khẳng định những đóng góp nổi bật về mặt thể loại trường ca trong thơ ca Việt Nam hiện đại, từ đó làm nổi bật phong cách tác giả Trên cơ

sở những kết quả nghiên cứu đạt được, luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho những độc giả quan tâm, yêu thích thơ Lê Thị Mây nói riêng và cho việc giảng dạy thơ Việt Nam hiện đại trong nhà trường nói chung

Trang 18

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai thành ba chương:

Chương 1 Đặc trưng thể loại trường ca và con đường sáng tạo của Lê Thị Mây

Chương 2 Đối tượng thẩm mỹ trong trường ca Lê Thị Mây

Chương 3 Nghệ thuật trong trường ca Lê Thị Mây

Trang 19

Chương 1 ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRƯỜNG CA VÀ CON ĐƯỜNG SÁNG TẠO

CỦA LÊ THỊ MÂY 1.1 Cơ sở lý luận về thể loại trường ca

1.1.1 Khái niệm trường ca

Thuật ngữ hay tên gọi “trường ca” trong tiếng Việt (tiếng Anh là

“poem”, tiếng Pháp “poème” để phân biệt với “sử thi” hay “anh hùng ca” có nguồn gốc từ văn học phương Tây, bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX Khái niệm trường ca xuất hiện trong bối cảnh văn học

có những vận động, biến đổi mạnh mẽ là một thể loại văn học mới có khả năng đáp ứng nhu cầu phản ánh những vấn đề lớn của lịch sử, vận mệnh dân tộc Đây được coi là một thể loại có tầm cỡ hoành tráng trong hệ thống thơ ca,

“làm nên gương mặt riêng của thơ ca hiện đại Việt Nam” [5, tr.22]

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Trường ca là tác phẩm dài, bằng thơ,

có nội dung ý nghĩa xã hội rộng lớn” [81, tr.1057]

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Trường ca là tác phẩm thơ có

dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi thời cổ và trung đại, khuyết danh hoặc

có tác giả” [24, tr 376]

Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cho rằng: “Trường ca có

dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc sườn truyện trữ tình Chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sử thi và truyện kể hoặc bằng nới rộng một vài truyền thuyết dân gian (Ahoyler) hoặc bằng cách cải biên các truyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian Trường ca với tư cách một thể loại tổng hợp, trữ tình – tự sự, hoành tráng cho phép kết hợp những chấn động lớn, những cảm xúc trầm sâu và những quan niệm về lịch

sử vẫn là một thể loại hiệu năng của thơ ca thế giới” [3, tr 363 – 364]

Trang 20

“Trường ca là kết quả của một quá trình kế thừa, tiếp thu và tương tác giữa các thể loại thơ ca trường thiên” [29, tr 56] Đó là những tác phẩm có tầm vóc lớn lao về cả hình thức và nội dung, có khả năng thể hiện những vấn

đề lớn của dân tộc, thời đại Trường ca được coi là biến thể của sử thi truyền thống Chất sử thi hùng tráng trong những bản anh hùng ca cổ vẫn được tiếp nối trong trường ca, làm nên nét độc đáo đặc trưng cho thể loại này Theo những cách định nghĩa trên, trường ca đồng nhất với sử thi, anh hùng ca, dùng

để chỉ những sáng tác dân gian có tính chất sử thi và độ dài: Iliats, Ôđixê,

Ramayana, Mahabrata… của thế giới hay Đam San, Xinh Nhã, các Khan

(Tây Nguyên)… của Việt Nam Trường ca hiện đại vừa có sự vận động kế thừa trường ca cổ vừa có những nét khác biệt, đặc trưng riêng của một thể loại văn học hiện đại Ở trường ca, đặc biệt là trường ca hiện đại, chất trữ tình – suy tư chiếm vị trí nổi trội bên cạnh chất tự sự vốn có

Trường ca phản ánh sự vận động của lịch sử dân tộc qua những biến động lớn lao Đó là cảm hứng để các tác giả viết lên những bản trường ca hoành tráng đầy chất sử thi cách mạng Hiện thực chiến tranh khắc nghiệt mà hào hùng qua hai cuộc chống Pháp và chống Mỹ đã trở thành nguồn cảm xúc

vô tận, đưa thể loại trường ca trở thành gương mặt riêng tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt từ sau năm 1975 Cũng như sử thi, trường ca được viết lên từ chất liệu hào hùng của cuộc sống, từ trái tim và tài năng của những con người đã đi qua chiến tranh, trưởng thành trong chiến tranh Rất nhiều những tác phẩm thành công ra đời sau khi đã diễn ra những sự kiện lịch

sử ấy Bởi, để viết lên những tác phẩm giá trị: “nhà thơ cần có một độ lùi thời

gian cần thiết để chiêm nghiệm lịch sử, để tích lũy cảm xúc, và khi lịch sử đã

đi qua nhưng âm ba của những sự kiện lớn ấy vẫn “không thể nào quên”, trường ca lại xuất hiện rầm rộ hơn và để lại nhiều thành tựu nghệ thuật cao hơn” [4]

Trang 21

1.1.2 Một số ý kiến về thể loại trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại

Trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại ra đời xuất phát từ nhu cầu tổng kết, nhận diện lịch sử dân tộc Mỗi bước hình thành và phát triển qua từng giai đoạn đánh dấu một mốc đổi mới quan trọng của thể loại trường ca Trên con đường nghệ thuật đi tìm ý nghĩa cho thể loại, mỗi tác giả có một cái nhìn riêng về thể loại trường ca Mỗi ý kiến tiêu biểu về trường ca hiện đại Việt Nam đã làm rõ nét hơn về đặc điểm trường ca Việt Nam hiện đại

Nhà phê bình Lại Nguyên Ân trong Mấy suy nghĩ về thể trường ca cho rằng: “Một vấn đề khá mấu chốt của trường ca là vấn đề quan hệ giữa tính tự

sự và tính trữ tình” [2] Phạm Ngọc Cảnh trong Trường ca và người viết trường ca lại quan niệm: “Trường ca phải là sự khái quát nội dung rộng lớn”

Tác giả Từ Sơn trong Về khái niệm trường ca gọi trường ca là những tác

phẩm thơ dài có cốt truyện Về sau, một loạt ý kiến định nghĩa trường ca được đưa ra như: Đỗ Văn Khang, Phạm Huy Thông, Hoàng Ngọc Hiến, Mã Giang Lân… Các ý kiến đã góp phần làm sáng rõ hơn khái niệm trường ca

Về đặc trưng thể loại, Lại Nguyên Ân ngay từ Mấy suy nghĩ về thể

trường ca (2 – 1975) được đăng trên báo, sau đó in trong Văn học và phê bình

đã cho rằng: “Trong thơ những năm gần đây có sự xuất hiện ngày càng nhiều

những sáng tác thơ dài, thường được gọi là trường ca” [2] Bài viết đã đề cập

đến sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng của thể loại trường ca; tác giả ghi nhận những thể nghiệm của thể loại trường ca, đồng thời nêu lên những khác biệt của trường ca so với các thể tài khác: truyện thơ, thơ trường thiên, thơ sân khấu, thơ dài trữ tình chính luận; nêu lên những đặc trưng cơ bản của thể loại trường ca; các hình thức trường ca viết trong giai đoạn đó

Trang 22

Mai Bá Ấn trong Hai đặc điểm cơ bản của trường ca Việt Nam hiện đại cho rằng: “Trường ca là một tác phẩm được viết bằng thơ trên phương thức

kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ tình, có tính hoành tráng về cả phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được nhà thơ viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của lịch sử, của dân tộc và thời đại” [4]

Bài viết chỉ ra rằng trường ca là một cấu trúc nghệ thuật phức hợp thông qua các phương thức biểu hiện Theo tác giả, xu hướng trường ca hóa thơ dài sẽ

hạ thấp vai trò của trường ca, làm mờ đi ranh giới giữa chúng với các thể loại văn học khác Bài viết là nghiên cứu tiêu biểu về đặc trưng thể loại trường ca, ngoài ra còn nhiều bài viết công phu của các tác giả khác về đặc điểm này: Trần Ngọc Vương, Mã Giang Lân, Vũ Đức Phúc…

Nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ trong Đôi nét về trường ca những năm

gần đây – nhìn từ góc độ thể loại cũng đưa ra ý kiến về sự phát triển của thể

loại trường ca từ sau năm 1975: “trường ca phát triển theo hướng trữ tình,

tâm lý, triết lý, yếu tố cốt truyện giảm xuống, các cảm xúc cá nhân thường được đặt trong liên hệ với những sự kiện lớn của lịch sử, của đất nước” Tác

giả dựa vào nội dung, đối tượng phản ánh, phương thức thể hiện, hình tượng trung tâm và âm hưởng chủ đạo của tác phẩm để làm căn cứ xác định thể loại Trong bài viết, tác giả đưa ra cái nhìn mới về một số tác phẩm trường ca tiêu biểu đương thời

Nhiều bài viết, ý kiến được đưa ra như: Trường ca – thành tựu của nền

văn học mới và Trường ca trong hệ thống thể loại thơ Việt Nam hiện đại (Vũ

Văn Sỹ), Về đặc trưng trường ca qua “Người cùng thời” (Mai Văn Phấn),

Chất sử thi trong trường ca Việt Nam hiện đại 1954 – 1985 (Nguyễn Thị

Hồng Liên), Trường ca về đề tài chiến tranh chống Mỹ (nhìn từ góc độ thể

loại) (Diêu Lan Phương), Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến

Trang 23

cuối thế kỷ XX (Đào Thị Bình), Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo (Mai Bá Ấn)…

1.1.3 Các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại 1.1.3.1 Trước 1945 – những tiền đề về sự hình thành thể loại

Trước 1945, trường ca hiện đại Việt Nam hầu như chưa có, nhưng những tiền đề của nó đã xuất hiện và phát triển từ xa xưa theo sự thâm trầm của lịch sử dân tộc Trường ca là thể loại có khả năng dung chứa và phản ánh những sự kiện lớn lao của thời đại, vì thế mà trong điều kiện lịch sử thuận lợi

và hào hùng mới khai sinh ra thể loại trường ca

Giai đoạn trước năm 1945 trường ca Việt Nam tồn tại dưới dạng những bản anh hùng ca mang đậm tính chất sử thi tồn tại lâu đời trong lịch sử dân

tộc từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Những Đam San, Xinh Nhã,

sử thi Tây Nguyên đầy âm hưởng núi rừng Các tác phẩm đã đi vào kho tàng

văn học cổ, trở thành tài liệu quý giá cho việc học tập, nghiên cứu của các thế

hệ sau, tạo cơ sở cho thể loại trường ca ra đời Chính trạng thái chống chiến tranh liên miên của cha ông ta trong quá khứ đã làm tiền đề cho sự ra đời của thể loại trường ca sau này Tuy nhiên ở thời kì lịch sử mà con người vốn ngại thay đổi trong nhịp sống bình lặng của đất nước có truyền thống lúa nước và

bị phong kiến phương Bắc đô hộ hàng nghìn năm thì khó sinh ra thể loại trường ca

Chiến tranh là điều kiện gắn kết và thức tỉnh ý thức cộng đồng dân tộc, một điều kiện quan trọng hình thành thể loại Qua 20 thế kỉ hình thành và phát triển, dân tộc ta trải qua biết bao cuộc chiến chống ngoại xâm Chính ý thức dân tộc, cộng đồng, sự đoàn kết và lòng tự tôn dân tộc đã làm nên những chiến thắng rực rỡ với những chiến công vang dội của quân và dân ta Điều đó

có ý nghĩa chính trị xã hội rộng lớn, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc tới trường

ca mang âm hưởng sử thi

Trang 24

Trong những cuộc chiến hào hùng của dân tộc ấy, nhân dân chiến một

vị trí quan trọng Họ được nâng tầm thành sức mạnh để đập tan mọi bè lũ cướp nước và bán nước Tầm quan trọng của nhân dân đã được Nguyễn Trãi

đề cập: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Theo Nguyễn Trãi,

dân chính là thước đo và động lực của mọi hoạt động chính trị Tư tưởng ấy khá hiện đại và tiến bộ gần với tư tưởng Hồ Chí Minh sau này Trước Nguyễn Trãi, vai trò của nhân dân (hay quần chúng nhân dân như sau này vẫn gọi) chưa được xem trọng, trong quan niệm của văn học phong kiến, vẫn coi nhân

dân là dân đen, con đỏ Tuy nhiên, trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, vai trò

của nhân dân cũng hết sức quan trọng, làm nên chiến thắng và sự bình yên cho tổ quốc bằng sức mạnh cộng đồng

Tiền thân của trường ca trong lịch sử dân tộc là những truyền thuyết, sử

thi, thơ trường thiên: Thánh Gióng, Hào khí Đông A, những tác phẩm văn thơ

của các tầng lớp trong thế kỉ XVIII, XIX, và đến văn thơ cách mạng hiện đại sau này Trong những tác phẩm đại tự sự ấy, chủ nghĩa yêu nước và tinh thần

tự hào dân tộc đóng vai trò quan trọng, cũng là tiền đề cho sự hình thành thể loại trường ca hiện đại sau này

Chính chất sử thi, anh hùng ca trong văn học truyền thống đã ảnh hưởng đến tư duy thể loại trường ca Có thể thấy, mỗi thể loại văn học ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định và phù hợp để phát triển Trường ca

ra đời trong nền lịch sử sôi động và hào hùng của thời đại

Bắt đầu từ năm 1935, giữa lúc phong trào Thơ Mới phát triển sôi động

đã xuất hiện trường ca Tiếng địch sông Ô của Huy Thông Tác phẩm mà theo

tác giả sau này phát biểu thì đó là trường ca hiện đại đầu tiên trong nền thơ hiện đại Việt Nam Tuy nhiên tác phẩm vẫn mang âm hưởng trường ca sử thi

cổ - trung đại của thế giới và chưa thể hiện rõ những đặc trưng thể loại trường

ca hiện đại

Trang 25

1.1.3.2 Sau 1945 – thời kỳ phát triển và khẳng định của trường ca

Bước qua phong trào Thơ Mới, văn học chuyển từ thể hiện đời sống cá nhân sang thể hiện những vấn đề lớn lao của dân tộc và thời đại, chuyển từ

“cái tôi” sang “cái ta” chung Văn học thời kì này phát triển theo định hướng của Đảng, trở thành một mặt trận phục vụ kháng chiến Đó là nền văn học hướng về đại chúng, về giai cấp công, nông, binh Danh hiệu nhà văn – chiến

sĩ được đề cao trên mặt trận văn hóa văn nghệ mà Hồ chủ tịch đã khẳng định năm 1951

Thể loại trường ca cũng không nằm ngoài sự vận động và phát triển đó Điều kiện lịch sử đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho thể loại phát huy khả năng phản ánh hiện thực và phục vụ kháng chiến, ghi giữ lại những khoảnh khắc đau thương mà vinh quang của dân tộc Âm hưởng sử thi đã trở thành sợi chỉ xuyên suốt trong các sáng tác văn học nói chung ở thời kì này Các nhà văn, nhà thơ bị cuốn theo không khí hào hùng của thời đại mới, nhà thơ

Hữu Thỉnh trong Sự chuẩn bị của người viết trẻ đã phát biểu: “Hiện thực

chiến tranh, cuộc sống của người lính dội vào mạnh đến mức vượt ra khỏi một thời đoạn, một đề tài Nó thành một tâm thế” [77] và “cuộc sống lớn lao,

bi tráng quá, đòi hỏi phải mở rộng các kích cỡ” [77]

Văn học Việt Nam nói chung, trường ca nói riêng từ sau năm 1945 có ý nghĩa tổng kết một giai đoạn lịch sử của dân tộc Trong những năm kháng chiến chống Pháp và những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, một số bản

trường ca đầu tiên ra đời: Từ đêm mười chín (Khương Hữu Dụng, năm 1951),

Những người trên cửa biển (Văn Cao, 1956), Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (Phùng Quán, 1955), Bài thơ Hắc Hải (Nguyễn Đình Thi, 1959), Du kích sông Loan (Xuân Hoàng, 1963)… Ở giai đoạn này, trường ca còn rất khiêm

tốn về số lượng và chất lượng nhưng vẫn đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Trang 26

Sang kháng chiến chống Mỹ, trường ca có sự phát triển vượt bậc về cả

số lượng và chất lượng Thời kì này, các nhà thơ đã trưởng thành, lớn mạnh,

có đủ sức vóc để đảm đương một thể loại văn học mới đặc sắc Năm 1964,

trường ca Bài ca chim Chơ – rao ra đời, đây được coi là “một cú hích, một

dấu mốc” chính thức khai sinh ra thể loại trường ca hiện đại Việt Nam” [9, tr

74] Từ đó, ra đời một loạt tác phẩm: Nguyễn Văn Trỗi (Lê Anh Xuân, 1969),

Mặt đường khát vọng (1974), Kể chuyện ăn cốm giữa sân (Nguyễn Khắc

Phục, 1974), Theo chân Bác (Tố Hữu, 1970), Bác (Lê Đạt, 1970), Hồ Chí

Minh (Lê Huy Quang, 1969 – 1970)…

Đặc biệt từ sau năm 1975, trường ca được coi là đã đạt được một vụ mùa bội thu Năm 1975 là một bước ngoặt lịch sử của đất nước Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc: kỷ nguyên của độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội Nhân dân ta vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của các nước đế quốc, đất nước thoát khỏi thảm họa bị chia cắt, giải phóng hoàn toàn miền Nam, bảo về được thành quả của

Cách mạng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Kể từ đây, nước Việt Nam ta: “Từ

Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau/ Trời ta chỉ một trên đầu/ Bắc Nam liền một dải” (Tố Hữu)

Hoàn cảnh lịch sử là điều kiện để văn học Việt Nam nói chung, thơ ca nói riêng có những tiếng nói mới, phù hợp với xu thế chung của thời đại Sau chiến tranh, thơ Việt Nam có những bước chuyển biến rõ rệt, có những thay đổi và hình thành nhiều xu hướng khác nhau Các nhà văn, nhà thơ bắt đầu đi sâu vào nền hiện thực mới: hiện thực đời sống nội tâm của cái tôi cá nhân Trường ca hiện đại Việt Nam chuyển hướng thể hiện chất trữ tình trên nền tự

sự - những sự kiện lịch sử dân tộc Có thể nói giai đoạn chống Mỹ và sau chống Mỹ là thời kì phát triển rực rỡ của thể loại trường ca Trường ca giai đoạn này có sự đan xen hai yếu tố tự sự và trữ tình, làm nên độ hoàn chỉnh về

Trang 27

thể loại của trường ca; có ý nghĩa tổng kết, khẳng định một giai đoạn lịch sử

với những chiến công hào hùng của dân tộc Một loạt tác phẩm ra đời: Những

người đi tới biển (Thanh Thảo, 1977), Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh,

1979), Trường ca sư đoàn (Nguyễn Đức Mậu, 1980), Con đường của những

vì sao (Nguyễn Trọng Tạo, 1981), Mặt trời trong lòng đất (Trần Mạnh Hảo,

1981)…

Từ sau năm 1980 trường ca đi sâu vào khuynh hướng trữ tình với các

tác phẩm: Khối vuông rubíc (Thanh Thảo, 1985), Trường ca biển (Hữu Thỉnh, 1994), Gọi nhau qua vách núi (Thi Hoàng, 1995), Người cùng thời (Mai Văn Phấn, 1999), Đổ bóng xuống mặt trời (Trần Anh Thái, 1999), Lửa mùa hong

áo (Lê Thị Mây, 2003)…

1.1.4 Nội dung trường ca hiện đại

Để viết lên những tác phẩm giá trị, đòi hỏi các tác giả phải có vốn sống,

sự chiêm nghiệm về cuộc đời, điều đó lí giải vì sao nhiều tác phẩm giá trị ra đời nhiều năm sau chiến tranh, khi đã có độ lùi cần thiết Hầu hết các tác giả viết trường ca đều đã đi qua chiến tranh, chứng kiến và cảm nhận những mất mát hi sinh và chiến thắng hào hùng dân tộc Nội dung của trường ca được thể hiện với con mắt của người trong cuộc, những con người đại diện cho chân lí

và chính nghĩa Hai chủ đề lớn của trường ca hiện đại Việt Nam là: Chủ đề về chiến tranh và người lính, đất nước và số phận con người

Chiến tranh và người lính

Thể loại trường ca khai sinh trên nền hiện thực hào hùng của lịch sử dân tộc Những cuộc chiến tranh vĩ đại mà quân và dân ta đã trải qua là nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn trải nghiệm và viết lên những bản trường ca đặc sắc Đặc biệt, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trên nền lịch sử lâu đời của cha ông ta đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng của các nhà văn, nhà thơ Họ viết về chiến tranh, ghi giữ dấu ấn của dân tộc, viết

Trang 28

về người lính – những con người trực tiếp đương đầu nơi đầu súng ngọn giáo, nơi chiến trường ác liệt Họ viết về chính họ - những con người đã góp phần mình vào cuộc chiến tranh, đã đi qua chiến tranh và đem tâm huyết tài năng góp lại cho cuộc đời Trong bom đạn, trong gian khổ hi sinh, những phẩm chất cao đẹp của người lính càng bộc lộ rõ ràng Những con người sẵn sàng hi sinh cho độc lập tự do Tổ quốc:

“Người ta không thể chọn để được sinh ra

Nhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng phút giây năm tháng ấy

… − Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình

(nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc?)

Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ Quốc?”

(Những người đi tới biển – Thanh Thảo)

Và chỉ có những người lính mới cảm nhận được hết cái mong manh của nấc đạn, mong manh giữa sự sống và cái chết:

“Hòa bình và chiến tranh, cách nhau bằng nấc đạn”

(Ngày 30 tháng 4 – Nguyễn Đức Mậu)

Gian khổ là thế, nhưng họ luôn vững tin vào ngày gặp mặt với một tinh thần lạc quan…:

“Ngày mai chúng ta đánh trận cuối cùng

Một nửa nhân dân ngày mai ta nhận mặt Nhân dân trở về từ bên kia mặt trăng”

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)

Có thể nói chiến tranh và người lính là đề tài bất tận cho thể loại trường ca

Đất nước và số phận con người

Lòng yêu nước là truyền thống tốt đẹp bao đời của dân tộc Việt Nam ta Chính lòng yêu nước nồng nàn đã trở thành sức mạnh chiến đấu và chiến

thắng mọi thế lực thù địch giữ vững hòa bình “Đó là thứ của quý, bấy lâu

Trang 29

nay phải cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm nay nhờ cách mạng được đem ra trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê ” (Hồ Chí Minh) Trong

sáng tác của các tác giả, cảm hứng về đất nước vẫn luôn là cảm hứng chủ đạo

Hình tượng đất nước là: “Hình tượng đẹp đẽ được xây dựng thành công vào

bậc nhất” [70] Dưới ngòi bút của các tác giả, đất nước hiện lên muôn vẻ đẹp,

muôn màu:

“Đất nước

Bốn ngàn năm không nghỉ Những đạo quân song song cùng lịch sử

Đi suốt thời gian đi suốt không gian Sừng sững dưới trời anh dũng hiên ngang…

… Đất nước của những người con gái, con trai Đẹp hơn hoa hồng cứng hơn sắt thép

Xa nhau không hề rơi nước mắt Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt”

(Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi – Nam Hà)

Đất nước hiện lên gần gũi và thân thương nơi một góc rừng trận địa:

“một gốc sim thôi, một gốc sim cằn,

sim như là không có cũng không sao…

… nhưng trước mặt là Tổ Quốc

dù chỉ gốc sim thôi, dù chỉ gốc sim cằn anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện”

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)

Đất nước mang âm hưởng đồng vọng cả quá khứ và hiện tại, tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho những người lính trên chiến trường:

“Trụ sống lưng Tổ quốc Hỡi Trường Sơn dằng dặc

Trang 30

Bọc trứng Âu Cơ xếp đá hộc nâng đường”

(Lửa mùa hong áo – Lê Thị Mây)

Nguyễn Khoa Điềm có cách định nghĩa về đất nước đầy cảm xúc:

“Đất là nơi Chim về,

Nước là nơi Rồng ở

Lạc Long Quân và Âu Cơ

Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng…”

(Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Đất nước là tình đồng chí đồng đội, là tinh thần đoàn kết tạo nên sức mạnh dân tộc:

“Một sư đoàn có những dòng sông Con sóng vỗ hai bờ truyền thuyết Thế hệ mai sau tìm đến soi mình Tôi sung sướng được uống chung nguồn nước”

(Trường ca sư đoàn – Nguyễn Đức Mậu)

Đất nước hiện lên trên trang viết các tác giả còn là vẻ đẹp bình dị, gần gũi thân thương của những con người, cuộc đời bình dị Những người anh hùng của nhân dân:

“Có biết bao người con gái, con trai Trong 4.000 lớp người giống ta lứa tuổi

Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”

(Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Trong hầu hết các trường ca, hình tượng người mẹ - người phụ nữ anh hùng được khắc họa rõ nét Mẹ là nguồn cội yêu thương, là nơi tìm về, mẹ sinh ra những anh hùng cho dân tộc:

Trang 31

“Cho con xin bắt đầu từ mẹ

Để nói về chúng con

Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính

Xanh màu áo lính

Đã từng sung sướng, đã từng nghẹn ngào

Được làm con mẹ

Được ra trận những năm đất nước mình khốc liệt”

(Những người đi tới biển – Thanh Thảo)

Đất nước anh hùng trong thời chiến và thanh bình trong thời bình Đất

nước bảo bọc che chở yêu thương trong Người sau chân sóng:

“Mẹ đất liền đêm đêm hỏi sóng nghe thuyền Cửa sông phao số

không trồi trụt Và nhịp tim nghìn đảo đứng đón buồm Bồng bềnh Trường Sa, Hoàng Sa dựng non bộ án ngữ biển Đông che ấm đất liền, hưởng trăng thanh gió lặng Hồn vía cửa sông treo lên đỉnh cột buồm”

(Người sau chân sóng – Lê Thị Mây)

Số phận con người cũng là mảng đề tài được các nhà văn quan tâm Ở bất cứ thời đại lịch sử nào, số phận con người cũng gắn liền với vận mệnh đất nước Con người trong hoàn cảnh tự khẳng định mình Trường ca trước năm

1975 chủ yếu đi vào khai thác hình ảnh con người mang tính tập thể, cộng đồng Đến sau năm 1975, Cách mạng thành công, nhu cầu đổi mới và sáng tạo trong văn học đã đưa các tác giả đến với miền đất mới: khai thác những khía cạnh, tâm tư sâu kín của con người, đời sống nội tâm phong phú và phức tạp Số phận con người đời tư nhiều khổ đau, mất mát sau chiến tranh:

“Chị đợi chờ quay mặt vào đêm Hai mươi năm mong trời chóng tối Hai mươi năm cơm phần để nguội

Trang 32

(…) Một mình một mâm cơm Ngồi bên nào cũng lệch Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền”

(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh)

Nỗi mát mát lớn lao của những người mẹ được khắc họa rõ nét trong thơ:

“Mỗi bận chiến trường tin báo tử

Mẹ lại hoài thai bằng nỗi đau dài”

(Đất nước hình tia chớp – Trần Mạnh Hảo)

Vượt lên trên mọi khó khăn gian khổ, những con người kiên cường ấy lại tiếp tục hăng say góp sức mình xây dựng đất nước ngày thêm giàu đẹp:

“Và dấu chân Người trong dấu chân ngư ông cùng các trai đinh

quần tụ Những dấu chân quẫy sóng bám thuyền Những dấu chân lún cát bám làng Tay thì nâng sông xanh lên soi mặt Thấy miền Trung nhấp nhô trăm nghìn đảo Thấy sau lưng điệp điệp Trường Sơn Hoàng Sa – Trường Sa – hòn non bộ của bờ Mẹ - đất – liền Cánh đại bàng yêu đảo bay về biển cánh hải âu nhớ nguồn bay tìm tháp đèn biết mắt thuyền cay sóng Nước nguồn xanh làm mực cho thi nhân”

(Người sau chân sóng – Lê Thị Mây)

1.2 Con đường sáng tạo của Lê Thị Mây

1.2.1 Vài nét về tiểu sử

Lê Thị Mây tên thật là Phạm Thị Tuyết Bông, bút danh khác là Phạm Thị Tuyết Hoa, sinh ngày 04/02/1949 Có ý kiến cho rằng chị sinh ra ở vùng đất Quảng Bình nhưng cũng có người cho rằng quê hương chị là mảnh đất Quảng Trị

Năm 1993, Hội Văn nghệ Quảng trị ra Cửa Việt bộ mới, nhà văn Xuân

Đức, lúc đó là Giám đốc Sở Văn hóa và Chủ tịch Hội Văn nghệ đã đích thân

Trang 33

vào Huế mời Lê Thị Mây ra làm Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Quảng Trị, rồi sau đó làm Tổng biên tập tạp chí Cửa Việt, vì chị quê gốc là Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị Còn trong sách “Các nhà văn Việt Nam hiện

đại Quảng Bình” lại xếp Lê Thị Mây vào danh sách “nhà văn Quảng Bình”

Điều đó cũng rất đúng vì chị sinh ra ở Bảo Ninh, Đồng Hới Mảnh đất “dọc

bờ sông trắng nắng chang chang” (Hàn Mạc Tử) bên kia sông Nhật Lệ có rất

nhiều người nổi tiếng như nhà ngôn ngữ học Hoàng Tuệ, nhà văn Bảo Ninh, nhà thơ Hà Nhật…

Ngay từ thuở ấu thơ, khi còn là đứa trẻ tóc cháy nắng, ngón chân thô sần bởi suốt ngày thọc sâu trên cát bỏng theo trẻ con chơi chắt chơi chuyền, thì chị đã không giống những đứa trẻ lấm lem muối cát khác Những trưa nắng cháy, chị đã thì thầm cho lũ bạn cùng trang lứa nghe những câu chuyện

cổ tích từ sự mơ mộng và khát vọng của mình Tuổi thơ sống trong đói nghèo

cơ cực đã nuôi lớn trong tâm hồn Lê Thị Mây khát vọng làm thi sĩ Để sau này, chị đến với thơ bằng tình yêu vô bờ bến, cho dù Lê Thị Mây bắt đầu đời mình bằng những nghề nghiệp khác nhau không liên quan đến con đường thi

sỹ nổi tiếng của chị, như là sự dẫn dắt kỳ lạ của số phận

Năm mười bảy tuổi, học hết phổ thông, Lê Thị Mây gia nhập Thanh niên xung phong hoạt động ở vùng miền Tây Quảng Bình Hiện chị còn giữ cuốn nhật ký ghi lại những ngày ở Tróoc, một vùng rừng Trường Sơn rất sôi

động như là một chứng tích đời mình Trong tập thơ Những mùa trăng mong

chờ (1980), chị kể: “Vừa rời nách mẹ mới hai trăm ngày đêm, bọn Mỹ đã bẻ

gãy tuổi mười bảy của tôi bằng trận bom đầu tiên khi chúng ra miền Bắc

…Vết bom xuyên sâu vào mặt tôi, làm dị dạng gương mặt sắp đón nhận tuổi hai mươi… Đôi má bầu bĩnh, làn môi dịu ngọt, và đôi mắt trong veo của tôi chưa hề in dấu môi tình Cái vết thương chiến tranh ấy, cho đến bây giờ hàng năm hễ trở trời là đau nhức… Chính sự phản kháng chiến tranh đã dẫn tôi đến

Trang 34

với thơ, thốt lên những gì trái tim mang chứa, viết thành câu chữ, bảo vệ cái đẹp của mùa xuân và tình yêu…” Tuổi hai mươi đẹp đẽ của chị cũng đã mang nỗi đau chia ly Người yêu đầu tiên , một bác sĩ quê ở xứ Quảng đã chia

tay chị đi B Chị kể: “ Ba năm sau tôi mới hay tin anh hy sinh ở chiến trường

Quảng Trị” [50] Có lẽ đó là mối tình đầu đau xót của Lê Thị Mây khởi đầu

cho bao mối tình ngang trái đi qua đời chị - cuộc đời một người con gái nhiều bất hạnh đa đoan, để tới khi đã bước sang tuổi năm mươi chị mới tìm thấy bến

đỗ của cuộc đời mình Đó có lẽ cũng là một nguyên nhân khiến thơ chị luôn nặng những ưu tư, ẩn ức, dồn nén cô đơn

Ở Thanh niên xung phong, Phạm Thị Tuyết Bông đã làm những bài thơ đầu tiên chép chi chít vào cuốn sổ nhỏ Đó là những bước đi đầu tiên đưa chị đến với con đường thi sĩ sau này Để tới năm 1972, khi rời đơn vị Thanh niên xung phong, Bông đã tìm gặp nhà thơ Xuân Hoàng, lúc đó là Hội trưởng Hội

Văn nghệ Quảng Bình Trong hồi ký Âm vang thời chưa xa (tập II), Xuân

Hoàng kể rằng, không biết làm thế nào Bông xin được lá thư viết tay của ông

Cổ Kim Thành, là bí thư tỉnh ủy, một người cũng hay làm thơ, gửi cho Xuân

Hoàng Xuân Hoàng đọc qua vài ba bài, thấy “thơ thật thà và sơ lược như thơ

chung gửi về Hội lúc đó” Nhưng có lẽ nhà thơ Xuân Hoàng nhận ra những

câu thơ của Bông dù “thật thà” cũng đã ánh lên chút hy vọng ở tương lai liền nhận Phạm Thị Tuyết Bông vào làm nhân viên đánh máy Một thời gian sau, Hội văn nghệ Quảng Bình nhận thêm một cô gái làm thơ nữa là Lâm Thị Mỹ

Dạ Năm sau, Bông và Dạ được nhà thơ Xuân Hoàng cho đi học lớp Bồi dưỡng viết văn trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam ở Quảng Bá, Hà Nội Đi học

về, Phạm Thị Bông có bút danh mới là Lê Thị Mây Theo Xuân Hoàng thì cái

tên Mây có liên quan đến hai chữ bông và mây trong câu ca dao của Ngô Văn

,Lê Thị Mây vào danh sách “nhà văn Quảng Bình” Điều đó cũng rất đúng vì chị sinh ra ở Bảo Ninh, Đồng Hới Nữ thi sĩ đã đóng góp cho đời hơn hai

Trang 35

mươi tập thơ văn hay và đặc sắc Trong đó phải kể đến tập thơ Tặng riêng

một người (1990) được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam; truyện dài Huyết ngọc (1998) cũng được tặng thưởng của Hội Nhà văn; trường ca Người sau chân sóng được giải nhất cuộc thi “Đây biển Việt Nam” do Hội Nhà văn

Việt Nam và Vietnamnet tổ chức năm 2012 Lê Thị Mây là người con gái biết giấu nỗi đau để cười trước mọi người Những câu thơ nao lòng ấy sẽ còn sống mãi trong lòng người nhiều thế hệ Chị đã gửi trọn tâm hồn mình trong thơ, ghi tên rạng rỡ trong danh sách những cây bút nữ tiêu biểu thế kỷ XX

Lê Thị Mây càng gia tăng Bảy tập thơ, ba trường ca đã xuất bản là thành quả

lao động nghệ thuật không ngừng của tác giả Những mùa trăng mong chờ

Năm 1980, Lê Thị Mây cho xuất bản tập thơ Những mùa trăng mong

chờ Đây là tập thơ đầu tay của Lê Thị Mây gồm năm mươi hai bài Chủ đề

chính trong tập thơ là tình yêu, với những cung bậc cảm xúc khác nhau của người con gái đợi chờ người yêu trở về từ chiến trường Sự mong ngóng đợi

chờ da diết có thể bắt gặp ở bất cứ vần thơ nào Từ Bài thơ buổi sáng mở đầu:

“Ban mai em nhớ anh/ Một ngày mong vời vợi/ …Nỗi nhớ anh đau thắt/ Như nắng ăn vào da” ; tới tâm trạng háo hức bồn chồn khi hay tin người yêu sắp

trở về: “Thư anh tin ngày về/ Cho vầng trăng hẹn mọc/ Trong ngần hoa cau

thơm/ Mây chớm màu tha thiết” (Những mùa trăng mong chờ); và niềm vui

bất ngờ trọn vẹn trong hạnh phúc ngọt ngào khi gặp lại người yêu: “Anh

khoác ba lô về/ Đất trời dồn chật lại/ Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày” (Những mùa trăng mong chờ) Tâm trạng của người thiếu nữ - ngôi

Trang 36

sao dậy thì khi yêu cũng tràn đầy ước vọng, say mê và niềm tin của tuổi trẻ

Lê Thị Mây đã dành thật nhiều cảm xúc để viết lên những bài thơ tình đặc

sắc Tập thơ được người đọc biết tới với bài thơ nổi tiếng Những mùa trăng

mong chờ được xếp vào một trong một trăm bài thơ hay nhất thế kỷ trong

cuộc thi Chọn những bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX do Trung tâm văn hóa doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức Bài thơ đã góp phần khẳng định sự đặc sắc của tập thơ, và gắn liền với tên tuổi của Lê Thị Mây

Bên cạnh đề tài về tình yêu, tập thơ đầu tay cũng gây chú ý với những

bài thơ thấm đậm tình cảm ruột thịt thiêng liêng: Mẹ, Thăm mẹ Cửa Việt, Tiễn

em trai nhập ngũ, Nhớ em, Với mẹ cơn sốt chưa giảm, Áo đồng đội em, Đưa

em về quê mẹ, Giấc mơ của mẹ… ; Ngợi ca đất nước Việt Nam, con người

Việt Nam anh dũng kiên cường trong khói lửa chiến tranh: Chiếc nón Trường

Sơn, Khúc hát rừng, Đất, Mặt trời ở biển, Dừng ở Đồng Hới, Mặt trời ở mỏ, Cát làng tôi… Tập thơ lấp lánh niềm tin hi vọng như “cát vàng rơi” của

những tâm hồn phơi phới vào một ngày mai thống nhất không xa: “Mây biển

chợt về chớp lóe đằng đông/ Chim báo bão ơi báo điều ta biết/ Hãy bay lượn nơi đỉnh cột buồm quen thuộc” (Mặt trời ở biển); “Cát vàng rơi, cát vàng rơi/ Sau đêm mưa ngọt càng ngời nắng mai” (Cát làng tôi); “chợt như trăng non tiếp nhận ánh ngày/ Tôi tiếp nhận niềm tin nước nhà thống nhất/ …Sắc cờ rao nơi chót mũi Cà Mau” (Mặt trời ở mỏ) Ta cũng không thể quên những câu

thơ Lê Thị Mây viết về mẹ với một giọng thơ dung dị nhẹ nhàng: “Mẹ già ơi

mái tóc tiên/ Mẹ là vừng sáng dịu hiền trên cao/ Thuyền con xô trước biển trào/ Mặt trời trước ngực tỏa vào bao la” Tập thơ sử dụng chủ yếu thể thơ

lục bát, năm chữ, thơ tự do; giọng thơ không quá chau chuốt cầu kỳ càng dễ

đi vào lòng người đọc

Năm 1991, Lê Thị Mây cho xuất bản tập thơ Tặng riêng một người

Tập thơ đã đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (1990 Nếu tập thơ

Trang 37

đầu tiên viết về nỗi ngóng trông đợi chờ của người con gái đang yêu thì đến

Tặng riêng một người, người đọc bắt gặp tâm hồn một người phụ nữ đã từng

trải hơn, với những ám ảnh về thân phận trước hạnh phúc lứa đôi, những mất mát, lỡ dở, những cảnh ngộ éo le, cay đắng sau chiến tranh, qua một loạt

những bài thơ như: Cốc rượu đầy, Bài hát Chiếc lồng chim, Giọt lệ, Bữa cơm,

Mưa đám cỏ, Hai đóa hồng, Giấc mơ thiếu phụ, Gió quả phụ… Và ẩn sâu

trong đó là những khát khao nhục thể, giấc mơ luyến ái dồn nén trong Gió

quả phụ, Giấc mơ thiếu phụ… cô đơn Những mất mát, những dự cảm lo

lắng, buồn đau càng khiến thơ Lê Thị Mây thêm cô đơn, ám ảnh

Thời đại thi ca mới mở ra cũng khiến những ẩn ức, khao khát trong thơ

Lê Thị Mây được giãi bày cởi mở hơn Trong tập thơ này cũng đã xuất hiện những ngôn từ mới lạ, độc đáo, nhiều ám ảnh và sức gợi

Sau Tặng riêng một người, năm 1996 Lê Thị Mây cho xuất bản hai tập thơ Giấc mơ thiếu phụ và Du ca cây lựu tình Tập thơ thấm đẫm chất triết lý

suy tư của người phụ nữ từng trải khi đã bước sang ngưỡng cửa của tuổi bốn mươi Những đau khổ, buồn vui, thăng trầm trong cuộc đời được Lê Thị Mây đem trút hết vào thơ: Nỗi buồn, sự lo âu khắc khoải trong tình yêu càng hiện lên rất rõ ràng, mãnh liệt trong giấc mơ một mái ấm gia đình và những đứa

con ngoan: Khuya, Vô đề, Dạ khúc trái tim, Rét lộc, Khóc dưới vừng trăng,

Kim chỉ, Lẻ bóng… Một mình đong đếm bước đi của thời gian càng khiến thơ

Lê Thị Mây thêm xót xa, cô đơn đến vô cùng: Hoa tết, Bài hát cổ,Tết giao

thừa, Tết Quý dậu, Hoài cổ… Có nỗi cô đơn nào hơn thiếu không khí sum

vầy ngày tết, thiếu hơi ấm con trẻ: “Tuổi này đã ngại đi đâu đó/ Năm ba ngày

tết cũng ở nhà/… Pháo nổ giật mình mờ trang lệ/ Nhà bên hàng xóm ríu rít con/ Vú mẹ yếm hồng câu đối đỏ”

Đến năm 1999, Lê Thị Mây xuất bản tập thơ Khúc hát buổi tối Tập thơ

đã được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam Tập thơ tiếp tục những

Trang 38

sáng tác của Lê Thị Mây về tình yêu, với những dự cảm, chiêm nghiệm lớn hơn trong tâm hồn một người đàn bà từng trải Lê Thị Mây nhắc nhiều đến hình ảnh trái tim – cũng như một con người biết khóc, cười, buồn đau, hạnh

phúc trong: Mưa ở sông Hương, Người đến sau cùng, Nếu anh còn trở lại, Du

khúc trái tim, Trái tim trong cát, Hạnh phúc…

Người đàn bà ấy qua bao năm tháng vẫn bền bỉ đi tìm tình yêu đích

thực của đời mình để rồi thốt lên : “Không ai yêu như tôi yêu nhiều đến thế/

Tuổi tình yêu dài trọn cuộc đời tôi” Nhưng đó không còn là một tình yêu

bồng bột, nhiều háo hức mê say của ngày đầu tiên, mà là những đằm thắm dịu dàng trong hồn người phụ nữ đang ngày càng đến độ chín

Năm 2003, trường ca Lửa mùa hong áo ra đời - trường ca đầu tay của

Lê Thị Mây Tác phẩm đã đạt giải thưởng Ủy ban Liên hiệp Văn học nghệ

thuật Việt Nam (2003) Lửa mùa hong áo là bản anh hùng ca về thời chống

Mỹ máu lửa mà vinh quang của dân tộc Mỗi vần thơ như một lời tâm tình gan ruột, một cách bày tỏ nỗi đau thương, niềm tự hào trước những người con

anh dũng hi sinh vì tổ quốc Đó là những người bà, người mẹ: "Bóng mẹ rưng

rưng hậu phương lớn quê nhà/ Vừng dương lăn hũ gạo mỗi ngày đầy thêm một nắm", người chị, những nữ giao liên phá đá mở đường: "Tiểu đội mỗi người/ Một bà Triệu/ Một Bà Trưng/ Một Nữ Oa vác đá vá vết thương",

những anh bộ đội "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" (Tố Hữu) khi tuổi đời còn

rất trẻ, những chiến sĩ đưa thư, canh giữ kho muối, phục vụ hậu cần không quản ngại vất vả gian lao, nguyện hi sinh tuổi thanh xuân làm nên chiến thắng lịch sử, hòa bình cho dân tộc Tác phẩm được viết lên từ chính những trải nghiệm của một nhà thơ đã có cả "tuổi thanh xuân gắn bó thương nhớ với con đường Trường Sơn máu lửa" [13] Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm là những người phụ nữ Việt Nam bình dị yêu thương nhân hậu mà dũng cảm

Trang 39

anh hùng Những sự kiện lịch sử bi tráng hiện lên rõ ràng bằng thi pháp sử thi, trữ tình kết hợp nhuần nhuyễn của Lê Thị Mây

Năm 2006, sự ra đời trường ca Tự khúc ánh sáng đánh dấu bước phát triển mới của trường ca Lê Thị Mây Tự khúc ánh sáng có thể coi là những

“đối thoại” về chiến tranh Người đọc nhận ra cuộc đối thoại này xuất phát từ niềm tin, từ lương tri qua đó dựng lên những số phận, thân phận của con người trong cuộc chiến Cuộc đối thoại đó còn là bản anh hùng ca bất diệt về những điều thiêng liêng Đến trường ca này thì Lê Thị Mây không chỉ cho người đọc thấm thía về chiến tranh bằng cái nhìn của người chứng kiến, người trong cuộc mà dường như còn là chính mình Kẻ thù có thể giam giữ được thể xác,

có thể tra tấn hành hạ thể xác nhưng không thể xiềng xích nổi niềm tin" [27]

Cũng trong năm 2006, tập thơ Thương nhớ một ngày của Lê Thị Mây

ra đời Tập thơ gây chú ý bởi chủ yếu những bài thơ viết về người lính, về những vùng đất, địa danh mà chị đã đi qua chiến tranh, những người mẹ anh hùng… với cái nhìn hoàn toàn đổi khác từ hiện tại Lê Thị Mây đã tái hiện rất sinh động, chân thực hình tượng người lính, tình yêu sâu nặng với đất nước quê hương, với mảnh đất miền Trung nơi chị sinh ra Qua một loạt bài thơ

như: Anh không hề vắng mặt, nhắn cùng em trai, Chiếc mũ, Tiếng hát của

loài chim bị diệt, Gió từ sông Nhật Lệ, Hoa hồng Đồng Hới…

Đến năm 2007, Lê Thị Mây xuất bản tập thơ Thời trẻ của anh Tập thơ

là những nỗi đau, sự đồng cảm, cái nhìn của một người Thanh niên xung phong đã đi qua chiến tranh, đã trải qua những hi sinh mất mát của: người lính và cuộc sống của họ khi trở về với đời thường, nỗi đau của những người

vợ mất chồng, mẹ mất con sau chiến tranh… Lên án phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa gieo rắc mất mát đau thương trên khắp hành tinh Với

những bài thơ như: Vượt sông Ta Lê, Làng Vây, Chiến lợi phẩm, Khối đá đen,

Tìm bóng lịch sử, Thao thức, Trường Sa…

Trang 40

Năm 2013, trường ca Người sau chân sóng của Lê Thị Mây được xuất

bản Đây là tác phẩm đoạt giải nhất hạng mục thơ cuộc thi "Đây biển Việt Nam" do Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam và Báo điện tử

VietNamNet tổ chức năm 2011- 2012 Người sau chân sóng ra đời từ nỗi nhớ

da diết và tình yêu dâng đầy với biển quê hương sau suốt 40 năm ấp ủ, thai nghén của nhà thơ Tác phẩm là bản trường ca anh hùng mang hơi thở của cuộc sống mới; đồng hiện, ám ảnh bởi cả quá khứ, hiện tại và tương lai vùng biển miền Trung nắng gió Nơi có tuổi thơ êm đềm, có mẹ, có cha, có “anh”,

có lão ngư, những người dân chài và cảnh sông nước hùng vĩ bảo bọc chở che… Lê Thị Mây đã từng nói: “Trong 1000 giấc mơ của tôi – có 80% liên quan đến biển” [ 35] Và “chỉ cần nhắc về biển, đôi mắt cô đã sáng lên và chất

giọng Quảng Bình đặc trưng bỗng biết run rẩy: “Biển cho tôi cảm xúc! Một

cảm xúc dạt dào như những con sóng đánh vào tâm hồn của những người cầm bút…” [35]

Những chặng đường sáng tác và trưởng thành của Lê Thị Mây được đánh dấu bằng sự ra đời của những tập thơ Càng về sau chất triết lý trong thơ

Lê Thị Mây càng gia tăng Hơn hai mươi tác phẩm đã xuất bản là thành quả

lao động nghệ thuật không ngừng của tác giả Những mùa trăng mong chờ

Thơ Lê Thị Mây càng về sau càng “chín”, từng trải và triết lý hơn Qua những tập thơ đã xuất bản, Lê Thị Mây thể hiện khá rõ nét phong cách nghệ thuật của mình Ở đề tài nào chị cũng có những vần thơ đặc sắc đi vào lòng người đọc Lê Thị Mây đã cảm thông với cuộc đời, với những kiếp người từ những nỗi đau của bản thân nhà thơ bằng sự sẻ chia thành thực nhất Nhưng

có lẽ đặc sắc và ám ảnh nhất là những bài thơ viết về tình yêu Nó giống như sợi chỉ đỏ xuyên suốt chặng đường sáng tác thơ Lê Thị Mây Tình yêu ấy lớn lên theo sự phát triển của từng tập thơ; khóc cười trong trái tim người đàn bà suốt đời đi tìm tình yêu đích thực

Ngày đăng: 27/10/2016, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Ngọc Anh (2007), Đặc sắc cái tôi trữ tình trong sáng tác một số nhà thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Khoa văn học, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc sắc cái tôi trữ tình trong sáng tác một số nhà thơ nữ thế hệ chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Bùi Thị Ngọc Anh
Năm: 2007
2. Lại Nguyên Ân (1984), Mấy suy nghĩ về thể trường ca, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy suy nghĩ về thể trường ca
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1984
3. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
4. Mai Bá Ấn, Hai đặc điểm cơ bản của trường ca Việt Nam hiện đại, http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=13086 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai đặc điểm cơ bản của trường ca Việt Nam hiện đại
5. Đào Thị Bình (2008), Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX, Luận án tiến sỹ, Đại gọc sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể trường ca trong văn học Việt Nam từ 1945 đến cuối thế kỉ XX
Tác giả: Đào Thị Bình
Năm: 2008
6. Như Bình, Nhà thơ Lê Thị Mây – nỗi buồn như con cọp rình mồi tháng chạp, cand.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Lê Thị Mây – nỗi buồn như con cọp rình mồi tháng chạp
Tác giả: Như Bình
Nhà XB: cand.com
7. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Dân (2003), Lý luận văn học so sánh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
9. Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Dân, Trường ca với tư cách là một thể loại mới, Tạp chí sông Hương số 230 – 04 – 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca với tư cách là một thể loại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Tạp chí sông Hương
Năm: 2008
11. Nông Thị Hồng Diệu (2006), Thế hệ các nhà thơ nữ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Khoa văn học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế hệ các nhà thơ nữ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ
Tác giả: Nông Thị Hồng Diệu
Năm: 2006
12. Nguyễn Duy (2010), Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Nguyễn Duy
Tác giả: Nguyễn Duy
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2010
13. Hoàng Kim Dung, Một ngày xưa yêu cho đến bao giờ, http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c174/n3303/Mot-ngay-xua-yeu-cho-den-bay-gio.html, ngày 26/08/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một ngày xưa yêu cho đến bao giờ
14. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2000
15. Hữu Đạt (1999), Nhà văn sự sáng tạo nghệ thuật: lý luận phê bình, NXB Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn sự sáng tạo nghệ thuật: lý luận phê bình
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1999
16. Nguyễn Văn Đông, Lối rẽ và khoảng trống trong mạch trần thuật ở sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, tonvinhvanhoadoc.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lối rẽ và khoảng trống trong mạch trần thuật ở sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
17. Hà Minh Đức (chủ biên) (1998), Chặng đường mới của văn học Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chặng đường mới của văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
18. Hà Minh Đức (chủ biên) (2007), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
19. Hà Minh Đức (1971), Nhà văn và tác phẩm: phê bình và tiểu luận, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn và tác phẩm: phê bình và tiểu luận
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1971
21. Trần Đình Sử (2001), Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thế giới nghệ thuật thơ
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w