Do đó, để tạo ra các sản phẩm thỏa mãn cả nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, ngày nay đòi hỏi ở công tác thiết kế cho dù là ở bất kì lĩnh vực nào cũng phải không ngừng tư duy,
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội ngày càng phát triển cả về chất và lượng, không dừng lại ở chỗ
có đủ những phương tiện vật chất đáp ứng các nhu cầu cơ bản, mà ngày nay nhu cầu đó còn được nâng lên, biểu hiện cụ thể là mỗi một cá nhân, gia đình khi tìm kiếm một sản phẩm thì ngoài khai thác giá trị công năng còn xét đến giá trị thẩm mỹ của nó, họ tìm kiếm cho mình những sản phẩm hay phương tiện không những chỉ để sử dụng yếu tố công năng cơ bản, mà sản phẩm còn phải giúp đạt được hiệu quả công việc nhanh nhất, tốt nhất Do đó, để tạo ra các sản phẩm thỏa mãn cả nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, ngày nay đòi hỏi ở công tác thiết kế cho dù là ở bất kì lĩnh vực nào cũng phải không ngừng tư duy, nghiên cứu sao cho sản phẩm của quá trình thiết kế khi vận dụng vào sản xuất phải hàm chứa những giá trị cao nhất, điều này cũng không là ngoại lệ đối với ngành thiết kế sản xuất đồ mộc
Lĩnh vực thiết kế sản xuất đồ mộc không phải là một lĩnh vực mới mẻ,
có khác chăng là trong thời đại hiện nay với quá trình công nghiệp hóa hiện đại thì đòi hỏi ở các nhà thiết kế phải không ngừng phát huy tư duy sáng tạo, ngoài việc kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt của cái cũ còn phải không ngừng khai thác tìm kiếm để tạo ra cái mới, có như vậy mới đáp ứng nhanh
chóng nhu cầu ngày một cao của con người Với quan điểm “thiết kế là phải
dùng được và dùng là phải đơn giản và hiệu quả” là một thách thức không
nhỏ đối với công tác thiết kế trong giai đoạn mới, bởi lẽ những sản phẩm được sản xuất ra ngày nay không phải là quá trình sản xuất đơn lẻ, thủ công
mà là sản phẩm của nền sản xuất công nghiệp tiên tiến Những sản phẩm tạo
ra từ sản xuất công nghiệp, nhất là sản xuất đồ mộc nội thất đang chuyển mình theo xu hướng sản xuất đại trà, lắp lẫn, dễ sử dụng mà vẫn đảm bảo đầy
đủ những yếu tố cơ bản của một sản phẩm mộc từ công năng, thẩm mỹ đến tính kinh tế
Trang 2Từ cơ sở trên, là sinh viên trường Đại học Lâm Nghiệp, chuyên ngành thiết kế chế tạo đồ mộc, tôi xây dựng khóa luận với mong muốn tìm hiểu thêm về công tác thiết kế đồ mộc ngày nay và vận dụng vào thiết kế một bộ sản phẩm bàn ghế phòng khách gia đình để có điều kiện vận dụng và phát huy những kiến thức mình học được trên ghế nhà trường Được sự cho phép của
khoa Chế biến lâm sản, tôi thực hiện khóa luận với đề tài: “Thiết kế bộ bàn
ghế phòng khách”
Trang 3Lời cảm ơn
Nhân hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành thiết kế sản phẩm mộc và trang trí nội thất, tôi xin tỏ lòng cảm ơn ban lãnh đạo nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa, bộ môn, các thầy cô giáo đã trực tiếp lên lớp truyền thụ kiến thức cho tôi trong suốt bốn năm theo học ở trường, những kiến thức
mà thầy cô giảng dạy sẽ là hành trang cần thiết và hữu ích cho tôi trên chặng đường học tập và công tác sau này
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn bên cạnh ủng hộ và động viên, tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình xây dựng và thực hiện khóa luận
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS Võ Thành Minh, thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi hoàn thành khóa luận
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ KHÓA LUẬN
1.1 Ý tưởng xây dựng đề tài khóa luận
Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu của con người, nhất là văn hóa Á Đông thì hoạt động tiếp khách thể hiện quan hệ tình cảm giữa con người với con người, xét trên phương diện thực tiễn thì việc thiết kế chế tạo
bộ sản phẩm mộc cho phòng khách là hết sức phù hợp và cần thiết vì đây là nhu cầu không thể thiếu đối với bất kỳ một gia đình nào, con người ngày nay thường xuyên phải tiếp xúc với nhiều các mối quan hệ xã hội khác nhau, nên sản phẩm lại càng phải có nhiều giá trị tích cực về công năng, hiệu quả sử dụng Cụ thể ở đây là tạo cho khách và gia chủ có cảm giác thoải mái khi trò chuyện hay bàn bạc công việc, cảm nhận sự gần gũi thân mật, ấm cúng cho con người khi sử dụng phòng khách, nhất là sau một ngày làm việc mệt mỏi,
có được một không gian sinh hoạt chung cho gia đình cũng là một sự lựa chọn đúng đắn Ngoài những không gian giao tiếp công cộng như các quán bar, phòng trà, các quán cà phê thì tiếp khách tại gia là một hoạt động thể hiện mức độ quan hệ tình cảm giữa khách và chủ Vì vậy, không gian phòng khách trong tổng thể kiến trúc ngôi nhà bao giờ cũng được đặc biệt chú trọng
Mặt khác, sau một ngày làm việc vất vả, khi trở về nhà thì phòng khách được lựa chọn là một trong những nơi thư giãn giải trí vào buổi tối hoặc để tiếp đón bạn bè tụ họp Do đó, không gian phòng khách luôn được bố trí sử dụng các sản phẩm sao cho giữa khách và chủ tạo dựng được nhiều tình cảm,
và người khách phải thấy được sự thân thiện mến khách có như vậy mới đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất Điều đó không đơn thuần là do biểu hiện của gia chủ mà còn có sự tham gia tích cực của công tác bố trí sắp đặt nội thất, việc sử dụng các vật dụng từ nhỏ nhất trở đi, để người khách cảm thấy tiện dụng, gần gũi Đơn cử, tối thiểu trong không gian phòng khách phải có đó là bàn ghế tiếp khách, để thực sự thoải mái khi giao tiếp thì một bộ bàn ghế
Trang 5được bố trí và thiết kế khoa học, thẩm mỹ sẽ là yếu tố tích cực tham gia vào cuộc trò chuyện
Từ những kiến thức được học ở trường và quan sát thực tiễn tôi nhận thấy việc thiết kế một bộ sản phẩm bàn ghế phòng khách là thiết thực Trong giai đoạn hiện nay, giao tiếp là một hoạt động ngày càng thường xuyên, không chỉ với những mối quan hệ thân tình như bạn bè mà còn với các mối quan hệ công tác làm việc Chính vì vậy, tạo được thiện cảm và hiệu quả giao tiếp tốt là rất quan trọng Khi nền kinh tế mở cửa, sự du nhập của các sản phẩm ngoại đã làm thay đổi quan điểm mua sắm của người tiêu dùng, đôi khi các sản phẩm khi mua về lại trở nên không phù hợp với điều kiện sử dụng với đại bộ phận đối tượng người tiêu dùng, sẽ là bất hợp lý nếu chọn một bộ bàn ghế salon đệm mút nếu gia đình đó không có các trang thiết bị hút ẩm ở điều kiện khí hậu Việt Nam Mặt khác, việc lựa chọn sản phẩm không phải lúc nào cũng đảm bảo sự phù hợp trong không gian kiến trúc nhà ở mang đậm nét Á Đông Ngay từ xa xưa, cha ông ta luôn biết cách lựa chọn các sản phẩm phòng khách sao cho vừa phù hợp với văn hóa truyền thống, lại thích hợp ở khí hậu nóng ẩm của Việt Nam Bàn ghế từ chất gỗ vẫn luôn là sự lựa chọn hàng đầu cho bất kỳ gia đình Việt nào, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận giá trị của các sản phẩm ngoại nhập hay các sản phẩm mang tính hiện đại, mà nên khai thác những ưu điểm của chúng để vận dụng vào công tác thiết kế
Từ những quan điểm khách quan và chủ quan, tôi lựa chọn thiết kế bộ bàn ghế sử dụng gỗ tự nhiên cho phòng khách gia đình làm nội dung thiết kế chính cho khóa luận
1.2 Các mục tiêu cụ thể của đề tài
- Đề xuất mô hình sử dụng đồ mộc phòng khách gắn với sản phẩm thiết kế trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại hình sản phẩm mộc và đặc điểm sử dụng cho nội thất phòng khách
Trang 6- Lập hồ sơ thiết kế chi tiết tạo dáng, cấu tạo cho sản phẩm bàn ghế phòng khách đã chọn
1.3 Phương pháp thực hiện:
- Khai thác cơ sở lý luận, lý thuyết đã được học trên lớp về nguyên lý thiết
kế sản phẩm mộc, cùng các tư liệu tham khảo về thiết kế nội thất
- Khai thác nhu cầu thực tiễn đặt ra cho lĩnh vực thiết kế trong giai đoạn hiện nay
- Phương pháp thiết kế phát triển
- Thu thập thông tin, số liệu, ý tưởng thiết kế, phân tích các phương án thiết kế, lựa chọn phương án thiết kế và phương pháp biểu đạt bản vẽ thiết kế,…
1.4 Bố cục trình bày của khóa luận
1.4.1 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về thiết kế sản phẩm mộc, nguyên lý thiết kế
- Khảo sát thực tiễn kết hợp với thu thập thông tin tham khảo tư liệu thiết kế
- Xây dựng phương án thiết kế trên cơ sở các kết quả có được từ các bước ở trên và lựa chọn phương án thiết kế
- Tiến hành thiết kế phương án lựa chọn, cụ thể hóa bằng các bản vẽ
kỹ thuật chi tiết,…
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Bộ sản phẩm được thiết kế là bộ bàn ghế tiếp khách sử dụng cho không gian phòng khách, sử dụng linh hoạt trong không gian phòng khách (phù hợp với không gian phòng khách hiện đại rộng 25 – 30m2)
- Bộ sản phẩm thiết kế dựa trên tiêu chí thiết kế chỉ áp dụng cho phòng khách gia đình
- Vật liệu sử dụng chính cho sản phẩm là từ gỗ tự nhiên được lựa chọn từ nhóm gỗ dùng để sản xuất đồ mộc
- Chỉ dừng lại ở thiết kế và chưa qua chế thử sản phẩm
Trang 7- Nâng cao khả năng vẽ thiết kế trên máy và một lần nữa nắm vững phương pháp thiết kế và tiến hành thiết kế
- Tạo dáng sản phẩm cho bộ bàn ghế lựa chọn thiết kế cho phòng khách
- Vẽ thiết kế, bóc tách, thể hiện cấu tạo, mối liên kết của từng sản phẩm
- Phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của bộ sản phẩm thiết kế để vận dụng
sử dụng vào thực tế cho phù hợp, thiết thực, đảm bảo tính tiện ích, kiểu dáng thẩm mỹ, đảm bảo công năng, tính kinh tế cao khi tiến hành thiết kế, sản xuất
và mua về sử dụng cho nội thất gia đình
Trang 8Theo nghĩa mở rộng như trên thì sản phẩm mộc hay đồ mộc là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người trong các hoạt động sinh hoạt như nằm, ngồi, viết, hay để trang trí cho không gian nội thất, ngoài
ra còn có thể là sự kết hợp hài hòa giữa những vật liệu từ gỗ với các vật liệu khác như sắt, inox, gương cũng có thể cấu thành một sản phẩm mộc
Theo đó thì thiết kế sản phẩm mộc được hiểu là công tác thiết lập kế hoạch cho sản phẩm mộc có ý đồ, ý tưởng, tổ chức thể hiện bản vẽ, mô hình
và thuyết minh sản phẩm
2.1.2 Cơ sở lý thuyết về thiết kế đồ mộc
Thiết kế đồ mộc là để phục vụ cho con người, vận dụng những thành quả của khoa học kỹ thuật hiện đại, những phương pháp tạo hình đẹp để sáng tạo ra các sản phẩm đặc thù phục vụ cho nhu cầu của đời sống, công việc của con người cũng như những hoạt động của xã hội, đó cũng chính là nhiệm vụ đặt ra cho các nhà thiết kế đồ mộc Đồ mộc sẽ kết hợp với không gian nội thất
và những vật dụng khác tạo thành một môi trường nội thất phục vụ cho cuộc
Trang 9sống của con người Từ khái niệm rộng mà nói, mục đích của thiết kế đồ mộc
là nhằm điều hoà tương hỗ mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với môi trường và giữa con người với xã hội, trọng tâm của nó chính là nhằm phục vụ cho con người Xét về yếu tố con người mà nói, nó cũng có hai thuộc tính quan trọng, tức là con người là thuộc về phạm trù sinh vật, và cũng thuộc về phạm trù xã hội Nhu cầu của con người cũng có hai tính chất quan trọng, nếu xét con người thuộc về sinh vật thì yêu cầu về đồ mộc là làm thoả mãn được những nhu cầu về sinh lý và những nhu cầu về phương thức làm việc và phương thức sống luôn không ngừng phát triển, nếu xét con người thuộc về xã hội thì đối với đồ mộc và những yêu cầu về môi trường do đồ mộc tạo thành chính là tính năng về thẩm mỹ, tính năng về tượng trưng,… Ngoài ra, đồ mộc cũng chính là một loại sản phẩm công nghiệp, một thương phẩm, nên nó bắt buộc phải thích ứng với những yêu cầu
của thị trường, phải tuân theo quy luật của thị trường
Từ góc độ phát triển nền công nghiệp sản xuất đồ mộc, đồ mộc hiện đại
có được tính đa dạng về nguyên vật liệu, tính mới mẻ trong tạo hình, tính đơn giản trong kết cấu, tính phong phú về sản phẩm, tính tiện lợi trong gia công, tính tiết kiệm đối với nguyên liệu, tính dễ dàng trong tháo lắp, nó cũng có được xu hướng phát triển về tính thực dụng, tính đa dạng về chức năng, tính bảo vệ cho sức khoẻ của con người,… Do vậy, thiết kế đồ mộc một cách hợp
lý, trên nguyên tắc phải đảm bảo được hai yêu cầu đó là tính sử dụng và tính sản xuất Trong sử dụng, đồ mộc phải có được tính thực dụng, dễ chịu, thuận tiện, an toàn, ngoại hình đẹp, kết cấu ổn định, giá thành hợp lý Còn đối với sản xuất mà nói, đồ mộc phải có được tính công nghệ tốt, hiệu quả sản xuất cao, chỉ tiêu kinh tế hợp lý, để cho các mặt về chất lượng, tính năng, chủng loại, quy cách,…của đồ mộc có được độ tin cậy trong sử dụng, tính tiên tiến
về kỹ thuật, tính khả thi trong sản xuất, tính hợp lý về kinh tế
Thiết kế đồ mộc cũng tương tự như thiết kế đối với các sản phẩm công nghiệp thông thường khác, đó là dựa vào các yếu tố về công năng, vật liệu,
Trang 10cấu tạo, nghệ thuật, màu sắc, xử lý bề mặt, hình thức bao bì, công nghệ, giá thành,… của sản phẩm để từ góc độ xã hội, kinh tế, kỹ thuật, cũng như nghệ thuật tiến hành xử lý tổng hợp và thiết kế toàn diện, nhằm làm thoả mãn được những yêu cầu về vật chất và tinh thần của con người
Khả năng sáng tạo của con người thường được dựa trên cơ sở của năng lực tiếp thu, năng lực hồi tưởng và năng lực lý giải, thông qua sự liên tưởng
và quá trình tích luỹ kinh nghiệm, để có được sự tổng hợp và phán đoán Một người thiết kế có tính sáng tạo thì cần phải nắm được những lý thuyết cơ bản của khoa học thiết kế hiện đại và những phương pháp thiết kế hiện đại, cần sử dụng nguyên tắc thiết kế có tính sáng tạo để tiến hành tạo ra những sản phẩm mới
Nội dung thiết kế bao gồm rất nhiều mặt, cụ thể gồm có: thiết kế về công dụng, thiết kế về tạo hình, thiết kế về kết cấu, thiết kế công nghệ, phân tích kinh tế,…
a Thiết kế công năng đồ mộc
Thiết kế công năng đồ mộc chính là căn cứ vào tính năng sử dụng của
nó, để xác định ra được kích thước và tỷ lệ một cách chính xác và hợp lý
Tỷ lệ của đồ mộc: bao gồm mối quan hệ giữa kích thước ngoại hình của toàn bộ sản phẩm đồ mộc, quan hệ giữa các chi tiết với sản phẩm hoàn chỉnh, quan hệ giữa độ lớn nhỏ giữa các chi tiết với nhau
Kích thước của đồ mộc: là chỉ độ lớn nhỏ về kích thước tuyệt đối của một sản phẩm đồ mộc hoàn chỉnh, kích thước giữa các chi tiết với sản phẩm hoàn chỉnh, kích thước giữa đồ mộc với các vật phẩm đặt ở trên nó, kích thước tương hỗ giữa đồ mộc với môi trường bên trong nội thất
Phương thức diễn đạt chủ yếu của thiết kế về công năng là bản vẽ thiết
kế
b Thiết kế tạo hình đối với đồ mộc
Thiết kế tạo hình đồ mộc là quá trình vận dụng những thủ thuật nhất định để tiến hành xử lý tổng hợp đối với các mặt về hình thái, cảm nhận, màu
Trang 11sắc, trang trí, sơ đồ kết cấu,…của đồ mộc, nhằm tạo thành một hình tượng về
đồ mộc hoàn thiện Bao gồm:
- Xác định hình tượng của đồ mộc: là việc sử dụng những loại hình học
cơ bản như vuông, tròn, to nhỏ, cũng như các hình thái khác nhau, để tổ hợp thành hình tượng của đồ mộc
- Lựa chọn vật liệu sản xuất đồ mộc: để có được những cảm nhận khác nhau Cảm nhận về vật liệu là chỉ những cảm giác biểu hiện trên bề mặt (xúc giác và thị giác), bao gồm những cảm nhận thiên nhiên mà vật liệu có được cũng như những cảm nhận mà vật liệu được đã được thông qua các công đoạn gia công xử lý khác nhau mà tạo thành
- Thiết kế màu sắc cho đồ mộc: việc lựa chọn màu sắc cho đồ mộc nên căn cứ vào sự tương xứng đối với môi trường bên trong nội thất, đối tượng phục vụ của đồ mộc, công dụng của nó, cũng như những phương diện về vật liệu hay tạo hình, để hình thành nên một chỉnh thể hữu cơ, lợi dụng được sự phong phú của màu sắc để tạo hình, cũng như diễn tả được tính mỹ cảm của tạo hình, tạo ra bầu không khí khác nhau cho đồ mộc
- Thiết kế trang sức đồ mộc: trang sức đồ mộc bao gồm trang sức bề mặt, trang sức tạo ra dạng lập thể, trang sức cục bộ,…, những biện pháp cụ thể có: dán mặt, sơn, in ấn, điêu khắc, trạm khảm, ép hoa, tiện, trang sức đối với các chi tiết dùng để trang trí,…
- Sơ đồ tạo hình đối với đồ mộc: vận dụng các biện pháp biểu hiện khác nhau để làm cho đồ mộc cấu thành một hình tượng chủ thể đẹp
c.Thiết kế kết cấu, an toàn chịu lực cho đồ mộc
Việc lựa chọn vật liệu khi thiết kế đồ mộc cần phải thông qua kết cấu nhất định thì mới có khả năng thực hiện tốt thiết kế tạo hình dự kiến Vật liệu khác nhau sẽ có các hướng để đưa ra dạng kết cấu khác nhau, cùng một loại vật liệu cũng có thể được sử dụng những kết cấu khác nhau Nội dụng chủ yếu gồm có:
Trang 12Trên cơ sở thiết kế công năng và thiết kế tạo hình, căn cứ vào yêu cầu lực học của kết cấu, tiến hành lựa chọn vật liệu hợp lý cho sản xuất đồ mộc
Xác định được kích thước của các chi tiết, bộ phận và sản phẩm
Lựa chọn phương thức liên kết
Tính toán cường độ lực học đối với các chi tiết đặc thù
Phương thức biểu hiện cụ thể của thiết kế kết cấu là sơ đồ phối hợp lắp ráp kết cấu, sơ đồ của các bộ phận, sơ đồ của các chi tiết,…
d Thiết kế công nghệ của đồ mộc
Công nghệ là quá trình thông qua những công đoạn kỹ thuật nhất định
để làm thay đổi hình dáng, kích thước và trạng thái bề mặt của vật liệu, thậm chí là làm thay đổi cả tính chất của vật liệu, để đạt được mục đích thiết kế, nhằm thoả mãn được yêu cầu về thiết kế Sau khi đã lựa chọn được nguyên vật liệu, việc lựa chọn được sơ đồ công nghệ gia công và phương pháp gia công một cách khoa học là vấn đề quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của thiết kế Người thiết kế cần thiết phải hiểu được rõ về công nghệ tương ứng với loại vật liệu gia công, từ đó đảm bảo được các sản phẩm thiết kế ra sẽ có được độ tin cậy, nó cũng đảm bảo được việc khống chế tốt nhất về chất lượng và lợi ích kinh tế Do đó, công nghệ cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong thiết kế đồ mộc Thiết kế công nghệ đối với đồ mộc phải căn cứ vào những yêu cầu về kết cấu của sản phẩm, yêu cầu về kỹ thuật, để tính toán ra được lượng nguyên liệu tiêu hao, lập ra được quá trình công nghệ sản xuất, cũng như tính toán và lựa chọn được các thiết bị gia công cần thiết,…
Phương thức biểu hiện chủ yếu của thiết kế công nghệ bao gồm: biểu chi tiết về tính toán nguyên liệu, thẻ công nghệ, sơ đồ dây chuyền công nghệ, biểu chi tiết về thiết bị và các vị trí thao tác,…
Trang 132.1.3 Nguyên tắc thiết kế đồ mộc
Thiết kế đồ mộc hiện đại cần tuân thủ theo 7 nguyên tắc cơ bản: tính thực dụng, tính nghệ thuật, tính công nghệ, tính kinh tế, tính an toàn, tính khoa học, tính hệ thống
a Tính thực dụng
Tính thực dụng của đồ mộc thể hiện trên giá trị sử dụng của nó Yêu cầu đầu tiên của thiết kế sản phẩm là phải phù hợp với công dụng trực tiếp, có thể thoả mãn được một số yêu cầu nhất định nào đó của người sử dụng, nó cũng phải có được tính chắc chắn, tuổi thọ cao; đồng thời hình dáng kích thước của đồ mộc cũng cần phải phù hợp với đặc trưng hình dạng của con người, thích hợp với những điều kiện về sinh lý của con người, thoả mãn được những nhu cầu sử dụng khác nhau của con người, đem những tính năng của nó để hạn chế được đến mức tối đa sự mệt mỏi của con người, tạo ra những điều kiện thuận lợi, thoải mái cho con người trong sinh hoạt cũng như trong công việc
b Tính nghệ thuật
Tính nghệ thuật của đồ mộc thể hiện ở giá trị thưởng thức nó Yêu cầu đối với thiết kế sản phẩm mộc ngoài nhằm thoả mãn những tính năng về sử dụng ra, nó cũng cần phải tạo ra được cái đẹp cho con người thưởng thức khi
sử dụng hoặc chiêm ngưỡng Tính nghệ thuật của đồ mộc được biểu hiện chủ yếu ở các mặt như tạo hình, trang sức, màu sắc, …tạo hình yêu cầu phải tinh
tế, trang nhã, trang sức cần phải trong sáng, hài hòa, phù hợp với thời đại, màu sắc phải đồng đều thống nhất Do vậy, thiết kế đồ mộc yêu cầu phải phù hợp với tính lưu hành của thời đại, thể hiện được đặc trưng thịnh hành của xã hội, để thường xuyên và kịp thời thúc đẩy sự tiêu dùng sản phẩm, cũng như làm thoả mãn được những yêu cầu của thị trường
c Tính công nghệ
Tính công nghệ của đồ mộc là yêu cầu sản phẩm thiết kế phải có được đường nét rõ ràng, kết cấu gọn gàng, thuận tiện cho gia công Trên phương
Trang 14diện nguyên vật liệu và công nghệ gia công thì cần phải thoả mãn được những yêu cầu:
- Nguyên vật liệu phải phong phú
- Các chi tiết phải có được tính lắp lẫn (có thể tháo rời hoặc gấp)
- Sản phẩm cần được tiêu chuẩn hoá (tiêu chuẩn hoá về kích thước của các chi tiết, hoặc thông dụng)
- Liên tục hoá trong sản xuất (thực hiện cơ giới hoá và tự động hoá, giảm thấp sự tiêu hao về sức lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất)
d Tính kinh tế
Đồ mộc được coi là một mặt hàng giao dịch lớn trên thị trường trong và ngoài nước, do đó khi thiết kế cần nhấn mạnh được tính thương phẩm và tính kinh tế, tăng cường công tác nắm bắt thông tin thị trường, mở rộng công tác điều tra nghiên cứu cũng như dự đoán đối với thị trường, trên cơ sở không ngừng hiểu biết về tình hình thị trường và xu thế sản xuất đồ mộc trong nước
và trên thế giới, cần phải xem xét đến các mặt như: nguyên vật liệu, kết cấu, gia công, … để thiết kế ra được những sản phẩm có giá thành thấp, những sản phẩm mộc thích hợp cho việc bán hàng, đạt được yêu cầu về chất lượng tốt, ngoại hình đẹp, tiêu hao nguyên liệu ít, cũng như những yêu cầu về môi trường
e Tính an toàn
Tính an toàn của đồ mộc là yêu cầu sản phẩm đó phải có được cường
độ về lực học đủ lớn, có được tính ổn định, mặt khác sản phẩm phải có được tính năng về bảo vệ môi trường Tức là đồng thời phải thoả mãn được rất nhiều những yêu cầu về sử dụng, nó vừa phải có lợi cho sức khoẻ và sự an toàn cho người sử dụng, vừa không tạo ra sự độc hại hay gây thương tích cho con người Ngoài bản thân của sản phẩm có thể phù hợp được những chỉ tiêu
về tính năng lực học được quy định trong tiêu chuẩn và thoả mãn được tính năng về công dụng hay tính năng về tinh thần ra, cũng cần thông qua toàn bộ
Trang 15quá trình từ thiết kế, chế tạo, đóng gói, vận chuyển, sử dụng cho đến xử lý phế phẩm,…, để có được phương pháp tốt nhất nhằm lợi dụng tối ưu nguồn tài nguyên, giảm thấp sự ô nhiễm môi trường và thoả mãn được những nhu cầu của con người Trong quá trình sản xuất, sử dụng, đều không được tạo ra
sự ô nhiễm cho môi trường hay làm gây hại đối với sức khoẻ của con người
f Tính khoa học
Sản phẩm đồ mộc hiện đại là một loại đồ vật rất quan trọng đối với đời sống của con người, nó có thể nâng cao được hiệu quả làm việc và hiệu quả nghỉ ngơi của con người, tăng sự tiện lợi cho cuộc sống, tạo được mức độ thoải mái cho con người, do đó thiết kế đồ mộc bắt buộc phải đảm bảo được những mục tiêu ở trên, nghiên cứu và ứng dụng những nguyên tắc cơ bản về mối tương quan khoa học như: sinh lý học, tâm lý học, nhân loại học, kỹ thuật học, mỹ thuật học, khoa học môi trường hay thiết kế công nghệ,…, căn cứ vào quy luật phát triển của khoa học kỹ thuật và việc ứng dụng các biện pháp gia công, công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại, xem xét đến nguyên tắc lợi dụng một cách liên tục đối với nguồn nguyên liệu, để làm cho đồ mộc từ một sản phẩm công nghiệp đơn giản chuyển hoá thành một loại sản phẩm có được trình độ khoa học cao và hiệu ích sử dụng thường xuyên
g Tính hệ thống
Tính hệ thống của đồ mộc thể hiện ở 3 mặt:
Tính phối hợp, xem xét đến tính điều hoà và tương hỗ khi phối hợp giữa đồ mộc với môi trường bên trong nội thất và với các loại vật dụng khác, làm cho hiệu quả tổng thể của môi trường bên trong nội thất với đồ mộc cũng như độ chặt chẽ khi sử dụng kết hợp lại với nhau
Tính tổng hợp việc thiết kế đồ mộc nên thuộc về phạm trù thiết kế công nghiệp, công việc thiết kế đồ mộc không phải chỉ là vẽ ra được sơ đồ hình thể của sản phẩm hoặc sơ đồ kết cấu của sản phẩm, mà nó là quá trình tiến hành thiết kế hệ thống toàn diện đối với công năng, hình dáng, kết cấu, vật liệu, công nghệ, bao bì, thậm chí là cả giá thành của sản phẩm
Trang 16Tiêu chuẩn hoá, là cách nói về quá trình sản xuất và bán hàng đối với sản phẩm, trong xã hội hiện nay, thiết kế đồ mộc sẽ dễ dàng bị đi theo hai hướng: hướng thứ nhất là mâu thuẫn lẩn tránh, tức là không tiến hành thiết kế một cách tỉ mỉ, mà sẽ đưa trực tiếp những bản thảo dạng thiết kế sơ bộ cho người công nhân sản xuất, để cho người công nhân tự do thực hiện, kết quả cuối cùng là tạo ra trạng thái không thể khống chế được; tình trạng thứ hai là thiết kế trùng lặp, người thiết kế tiến hành công việc thiết kế một cách trùng lặp và đơn điệu, lại khó tránh khỏi những sai sót, mặt khác đối với người thiết
kế mà nói thì do thiếu mất tính thi đua sáng tạo nên dễ dàng làm cho tư tưởng
bị khô cứng, tạo ra sự nhàm chán trong thiết kế,… Thiết kế tiêu chuẩn hoá và
hệ thống hoá đồ mộc là lấy một số lượng nhất định các chi tiết hoặc sản phẩm
đã được tiêu chuẩn hoá để cấu thành một hệ thống tiêu chuẩn đồ mộc cho xí nghiệp
2.1.4 Mối quan hệ giữa đồ mộc và không gian nội thất
Không gian nội thất là một môi trường cần thiết cho sự tồn tại và sáng tạo của xã hội loài người Đối với không gian nội thất của những khu dân cư hiện đại thì nó càng là một nơi để có được cảm giác tự do và hưởng thụ ngoài những giờ lao động mệt nhọc của con người, nó cũng phát huy được tối đa tính sáng tạo của con người Không gian nội thất không chỉ đơn giản là một môi trường về vật chất, mà nó còn là một môi trường về tâm lý mà có thể thể hiện được những tình cảm phong phú về mặt tinh thần
Thiết kế đồ mộc cần phải xử lý tốt mối quan hệ đối với không gian nội thất
a Đồ mộc và vai trò trong không gian nội thất
Việc thiết kế, lựa chọn và bố trí đồ mộc là một nội dung quan trọng trong thiết kế nội thất, vì đồ mộc là những vật được bố trí, sắp đặt chủ yếu ở bên trong nội thất, nó cũng là những vật phẩm có công dụng chủ yếu bên trong nội thất Trong điều kiện hiện nay, ở những nơi như phòng ở, phòng khách, văn phòng làm việc,…, đồ mộc thường chiếm khoảng diện tích bên
Trang 17trong nội thất là từ 30-40%, trong trường hợp diện tích của căn phòng tương đối nhỏ, thì đồ mộc có thể sẽ chiếm đến trên 50% diện tích, mà trong một số trường hợp công cộng như phòng ăn, rạp chiếu phim,…, thì đồ mộc còn chiếm diện tích lớn hơn, do vậy việc bố trí trong nội thất phần nhiều là do hình dáng, màu sắc hay phong cách của đồ mộc tạo nên
b Đồ mộc cần cân nhắc đến những yêu cầu thiết kế tổng thể của nội thất
Đồ mộc là một bộ phận tổ thành khá lớn bên trong nội thất, đồ mộc cần phải tạo nên được bầu không khí bên trong nội thất, tạo nên được một khung cảnh đặc thù nào đó bên trong nội thất Sự xấu hay đẹp, tinh tế hay thô sơ, ưu nhã hay hùng vĩ, cổ điển hay hiện đại đều cần phải có sự điều tiết tương ứng với môi trường bên trong nội thất, mà không được biểu hiện mang tính độc lập Nếu không sẽ tạo thành sự phá vỡ đối với môi trường bên trong nội thất,
đi ngược lại với những yêu cầu tổng thể về thiết kế Đồng thời, cũng cần phải phát huy được tính đa năng của đồ mộc bên trong nội thất Đồ mộc cũng có thể được dùng để ngăn cách không gian bên trong nội thất, thông qua sự bố trí của đồ mộc có thể tổ chức được các đường đi, tạo thành những khu vực có chức năng và tính chất khác nhau Mà việc phát huy được những công năng này của đồ mộc đều được quyết định bởi các yêu cầu tổng thể của quá trình thiết kế nội thất
2.1.5 Lý thuyết cơ bản về bàn ghế
a Xu thế phát triển của sản phẩm bàn ghế
Quan niệm về tiêu dùng và cái đẹp ngày nay đã tiến thêm một bước vượt bậc Từ xa xưa, đồ mộc đã trở nên gần gũi và thiết thực với đời sống con người, theo từng tiến trình lịch sử thì đồ mộc cũng ngày càng phát triển hơn, ngày một hoàn thiện hơn về mặt kết cấu cũng như vẻ đẹp, nhất là xu hướng phát triển hiện đại, đơn giản mà vẫn sang trọng đã là một bài toán thú vị để các nhà thiết kế thỏa sức tìm tòi và phát huy sáng tạo, mặt khác vì những sản phẩm bàn ghế mộc đã trở thành một trong những nhu cầu thiết thực trong mỗi gia đình Đồ mộc từ lâu đã được ứng dụng rộng rãi vào trong cuộc sống hàng
Trang 18ngày như: giường để nằm, tủ cất đựng, trưng bày và bàn ghế để ngồi hay dựa tựa…Những sản phẩm cơ bản đó là không thể thiếu trong cuộc sống của con người dù ở bất kỳ đâu
Đối với những không gian nội thất hiện đại thì bàn ghế là một phần không thể thiếu Với công năng chính là dựa tựa, để ngồi (chức năng nâng đỡ), với từng không gian khác nhau thì bàn ghế lại có một chức năng riêng như phòng ăn là nơi đặt để thức ăn, là nơi ngồi ăn cơm, hay là chiêu đãi bạn bè; ở phòng khách thì bàn ghế lại là nơi thư giãn nghỉ ngơi, giải trí hay tiếp khách, tiếp bạn bè; ở phòng ngủ có thể là bàn ghế ngồi trang điểm cho phụ nữ… chính vì vậy mà dù bất kỳ đâu, trong không gian nào của nội thất thì bàn ghế cũng đều xuất hiện với vai trò tích cực của nó Bàn ghế được thiết kế hài hòa với không gian nội thất, phù hợp với diện tích của phòng sẽ tạo vẻ đẹp riêng cho không gian chứa nói riêng và kiến trúc tổng thể nói chung
Theo quan điểm thiết kế hiện đại, bàn ghế dù là ở không gian phòng khách hay phòng ăn… không đơn thuần là chỉ sử dụng vật liệu gỗ như truyền thống mà có thể là sự kết hợp khéo léo với các vật liệu khác như inox, sắt, thủy tinh… để tạo ra hình thái kết cấu và kiểu dáng khác nhau mà vẫn có được vẻ đẹp riêng
b Nguyên lý cấu tạo chung của bàn ghế
* Nguyên lý cấu tạo chung của bàn
Bàn là loại sản phẩm mộc mà công năng cơ bản là kê đặt và dựa tựa
Bộ phận chức năng chủ yếu là mặt bàn và kết cấu chủ yếu là liên kết chân mặt Ngoài ra, với từng chức năng riêng thì sản phẩm bàn còn có thể thêm các
bộ phận khác như: có thể thêm ngăn kéo để cất đựng, các vách ngăn để đựng hay phân chia tài liệu, để đồ dùng, hay tận dụng mối liên kết của các thanh giằng với chân để tạo thêm tấm mặt dưới để đặt các đồ dùng, vật phẩm khác
Về công năng và mục đích sử dụng bàn có thể sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau như: bàn ăn, bàn làm việc, bàn họp, bàn trà, bàn hội nghị…
Trang 19Về hình thức kết cấu và kiểu dáng cũng vì thế mà được thiết kế cho phù hợp với từng mục đích sử dụng riêng Với những yêu cầu sử dụng khác nhau, các bộ phận của bàn cũng có những đặc điểm khác nhau rõ nét Mặc dù vậy,
về cơ bản thì bàn có thể phân biệt theo các nhóm chủ yếu: (phân theo dạng thức chân bàn)
* Nguyên lý cấu tạo chung của ghế
Thông thường gồm các chi tiết cơ bản:
mà kết hợp sử dụng linh hoạt trong thiết kế như gỗ, inox, sắt…, chính các dạng vật liệu này tạo điều kiện dễ dàng trong gia công vì thông thường chi tiết tay vịn thường được thiết kế hoa văn, uốn cong mà ở vật liệu gỗ khó thực hiện được
Tay vịn ghế được liên kết với mặt ngồi và lưng tựa bằng mộng dương khít và được bôi keo để tạo ra độ liên kết và kín khít cho các chi tiết liên quan Chiều cao tay vịn từ mặt ghế từ 250 – 300 mm, góc nghiêng tay vịn từ
10o – 20o, khoảng cách giữa hai tay vịn phụ thuộc vào chiều rộng của ghế
Chân ghế
Trang 20Gồm hai chân trước và hai chân sau liên kết với nhau bởi các vai tiền
và vai hậu, xà hồi và các thanh giằng Chân sau ghế phụ thuộc rất nhiều vào thiết kế tạo hình các chi tiết của lưng tựa ghế
Vật liệu sử dụng thiết kế chân ghế cũng được cân nhắc linh hoạt để có thể dùng chân làm tăng tính nghệ thuật cho ghế
Thiết kế tạo hình cho chân ghế đòi hỏi sự tính toán khoa học vừa đảm bảo tính chịu lực, vừa đảm bảo các mối liên kết giữa các chi tiết như vai, các thanh giằng không bị trùng lắp, không bị phá vỡ liên kết
Chiều cao tính từ mặt bằng đến mặt ngồi của ghế thông thường trong khoảng 360 – 420 mm
Mặt ngồi ghế
Mặt ngồi ghế làm từ các vật liệu gỗ, ván nhân tạo, và các vật liệu khác Các dạng thức thiết kế cho mặt ngồi có thể là dạng tấm phẳng hoặc dạng các thanh và để thích nghi với thời tiết theo mùa thông thường được kết hợp với đệm mút, vừa tạo cảm giác sang trọng, vừa ấm về mùa đông Sự chọn lựa sử dụng đệm mút cho mặt ngồi là một phương pháp làm tăng tính thẩm mỹ cao cho ghế nếu chọn lựa màu sắc hài hòa với thân ghế
Hình thức thiết kế cho mặt ngồi đối với ghế gỗ là dạng vuông hay hình thang thót lại về phần lưng tựa, mặt ghế luôn được xử lý phẳng nhẵn, các hình thức trang trí cho mặt ngồi phải có độ tù nhất định nhằm tạo cảm giác thoải mái và an toàn trong sử dụng
Góc nghiêng mặt ngồi từ 5o – 10o, chiều rộng mặt ngồi từ 430 – 450
mm, chiều sâu mặt ngồi từ 400 – 440 mm
Liên kết giữa mặt ngồi và hệ chân thông thường là dạng liên kết vít, mộng, ke góc hay dùng keo, …Tùy thuộc vào từng loại ghế khác nhau việc thiết kế mặt ngồi là khác nhau nhưng đảm bảo nguyên tắc thoải mái, độ an toàn, độ bền, tính thẩm mỹ
Lưng tựa
Trang 21Lưng tựa là cụm chi tiết đóng vai trò quan trọng trong một sản phẩm ghế ngồi, lưng tựa kết hợp với hệ chân sau, với vai hậu hoặc liên kết với mặt ngồi nhưng phổ biến vẫn là liên kết với hệ chân sau của ghế để đảm bảo tính chịu lực khi dựa tựa
Hình thức thiết kế lưng tựa có thể là dạng nan, thanh, song tròn hay dạng tấm (cong, thẳng hoặc uốn theo chiều uốn của hệ chân sau), lưng ghế cũng được lựa chọn để tạo hiệu quả thẩm mỹ cho ghế khi được trạm khảm hoặc điêu khắc, tuy nhiên việc tạo dáng cho phần lưng tựa của ghế là công đoạn quan trọng, cũng như chân ghế bởi lẽ phần lưng tựa cũng là cụm chi tiết chịu lực phần lớn của ghế, nếu quá tập trung vào thiết kế tạo dáng mà quên đi tính an toàn chịu lực thì không đáp ứng được tiêu chí trong thiết kế sản phẩm mộc
Lưng tựa là một bộ phận được chú ý trong thiết kế sao cho tạo ra các kiểu dáng, họa tiết độc đáo, nổi bật cho sản phẩm, chính vì thế nhà thiết kế hết sức tập trung vào quá trình tạo hình và trang trí cho phần lưng tựa, để khi nhìn vào một sản phẩm ghế ấn tượng đầu tiên ngoài hệ chân còn phải chú ý đến lưng tựa của ghế
Vật liệu cho phần lưng tựa có thể từ chất liệu cứng như gỗ, kim loại nhưng cũng có thể lựa chọn các chất liệu mềm, tạo cảm giác thoải mái cho con người khi tựa vào Nhưng tiêu chí hàng đầu của thiết kế lưng tựa vẫn là tính toán thiết kế chịu lực, đảm bảo độ bền cao
Những thông số thiết kế thông thường cho phần lưng tựa: góc tựa trong khoảng 95o – 100o (tuy nhiên với từng dạng ghế có chức năng riêng biệt thì góc tựa có thể thay đổi cho phù hợp với công năng sử dụng), chiều rộng vai tựa 350 – 480 mm
c Những dạng liên kết cơ bản của sản phẩm mộc
Các chi tiết trong một sản phẩm mộc có thể liên kết với nhau bằng một mối liên kết nào đó, mối liên kết đó có thể là từ chính bản thân chi tiết đó có
Trang 22cấu tạo để liên kết được với nhau cụ thể ở đây là các dạng mộng (liên kết mộng), hoặc là liên kết do phụ kiện khác bên ngoài như đinh, chốt, vít, keo,
ke góc…)
Liên kết mộng
Liên kết mộng là một dạng liên kết từ chính bản thân các chi tiết, mộng cấu tạo có hình dạng xác định từ quá trình gia công tạo thành ở đầu cuối chi tiết theo hướng dọc thớ để liên kết với lỗ mộng được gia công trên chi tiết khác của kết cấu
Có nhiều dạng mộng, nhưng cơ bản cấu tạo phải có thân mộng và vai mộng Thân mộng liên kết chặt chẽ với lỗ mộng từ kích thước đã được tính toán Kích thước của vai mộng nhằm định vị trí và kích thước ăn sâu của mộng, đồng thời việc tính toán vai mộng hợp lí nhằm tránh hiện tượng vỡ mộng, phá mộng Ngoài ra mộng có thể tạo mòi nhằm tăng tính thẩm mỹ cho sản phẩm
Liên kết keo
Liên kết keo là hình thức liên kết nhờ dạng vật chất bên ngoài hỗ trợ tác dụng liên kết các chi tiết của sản phẩm Phương thức lựa chọn phổ biến trong các mối liên kết đồ gỗ là sử dụng keo dán gỗ Chất lượng keo dán gỗ hiện nay rất tốt và ngày càng xuất hiện nhiều loại keo dán mới vì việc sử dụng keo dán trong các mối liên kết của đồ mộc ngày càng nhiều đó là kết quả của
sử dụng các loại ván nhân tạo trong thiết kế đồ mộc
Thông thường sử dụng keo dán trong các mối liên kết ở dạng thanh hoặc dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ bề mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh…
Ưu điểm của liên kết bằng keo là tiết kiệm nguyên liệu gỗ, từ dạng thanh, tấm tạo ra được những tấm gỗ lớn mà vẫn đảm bảo chất lượng ổn định
Liên kết vít
Dạng liên kết vít cũng là dạng liên kết hay gặp ở kết cấu liên kết sản phẩm mộc Vít được làm từ kim loại, liên kết bằng vít vận dụng liên kết cho
Trang 23các cụm liên kết cố định, thường không sử dụng cho các kết cấu tháo lắp, vì tháo lắp sẽ tác động đến độ bền liên kết của cụm chi tiết sản phẩm
Liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của loại gỗ sử dụng, phụ thuộc nhiều vào đường kính và độ dài thân vít Liên kết vít theo chiều ngang thớ gỗ là phổ biến do cường độ liên kết theo chiều dọc thấp, hạn chế sử dụng
mỹ ngoại quan của sản phẩm, (ví dụ dùng cố định rãnh trượt của ngăn kéo)
Liên kết đinh là dạng liên kết không thể tháo lắp nhiều lần, lực liên kết đinh phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chủng loại gỗ (khối lượng thể tích gỗ), độ ẩm gỗ, đường kính, độ dài, phương liên kết và độ sâu liên kết
Những sản phẩm mộc dùng liên kết đinh thông thường là các sản phẩm không cao cấp
2.1.6 Yếu tố con người trong thiết kế bàn ghế
Để xác định kích thước của một sản phẩm đồ mộc là bao nhiêu thì phù
hợp nhất cho quá trình sử dụng của con người, điều đầu tiên là cần phải hiểu được kích thước về cấu tạo đối với các bộ phận trên cơ thể con người, như chiều cao cơ thể, độ rộng của vai, độ dài cánh tay, độ dài của chân,…, đồng thời cũng hiểu được kích thước về công năng khi con người sử dụng các loại
đồ mộc, tức là phạm vi hoạt động khi đứng, ngồi, hay nằm Kích thước của cơ thể con người có quan hệ mật thiết với kích thước của các loại đồ mộc
Trong thiết kế đồ mộc, để thoả mãn được tất cả những nhu cầu của con người
là không thể, thế nhưng cũng cần phải thoả mãn được phần lớn những nhu
Trang 24cầu đó Do vậy, khi chúng ta tiến thành thiết kế đồ mộc cần phải có được sự lựa chọn thích hợp về các số liệu của đối tượng thiết kế, cần xem xét đầy đủ đến sự khác nhau về kích thước của cơ thể con người, bao gồm sự khác nhau
về lứa tuổi, sự khác nhau giữa các khu vực, sự khác nhau về giới tính, hay sự khác nhau giữa một cơ thể bình thường và cơ thể không bình thường (người tàn tật) Có được các số liệu về kích thước của cơ thể một cách hoàn thiện, cũng chỉ mới là bước đầu tiên, còn biết cách sử dụng chính xác các số liệu đó mới là đạt được mục đích của việc vận dụng những kiến thức của Ergonomics vào thiết kế đồ mộc Thông thường, việc thống kê phạm vi các số liệu về kích thước của cơ thể con người được sử dụng 2 phương pháp, trong phần lớn trường hợp là xem xét đến con số 5 đơn vị phần trăm và 95 đơn vị phần trăm (đơn vị phần trăm là tỷ lệ phần trăm giữa kích thước của một cơ thể nào đó và kích thước của những cơ thể nhỏ hơn nó so với tổng số đối tượng thống kê,
%), mà nó không phải là chỉ xem xét đến giá trị trung bình Một nguyên tắc
cơ bản đó là phải phù hợp với “nguyên tắc lớn nhất và nhỏ nhất”, tức là trong phần lớn các trường hợp là sử dụng kết hợp giữa 5 đơn vị phần trăm và 95 đơn vị phần trăm, mà rất ít khi sử dụng 50 đơn vị phần trăm Dùng một câu phổ thông để nói thì nó chính là “đủ cho khoảng cách, vừa cho không gian”
a Thiết kế công năng của đồ mộc dùng để ngồi nghỉ ngơi
Ngồi là tư thế được sử dụng nhiều nhất trong đời sống của con người, như trong làm việc, học tập, ăn cơm, nghỉ ngơi,…, đều được tiến hành trong các tư thế ngồi Do vậy, tác dụng của loại đồ mộc dùng để ngồi, như ghế tựa, ghế dài, salon,…, nó đóng một vai trò hết sức quan trọng
Công năng cơ bản của đồ mộc dùng để ngồi là thoả mãn được sự thoải mái cho con người khi ngồi, giảm thấp sự mệt mỏi và có thể nâng cao hiệu quả làm việc cho con người Trong đó, quan trọng nhất chính là giảm thấp sự mệt mỏi cho cơ thể con người Nếu như trong quá trình thiết kế đồ mộc, thông qua việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kích thước của cơ thể với các kết cấu xương và bắp thịt để thiết kế ra những loại đồ mộc mà trong quá trình sử dụng
Trang 25nó có thể làm giảm đến mức thấp nhất sự mệt mỏi cho cơ thể, thì đó cũng chính là đạt được cảm giác thoải mái nhất, yên tĩnh nhất cho con người khi sử dụng, đồng thời cũng có thể duy trì được hiệu quả làm việc là cao nhất
Các loại đồ mộc chủ yếu dùng để ngồi nghỉ ngơi có ghế nằm, salon, ghế xoay,… Tác dụng chủ yếu của chúng là làm cho con người có được sự nghỉ ngơi thoải mái nhất, đó cũng có nghĩa là làm cho sự mệt mỏi của cơ thể con người giảm đến mức thấp nhất, đạt được sự thoải mái cho con người Do vậy, đối với kích thước, góc độ, điểm tựa hay tính đàn hồi của vật liệu để sản xuất ra những loại đồ mộc này cũng cần phải xem xét một cách tỉ mỉ
- Độ rộng và độ cao bề mặt ngồi: độ cao của đường viền phía trước bề mặt ngồi nên thấp hơn một chút so với khoảng cách từ đầu gối xuống đến gót chân, chiều cao bề mặt ngồi của ghế dùng trong nghỉ ngơi trong khoảng 330-
380 mm là hợp lý (không tính lượng dư do đàn hồi của vật liệu) Nếu sử dụng loại vật liệu mềm có chiều dày lớn, thì nên lấy kích thước giới hạn thấp nhất của độ đàn hồi để xác định kích thước về chiều cao bề mặt ngồi Độ rộng của
bề mặt ngồi được lấy theo đối tượng là nữ giới, thường trong khoảng 450mm
430 Góc nghiêng của bề mặt ngồi và góc tạo thành giữa bề mặt ngồi với lưng tựa của ghế: góc nghiêng về phía sau của bề mặt ngồi và góc tạo thành giữa
bề mặt ngồi với lưng tựa của ghế (còn gọi là góc tựa) là những vấn đề quan trọng cần quan tâm khi thiết kế loại ghế ngồi dùng trong nghỉ ngơi, bề mặt ngồi luôn nghiêng về phía sau một góc nhất định, nó làm cho cơ thể khi ngồi cũng nghiêng về phía sau, có lợi cho trọng tâm của cơ thể dịch chuyển về phía nửa dưới của phần lưng tựa và phần xương mông Theo sự thay đổi về tư thế ngồi nghỉ ngơi của cơ thể con người mà góc nghiêng về phía sau của bề mặt ngồi và góc tựa cũng có một mối quan hệ nhất định, góc tựa càng lớn thì góc nghiêng về phía sau của bề mặt ngồi cũng càng lớn (Hình 2.1.1) Thông thường, trong một phạm vi nhất định, góc nghiêng càng lớn thì tính thoải mái khi nghỉ ngơi cũng càng lớn, thế nhưng không phải là không có giới hạn, đặc
Trang 26biệt là đối với những loại ghế ngồi dùng cho người cao tuổi, góc nghiêng không thể quá lớn, bởi vì sẽ tạo ra sự khó khăn khi đứng dậy
- Góc nghiêng của bề mặt ngồi đối với loại ghế salon từ 4-70, góc tựa từ 106-1120 là thích hợp; đối với loại ghế nằm, góc nghiêng của bề mặt ngồi từ 6-150, góc tựa từ 112-1200 là hợp lý Theo sự tăng lên của góc nghiêng và góc tựa mà làm cho các điểm đỡ ở phần lưng tựa cũng được tăng lên từ 2-3 điểm, tức là từ xương ngực thứ 2 và thứ 9 (vùng dưới của bả vai), điểm đỡ quan trọng nhất vẫn phải là phần xương sống (Hình 2.1.2)
- Độ sâu của bề mặt ngồi: loại ghế ngồi để nghỉ ngơi do phần nhiều là sử dụng những loại vật liệu mềm xốp để sản xuất, nên bề mặt ngồi và phần lưng tựa luôn có một độ lún nhất định, khi đó nó sẽ làm cho độ sâu của bề mặt ngồi
Hình 2.1.2 Góc tựa và điểm đỡ
làm việc nghỉ ngơi
ngủ
mạnh mặt bằng
yếu
Hình 2.1.1 Góc độ của ghế ngồi với các tư thế nghỉ ngơi khác nhau