Đóng góp của luận văn Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về đặc trưng thẩm mĩ của trường ca Anh Ngọc một cách có hệ thống, đồng thời làm nổi bật những đóng góp riêng của tác giả về thể
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Sỹ
Thái Nguyên, năm 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, là kết quả lao động nghiêm túc, tìm tòi và kế thừa trong quá trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
BÙI THỊ TOÀN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử vấn đề 2
2.1 Những ý kiến về thơ Anh ngọc nói chung 2
2.2 Những ý kiến về trường ca Anh Ngọc nói riêng 3
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu 5 5.1 Phương pháp nghiên cứu 5
5.2 Phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 7
SỰ HÌNH THÀNH THỂ LOẠI TRƯỜNG CA TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 7
1.1 Quá trình định hướng của nền văn học Cách mạng và sự hình thành hệ thống thể loại 7
1.1.1 Sự định hướng của văn học 7
1.1.2 Và sự hình thành hệ thống thể loại 8
1.2 Hiện tượng trường ca 12
1.2.1 Sơ lược về thể loại trường ca 12
1.2.2 Thể loại trường ca trong văn học Việt Nam hiện đại 15
1.3 Anh Ngọc - Một tác giả có thành tựu về trường ca 22
Trang 41.3.1 Anh Ngọc- Một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ chống
Mỹ 22 1.3.2 Anh Ngọc và thể loại trường ca 25
CHƯƠNG 2 34
SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI LÍNH VÀ SỐ PHẬN LỚN CỦA DÂN TỘC 34
2.1 “Sóng Côn Đảo” - tượng đài bất hủ về Cách mạng 34
2.1.1 Bức tranh phi nhân tàn khốc nơi ngục tù Côn Đảo 34 2.1.2 Người chiến sĩ cộng sản trên địa ngục Côn Đảo - tượng đài bất hủ về ý chí Cách mạng 37
2.2 “Sông núi trên vai” – hình tượng cao đẹp của những người phụ nữ trong
chiến tranh 40 2.2.1 Tái hiện cuộc chiến đấu độc đáo trong chiến tranh 40 2.2.2 Phẩm chất anh hùng của những người phụ nữ lao động bình
thường 45
2.3 “Sông Mê Công bốn mặt”- hiện thực của đất nước Campuchia trong thảm
họa diệt chủng và cuộc hồi sinh của dân tộc 50
2.3.1 Thảm kịch đau thương của đất nước Campuchia 46 2.3.2 Sự ám ảnh về cái chết của con người trong thảm hoạ diệt chủng và sự liên tưởng về những sai lầm một thời ở Việt Nam 56
2.3.3 Vẻ đẹp tuyệt vời của kiến trúc Ăng –co - biểu tượng nền văn minh của đất nước Campuchia và cuộc hồi sinh của dân tộc 61
2.4 “Điệp khúc vô danh” - sứ mệnh lịch sử của người lính 66
2.4.1 Cảm hứng vô danh - động lực và cội nguồn lịch sử, Tổ quốc và dân
tộc 66 2.4.2 Hình tượng người lính trong cảm xúc vô danh 72 CHƯƠNG 3 79
Trang 5ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT 79
3.1 Kết cấu trường ca Anh Ngọc 79
3.1.1 Cách kết cấu 79
3.1.2 Sự khác biệt trong kết cấu của trường ca Anh Ngọc 90
3.2 Sự tích hợp thể loại 91
3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu 95
3.3.1 Ngôn ngữ 95
3.3.2 Giọng điệu 100
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm bẩy mươi, tám mươi của thế kỷ XX, lịch sử văn học chứng kiến
sự nở rộ của những sáng tác thơ dài hơi, có quy mô và dung lượng lớn, khái quát
về sự kiện và những biến cố lịch sử, về những số phận con người gắn liền với số phận của dân tộc, của đất nước Những tác phẩm này được gọi là trường ca và đã
trở thành những mẫu mực của thể loại mới như: Bài ca chim Chơrao (Thu Bồn);
Theo chân Bác (Tố Hữu); Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm); Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh); Những người đi tới biển (Thanh Thảo) và Sông Mê Công bốn mặt ( Anh Ngọc)
Anh Ngọc là nhà thơ thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ Ông là một chiến
sĩ cầm súng trực tiếp và làm thơ trong cuộc kháng chiến hào hùng của dân tộc Ngoài những đặc điểm chung của thơ ca của nền thơ chống Mỹ, thơ Anh Ngọc mang những nét riêng, độc đáo cả về nội dung và nghệ thuật Đặc biệt với thể loại thơ dài hơi, Anh Ngọc đã dành nhiều tâm huyết vào các trường ca (với bốn
tác phẩm cụ thể: Sóng Côn Đảo, Sông núi trên vai, Sông Mê Công bốn mặt và
Điệp khúc vô danh), ghi dấu những năm chiến đấu gian khổ, khốc liệt nhưng
cũng vô cùng oai hùng của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
và giúp bạn Campuchia Trường ca Anh Ngọc là những bức tranh sinh động về đời sống tinh thần của con người với sự thăng trầm của lịch sử, cụ thể qua hình tượng người lính
Trường ca Anh Ngọc giầu tính tư tưởng và triết lý mang nét đặc thù riêng được xuất phát từ suy cảm mà ông đã chiêm nghiệm trong cuộc sống, trong chiến đấu với một tầm tri thức dày công tích lũy của người lính trí thức Đặc biệt nhà thơ không giấu giếm khát vọng đưa tư tưởng vào thơ để đi tìm cái lõi của cuộc sống với những giá trị chân thực, có tính phổ quát và vĩnh cửu
Trang 7Chọn đề tài Trường ca của Anh Ngọc, luận văn muốn nghiên cứu sâu hơn
về một hiện tượng thể loại, thông qua việc phân tích có hệ thống đặc trưng thẩm
mĩ của những tác phẩm thơ dài hơi của một tác giả tiêu biểu trong nền thơ trữ tình Cách mạng của thế kỷ
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Những ý kiến về thơ Anh Ngọc nói chung
Trong giai đoạn đầu của mình, cảm nhận chung của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học và bạn đọc đều cho rằng thơ Anh Ngọc là giọng thơ tươi tắn, chân thực và đầy xúc động của một người lính trí thức mẫn cảm và trẻ trung
Lê thị Tuyết Nga trong bài Những trang thơ chân thành xúc động (1994)
đã viết: “Thơ Anh Ngọc không phải loại thơ làm xiếc bằng ngôn từ, cũng không phải là loại thơ thường được đọc to trên các diễn đàn, mà là những lời độc thoại nội tâm sâu lắng, những lời độc thoại tâm tình từ trái tim “không bao giờ yên tĩnh” của nhà thơ Anh viết đúng những gì mình suy nghĩ Thơ Anh Ngọc không vay mượn, không là bất cứ tiếng vọng của hồn thơ nào ” [38, tr.10]
Đoàn Minh Tuấn trong bài Những ngọn lửa màu lá non (Đọc “Thơ tình rút
từ nhật ký” của Anh Ngọc) cũng khẳng định: “Anh Ngọc là nhà thơ của những tư
tưởng và ý nghĩa đúng và mới Không câu nệ vào hình thức, miễn sao phát biểu một cách chính xác nhất tình cảm của mình” [60, tr.14] - một nhận xét cô đúc và
Trang 8Trong bài Người lính ấy là tôi trên báo Phụ nữ Việt Nam số 31 (1/8/1997),
tác giả Thành Sơn cũng nhận định: “Bắt đầu từ những cảm xúc hiện thực, thơ Anh Ngọc giàu chất liên tưởng mơ mộng, tác giả ưa dùng vệt sáng tươi tắn trong mỗi hình ảnh, mỗi tứ thơ ” [50, tr.13]
Những năm sau này của chặng đường sáng tác, thơ Anh Ngọc hướng tới
sự chiêm nghiệm, triết lý Trong bài báo Với nhà thơ Anh Ngọc “Thế gian đẹp và
buồn” tác giả Nguyễn Hữu Quý cho rằng: “Thơ Anh Ngọc hướng tới sự khái
quát và triết lý ” [48, tr.9]
Những ý kiến về trường ca Anh Ngọc
Viết về tập thơ Ngàn dặm và một bước (trên báo Nhân Dân ra ngày
31/03/1985) tác giả Trần Hoà Bình nhận xét: “Rất có thể “Nụ cười bốn mặt”
(trích trường ca Sông Mê Công bốn mặt) được khơi nguồn từ cảm hứng lịch sử,
cảm hứng văn hoá, nhưng ở đó một sự xúc động đồng loạt đã liên kết được vốn hiểu biết của anh về đất nước có nền văn minh Ăng-co từng đứng trước thảm hoạ diệt chủng Anh Ngọc tỏ ra biến hoá trong cách cảm và nghĩ Anh điều chỉnh được sự say mê và tỉnh táo trong cách biểu hiện” [7, tr.4]
Trong bài Anh Ngọc với trường ca Sông Mê Công bốn mặt (Tạp chí Văn
nghệ quân đội, số 9/ 1989) nhà nghiên cứu văn học Lưu Khánh Thơ đã có nhận định: “Vấn đề nổi bật trong trường ca là hiện thực của đất nước Campuchia trong thời kỳ đang xảy ra thảm hoạ diệt chủng và cuộc hồi sinh của toàn dân tộc Đây
là một đề tài đã được nhiều người khai thác Đến lượt mình, Anh Ngọc đã cố gắng đi tìm một cách nói khác, một hướng đi riêng và ở một mức độ nào đó anh
đã thực hiện được ý định của mình Cách suy nghĩ và đánh giá sự việc trong trường ca tương đối mới mẻ và mạnh bạo”
“Sông Mê Công bốn mặt” đã đánh dấu một bước chuyển biến khá rõ trên
chặng đường phát triển của thơ Anh Ngọc Nếu trước kia cảm hứng chủ đạo của thơ Anh Ngọc là ngợi ca và lạc quan tin tưởng thì gần đây tư duy thơ của anh đã
Trang 9có biến đổi Triết lý và trữ tình, nhận thức lý trí và sự tinh tế nhạy cảm - những yếu tố đó đã hoà quyện vào nhau, góp phần làm nên phẩm chất thơ Anh Ngọc nói chung và trường ca Sông Mê Công bốn mặt nói riêng ” [63, tr.293]
Hoàng Cát trong bài Đọc “Sông núi trên vai” (Trường ca của Anh Ngọc,
Nxb Phụ nữ, 1995) trên báo Nhân dân 1995 đã khẳng định: “Trong những trường
ca viết về thời chiến tranh chống Mỹ mà tôi đã được đọc, thì Sông núi trên vai là
một tác phẩm mà tôi có thể đọc đi đọc lại nhiều lần Trường ca viết có độ sâu về
tư duy và tình cảm; nó có nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều nỗi niềm da diết lòng người” [11, tr.5]
Còn Nguyễn Hoàng Sơn trong bài Anh Ngọc- Yêu ông Diệu nhưng giống
ông Viên? (Trên báo Người Hà Nội số 49 ra ngày 3/12/2003) cũng nhận xét:
“Khá nhất là “Sông Mê Công bốn mặt” (1979-1981) Cảm xúc dồi dào, dẫn dắt thông minh, cấu trúc sáng sủa, hợp lý, những câu thơ giàu hình ảnh và kiến thức
về một vùng đất và một dân tộc gần gũi với chúng ta nhưng vẫn luôn bí hiểm và bất ngờ, đó là ưu điểm của trường ca khá kịp thời này”[51, tr.4]
Trong bài phỏng vấn Nhà thơ Anh ngọc: Tôi viết về Campuchia từ máu thịt
của mình trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 17( 2/2009, tr.69-70) của Đoàn Minh
Tâm, tác giả cũng cho rằng: “Đọc Sông Mê Công bốn mặt tôi cảm thấy cảm hứng
của tác giả đi từ sự kinh ngạc, khâm phục rồi ca ngợi vẻ đẹp, đến nỗi đau và rồi trở lại với những suy tư đời thường cá nhân thông qua hoàn cảnh thân phận nhân vật trữ tình “tôi” Con đường đi của cảm hứng như thế tương đối dài”[59, tr.3] Như vậy, từ những tài liệu mà chúng ta có được, chưa có bài viết dài hơi nào đi sâu nghiên cứu về trường ca Anh Ngọc một cách có hệ thống, nhất là từ góc độ đặc trưng thẩm mĩ thể loại Chọn đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một cách tiếp cận về hiện tượng sáng tạo và những đóng góp riêng của Anh Ngọc cho thể loại trường ca
3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 10Thực hiện đề tài này, luận văn xác định lấy bốn trường ca của Anh Ngọc
làm đối tượng nghiên cứu Đó là các trường ca Sóng Côn đảo, Sông núi trên vai,
Sông Mê Công bốn mặt và Điệp khúc vô danh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Trường ca là một phạm trù thể loại Trong văn học Việt Nam hiện đại, trường ca là một sản phẩm của lịch sử Một trong những nhiệm vụ quan trọng của luận văn là làm sáng tỏ mối quan hệ và liên hệ giữa thực tiễn sáng tác trường ca của Anh Ngọc và những kinh nghiệm thể loại trường ca trong văn học truyền thống trong nước và ngoài nước
4.2 Phân tích hệ thống, có định hướng những sáng tác trường ca của Anh Ngọc để khái quát những tư tưởng thẩm mĩ và ngôn ngữ thể loại của tác giả
4.3 Làm rõ những đóng góp về thi pháp trường ca của Anh Ngọc trong mặt bằng sáng tác chung của các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ và sự vận động của thể loại này
5 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Ở luận văn này chúng tôi chủ yếu dùng phương pháp nghiên cứu loại hình Ngoài ra, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích tác phẩm kết hợp với thi
pháp học hình thức, thi pháp học lịch sử và phương pháp so sánh đối chiếu với
các tác giả khác trong cùng một thể loại để thực hiện tốt yêu cầu của luận văn
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt lý luận: chúng tôi sử dụng những ý kiến nghiên cứu sử thi của Hêghen, nghiên cứu trường ca của Bakhtin, của GS.TS Mã Giang Lân, tác giả Hoàng Ngọc Hiến và một số tác giả khác làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
về khái niệm và đặc điểm của thể loại trường ca trong tiến trình phát triển của văn học trên thế giới và ở Việt Nam
Trang 11Về tác phẩm: Luận văn tập trung vào toàn bộ những tác phẩm trường ca của Anh Ngọc trong tuyển tập trường ca của nhà thơ Tuy nhiên để đảm bảo tính tập trung, chúng tôi đặc biệt chú ý đến hai tác phẩm mà chúng tôi cho là tiêu biểu
nhất Đó là trường ca Sông Mê Công bốn mặt và Điệp khúc vô danh
6 Đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về đặc trưng thẩm mĩ của trường ca Anh Ngọc một cách có hệ thống, đồng thời làm nổi bật những đóng góp riêng của tác giả về thể loại này trong hệ thống thể loại của nền văn học hiện đại
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và phần Tư liệu tham khảo, nội dung luận
văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Sự hình thành thể loại trường ca trong nền văn học Việt Nam
hiện đại
Chương 2: Sứ mệnh lịch sử của người lính và số phận lớn của dân tộc Chương 3: Đặc trưng nghệ thuật
NỘI DUNG CHƯƠNG 1
SỰ HÌNH THÀNH THỂ LOẠI TRƯỜNG CA TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1.1 Quá trình định hướng của nền văn học cách mạng và sự hình
thành hệ thống thể loại
1.1.1 Sự định hướng của văn học:
Trang 12Văn học Việt nam từ sau Cỏch mạng Thỏng Tỏm là một hiện tượng nghệ thuật sõu sắc và rộng lớn trong đời sống tinh thần xó hội Cội nguồn nuụi dưỡng của nền văn học mới là hiện thực xó hội đang biến đổi, là cuộc sống mới đang hỡnh thành và đặc biệt là ý thức tự giỏc lịch sử của cộng đồng được chuyển hoỏ thành ý thức nghệ thuật, bộc lộ trong nhận thức về mối quan hệ giữa văn học và đời sống; bộc lộ trong sự lý giải về con người, về vai trũ của nú đối với sự tiến bộ của xó hội và sự vận động của lịch sử
Nhiều nhà nghiờn cứu văn học việt Nam đó nhấn mạnh tớnh sử thi của nền văn học mới với cảm hứng chủ đạo của nú là chủ nghĩa anh hựng cỏch mạng Khẩu hiệu: “Khỏng chiến hoỏ văn hoỏ, văn hoỏ hoỏ khỏng chiến” trong những năm đầu khỏng chiến chống thực dõn Phỏp đó phản ỏnh trạng thỏi sử thi của dõn tộc, cho thấy vẻ đẹp tinh thần của xó hội mới núi chung và văn học núi riờng Sự định hướng vào nội dung lịch sử dõn tộc đó hướng văn học vào miờu tả cuộc đấu tranh của dõn tộc, mụ tả con người trong quỏ trỡnh tham gia tớch cực vào cỏc sự kiện và biến cố lớn của dõn tộc
Nền văn học dõn chủ mới lấy phương phỏp sỏng tỏc hiện thực xó hội chủ nghĩa là phương phỏp chủ yếu Đõy là phương phỏp nghệ thuật miờu tả con người
và hiện thực trong quỏ trỡnh phỏt triển Nú cổ vũ và biểu dương con người nhận thức về sứ mệnh của mỡnh trong tiến trỡnh lịch sử
Sự định hướng và -u tiên cho nội dung thể tài lịch sử dân tộc đã mở rộng khả năng và phạm vi chiếm lĩnh con ng-ời bằng nghệ thuật, cải tạo lại hệ thống nhân vật, mở rộng phạm vi biểu hiện cái tôi trữ tình trong cuộc đời chung và số phận lớn của dân tộc
Trong điều kiện mất nước, giũng văn học thực sự tiến bộ, chõn chớnh của dõn tộc đó chịu chung vận mệnh với dõn tộc Ngay từ đầu thế kỷ, thơ ca yờu nước
đó đúng vai trũ “mà chiờng, mà trống” trong cuộc đấu tranh với kẻ thự của dõn
Trang 13tộc Đây cũng là giai đoạn mà văn học Việt Nam bước đầu thể hiện bản lĩnh của mình trước các vấn đề của thế giới hiện đại
Trong quá trình sáng tác hướng tới một công chúng cách mạng rộng rãi nhưng rất cụ thể và tập trung như vậy, người trí thức tân học từng bước khẳng định mình trên vũ đài chính trị và văn học, khẳng định một kiểu nhà văn chiến sĩ
mà lịch sử văn học chưa hề biết đến Lần đầu tiên một trí thức mới, một người cộng sản, một nhà lãnh đạo văn hoá - nhà thơ Sóng Hồng đã đưa ra định nghĩa mới về một kiểu nhà thơ Ông cho rằng, sứ mệnh cao cả của thi sĩ là phải tham gia vào công cuộc đấu tranh chống xâm lược và dựng cao cờ dân chủ trên thế giới Thi sĩ phải “dùng cán bút làm đòn chuyển xoay chế độ”, phải miêu tả khách quan những căn bệnh xã hội, để vun xới tương lai đã bắt đầu chớm nở
Khái niệm thi sĩ của Sóng Hồng là chỉ chung người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá và văn học nghệ thuật Ở thời điểm cách mạng năm 1942, bài thơ Là thi
sĩ của Sóng Hồng là một tuyên ngôn nghệ thuật, đánh dấu bước phát triển tự giác
trong ý thức của nền văn học cách mạng
1.1.2 Sự hình thành hệ thống thể loại:
Thơ văn cách mạng từ những năm ba mươi, tuy bước đầu hình thành hệ thống thể loại, song về số lượng tác phẩm, chủ yếu tập trung ở thơ ca: thơ ca phát động tuyên truyền cách mạng và thơ tâm sự giác ngộ cách mạng Loại thơ ca phát động tuyên truyền cách mạng bao gồm các thể như diễn ca (song thất – lục bát, hoặc lục bát) , hò, vè hoặc “lẩy” theo cá thể hịch, văn tế, văn truy điệu Nghĩa là vẫn theo vần kể lể, khi hùng hồn cảm khái, khi chê bai kích động, lúc cực tả phân trần, lúc lâm li thống thiết của giọng thơ quen thuộc hai thập niên đầu thế kỷ,
nhưng lại với một nội dung mới và đánh trúng huyệt kẻ thù như: Theo gương Nga
Xô nổi dậy, Mau mau đứng dậy, Kêu gọi phụ nữ, Bài ca Việt Minh
Sự định hướng tự giác của nền văn học chiến tranh và cách mạng đối với thể tài lịch sử - dân tộc đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi của từng thể loại và
Trang 14cơ cấu hệ thống thể loại giai đoạn 1945- 1985 Sự hình thành thể loại trường ca
và sự nở rộ của những sáng tác trường ca vào những năm 1970 – 1985 gắn bó một cách mật thiết với hệ thống thể loại của nền văn học mới - một hệ thống thể loại được hình thành nhằm thoả mãn một kết hợp phức tạp những yêu cầu và nhu cầu xã hội- thẩm mĩ, tồn tại trong sự gắn bó và lệ thuộc với nhau một cách chặt chẽ Một mặt các thể loại thâm nhập và kế thừa nhau, mặt khác cạnh tranh với nhau để hoàn thiện Sự kế thừa và cạnh tranh thể loại này là kết quả của quá trình hai mặt Một mặt là sự “vi phạm từ bên ngoài” làm biến dạng, làm cho một thể loại nào đó mất đi hoặc sinh ra Mặt khác, quy luật nội tại của thể loại văn học luôn luôn lặp lại sự ổn định, không ngừng phục hồi mối tương quan giữa các thể loại trong hệ thống trên cơ sở những mối liên hệ và quan hệ mới
Lịch sử văn học từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay cho thấy, cơ cấu của hệ thống thể loại thơ Việt Nam từ sau cách mạng luôn luôn vận động và biến đổi: ca dao, lục bát, song thất lục bát, diễn ca, tấu, thơ tự do, thơ không vần, thơ trào phúng, thơ văn xuôi, truyện thơ, trường ca có những vị trí khác nhau trong tiến trình văn học Sau cách mạng, diễn ca có xu hướng thu hẹp lại, sau đó mất dần tính văn học Truyện thơ trong kháng chiến chống Pháp bỗng dưng sống lại, chuyển đề tài từ phạm vi thế sự sang địa hạt tái hiện đời sống cách mạng và lịch sử, và rồi sau đó rút lui khỏi hệ thống thể loại, nhường chỗ cho trường ca phát triển rực rỡ ở thời chống Mỹ với các tên tuổi có vị trí trong nền thơ Việt Nam như Tố Hữu, Thu Bồn, Võ Văn Trực, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc Sự kế thừa những thể loại truyền thống đã cho phép thơ Việt Nam 1945-1975 thể hiện và biểu hiện bức tranh sinh động của đời sống, nêu được những vấn đề mang nội dung xã hội và có ý nghĩa thẩm mĩ đối với con người Đó là những hình thức mà nhà thơ và các nhân vật của mình kí thác tư tưởng và tình cảm, bộc lộ nhân cách cá nhân và nhân cách xã hội trong biến cố lịch sử
Trang 15Hiện tượng thơ trữ tình đặc biệt hướng tới các mối quan hệ xã hội, nhấn mạnh chất liệu đời sống, tái hiện sự kiện và biến cố cách mạng, phát hiện bằng nghệ thuật ý nghĩa xã hội – thẩm mĩ của chúng là một đặc trưng thi pháp có cơ
sở trong tâm thức những thế hệ thơ Việt Nam Và hơn nữa có cơ sở trong ý thức của nền văn học mới Thơ trữ tình cách mạng nói chung là sản phẩm của thời đại cách mạng Nhu cầu bộc lộ mình trong sự kiện, nhu cầu nhận thức sứ mệnh lịch
sử của con người trong biến cố đã in dấu ấn vào hình thức nghệ thuật bóng dáng tinh thần của nhà thơ, làm thay đổi diện mạo và cấu trúc thơ truyền thống
Sự hình thành thể loại trường ca và sự nở rộ của những sáng tác trường ca vào những năm 1970- 1985 gắn liền với sự phát triển của hệ thống thể loại của nền văn học dân tộc Bên cạnh đó ta thấy sự ra đời và phát triển của thể loại trường ca là kết quả của quá trình tự vận động theo xu hướng phát triển, hoà nhập
và hoàn thiện tất yếu các thể loại văn học Tác giả Lã Nguyên trong Diện mạo
văn học Việt Nam 1945-1975 có nhận xét xác đáng khi cho rằng sự xuất hiện của
trường ca là một tất yếu trong hệ thống thể loại của văn học Việt Nam nói chung, thơ Việt Nam nói riêng Ông cho rằng: “Có thể nói, văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 không thiếu một thể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại ký: ký sử, bút ký, truyện ký, các thể thơ: thơ tứ tuyệt, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca ” Trong qúa trình phát triển của thể loại thơ, trường ca có thể không phải là thể loại sau cùng nhưng đến thời điểm này, trường ca là một thể loại thực sự có ưu thế hơn so với các thể loại khác là khả năng thâu tóm, khái quát được và thể hiện một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn, phù hợp với việc chuyển tải quy mô, tầm vóc lớn lao của những vấn đề lịch sử - thời đại; đồng thời đáp ứng được đòi hỏi cao của bản thân thể loại trong quá trình phát triển của chính nó
Trường ca hiện đại xuất hiện và lấy đề tài lịch sử- dân tộc làm nền, lấy chủ nghĩa anh hùng cách mạng làm cảm hứng chiều sâu nhận thức của nhân vật Sự
Trang 16tái hiện biến cố cách mạng và sự kiện chiến tranh trong trường ca gắn với những kinh nghiệm hoạt động tinh thần và thực tiễn của cá nhân nhà thơ Và điều quan trọng, nó lấy sự trưởng thành ý thức của nhà thơ làm thước đo tầm vóc của nhân vật, của biến cố và sự kiện
Trường ca trong văn học cách mạng Việt Nam là hiện tượng thể loại có ý nghĩa thực tiễn, đồng thời là hiện tượng tự ý thức của nền văn học mới trên bình diện lý luận và thi pháp Sự xuất hiện của trường ca không nằm ngoài quy luật
vận động chung của hệ thống thể loại “Trường ca xét từ những mối quan hệ và
liên hệ trong hệ thống thể loại là kết quả của quá trình mở rộng chức năng xã hội- thẩm mĩ của các yếu tố tự sự trong thơ” [56, tr.150] Con đường tự nhiên
hình thành trường ca là con đường thơ trữ tình mở rộng dung lượng tự sự và quy
mô cảm xúc, và cùng với nó là sự kế thừa và sử dụng các kinh nghiệm thể loại vẫn có trong truyền thống như sử thi, diễn ca, truyện thơ và thơ trường thiên
Từ nửa sau những năm bẩy mươi, đất nước hoàn toàn giải phóng, nền văn học dân tộc thực sự thống nhất Hệ thống thể loại văn học Việt Nam nói chung và thơ trữ tình nói riêng vận động theo hướng dân chủ hoá Quá trình này thực chất
là sự phân hoá của thái độ thẩm mĩ của nhà thơ trước hiện thực và ngôn ngữ, là
sự điều chỉnh ranh giới biểu hiện giữa cái ta và cái tôi trong thơ trữ tình Thực tế
văn học này có cơ sở trong đời sống văn hoá xã hội Việt Nam sau chiến tranh, nhất là thời kỳ đất nước thực hiện công cuộc đổi mới một cách toàn diện
1.2 Hiện tượng trường ca
1.2.1 Sơ lược về thể loại trường ca
Trường ca là một phạm trù nội hàm rất rộng Trong nền văn học nhân loại, trường ca cũng có một lịch sử phát triển lâu đời Nhưng có thể nói cho đến nay để định nghĩa chính xác và bao quát về thể loại này vẫn chưa được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước thống nhất Bởi lẽ, trường ca có dung lượng rất lớn, có khả năng tích hợp nhiều thể loại văn học, nghệ thuật khác
Trang 17Trong nền văn học thế giới, với sự xuất hiện của hàng loạt các tác phẩm
kinh điển như: Iliat, Ôđixê của Hôme, Thần khúc của Đante, Ramaya na và
Mahabrata của đất nước Ấn Độ các tác phẩm sử thi này mang tính khởi nguyên
Sử thi là khái niệm mà giới nghiên cứu văn học Việt Nam dịch từ thuật ngữ văn
học phương Tây: tiếng Pháp gọi là époée, tiếng Anh là epic, tiếng Hi Lạp là epopoiia, và chính nhà triết học Hi Lạp Arixtốt (TK V TCN) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này Theo tiếng Hi Lạp thì epopoiia có nghĩa là tự sự, kể chuyện
Điều này lý giải vì sao nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới suốt một thời gian dài đã quan niệm: đây là những tác phẩm trường ca sử thi xuất hiện sớm trong lịch sử văn học nhân loại Hê ghen, nhà mỹ học uyên bác đã nói về ý nghĩa
sử thi của thể loại này rằng: “với tư cách là quyển thánh kinh của một dân tộc đối với những trường ca xuất hiện về sau, đó là những trường ca chân chính” [21, tr.576] Hê ghen cũng lưu ý rằng: không phải “từ cái thời đại anh hùng với ý nghĩa thực sự của nó, là thời đại sinh ra sử thi” mà thực chất thì “nghệ thuật nảy sinh chậm hơn nhiều, khi cuộc sống và tinh thần đã diễn biến trong một bầu không khí nên thơ” [21, tr.577] Nói về tính cách sử thi Hêghen cũng cho rằng, tuy gắn với biểu hiện cộng đồng dân tộc, song sử thi “vẫn không kém mang tính chất cá nhân sinh động và cụ thể” Về chi tiết trong sử thi Hêghen xác định:
“không có một loại thơ nào mà chi tiết lại chiếm địa vị to lớn như trong trường ca
sử thi” [21, tr.81-84] Như vậy, ta thấy Hêghen đã xếp trường ca sử thi thuộc loại hình thơ và khẳng định rằng: “chính tính cách là một tổng thể nguyên sơ mà trường ca sử thi làm thành cái quý báu nhất, quyển sách, quyển Thánh kinh của một dân tộc và mọi dân tộc lớn và quan trọng đều có” [21, tr.574]
Trong lịch sử phát triển của mình, nền văn học Pháp cũng có giai đoạn mở đầu là thời kỳ giữa thế kỷ XI đến cuối thế kỉ XII, đây là giai đoạn của sự hình thành thể loại và cũng là giai đoạn hình thành cho thể loại trường ca Theo các nhà nghiên cứu “những trường ca anh hùng cổ nhất cũng ra đời trong giai đoạn
Trang 18này như Bài ca Rôland, Bài ca Guilare [28, tr.32] Trong văn học Pháp khoảng
thế kỉ XII xuất hiện tên gọi “Bài ca anh hùng” dùng “để chỉ những bài thơ dài được viết bằng ngôn ngữ thông tục”[28, tr.39] Như vậy, các tên gọi khác nhau giữa các khái niệm sử thi anh hùng, trường ca anh hùng và bài ca anh hùng ở đây
có sự đồng nhất Đến thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện hàng loạt các tác phẩm của
Vônte như Anh hùng ca La Henriade năm 1728, Người trinh nữ xứ Orléan năm
1955 đã khiến các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này phải nhìn nhận và đánh giá lại về thể loại này Họ cho rằng các bản anh hùng ca hiện đại và anh hùng ca thời cổ có sự khác nhau Sang thế kỷ XIX, những tác phẩm của Lamatin và Victo Huygô chỉ còn được gọi là những tác phẩm thơ dài, hoặc những sáng tác “thơ đồ sộ” chứ không còn được gọi là sử thi hay trường ca nữa
Ở Nga, từ quá trình hình thành cho đến quan niệm về thể loại trường ca cũng là một vấn đề phức tạp Nhiều tác giả đã đánh đồng trường ca với truyện thơ Ngay hai tác gia vĩ đại Puskin và Lecmontop cũng đồng nhất hai khái niệm này, phải “đến Maicopxki sau này, cùng với sự nở rộ về trường ca Xô viết - những năm 50- 60 của thế kỷ XX, thì tất cả đều được gọi là trường ca” [4,tr 25]
Theo X.I.Kormilov: “trường ca (tiếng Hy lại: Poèma – sáng tác) theo
quan điểm hiện đại là các tác phẩm thơ có dung lượng lớn và vừa” Tuy nhiên,
việc xác định về thể loại trường ca như vậy mới dừng lại ở việc nhận biết những dấu hiệu bề ngoài Để làm rõ bản chất của thể loại đặc biệt này phải kể đến V.G Biêlinxki (1811-1848), nhà lý luận phê bình kiệt xuất của nền văn học Nga mới đưa ra một khái niệm tương đối khái quát: “trường ca” là một tác phẩm thơ dài
đặc biệt, có đặc trưng về nội dung Biêlinxki cũng đồng thời khẳng định: “ Trong
thơ đương đại có một thể loại tự sự đặc biệt, nó không dung nạp văn xuôi của đời sống, nó chỉ chớp lấy những yếu tố mang tính chất thơ, chất lý tưởng của cuộc sống mà nội dung là những chiêm nghiệm sâu sắc nhất về thế giới và những vấn
Trang 19đề về đạo đức của nhân loại hiện đại Thể loại tự sự này giữ riêng cho mình từ Poèma” [20, tr.48]
V.Yvanixenko cũng cho rằng: Đặc trưng cốt yếu để xác định thể loại trường ca là “nội dung lớn”, không chỉ thể hiện quy mô của thực tế được tổng hợp trong tác phẩm để tạo ra được tính hoành tráng, mà còn thể hiện nhân cách của nhà thơ với tình cảm “Phóng khoáng, lành mạnh, hết sức phong phú”, “có sức khái quát sâu sắc” và ở những “tư tưởng bay bổng” Maiacôpxki khi đề cập đến vấn đề
“Tư tưởng lớn” trong tác phẩm cũng khẳng định: “Có thể không viết về chiến tranh nhưng nhất thiết phải viết bằng tư tưởng chiến tranh” Như vậy, trong thể loại trường ca tư tưởng lớn, tình cảm lớn, cảm hứng lớn chính là cái mang tính quyết định cho “nội dung lớn”
1.2.2 Thể loại trường ca trong văn học Việt Nam nói chung và trong văn học Việt Nam hiện đại
Trong văn học Việt Nam, khái niệm trường ca bắt đầu xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ XX Những sáng tác dân gian có độ dài và có tính chất sử thi
như Đam San, Xinh Nhã được gọi là trường ca đầu tiên trong lịch sử văn học dân
tộc Hoặc như các khan ở Tây Nguyên, các mo của dân tộc Mường vùng núi Tây
Bắc, nay dùng để chỉ những sáng tác như: Bài ca chim Chơrao của Thu Bồn, Mặt
đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Sông Mê Công bốn mặt của Anh Ngọc Nhưng trong quá trình vận động, trường
ca hiện đại lại không phải là sự kế thừa của các trường ca trong lịch sử (sử thi, anh hùng ca) Mà trên thực tế sáng tác, vào những năm 70, 80 của thế kỷ trước trường ca hiện đại rầm rộ ra đời, mang những đặc trưng thi pháp riêng buộc các nhà nghiên cứu vào cuộc và đưa ra những quan niệm về lý thuyết cho thể loại này
Thật ra việc xác định ranh giới cụ thể và đưa ra một định nghĩa chính xác
về thể loại này là một vấn đề không đơn giản Bởi vì “Trường ca là một thuật ngữ
Trang 20văn học mới, chưa chính xác, chưa ổn định, để chỉ các sáng tác thơ dài” [45,
tr.101] Các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: trường ca là những
“Tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình” .[23, tr.376]
Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã xếp trường ca vào “hình thức thơ tự
sự, hoặc ít nhiều dựa trên phương thức tự sự”; và cho rằng: “hình thức trường ca
cũng đặc biệt phát triển với những chủ đề về đề tài cách mạng trường ca là một hình thức của truyện thơ nhưng không phải bất kỳ truyện thơ nào cũng là trường
ca hoặc có màu sắc trường ca” “Nội dung của trường ca thường gắn liền với các phạm trù thẩm mĩ về cái đẹp, cái hùng, cái cao cả Trường ca thường có cốt truyện không hoàn chỉnh”
Vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Tạp chí Văn học đã đăng tải nhiều bài viết tranh luận, trao đổi về trường ca khá rầm rộ và phong phú với sự tham gia đông đảo của các nhà nghiên cứu, nhà lý luận phê bình và cả các tác giả trực tiếp sáng tác trường ca Tất cả đều xoay quanh vấn đề về trường ca và dừng ở mức gợi mở để làm sáng tỏ chứ chưa đạt được sự thống nhất chung Mỗi nhà nghiên cứu quan tâm và có sự đóng góp riêng trong quan niệm về thể loại này Phạm Huy Thông chú ý về độ dài của hình thức và độ lớn của nội dung cho rằng: “Trường ca, sau thời nguyên khai, có kém phần mênh mông dài rộng” [68, tr.13] Nguyễn Trọng Tạo khẳng định trường ca
là những tác phẩm có thể có cốt truyện hoặc không có cốt truyện nhưng có điểm chung là “phải phản ánh được những sự kiện lịch sử có ý nghĩa rộng lớn và soi sáng được cuộc sống của nhân dân trong toàn bộ tính đa dạng của nó” [58, tr.119] Từ Sơn cho rằng: “Nếu còn gọi là trường ca, chỉ nên dùng cho những truyện thơ có cốt truyện hoặc chỉ những bài thơ tự sự dài chừng năm trăm, một ngàn câu thơ trở lên” [49, tr.120] Trần Ngọc Vương thì quan niệm: Tính chất
“tầm cỡ” của thể loại trường ca là ở dung lượng cảm hứng Một cảm hứng lớn
Trang 21như vậy chỉ có thể xuất hiện ở một thời đại cách mạng Phạm trù cái cao thượng, cái anh hùng và cái bi kịch đều có thể tìm thấy chỗ đứng chắc chắn trong thể loại này”[74,tr 129] Vũ Văn Sỹ nhận xét: “Về bản chất trường ca khác với truyện thơ truyền thống, khác với trường ca cổ điển (khan, diễn ca lịch sử ) nhưng lại gần với thơ trường thiên, thơ trữ tình”; và kết luận: “Trường ca là kết quả sự mở rộng dung lượng phản ánh và quy mô cảm xúc của thơ trữ tình” [53,tr.162-166] Nhà thơ Anh Ngọc cũng cho rằng: “trường ca không nhất thiết phải bao hàm độ dài vật chất, mà nó nằm trong cái mục đích và quá trình phấn đấu nhất quán để đạt mục đích đó” Quan trọng là tính tư tưởng của tác phẩm [39,tr.122-123] Hoàng Ngọc Hiến khái quát: Trường ca là thuật ngữ của văn học dịch từ chữ poema của Liên xô “có thể hiểu với một nghĩa rộng, nội hàm không xác định, thậm chí mông lung ” nhưng theo tác giả ngoài nghĩa rộng ra thực chất “trường
ca còn có một nghĩa xác định hơn, chỉ một thể loại tác phẩm thơ đặc biệt có đặc trưng nội dung xác định” Tóm lại, theo ông “trường ca là một thể loại lớn với hai nghĩa: có dung lượng lớn và mang nội dung lớn” [25,tr 44-45]
Trong công trình nghiên cứu chuyên luận văn học “Đặc trưng trường ca
Thu Bồn- Nguyễn Khoa Điềm- Thanh Thảo” của tác giả Mai Bá Ấn sau khi phân
tích, lý giải về hiện tượng trường ca nói chung đã đưa ra kết luận về trường ca như sau: “Trường ca là một tác phẩm được viết bằng thơ trên phương thức kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố tự sự và trữ tình, có tính hoành tráng cả về phương diện nội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật tác phẩm, được nhà thơ viết nên bằng một dung lượng cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những chấn động lớn lao của lịch sử, của dân tộc và của thời đại” [5, tr.29]
Như vậy, điểm một cách khái quát về những quan niệm của các tác giả về thể loại trường ca ta thấy có sự khác nhau trong việc xác định ranh giới, nội hàm khái niệm nhưng họ vẫn gặp nhau ở điểm chung khi cho rằng: “trường ca là những tác phẩm có “tầm cỡ”, “tầm vóc” lớn lao về cả hình thức lẫn nội dung Nó
Trang 22có sức ôm chứa nhiều vấn đề lớn, về nhiều chủ đề tư tưởng, về độ rộng của không gian và độ dài của thời gian, “trường ca có tính tự sự, tính trữ tình, yếu tố
triển và thành công cho thể loại này
Có thể lấy mốc thời gian từ những năm 1945 đến 1965 là giai đoạn mở đầu cho thể loại trường ca hiện đại Ở chặng mở đầu này số lượng người sáng tác cũng như số lượng tác phẩm chưa nhiều, sự phân định giữa thể loại thơ dài và trường ca cũng chưa thật rõ ràng, nhiều người còn đồng nhất giữa hai khái nịêm
này Những tác phẩm tiêu biểu trong giai đoạn này có thể kể đến như: Ngọn Quốc
kỳ và Hội nghị non sông của Xuân Diệu; Từ đêm mười chín (1948) của Khương
Hữu Dụng; Hà Thanh Đẩu với Việt Nam hùng sử ca (1949); Phùng Quán với
Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1954); Văn Cao với Những người trên cửa biển (1956) Những tác phẩm này về cơ bản đã phản ánh được một số sự kiện và
những nhân vật tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhưng cách khái quát và ấn tượng thể loại để lại chưa thực rõ ràng
Trường ca thực sự bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và trở thành hiện tượng văn học đáng chú ý trong những năm kháng chiến chống Mỹ và sau giải phóng phải kể đến là giai đoạn từ 1965 đến 1985 Đề tài về chiến tranh, cách mạng trở thành đề tài đề chủ yếu trong trường ca giai đoạn này Các tác giả trường ca dưới góc nhìn khác nhau đã đem đến sự khái quát về nội dung, và sự phong phú về hình thức ngày càng hoàn chỉnh
Trang 23Đặc biệt trong giai đoạn thứ hai này, (khoảng những năm 1965- 1975), đó
là thời kỳ cả nước đang trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước vô cùng ác liệt Trong đội ngũ sáng tác nhiều người trực tiếp cầm súng chiến đấu Họ là những người lính được tôi luyện và trưởng thành trong kháng chiến, hoà mình trong không khí sôi nổi và hào hùng của thời đại, đó là những tên tuổi tiêu biểu như: Lê Anh Xuân, Vương Anh, Phạm Ngà, Viễn Phương, Nguyễn Khoa Điềm đã có mặt kịp thời và tiếp nối truyền thống của các lớp thế hệ đi trước Cho nên, đội ngũ sáng tác trường ca giai đoạn này đông đảo hơn, số lượng tác phẩm nhiều hơn, phong phú hơn đã phần nào đáp ứng được nhiệm vụ lớn lao, phản ánh hiện thực rộng lớn của văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong thời đại mới, thời đại cách mạng của dân tộc, của đất nước
Sáng tác trường ca “nở rộ” trong khoảng thời gian từ sau năm 1975 Chỉ trong thời gian ngắn, thể loại này đã đạt được rất nhiều thành tựu trên bình diện quy mô, nội dung cũng như hình thức nghệ thuật Những tác phẩm tiêu biểu cho
thể loại trường ca trong giai đoạn này có thể kể đến như: Sóng Côn đảo (1975);
Sông núi trên vai( 1977) của Anh Ngọc; Ngọn giáo búp đa của Ngô Văn Phú
(1977); Ba–zan khát của Thu Bồn (1977); Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1977); Võ Văn Trực với Người anh hùng ở đất Châu Hoan (1976); Đường
tới thành phố của Hữu Thỉnh (1979); sự đóng góp của Trần Mạnh Hảo với Mặt trời trong lòng đất (1979), và Đất nước hình tia chớp (1980); Nguyễn Đức Mậu
cũng góp mặt với Trường ca sư đoàn (1980); Nguyễn Trọng Tạo với Con đường
của những vì sao (1981) Có thể nói đây là thời kỳ đất nước đã được hoàn toàn
giải phóng và cũng là lúc các nhà thơ có điều kiện nhìn nhận rõ hơn về giá trị bản thân, về sự lớn lao, vĩ đại của quốc gia, dân tộc mình, về niềm vui chiến thắng và
cả những nỗi buồn về sự mất mát, đau thương Từ những chiêm nghiệm thực tế
và cảm xúc đó những bản trường ca đã ra đời Như trên đã nói những bản trường
ca được sáng tác trong giai đoạn này cả về số lượng và chất lượng đều có bước
Trang 24tiến đáng kể Tổng kết, khái quát về chiến tranh chính là khuynh hướng sáng tác chung của các bản trường ca thời kỳ này
Đến những năm đầu thập kỷ 80, tiếp tục mạch cảm xúc và những thành công trước đó, nhiều bản trường ca có giá trị được ra đời của các tác giả tiêu biểu
như nhà thơ Anh Ngọc với hai tác phẩm: Sông Mê Công bốn mặt (1981) và Điệp
khúc vô danh (1983); thậm chí có những tác giả còn sáng tác cả một sê ri trường
ca như Vĩnh Quang Lê, từ 1981 đến 1986 xuất bản liền 4 trường ca: Những lời ca
chưa đủ, Một vé đi về ánh sáng, Thức dậy lúc O giờ, Những câu trả lời ngắn nhất Hay nhà thơ Thanh Thảo với Những ngọn sóng mặt trời (1982 – bao gồm 3
tác phẩm); sau đó là Khối vuông ru- bích (1985) và sau này là Trò truyện với
nhân vật của mình (2002) và một số tác giả khác như Võ Văn Trực với Hành khúc mùa xuân (1980); Thu Bồn với O ran 76 ngọn (1980)
Các tác phẩm trường ca ở giai đoạn này không chỉ tiếp tục phát huy được tính năng động của thể loại mà còn đánh dấu sự chín muồi về tư tưởng, và trình
độ nghệ thuật Ở các trường ca kể trên đã được tác giả sáng tạo, phối hợp nhuần nhuyễn các thể loại văn học khác nhau, sử dụng các thủ pháp nghệ thuật trong việc diễn tả cảm xúc, tư tưởng của mình trong tác phẩm
Nếu như các trường ca được sáng tác trong giai đoạn trước, hiện thực thường bị bó hẹp trong những phạm vi không gian, thời gian, địa điểm, hoặc chỉ gói gọn trong một số đối tượng cụ thể, nhưng phải đến giai đoạn này biên độ hiện thực mới thể hiện được sự khái quát, tổng hợp trên nhiều phương diện khác nhau của lịch sử, xã hội và con người Không chỉ dừng ở phạm vi hiện thực được phản ánh, mà trường ca thời kỳ này còn được khai thác ở chiều sâu suy ngẫm triết luận, chiều dài của thời gian và chiều rộng của không gian Trong trường ca
Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh chúng ta không chỉ thấy con đường giải
phóng đất nước mà ở đó còn có mẹ, có chị, có anh, có người chiến sĩ, có cô thanh niên xung phong mỗi con người mang nét chung cao quí của cộng đồng nhưng
Trang 25vẫn là những cuộc đời riêng, tâm trạng riêng Những con người ấy đi từ ngày qua đêm, từ quá khứ đến hiện tại, đồng hành cùng lịch sử và chính họ đã làm nên
cuộc đời chung của đất nước Trong trường ca Sông Mê Công bốn mặt, Anh
Ngọc không chỉ dừng lại ở việc phản ánh hiện thực thảm khốc trong nạn diệt chủng của đất nước Campuchia mà qua đó tác giả đặt ra những câu hỏi mà nhân loại phải đi tìm cho những sai lầm, những ngộ nhận trong đó có dân tộc Việt Nam Với cái nhìn thẳng thắn vào hiện thực tác giả đặt ra những vấn đề lớn lao cho con người với ý nghĩa triết học sâu sắc
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, sau năm 1985 đến nay đội ngũ tác giả viết trường ca không rầm rộ như thời kỳ trước và số lượng tác phẩm cũng không nhiều nhưng vẫn có những trường ca tương đối đặc sắc như trường ca của Vương Trọng, Thanh Thảo, Trần Anh Thái, Thi Hoàng và Hoàng Trần Cương
Nội dung phản ánh của các trường ca thời kỳ này không chỉ viết về chủ đề chiến tranh và những hậu quả của nó mà các tác giả còn chú ý đến các vấn đề thường nhật của cuộc sống với tất cả những phức tạp, bộn bề vốn có Cho nên, có thể nói nội dung phản ánh hiện thực của các trường ca thời kỳ này đa dạng hơn, phong phú hơn và đặc biệt có sự thay đổi trong khuynh hướng sáng tác Khuynh hướng triết luận, mở rộng trường liên tưởng, tính ẩn dụ, giọng điệu cắt nghĩa, biện giải và xây dựng các biểu tượng mang tính biểu trưng cao là những đặc điểm nổi bật của các trường ca giai đoạn này
Trường ca Việt Nam hiện đại với tư cách là một thể loại tiêu biểu mang đặc trưng riêng với con đường phát triển riêng cùng với các thể loại khác trong lòng nền văn học dân tộc Cùng với các chặng đường lớn của dân tộc từ khi đất nước chìm trong đau thương, gian khổ, hào hùng đến những bước chuyển tiếp của thời kỳ sau giải phóng và một bước dài đến cuộc sống của con người hiện đại, trường ca đã mang trong mình sức mạnh của hiện thực cùng với những tâm hồn dạt dào, sôi nổi cảm xúc của các nhà thơ trẻ, họ đã sống, đã chiêm nghiệm
Trang 26cùng với những thăng trầm của cuộc sống Vì thế, trường ca vừa có sức bao quát,
ôm chứa một hiện thực rộng lớn đồng thời vẫn thấm đẫm cảm xúc của người viết Trường ca qua các thời kỳ đã từng bước hoàn thiện và đạt đến sự chín muồi của một thể loại hoàn chỉnh trong nền văn học Việt Nam nói chung và trong văn học Việt Nam hiện đại nói riêng
1.3 Anh ngọc – một tác giả có thành tựu về trường ca
1.3.1 Anh Ngọc – một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ chống Mỹ
Khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra miền Bắc nước ta cũng là lúc
cả nước lên đường với quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và thống nhất Tổ quốc
Kế thừa và phát huy thành tựu của nền văn học mới trong giai đoạn trước, đến thời kỳ này văn học tiếp tục bước vào cuộc chiến với nhiệm vụ cao cả là cổ
vũ và động viên tinh thần chiến đấu, ý chí quyết thắng của quân và dân ta trong cuộc chiến ác liệt và vĩ đại đấu tranh chống Mỹ cứu nước Đội ngũ các nhà văn
đã hăng hái nhập cuộc và đạt được nhiều thành tựu trên mọi thể loại: Truyện, ký, kịch Đặc biệt trong lĩnh vực thơ ca, một nền thơ tiêu biểu trên chặng đường
sáng tạo, thơ chống Mỹ được đánh giá là một nền thơ hiện đại, nhanh nhạy và kịp
thời, nóng bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu mà vẫn mang vẻ đẹp trong trẻo
Tiếp nối thế hệ của chặng đường trước với các tên tuổi tiêu biểu như: Tố Hữu, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi , các nhà thơ đã đóng góp rất nhiều thành tựu cho nền thơ ca nước nhà Bổ sung lực lượng cho văn học chống
Mỹ nói chung và thơ chống Mỹ nói riêng ở thời kỳ này, một đội ngũ đông đảo, thế hệ nhà thơ ra đời và trưởng thành ngay trong những năm chống Mỹ Chỉ trong vòng mười năm một lớp nhà thơ chiến sĩ rất sung sức, nhiệt huyết, đã đem đến cho thơ sức sáng tạo mới, dồi dào, trẻ trung, trong sáng và nhạy cảm Phần
Trang 27lớn đó là những nhà thơ “ra đời cùng cách mạng” là sản phẩm của thời đại mới Cùng hàng vạn thanh niên cầm súng đi vào chiến trường, đi vào cuộc chiến đấu, các nhà thơ, có người vừa rời giảng đường đại học đã hăng hái lên đường Vì họ, hơn ai hết thấu hiểu trách nhiệm và sứ mệnh của mình trước cuộc biến thiên của dân tộc Có thể kể đến các tên tuổi tiêu biểu như: Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Anh Ngọc, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu
Là những người được tôi luyện và trưởng thành trong môi trường chiến tranh, thơ ca của họ một mặt là sự tiếp nối truyền thống, nhưng mặt khác thơ họ vẫn mang những nét sáng tạo riêng, đầy cá tính Nhu cầu tự ý thức, tự biểu hiện chính là điểm nổi bật trong sáng tác của các nhà thơ thời kỳ này Họ muốn ghi lại chính hình ảnh của mình qua trang viết Đây chính là những đóng góp xuất sắc của thơ trẻ vào việc xây dựng con người Việt Nam trong thời đại chống Mỹ Nhà thơ Anh Ngọc, gương mặt tiêu biểu trong nền thơ chống Mỹ là một trong những nhà thơ như vậy, ông đã góp một phần công sức bằng nét bút đặc sắc, riêng biệt qua những trang thơ của mình
Thơ Anh Ngọc xuất hiện vào vào nửa sau của cuộc chiến tranh khi mà thơ
trường sơn, thơ tuyến lửa đã đạt được những thành tựu đáng kể, với những cây
bút trẻ xuất sắc như Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật Nói được cái điều “chỉ cây biết với anh”(Cây xấu hổ) để công khai cho mọi người cùng biết, Anh Ngọc đã bổ sung vào trong bức chân dung người lính trong thơ một nét đẹp tâm hồn, mang lượng thông tin nội cảm, có ý nghĩa phát hiện đối với đời sống tinh thần của thế hệ trẻ
Những sáng tác đầu tay của Anh Ngọc gắn liền với hai giải thơ của báo Văn Nghệ mà ông đã được nhận năm 1973 và năm 1975 Sau này, những bài thơ
đó phần lớn được in trong hai tập Hương đất màu cờ (1977) và Ngàn dặm và một
Trang 28bước (1984) Nói chung mặt thành công của Anh Ngọc trong hai tập thơ trên gắn liền với mặt mạnh của thơ chống Mỹ: đó là sự cảm nhận trực tiếp đời sống chiến trường theo phương thức sử thi Nghĩa là nhà thơ chủ yếu lựa chọn và miêu tả cái hiện thực phù hợp với lý tưởng của cộng đồng
Cũng như các nhà thơ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, hoà trong tiếng nói trẻ trung, sôi động, đầy nhiệt huyết của cả thế hệ những cây bút trẻ với những đóng góp tích cực trong việc đổi mới thơ ca mạnh mẽ cả về hình thức lẫn nội dung, thơ Anh Ngọc đã để lại trong lòng công chúng tình cảm chân thành và xúc động bởi những đóng góp của ông cho nền thơ chống Mỹ nói riêng, văn học dân tộc nói chung nhiều bài thơ, tập thơ có giá trị
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước và bề dày hoạt động văn chương, Anh Ngọc đến với thơ như duyên trời đã định, như một lẽ tất yếu hơn là sự tình cờ, bởi cái “gien” văn học đã ngấm vào ông từ rất sớm như ông từng nói: “Yêu và thích sáng tác văn học từ tuổi thiếu niên Mười lăm tuổi viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên Không được in Gặp “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân ngay lập tức bị huyễn hoặc Từ đó chủ yếu chỉ làm thơ Đến nay vẫn tiếp tục vui buồn, sống chết với thơ” Một lần nữa truyền thống gia đình thêm tự hào vì người con Nguyễn Đức Ngọc (tên khai sinh của nhà thơ Anh Ngọc) đã kế thừa và phát huy xứng đáng bởi tài năng qua những trang viết độc đáo rất riêng của mình
Anh Ngọc lớn lên trong bầu không khí của cuộc cách mạng tháng Tám và những năm tháng chống Pháp hào hùng của dân tộc Tình cảm yêu nước và cảm hứng về quê hương đất nước đã sớm được hun đúc trong tâm hồn ông Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp, Anh Ngọc trở thành giảng viên trường Đại học Thương nghiệp Hà Nội (ngày nay là trường Đại học Thương mại)
và từ giảng đường nhà trường lên đường nhập ngũ Là một trí thức thực sự, Anh Ngọc vừa dạy học, vừa bắt đầu làm thơ Những nhận thức mà ông được tiếp nhận
Trang 29từ sách vở và cuộc sống lớn lao của dân tộc đã đánh thức tài năng sẵn có đã sớm hình thành một cốt cách vững chắc cho hồn thơ Anh Ngọc
Trưởng thành trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh chống
Mỹ, như bất cứ người dân yêu nước nào ngày ấy, Anh Ngọc đã lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, sẵn sàng có mặt ở những nơi gian lao hiểm nguy nhất, sống cuộc đời người lính với bao nỗi khổ cực, thiếu thốn, lặn lội từ chiến trường Quảng Trị máu lửa đến Cực Nam Trung Bộ gian lao, từ Trường Sơn đến Sài Gòn, từ cuộc chiến tranh các biên giới phía Bắc phía Nam cho đến nước bạn Campuchia Đi nhiều, gặp nhiều, sống nhiều giúp ông có thêm nhiều vốn sống thực tế, nhưng còn quan trọng hơn là vốn sống ấy lại gợi mở và đánh thức
cả thể giới suy tư và tưởng tưởng vốn đã đầy ắp ở trong nhà thơ Chính sự kết hợp hai thứ thực tế - hướng ngoại và hướng nội - ấy đã tạo cảm hứng dồi dào cho ông sáng tác nên những bài thơ, những bản trường ca giá trị và có ý nghĩa lâu bền
1.3.2 Anh Ngọc và thể loại trường ca
1.3.2.1.Quan niệm trong sáng tác trường ca của Anh Ngọc: “Hãy đưa tôi một tư tưởng”
Phần lớn các nhà nghiên cứu văn học đều nhận thấy trường ca là thơ trữ tình mở rộng dung lượng hiện thực và quy mô tự sự Có thể coi tư tưởng là chất keo liên kết các tư liệu rời rạc đồng thời truyền sức sống vào các sự kiện, biến cố của đời sống, biến nó thành máu thịt của tác phẩm Tư tưởng nghệ thuật là tứ thơ lớn của trường ca Trữ tình là phản ánh chủ thể, bộc lộ những suy nghĩ trực tiếp
và tình cảm chủ quan của nhà thơ trước sự kiện và hoàn cảnh Bằng kinh nghiệm sáng tạo của mình, đã có lần Anh Ngọc tóm tắt thái độ chọn lựa trường ca của
mình bằng một mệnh đề có tính biểu tượng: “Hãy đưa tôi một tư tưởng ”[39,
tr.122] Có thể coi đây như là “tuyên ngôn” nghệ thuật của thể loại, hay nói cách
khác, chính là quan niệm về sáng tác trường ca của Anh Ngọc Ở thái độ này của
Trang 30mình, nhà thơ đã muốn bứt ra khỏi cách xử sự thông thường của các bậc đàn anh
đi trước Ông không bao giờ quên lời dặn dò của một Xuân Diệu chẳng hạn, khi ông Hoàng của thơ tình Việt Nam quả quyết rằng “quy luật của thơ là quy luật của cảm xúc”, “thơ là nước, nước có thể trong có thể đục nhưng không thể khô”,
và lời răn đe của Xuân Diệu giành cho nhà thơ trẻ Anh Ngọc ngày ấy, người đã dám khiêu khích nhà thơ lớn bằng câu hỏi “còn tư tưởng thì sao, thưa anh “ và nhận được từ Xuân Diệu một lời đáp lạnh tanh và giễu cợt: “Kinh nghiệm cho hay, thời gian sẽ thanh toán nó trước hết’ Anh Ngọc nhớ tất cả, nhưng là người
tự tin và bướng bỉnh, Anh Ngọc vẫn tiếp tục con đường đi của mình Nhà thơ trẻ ngày ấy kiên quyết giữ vững xác tín của mình rằng: Ngay cả tư tưởng nữa, nếu một khi được chưng cất lên từ sâu thẳm của đời sống, từ sâu thẳm của trái tim yêu thương và đau đớn thì cũng chính là tình cảm, là cảm xúc, và nhà thơ gọi đó
là “trí tuệ của trái tim” Những năm tháng trực tiếp cầm súng chiến đấu ngoài chiến trường, hiện thực chiến tranh và cuộc sống con người thời chiến đã ùa vào trong người lính là ông, giúp ông kịp nhận ra rằng, để tái hiện lại “gương mặt” chiến tranh thì những bài thơ thuần tuý cảm xúc kiểu thơ Phương Đông truyền thống là chưa đủ Và Anh Ngọc đã tìm được nơi gửi gắm ý tưởng của mình tin cậy nhất, đó chính là trường ca Anh Ngọc đã đến với trường ca như vậy Ông cho rằng: thể loại trường ca là một sản phẩm của thời đại, nhu cầu của thời đại sản sinh ra trường ca, thể loại văn học khái quát những vấn đề lớn với bề rộng của quy mô, chiều sâu của tư tưởng Nhà thơ coi tư tưởng như một phần của cuộc sống, và yêu nó như yêu những hình ảnh ấm áp vô cùng của sự sống, như yêu một bông hoa, một cô gái, một vẻ đẹp dịu dàng của trí tuệ Ông sung sướng giãi bày nó trong trường ca và cũng khẳng định sự không thể thay thế được của thể
loại này trong nhu cầu tiếp nhận đời sống của con người Ông nói: “Quả nhiên
trường ca là sản phẩm của thời đại Khó có thể loại nào mang tính khái quát tổng hợp như thế Nó đòi hỏi cả bề rộng lẫn chiều sâu của tư tưởng, đủ sức xuyên
Trang 31suốt tác phẩm mà không làm mất đi mạch nguồn cảm xúc Tính thời đại với nhiều
ám ảnh đã đưa tôi đến với trường ca”
Hầu hết các nhà thơ khi sáng tác trường ca đều đồng tình với ý kiến của Anh Ngọc khi ông nhấn mạnh vai trò quan trọng có tính chất quyết định của tư
tưởng đối với trường ca: “Khâu khó nhất khi viết trường ca là tư tưởng Nếu không
có tư tưởng hay tư tưởng không sáng rõ thì không thể viết được Sự sáng tỏ của tư tưởng đưa đến sự thống nhất trong chủ đề” [39, tr.121]
Tư tưởng nghệ thuật còn có vai trò vô cùng quan trọng đó là quy định kết cấu của tác phẩm, đồng thời chi phối ngôn ngữ thể loại như biểu tượng, giọng điệu của trường ca
Theo Anh Ngọc, tư tưởng của trường ca phải đảm bảo tính khái quát, có chiều sâu vững chắc Tư tưởng vững chắc sẽ dẫn dắt toàn bộ tác phẩm đi đúng hướng và đạt được mục đích sáng tác Ngoài ra, tư tưởng còn phải đảm bảo tính mới mẻ, thể hiện sự khám phá, tìm tòi, sáng tạo của tác giả Bởi sáng tạo và sự mới mẻ luôn là mục đích sáng tác của bất cứ tác giả, tác phẩm nào Và do vậy nếu trường ca không có tư tưởng mới, không có sự sáng tạo trong câu chữ thì cũng chỉ là sự lặp lại hoặc trở thành những mớ chữ vô nghĩa mà thôi
Như vậy, có thể nói một cách đơn giản: Tư tưởng chính là nội dung thẩm
mĩ của trường ca, nó là nhận thức được bộc lộ qua trái tim và cảm xúc
1.3.2.2.Thành tựu trường ca của Anh Ngọc
Âm hưởng hào hùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt cùng với sức mạnh truyền thống dân tộc đã trở thành nguồn thi hứng cho các nhà thơ và trở
thành chủ đề cho những tác phẩm trường ca nổi tiếng một thời như Bài ca chim
Chơrao của Thu Bồn, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Ngay khi
chiến tranh kết thúc, âm vang cuộc chiến vẫn còn và lúc này nó lại trở thành nhu cầu muốn được “tổng kết chiến tranh bằng thơ” đã thôi thúc Anh Ngọc cũng như
Trang 32nhiều nhà thơ khác viết tiếp những bản trường ca mang ý nghĩa sâu sắc về chiến tranh, về thực tại và con người trong chiến tranh, với cả những mặt hào hùng, cao
cả lẫn bi thương, hạnh phúc, khổ đau như trường ca Con đường của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo, Sông núi trên vai của Anh Ngọc Trong sáng tác của mình
ở thời điểm này các nhà thơ cũng không né tránh những tổn thất của chiến tranh, điều mà trước đây rất nhạy cảm trong văn học Hiện thực đau thương của nhân dân, đất nước Campuchia sau nạn diệt chủng Pônpốt, Tổ quốc và dân tộc Việt Nam, về số phận con người, đặc biệt hình tượng người lính trong và sau cuộc chiến tranh qua những bước thăng trầm của lịch sử, đều được thể hiện rất rõ trong
các trường ca như Campuchia hy vọng của Thu Bồn, trường ca Sông Mê Công bốn
mặt và Điệp khúc vô danh của Anh Ngọc
Anh Ngọc sáng tác trường ca không nhiều nhưng rất tập trung, tác phẩm nào của ông cũng để lại dấu ấn đặc biệt Tác giả sáng tác bốn trường ca được viết trong khoảng từ năm 1975 đến 1983 cụ thể như sau:
1 Sóng Côn Đảo (1975)
2 Sông núi trên vai (1977)
3 Sông Mê Công bốn mặt ( 1981)
4 Điệp khúc vô danh ( 1983)
Có thể nói rằng, mỗi một trường ca của Anh Ngọc là một khám phá hiện thực hết sức độc đáo Đương thời, nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình đã chú ý
và đánh giá cao tác phẩm của ông như nhà thơ Xuân Diệu, nhà phê bình Hoài Thanh, nhà nghiên cứu văn học Mã Giang Lân, Lưu Khánh Thơ, Vũ Văn Sỹ nhà thơ Nguyễn Hoàng Sơn nhận xét: “Anh Ngọc nổi tiếng từ chùm thơ được giải nhì cuộc thi Báo văn nghệ năm 1972-1973 Nhưng theo tôi mặt mạnh của Anh Ngọc thể hiện rõ nhất ở các trường ca” , “làm một bài thơ trung bình trở lên đâu có dễ huống hồ đây lại là cả một trường ca hàng ngàn câu như một trận đánh lớn phải điều binh khiển tướng như thế nào, không thông minh, không
Trang 33trường vốn dễ bị hụt hơi lắm Vậy mà Anh ngọc có tới bốn trường ca, Sóng Côn
Đảo, Sông núi trên vai, Sông Mê Công bốn mặt, Điệp khúc vô danh” [51, tr.3]
Đặc biệt, bốn trường ca trên không chỉ mang lại cho Anh Ngọc những thành công trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của mình mà còn mang đến cho nhà thơ
những giải thưởng cao quý, với trường ca Sóng Côn Đảo nhà thơ đã vinh dự nhận
giải A trong cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1975, tiếp theo năm 1979 trên Tạp chí Văn nghệ quân đội Anh Ngọc được trao tặng tác phẩm thơ hay với chương
Nụ cười bốn mặt của tập trường ca Sông Mê Công bốn mặt Và cũng với trường
ca Sông Mê Công bốn mặt nhà thơ còn được nhận được giải thưởng cao quý của
Hội nhà văn ba nước Đông Dương trao tặng - Giải thưởng văn học sông Mê Công lần thứ hai tại Campuchia vào cuối tháng 2 năm 2009 Điều đó một lần nữa khẳng định tài năng, tâm huyết và sức sáng tạo của nhà thơ trong thể loại trường
ca nói riêng và trong sự nghiệp thơ văn nói chung, cũng như khẳng định được vị trí của ông trong nền thi ca Việt Nam hiện đại
Trường ca đầu tiên của Anh Ngọc xuất hiện trên báo Văn nghệ năm 1975
là trường ca Sóng Côn Đảo với lời đề từ “Kính tặng Đoàn chiến thắng Côn Đảo”
Ông viết trường ca này khi vừa nghe tin tù nhân ở Côn Đảo nổi dậy tự giải phóng đảo lúc ông vừa vào đến Sài Gòn, với cảm xúc mãnh liệt trong niềm vui chiến thắng nhà thơ Anh Ngọc cho biết: “Côn Đảo là một địa danh nhạy cảm Ngay sau ngày giải phóng Sài Gòn, khi nghe tin các tù nhân Côn Đảo nổi dậy tự giải phóng, với tư cách là phóng viên báo Quân đội Nhân dân, tôi đã có mặt ở Vũng Tàu để theo hải quân ra đảo Vừa được nghe kể lại, vừa tự mình đi khắp hòn đảo
tù ngục, chứng kiến tận mắt cảnh địa ngục trần gian vốn đã từng biết qua sách báo Cảnh mắt thấy tai nghe ấy đã gây cho tôi ấn tượng cực mạnh và trường ca
Sóng Côn Đảo được hình thành ngay từ đó” [73, tr.2]
Trường ca Sóng Côn Đảo được tác giả tái hiện thành công cuộc sống khắc
nghiệt nơi nhà tù đế quốc, là bài ca ca ngợi chí khí con người Việt Nam trong
Trang 34cảnh ngục tù, một trong những trang sử hào hùng của dân tộc trong quá khứ Thông qua bút pháp độc đáo mà tác giả sử dụng là sự kết hợp nhuần nhuyễn yếu
tố tự sự và trữ tình, trong đó nhà thơ đặc biệt sử dụng bút pháp sử thi, với lối dùng từ ngữ, hình ảnh mang tính cường điệu để tạo ấn tượng mạnh
Trường ca Sông núi trên vai được nhà thơ Anh Ngọc sáng tác năm 1975 tại
Cực nam Trung Bộ và hoàn thành vào tháng 3/1977 tại Hà Nội nhưng đến năm
1995 mới được Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành Tác phẩm được ra đời trong cảm hứng ngợi ca những người phụ nữ trong chiến tranh, cụ thể là các nữ chiến sĩ Đoàn vận tải H.50 cực Nam trung Bộ Vượt lên trên sự khốc liệt, mất mát đau thương của hiện thực chiến tranh, họ là những con người cao đẹp đã sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả việc lấy chồng và sinh con để, bằng những đôi vái bé nhỏ mảnh mai của mình, đảm bảo cuộc sống và chiến đấu cho hàng vạn người lính đang chiến đấu của 6 tỉnh miền Cực Nam Trung Bộ, cái xứ sở gian lao bậc nhất trong hai cuộc kháng chiến, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Ở trường ca này, yếu tố cốt truyện mờ dần, tuy đây đó vẫn có tên những nhân vật cụ thể Trường ca chủ yếu được kết cấu theo mạch tư tưởng và cảm xúc với sự đan xen giữa thời gian quá khứ và hiện tại, tất cả nhằm trữ tình hoá yếu tố tự sự Đây cũng là một trong những nét tiêu biểu độc đáo thể loại trường ca, tạo nên nét khác biệt với thể loại thơ dài và truyện thơ
Trường ca Sông Mê Công bốn mặt được ra đời sau một chuyến đi dài ngày
của tác giả sang Campuchia, cách đây đã hơn 30 năm, khoảng vào đầu tháng 1 năm 1979, khi đất nước này vừa thoát khỏi thảm hoạ diệt chủng cực kỳ tàn bạo của bọn Pônpốt Ông được chứng kiến tận mắt những cảnh tượng vô cùng tang thương và điêu tàn của nhân dân Campuchia sau ba năm tám tháng hai mươi ngày sống trong địa ngục trần gian của chế độ Khơme đỏ, đồng thời cũng lần đầu tiên được chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời của công trình kiến trúc Ăng- co kỳ vĩ
Trang 35trên nước bạn và được sống trong vòng tay thân ái của nhân dân đất nước Chùa Tháp tài hoa và nồng hậu Xuất phát từ những ám ảnh không nguôi đó, Anh Ngọc
sáng tác trường ca Sông mê Công bốn mặt Nhà thơ kể: “Trong chuyến công tác
sang Campuchia ngay sau ngày 7/1/1979 và nhiều chuyến đi sau đó, tôi thực sự kinh hoàng vì tấn bi kịch của nước bạn năm ấy, tiêu biểu là nhà tù Tunxleng, là cánh đồng chết Chơng Ếch, và những bãi xương người bất tận Thực không thể tưởng tượng nổi Cũng với những hiện thực khác cũng lạ lùng không kém, tôi đã đặt bút viết “Sông Mê Công bốn mặt” trong sự thôi thúc nội tâm mãnh liệt và gửi gắm vào đó nhiều thông điệp”; “ tất cả gợi lên trong tôi những cảm xúc và suy nghĩ dường như bất tận Và thế là tôi đặt bút viết những dòng đầu tiên ngay trên đất bạn, mà sau này là lời đề từ của bản trường ca: “Tôi bế trên tay một em bé Campuchia đói khát/ đến trước tượng người vũ nữ Ăng co/ và dỗ nín em/ bằng cặp vú đá của nàng” Về Việt Nam, tôi miệt mài viết tiếp, ròng rã đến tháng 3 năm 1981 thì hoàn thành” [59, tr.4] Nhưng phải đến năm 1988 tác phẩm mới được xuất bản và lần đầu được ra mắt công chúng Theo lời tác giả, trong bốn
trường ca ông viết thì trường ca Sông Mê Công bốn mặt là trường ca dài nhất và
công phu nhất Nhà thơ tâm sự: “Với những chất liệu tư tưởng và tình cảm đầy
ắp, tôi viết bản trường ca Sông Mê Công bốn mặt trong sự thôi thúc của nội tâm
mãnh liệt muốn được sẻ chia, đồng cảm sâu sắc trước số phận đầy bi kịch của nhân dân Campuchia và qua đó, giãi bày những suy nghĩ, tâm huyết của mình về cuộc chiến đấu gian nan nhưng tất thắng vì quyền sống đích thực của con người trên trái đất, trong đó có nhân dân Việt Nam chúng tôi” [43, tr.8] Tác phẩm là sự hoà quyện giữa triết lý và trữ tình, giữa nhận thức lý trí và sự tinh tế nhạy cảm của tâm hồn Tất cả đã tạo nên dấu ấn đặc biệt cho tác phẩm Qua trường ca này, tác giả giúp người đọc hiểu được sâu hơn bản chất của vấn đề cũng như giúp độc giả nâng sự hiểu biết lên tầm nhận thức mới về lẽ sống qua cách lý giải biện chứng của tác giả về hiện tượng Pônpốt, tìm thấy mối liên hệ khăng khít của ngày
Trang 36hôm qua với ngày hôm nay, giữa dân tộc này với dân tộc khác Đặc biệt, bằng cách xử lý rất độc đáo, sắc sảo trong việc bộc lộ tư tưởng, khắc hoạ tư tưởng nhân vật từ một tư tưởng chung sống hoà bình, tôn trọng quá khứ, truyền thống văn hoá và tinh thần dân tộc
Xuất phát từ cảm xúc vô danh và quan niệm: “Lịch sử sẽ không thành lịch
sử/ Nếu thiếu những con người những vùng đất không tên” cùng với niềm hăng
say, nghiêm túc trong lao động sáng tạo nghệ thuật và thói quen thích quan sát,
khái quát, triết lý Anh Ngọc đã viết tiếp trường ca Điệp khúc vô danh Theo nhà
thơ “Sự đóng góp to lớn và sự hy sinh thầm lặng của những con người vô danh là cách tồn tại phổ biến mang đặc thù của số đông nhân loại mà ta thường gọi là
“thập loại chúng sinh”, và số phận của nó luôn gợi lên những cảm xúc nhân sinh mạnh mẽ, sâu sắc và trở thành chất liệu quan trọng hàng đầu cho mọi sáng tạo nghệ thuật” [42, tr.27] Tác phẩm được tác giả viết vào thời điểm khi mà cuộc chiến đấu chống Mỹ đã lùi xa (khoảng 8 năm), được Nhà xuất bản Quân đội
Nhân dân ấn hành năm 1993 với lời đề từ “Suối sâu nối với sông dài/ tôi vô danh
nối với người vô danh” Trong trường ca này, với cái nhìn đầy đủ hơn về cuộc
kháng chiến, từ góc độ của một người lính, nhà thơ đã cho thấy một bức tranh toàn thể về đất nước và con người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử: dựng nước, giữ nước và những vấn đề được đặt ra trong thời đại mới với cuộc sống mới Với bút pháp thay đổi tác giả mang đến cho trường ca một diện mạo mới mà chúng ta
có thể dễ dàng nhận thấy đó là yếu tố trữ tình hoàn toàn thay thế yếu tố tự sự Tư duy thơ, cảm xúc thơ vì thế đã chuyển từ hướng ngoại sang hướng nội Trường ca được kết cấu bởi bốn chương với nhan đề từng chương khác nhau, trong mỗi chương tác giả lại chia thành nhiều đoạn, nhiều phần nhỏ nhưng được nối mạch rất chặt chẽ, logic, mang tính thống nhất cao Trường ca như một bản giao hưởng đồng vang, lan toả mở ra những suy tư, những cảm xúc rất chân thành của cái
Trang 37Tôi, của tác giả: “Tôi là người lính vô danh / tôi qua suốt cuộc chiến tranh trở
về”
Trường ca Điệp khúc vô danh là trường ca cuối cùng trong chặng đường
sáng tác trường ca của Anh Ngọc, từ đó đến nay nhà thơ không sáng tác thêm trường ca nào nữa Với số lượng bốn trường ca không phải là nhiều nhưng điều chúng ta phải ghi nhận là những trường ca đó đã thực sự góp phần to lớn làm nên gương mặt và phong cách riêng cho nhà thơ Anh Ngọc Điểm thống nhất chung nổi bật trong trường ca Anh Ngọc là vấn đề tư tưởng trong tác phẩm cùng lối viết thâm trầm lặng lẽ Đặc biệt là tất cả các tác phẩm của ông bao giờ cũng được viết nên bởi sự rung động thực sự của trái tim chân thành và một tình yêu da diết với con người, với cõi đời
CHƯƠNG 2
SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA NGƯỜI LÍNH
VÀ SỐ PHẬN LỚN CỦA DÂN TỘC
2.1 “Sóng Côn Đảo” - tượng đài bất hủ về Cách mạng
2.1.1 Bức tranh phi nhân tàn khốc nơi ngục tù Côn Đảo
Hiện thực chiến tranh là một trong những vấn đề nổi bật hàng đầu trong trường ca của Anh Ngọc Đọc thơ ông, ta cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống ngày hôm nay, và xa hơn, nhân loại sẽ hiểu được một dân tộc như Việt Nam đã từng tồn tại và đi lên như thế nào
Mở đầu trường ca Sóng Côn Đảo nhà thơ vẽ lên bức tranh đối lập giữa bình
yên và dữ dội của biển như một lời cảnh báo trước khi đưa ta bước vào cái thế giới được gọi là “địa ngục trần gian” Đập vào mắt ta bây giờ Côn Đảo, mảnh đất ruột rà mà đau thương của Tổ Quốc như một hạt máu lưu lạc, nơi hơn một trăm
Trang 38năm qua, thực dân Pháp đã xây nên một nhà tù vô cùng tàn khốc để giam cầm các chiến sĩ Cách mạng Vẫn là vẻ đẹp lung linh trong màu xanh thanh bình vốn có của thiên nhiên Tổ quốc:
Những Hòn Dừa, Hòn Trứng, Hòn Cau
Tên tươi xanh như cái thuở ban đầu
Cây trái nôm na, đất đai mộc mạc
Và, tất cả đã ra sao sau một trăm năm đô hộ của ngoại bang, để nhà thơ phải thay chúng ta kêu lên kinh ngạc và đau xót:
Ôi có phải máu những người nô lệ
Thành phù sa của biển khơi ?
Biển được coi là hình tượng mở đầu trong trường ca và từ cái nhìn bao quát
về biển, một bức tranh thiên nhiên rộng lớn đẹp đẽ, thanh bình nhưng cũng không kém phần dữ dội, tác giả đã thu nhỏ tầm nhìn khi nói đến hình ảnh và số phận của hòn đảo cô đơn tội nghiệp:
Giọt mực đen đánh rơi
Ở phía cuối bản đồ Tổ Quốc
Trên biển xanh như một chấm nốt ruồi
Với cách miêu tả Côn Đảo như giọt mực đen đánh rơi gợi lên cho ta suy ngẫm về thân phận đáng thương, bị đày đoạ, ruồng bỏ của mảnh đất lẻ loi nằm ở
phía cuối bản đồ Tổ Quốc Sự thương cảm ngỡ như trùm lên hết sông núi cỏ cây,
nhưng thương cảm nhất chính là số phận của những con người bao năm bị giam cầm trên đảo Đó là những con người kiên cường, những chiến sĩ cộng sản đã qua bao gian lao, hiểm nguy trong chiến đấu, bị giặc bắt và giam cầm nơi đây Nhà thơ Anh Ngọc nói rằng khi viết những dòng này, ông nhớ đến một chi tiết trong tiểu thuyết “Người tù Papilông”, khi viên giám ngục lạnh lùng quát lên với những
tù nhân vừa nhập trại: “Nước Pháp đã quên các anh rồi và các anh hãy quên Nước Pháp đi!” Đó là triết lý nhà tù của Nước Pháp Còn với những người tù
Trang 39yêu nước của chúng ta thì sao? - Anh Ngọc đã rất độc đáo khi dùng hình ảnh miêu tả đầy biểu cảm đó để nhấn mạnh cái thân phận bị chà đạp đến tận cùng của những người tù trên đảo một khi đã bị tước mất Tự Do và Quyền Sống tối thiểu của con người Đây là những hình ảnh không phải trong nghĩa bóng của văn chương mà là trong nghĩa đen của hiện thực Côn Đảo:
Nơi con người sống trong chuồng thú dữ
Và thú dữ lên chiếm chỗ con người
Cuộc sống nơi đây đã bị đảo lộn, nơi mà thật giả, trắng đen, tốt xấu chỉ
cách nhau một giọt máu rơi Những con người thực sự đáng được hưởng cuộc
sống yên bình thì lại phải ở trong chuồng thú dữ như chuồng heo, chuồng cọp, chuồng bò còn những kẻ có bản chất thú vật, lại lên chiếm chỗ con người, ngang nhiên hưởng thụ cuộc sống lẽ ra chỉ thuộc về những con người lương thiện Khắc hoạ sự tàn bạo, độc ác của kẻ thù, nhà thơ đã vận dụng hầu như bằng hết cái kho
từ ngữ đặc thù của xứ sở tù đày có một không hai này: từ xà lim, cấm cố, biệt
giam, khổ sai từ cái còng, cái xiềng, cái xích, cái gông, cái lỗ khóa hình bông hoa năm cánh cho đến những từ ngữ trứ danh đã đi vào giai thoại, những chuồng cọp, chuồng bò, chuồng heo, hầm đá, v.v và v.v Và đây là những hình
ảnh lạ lùng về những cư dân ở cái xứ sở kỳ quái:
Nơi trăm năm không có tiếng cười
Chỉ có tiếng gầm gừ dã thú
Lời thù hận tím bầm môi thiếu nữ
Nét già nua trên gương mặt trẻ con
Không có tình yêu nhạt nhẽo những chiếc hôn
Tay hái quả là bàn tay đao phủ
Máu đồ tể vấy lên cành phượng đỏ
Cây trong vườn xuân nở đoá kẽm gai
Trang 40Bạn đọc quen tỉnh táo sẽ cho là người viết chạy theo bút pháp lãng mạn cổ điển, đã cường điệu và vơ đũa cả nắm khi dựng lên một Côn Đảo như vậy Nhưng thi sĩ là những con người sống bằng ấn tượng, bằng cách tạo nên những bức tranh có thể xen lẫn phi thực, họ truyền đến tâm hồn chúng ta cái hiện thực cốt lõi của hồn người - chẳng hạn, khi nhà thơ đi sâu vào những linh hồn con người ngày ngày sống chung với tội ác phi nhân:
Côn Đảo
Có tiếng chuông nhà thờ ảo não
Bàn tay làm dấu thánh bỗng run run
Hoa đại rơi qua khoảng tối linh hồn
Đêm thăm thẳm một màu ngục thất
Đêm rùng mình trên lưng đen cá mập
Những hình nhân trên ngực lũ mã tà
Giê xu ma
Những kẻ gây ra tội ác rốt cục đều có những lúc run sợ Chi tiết bé nhỏ ấy gửi đến cho ta một niềm hy vọng, dẫu cũng bé nhỏ, nhưng không thể nào dập tắt Cái hy vọng đó sẵn có ở trong trái tim của những con người đang nằm ngỡ như thúc thủ trong các xà lim Và chúng ta hãy bước vào đấy để gặp những con người đích thực:
2.1.2 Người chiến sĩ cộng sản trong địa ngục Côn đảo - tượng đài bất
hủ về ý chí Cách mạng
Đó là những con người:
Đã đi qua tất cả tuổi thanh niên
Không đếm hết những đòn roi trên ngực
Những trận hô la, những ngày tuyệt thực
Những khám tử hình, những lao 1, lao 2
Chỉ một lời: “Thà chết không ly khai”