Các sản phẩm làm từ gỗ có mẫu mã đa dạng, phong phú với nhiều mụcđích sử dụng như : các sản phẩm dân dụng bàn, ghế, tủ, cửa,…, sản phẩm mộcvăn phòng bàn vi tính, bàn làm việc, tủ văn phò
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Thiết kế bộ bàn ghế phòng khách gia đình bằng gỗ tại Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Đạo Lớp: Chế biến lâm sản 45
Thời gian thực hiện: 01/2015 đến 05 Địa điểm thực hiện: Công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Đăng Niêm
Bộ môn: Công nghệ chế biến lâm sản
NĂM 2015
Trang 2Lời Cảm Ơn
Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, đặc biệt là thầy Nguyễn Đăng Niêm người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm
ơn sự giúp đỡ tận tình của cán bộ, công nhân viên Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế trong quá trình thực tập tại đây đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tìm hiểu, thu thập thông tin phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
Tôi xin cảm ơn đến gia đình, bạn
bè, người thân đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng với kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình làm khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự góp ý của thầy cô và bạn bè để khóa luận hoàn thiện hơn.
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn!
Huế, ngày 15 tháng 5 năm 2015
Sinh viên thực hiện Nguyễn Minh Đạo
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Trang 7TÓM TẮT
Những năm gần đây, nhu cầu sử dụng bàn ghế phòng khách ngày càngrộng rãi, phổ biến do đời sống kinh tế, vật chất ngày càng được cải thiện và nângcao Rất nhiều gia đình muốn chọn cho mình một bộ bàn ghế phù hợp điều kiệnkinh tế, công việc hiện tại để giao tiếp với những người xung quanh hoặc đơngiản là dùng để thư giãn, uống trà,….Cho dù sử dụng với mục đích nào thì nóvẫn phải đảm bảo tính kinh tế, thẩm mỹ, nhu cầu sử dụng của mỗi gia đình Thậtvây, trên thị trường đồ mộc hiện nay, có rất nhiều loại bàn ghế phòng kháchkhác nhau với nhiều hình dáng, kích thước, mẫu mã, màu sắc, nguyên liệu, chấtlượng và giá thành khác nhau Vì vậy, thị trường bàn ghế phòng khách cũngđang trở nên rất sôi nổi với rất nhiều chủng loại, phong phú và đa dạng
Mục tiêu của luận văn là thiết kế một bộ bàn ghế phòng khách có thể sửdụng rộng rãi trong các hộ gia đình với mẫu mã và giá thành cạnh tranh nhất cóthể Hướng về mục tiêu này, luận văn chi thành bốn phần:
Phần đầu, nêu lên nhu cầu sử dụng và yêu cầu hiện nay của một bộ bànghế phòng khách, từ đó đưa ra mục tiêu thiết kế
Phần hai, nghiên cứu tổng quan về quá trình sản xuất đồ mộc, các nguyêntắc thiết kế đồ mộc; tình hình sản xuất và tiêu thụ đồ mộc trên thế giới, ở ViệtNam và ở Thừa Thiên Huế
Phần ba, đưa ra các mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu cụthể, để từ đó tiến lại gần hơn với hình dáng, mẫu mã, kích thước, nguyên liệu,chất lượng, giá thành,… của sản phẩm mong muốn thiết kế
Phần bốn, từ những tài liệu tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát được, đưa racác bước tiến hành thiết kế, sản xuất ra bộ bàn ghế phòng khách Đồng thời, tiếnhành tính toán công nghệ, nhằm đảm bảo sản phẩm đạt yêu cầu về độ bền vàtính toán các chi phí cần thiết để làm ra sản phẩm, từ đò đưa ra giá thành cuốicùng cho bộ bàn ghế khi xuất ra thị trường
Phần cuối, rút ra một số kết luận và đề xuất hướng phát triển cho đề tài
Trang 9PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐÊ
Từ lâu, con người đã biết sử dụng gỗ tự nhiên để làm nhà cửa, đóng tàuthuyền và các vật dụng khác nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằngngày Chính vì thế, mà gỗ đã trở nên gắn bó và không thể thiếu trong đời sốngsinh hoạt của con người nói chung và người Việt Nam nói riêng
Trong thời đại ngày nay, mặc dù có rất nhiều loại vật liệu mới với những
ưu điểm vượt trội, những tính năng hiện đại có khả năng thay thế gỗ; nhưng gỗvẫn là sự lựa chọn không thể thiếu trong cuộc sống của con người nhờ có nhữngđặc tính như: có vân thớ, màu sắc đẹp, có thể chịu lực cơ học (kéo, uốn, nén), cótính cách điện, cách nhiệt tốt, dễ kết hợp với các loại vật liệu khác, thời gian sửdụng tương đối dài, khi sử dụng mang lại cho con người cảm giác thoải mái, dễchịu Các sản phẩm làm từ gỗ có mẫu mã đa dạng, phong phú với nhiều mụcđích sử dụng như : các sản phẩm dân dụng (bàn, ghế, tủ, cửa,…), sản phẩm mộcvăn phòng (bàn vi tính, bàn làm việc, tủ văn phòng,…), sản phẩm mộc xây dựng(kèo, cột, trụ,…), sản phẩm mộc công nghiệp (sản xuất giấy, ván nhân tạo,…),sản phẩm mộc mỹ nghệ,…
Hiện nay, yêu cầu thẩm mỹ của con người ngày càng cao và luôn luônthay đổi Vì vậy, các sản phẩm mộc phải luôn được cải tiến, đa dạng hóa mẫu
mã, màu sắc và tính năng sử dụng mà vẫn đảm bảo phù hợp về giá thành và nhucầu của thị trường Chính vì lý do đó mà vai trò của người thiết kế là rất quantrọng Ngoài việc đưa ra các sản phẩm có kiểu dáng và tính năng mới thì việcđem lại sự cân bằng về thể chất và tinh thần cho con người thông qua mối quan
hệ hài hòa giữa: “môi trường - đồ gỗ - con người” là rất cần thiết
Bộ bàn ghế phòng khách là một trong những sản phẩm mộc rất cần thiếtvới mỗi ngôi nhà Phòng khách là nơi để giao tiếp với bạn bè, người thân,…nếuchọn được bộ bàn ghế phòng khách phù hợp sẽ làm cho không gian nơi phòngkhách thêm trang trọng Mỗi bộ bàn ghế khác nhau sẽ tạo nên một tác dụng khácnhau khi sử dụng Do đó, chủ nhà phải chọn cho mình bộ bàn ghế phòng kháchphù hợp với kiến trúc ngôi nhà cũng như nhu cầu, mục đích sử dụng để làmtăng tính hiệu quả, tăng hiệu ứng khi kết hợp giữa bộ bàn ghế với không gian
phòng khách Xuất phát từ nhu cầu trên, tôi thực hiện đề tài : “ Thiết kế bộ
bàn ghế phòng khách gia đình bằng gỗ tại công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế”.
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUÁN NGHIÊN CỨU 2.1 Khái quát chung về quá trình sản xuất đồ mộc
Quá trình sản xuất là quá trình con người tác động vào tài nguyên thiênnhiên để biến nó thành sản phẩm phục vụ lợi ích của con người
Nói ở mức độ hẹp hơn trong phạm vi một nhà máy hay một xưởng chế tạosản phẩm mộc thì quá trình sản xuất là quá trình tổng hợp các hoạt động có ích
để biến nguyên liệu và bán thành phẩm thành sản phẩm của nhà máy
Quá trình công nghệ là một phần của quá trình sản xuất trực tiếp làm thayđổi trạng thái và tính chất của đối tượng sản xuất Thay đổi trạng thái và tínhchất bao hàm thay đổi hình dạng và kích thước, tính chất hóa học của vật liệu, vịtrí tương quan giữa các chi tiết
- Quá trình công nghệ gia công cắt gọt hay còn gọi là gia công có phôi, làm thayđổi hình dạng và kích thước của nó Từ nguyên liệu cắt tạo phôi và từ phôi đượccắt gọt qua nhiều khâu mới thành chi tiết hoàn thiện
- Quá trình công nghệ xử lý và biến tính gỗ là quá trình làm thay đổi tính chất lýhóa của gỗ
- Quá trình công nghệ lắp rắp là quá trình tạo thành những quan hệ tương quangiữa các chi tiết thông qua hàng loạt mối lắp ghép
Quy trình sản xuất sản phẩm mộc: Cưa xẻ- Sấy- Gia công- Trang Lắp ráp hoàn thiện và đóng gói
sức-2.2 Các nguyên tắc cơ bản của thiết kế sản phẩm mộc
Nguyên tắc thực dụng:
Tính thực dụng là điều kiện quan trọng đầu tiên của thiết kế đồ mộc.Thiết
kế đồ mộc trước tiên phải thỏa mãn công dụng trực tiếp của nó, thích ứng yêucầu riêng của từng người sử dụng Như bàn ăn phương Tây có thể kiểu dài vì docách để đồ ăn, còn bàn ăn dài thì không thể phù hợp với tập quán ăn của ngườiTrung Quốc Nếu đồ mộc không thể thỏa mãn yêu cầu sử dụng cơ bản thì dùngoại quan có đẹp cũng không có ý nghĩa gì
Nguyên tắc dễ chịu:
Tính dễ chịu là nhu cầu của sinh hoạt chất lượng cao, ý nghĩa quan trọngcủa tính dễ chịu sẽ thể hiện rõ, đây cũng là thể hiện quan trọng của giá trị thiết
kế Muốn thiết kế ra đồ mộc dễ chịu phải phù hợp với nguyên lý củaErgonomics và phải quan sát, phân tích tỉ mĩ đời sống
Trang 11Ví dụ: Vật liệu và thiết kế cấu tạo của giường ngủ phải xem xét trong lực
và sự phân bố lực khi nằm, và tiến hành nghiên cứu sâu đối với giấc ngủ, lấytính dễ chịu tất yếu của nó để loại bỏ nhiều nhất sự mệt mỏi của con người, đảmbảo chất lượng của giấc ngủ
Nguyên tắc an toàn:
An toàn là yêu cầu cơ bản đảm bảo chất lượng của đồ mộc, nếu thiết kế
đồ mộc thiếu cường độ và tính ổn định, hậu quả của nó là tai hại Muốn đảm bảo
an toàn, phải có nhận thức đầy đủ đối với tính năng cơ học của vật liệu, chiềuthớ và khả năng thay đổi có thể xảy ra Để xác định chính xác kích thước mặtcắt ngang của chi tiết, cụm chi tiết, và khi thiết kế kết cấu và thiết kế điểm nốitiến hành tính và đánh giá khoa học Như giới hạn bền kéo theo chiều ngang của
gỗ thấp hơn chiều dọc rất nhiều, khi nó ở vị trí chịu lực quan trọng trong đồ mộc
sẽ có thể bị nứt ra Gỗ có tính trương nở, co rút, nếu dùng tấm gỗ tự nhiên mặtrộng để làm tấm lõi cửa và khi dùng keo cố định giá khung thì rất dễ làm cho giákhung bị bung ra hoặc tấm lõi bị giá khung xé ra Ngoài kết cấu và tính an toànlực học ra, an toàn trên hình thái của nó cũng rất quan trọng, như trên bề mặt sảnphẩm tồn tại vật sắc nhọn có khả năng gây thương tích cho người, khi chân bànchìa ra khỏi mặt bàn có thể làm cho người vấp ngã
Nguyên tắc thẩm mỹ:
Tính nghệ thuật là nhu cầu tinh thần của con người, hiệu quả nghệ thuậtcủa thiết kế đồ mộc sẽ thông qua cảm quan của con người tạo ra hàng loạt phảnứng sinh lý, từ đó đưa đến những ảnh hưởng mạnh đối với tâm lý của con người
Mỹ quan và thực dụng đều rất cần thiết, ngoài việc đáp ứng chỉ tiêu ergonomicsthì cần đẹp
Nguyên tắc công nghệ:
Thiết kế đồ mộc cũng cần nghiên cứu sao cho có thể sử dụng máy móc vàcông nghệ để sản xuất, đem lại năng suất và chất lượng cao, giảm giá thành sảnphẩm Đồ mộc kết cấu cố định cần xem xét có thể thực hiện lắp ráp cơ giới hóa,
tự động hóa được không; đồ mộc kiểu tháo rời cần xem xét sử dụng dụng cụ đơngiản nhất có thể nhanh chóng lắp ráp được đồ mộc thành sản phẩm phù hợp yêucầu chất lượng Tính công nghệ của thiết kế đồ mộc còn biểu hiện khi thiết kếcần cố gắng sử dụng chi tiết tiêu chuẩn, cùng với việc thâm nhập và mở rộngcủa hợp tác phân công xã hội hóa, chuyên môn hóa, hợp tác hóa sản xuất đã trởthành xu thế tất yếu của sản xuất đồ mộc Sử dụng chi tiết tiêu chuẩn có thể đơngiản hóa sản xuất, rút ngắng quá trình chế tác của đồ mộc, giảm chi phí chế tạo
Trang 12 Nguyên tắc kinh tế:
Tính kinh tế trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trên thị trườngsản phẩm đồ mộc Người thiết kế cần nắm vững phương pháp phân tích giá trị,đảm bảo tính công năng và tính kinh tế Như chọn vật liệu cao cấp để chế tác sảnphẩm sử dụng một lần thì lãng phí Ngược lại, nếu trong một sản phẩm cao cấp
có vật liệu chất lượng kém hoặc khi chế tác giảm thấp yêu cầu thì sẽ làm cho giátrị của bản thân nó giảm mạnh, đây cũng là một loại lãng phí
Nguyên tắc hệ thống:
Tính hệ thống của đồ mộc thể hiện ở 2 mặt: tính đồng bộ và tính hệ thốngthay đổi linh hoạt của tiêu chuẩn hóa
Tính đồng bộ là chỉ đồ mộc không sử dụng độc lập mà là phối hợp vớinhau đồng bộ trong môi trường trưng bày Vì thế, khái niệm rộng của thiết kế đồmộc cần mở rộng đến hiệu quả cảm giác và công năng sử dụng của toàn bộ môitrường nội thất
Tính hệ thống thay đổi linh hoạt của tiêu chuẩn hóa nhằm vào nhu cầu xãhội và tính hiệu quả cao trong sản xuất
Thiết kế đồ mộc cần thiết kế tỉ mĩ, không nên theo xu hường thiết kế đạithể kiểu phác thảo thiếu hoàn thiện sẽ gây khó khăn trong sản xuất Cần luônsáng tạo trong thiết kế để có sản phẩm hấp dẫn
Phương pháp thiết kế hệ thống hóa là lấy một số lượng nhất định chi tiết,cụm chi tiết và modul đồ mộc tiêu chuẩn hóa cấu thành một loại hệ thống đồmộc nào đó của xí nghiệp, thông qua tổ hợp có hiệu quả của nó để thỏa mãn cácloại yêu cầu, giảm các chi tiết không tiêu chuẩn
Nguyên tắc thời đại và mốt:
Đồ mộc phải mang tính thời đại và hợp mốt, nếu thiết kế không đảm bảonguyên tắc này thì cho dù có đảm bảo các nguyên tắc trên thì sản phẩm sản xuất
ra cũng không được thị trường tiêu thụ
2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hàng mộc trên thế giới:
Mặt hàng gỗ có quy mô buôn bán lớn thứ ba trên thị trường thế giới, chỉsau dầu lửa và than đá Sản phẩm gỗ được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội Có khoảng 12.000 dạng sản phẩm gỗ được trao đổi buônbán trên thị trường thế giới Nhu cầu về mặt hàng gỗ ngày càng tăng mạnh dophát triển của thương mại đồ nội thất trên thế giới và nhu cầu xây dựng tăngnhanh Sự phát triển của thị trường gỗ thế giới đang mở ra những cơ hội và cả
Trang 13những khó khăn, thách thức đối với ngành công nghiệp chế biến gỗ VN Có mộtcái nhìn tổng quan về thị trường gỗ thế giới, đánh giá những tác động và tìm cácgiải pháp cho ngành công nghiệp chế biến gỗ VN trong thời gian tới là hết sứccần thiết.
Tình hình sản xuất đồ gỗ thế giới cũng tăng trưởng với tốc độ 8%/nămtrong vòng thập kỷ qua trong đó sản lượng của các nền kinh đang nổi tăng vớitốc độ 18%/năm (gồm các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Lan, Brazil, Nga,Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và Malaysia); sản lượng của các nền kinh tế đã phát triểntăng với tốc độ 1%/năm
Trong vòng 10 năm trở lại đây, ngành đồ nội thất thế giới phát triển khánhanh, tình hình thương mại ổn định Đóng góp vào sự tăng trưởng này chính làviệc mở cửa thị trường, chiến lược thuê ngoài (out-sourcing) của một số nước(gồm cả nhà sản xuất và nhà bán lẻ), và nhu cầu tiêu thụ tăng mạnh tại các thịtrường đang nổi
Tương tự, hình hình sản xuất đồ nội thất thế giới cũng tăng trưởng với tốc
độ 8%/năm trong vòng thập kỷ qua trong đó sản lượng của các nền kinh đangnổi tăng với tốc độ 18%/năm (gồm các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Lan,Brazil, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và Malaysia); sản lượng của các nền kinh tế
đã phát triển tăng với tốc độ 1%/năm
Sức tiêu thụ tại châu Á vẫn giữ mức tăng ổn định Còn tại Nam Mỹ,Trung Đông và châu Phi, tiêu thụ đồ nội thất được dự báo tăng nhanh hơn tốc độtăng trưởng trung bình trên thế giới Còn nhu cầu tiêu thụ tại Bắc Mỹ không caonhưng vẫn sáng sủa hơn khu vực Tây Âu
Hình 2.1 Thị trường tiêu thụ đồ mộc những năm 2010-1014
Trang 14Dự báo sản xuất đồ nội thất thế giới ước khoảng 450 tỷ đôla Mỹ CSILđưa ra con số này dựa trên dữ liệu từ các nguồn thông tin chính thức (ở cấp quốcgia và quốc tế) về tình hình sản xuất của 70 nước trên thế giới.
Sản xuất đồ nội thất của các nước có thu nhập cao chiếm hơn 45% tổngtoàn thế giới Trong vòng 10 năm qua, sản xuất mặt hàng này tăng trưởng vớitốc độ trung bình 8%/năm
2.4 Tình hình sản xuất, xuất khẩu sản phẩm mộc trong nước và tiêu thụ nội địa:
Hiện nay, sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam đã có mặt trên 100 thị trườngnước ngoài Những thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam (chiếm trên 70%tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ) là Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản.Năm 2013, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất ASEAN, đứngthứ hai tại châu Á và thứ 6 trên thế giới với kim ngạch đạt trên 5,5 tỷ USD
Trong 6 tháng đầu năm 2014, kim nghạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ chếbiến đạt khoảng 3 tỷ USD, nhiều DN đã có hợp đồng sản xuất cả năm nên mụctiêu xuất khẩu 6,5 tỷ USD cả năm 2014 hoàn toàn có khả năng đạt được
Ở trong nước, những năm trước thị trường đồ gỗ trong nước phần lớn làhàng Trung Quốc, Malaysia thì nay hàng Việt đã khẳng định vị thế trên sânnhà Tỷ lệ sản phẩm nội thất phục vụ thị trường nội địa của các DN VN đã tăng
từ 20% lên 40%, hàng ngoại đã mất dần ưu thế Với quy mô thị trường ViệtNam với dân số 90 triệu, bình quân nhu cầu tiêu dùng đồ gỗ trong 4 năm gầnđây khoảng 1,98 tỷ USD Trong đó, tiêu dùng đồ gỗ người dân thành thị chiếmkhoảng 30% cho hộ gia đình, 40% cho các công trình dự án mới và 30% thịphần còn lại đến từ 70% dân cư nông thôn
Hiện đồ gỗ đã trở thành mặt hàng XK chủ lực đứng thứ 5 của Việt Namsau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản Sự phát triển này đã đưa Việt Namvượt Indonesia và Thái Lan trở thành một trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứngđầu Đông Nam Á Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, cókhả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực
Trong khi thị trường đang được mở rộng và kim ngạch tăng nhanh thìnhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực đồ gỗ nhất là các doanh nghiệp tại TP HồChí Minh, Đồng Nai, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Định cho biết họ đang rất khókhăn trong tìm kiếm gỗ nguyên liệu để duy trì sản xuất Theo Bộ Công Thương,nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ XK đang thiếu trầm trọng Hàng năm chúng taphải nhập 80% gỗ nguyên liệu, chiếm tới 37% giá thành sản phẩm Hơn nữa90% gỗ nhập khẩu từ Lào và Campuchia thì nguồn này đang cạn kiệt Kể từ năm
Trang 152005 đến nay, 2 nước Malaysia và Indonesia đã đóng cửa mặt hàng gỗ xẻ, gâynhiều khó khăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Giá nhiều loại gỗ đã tăngbình quân từ 5% - 7%, đặc biệt gỗ cứng đã tăng từ 30% - 40%, làm cho nhiềudoanh nghiệp Việt Nam rơi vào tình trạng có đơn hàng nhưng không có lợinhuận hoặc lợi nhuận rất thấp.
Đối với nguồn gỗ trong nước, công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, các
dự án phát triển rừng nguyên liệu chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến sảnlượng gỗ phục vụ cho chế biến XK không được cải thiện Chiến lược lâm nghiệpquốc gia giai đoạn 2006 - 2020 đặt mục tiêu phát triển 825.000 ha rừng nguyênliệu cho ngành gỗ Việt Nam, trong đó có sự kết hợp giữa các loại cây có chu kỳkinh doanh ngắn 7-10 năm và chu kỳ kinh doanh dài từ 15 năm trở lên Sảnlượng dự kiến khai thác để phục vụ ngành gỗ vào năm 2020 sẽ đạt 20 triệu
cầu Theo tính toán của Hiệp hội gỗ, còn phải chờ ít nhất 10 năm nữa mới hyvọng chủ động được một phần nguyên liệu trong nước khi các khu rừng trồng gỗlớn do các doanh nghiệp phát triển bắt đầu cho khai thác Còn trong tương laigần, không có cách nào khác là phải tiếp tục nhập khẩu gỗ nguyên liệu
Hiện tại phần lớn đất rừng (gần 5 triệu ha) là do các lâm trường quốcdoanh và chính quyền địa phương quản lý, trong khi khoảng 3,1 triệu ha đã đượcgiao cho hơn một triệu hộ gia đình và cá nhân, nhưng có 20-30% diện tích được
sử dụng đúng mục đích, 70% còn lại chưa đem lại hiệu quả như mong muốn.Trong khi đó, nhiều nhà đầu tư lớn muốn đầu tư vào rừng trồng thì lại không cóđất trồng rừng Tuy nhiên, đến nay cũng đã xuất hiện một số mô hình hợp tác,liên kết giữa doanh nghiệp và các chủ rừng (hộ dân, nông lâm trường) để trồngrừng sản xuất Có doanh nghiệp chọn hình thức đầu tư tiền, giống, kỹ thuật chocác hộ dân trồng rừng, khi đến kỳ khai thác, hộ dân sẽ hoàn trả cho doanhnghiệp sản lượng gỗ nhất định, phần sản lượng tăng thêm sẽ thuộc về ngườitrồng rừng
Công tác xây dựng mạng lưới chế biến gỗ trên toàn quốc chưa có sựthống nhất để sử dụng nguồn nguyên liệu vốn đang rất khan hiếm Cùng với hạnchế trên, công nghệ chế biến hiện nay cũng còn thô sơ và mang nặng tính thủcông, các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam chỉ mới dừng lại ở việc gia côngnguyên liệu là chính, máy móc vẫn ở mức trung bình và lạc hậu Phần lớn dâychuyền thiết bị, máy móc được sản xuất từ Đài Loan, Trung Quốc, chỉ một số ítsản xuất tại Đức, Italy, Nhật, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng lớn
và khách hàng đòi hỏi chất lượng cao Các doanh nghiệp chế biến gỗ chủ yếu làcác doanh nghiệp vừa và nhỏ, yếu về năng lực quản lý, thiếu công nhân kỹ thuật,
Trang 16thiếu vốn Những yếu tố này khiến giá trị gia tăng của sản phẩm gỗ Việt Namđạt ở mức thấp và làm giảm tính cạnh tranh về giá thành
Là một mặt hàng mới phát triển mạnh khoảng nửa thập kỷ gần đây nênviệc phát triển thương hiệu đồ gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế còn hạn chế
và chưa được chú trọng Hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đều cóquy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế nên chưa có nhiều kinh phí để thực hiện việcnày Tuy nhiên, Bộ Công Thương thừa nhận: công tác xúc tiến thương mại chưa
có sự liên kết tốt giữa các tổ chức hỗ trợ thương mại và doanh nghiệp Một thựctrạng nữa là các doanh nghiệp chủ yếu vẫn bán hàng qua khâu trung gian (chiếm90% lượng sản phẩm) Hơn nữa, việc nhận làm gia công và nhận mẫu mã thiết
kế, hợp đồng đặt hàng của nước ngoài ngày càng nhiều đã biến các doanhnghiệp của chúng ta thành người làm thuê, gia công cho thương hiệu nướcngoài Và tất cả những điều này đang làm ảnh hưởng lớn đến thương hiệu gỗViệt Nam trên thị trường thế giới
Một vấn đề khác phát sinh khi nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thếgiới đối với mặt hàng đồ gỗ là các chứng chỉ về nguyên liệu Mỹ có đạo luậtLACEY được bổ sung có hiệu lực từ 15/12/2008, quy định kiểm soát nguồn gốc
gỗ nguyên liệu Từ 1/4/2009 tất cả doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu phải nộp
tờ khai về sản phẩm nhằm đảm bảo tính hợp pháp Bên cạnh đó luật lâm nghiệp
và quản trị rừng (FLEGT) đang được triển khai ở tất cả các quốc gia EU cònphát động "Bản thỏa thuận đối tác tự nguyện" (VTA) Đây là những rào cản rấtlớn cho ngành gỗ của chúng ta Phân tích của Vụ xuất nhập khẩu - Bộ CôngThương mới đây cho biết, nhu cầu về gỗ có chứng chỉ đang gia tăng, nhưng ViệtNam vẫn chưa có hệ thống chứng chỉ thích hợp Các khách hàng (chủ yếu làEU) ngày càng đòi hỏi các sản phẩm được làm từ nguồn gỗ nguyên liệu cóchứng chỉ của một tổ chức như Hội đồng các nhà quản lý rừng (FSC) Hiện ởnước ta chưa nơi nào có chứng chỉ như vậy Hậu quả là, để đáp ứng các yêu cầu
có chứng chỉ FSC, các nhà sản xuất phải nhập khẩu gỗ có chứng chỉ FSC, giáthành sản phẩm đội lên, nên khó cạnh tranh được và giá trị gia tăng của ngành
đồ gỗ bị giảm sụt quá nhiều so với những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, cho
dù đồ gỗ chế biến củaViệt Nam đang được ưa chuộng tại nhiều nước, cùng vớinhững khách hàng chiến lược, thông qua những sản phẩm có chất lượng và sứccạnh tranh cao
Ngoài ra, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng đã gây ra nhiều khókhăn cho ngành chế biến gỗ Việt Nam như thị trường xuất khẩu trọng điểm bịthu hẹp, hàng hóa tồn đọng, giá đầu ra giảm, dẫn tới các đơn hàng vừa giảm, vừakhó thực hiện Còn giải pháp kích cầu của Chính phủ hiện nay với những điều
Trang 17kiện cho vay chặt chẽ, khó khăn, thời gian cho vay ngắn, khó đưa đồng vốn vớilãi suất vay ưu đãi đến với với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy nhiên, đâycũng có thể là cơ hội lớn cho ngành chế biến gỗ tái cấu trúc lại để có thể đủ nănglực cạnh tranh, đổi mới dây chuyền công nghệ sản xuất, đào tạo đội ngũ quản lý,lao động
2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mộc của tỉnh Thừa Thiên Huế:
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh có ngành công nghiệp chế biến
gỗ đang phát triển ở nước ta Trong những năm gần đây, tỉnh Thừa Thiên Huế
đã thành lập nhiều khu công nghiệp như: KCN Phú Bài, KCN Phong Điền,KCN Tứ Hạ, KCN La Sơn, KCN Phú Đa Nơi đây đã có nhiều công ty chếbiến gỗ như:
Công ty TNHH Ngọc Anh, KCN Phú Bài, Hương Thủy, TT Huế
Công ty TNHH xuất nhập khẩu Trúc Thư, KCN Phú Bài, Hương Thủy,
Trang 18PHẦN 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu dây chuyền công nghệ sản xuất của công ty, từ đó thiết kế bộbàn ghế phòng khách có hình dáng, kết cấu phù hợp, giá thành cạnh tranh vớiđiều kiện sản xuất hiện tại của công ty
3.2 Nội dung nghiên cứu.
3.2.1 Tìm hiểu về công ty chế biến gỗ Thừa Thiên Huế:
1 Tình hình chung của công ty
2 Quá trình hình thành và phát triển của công ty
3.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và hoạt động của công ty
4 Tổ chức phân xưởng sản xuất
- Máy móc thiết bị, nhà xưởng
o Thiết kế chi tiết
o Chỉnh lý và hoàn thiện thiết kế kỹ thuật
o Dự toán kinh tế
3.2.4 Thiết kế công nghệ sản xuất bộ bàn ghế phòng khách
o Độ chính xác gia công chi tiết bộ bàn ghế phòng khách
Trang 19o Sai số gia công chi tiết.
o Dung sai lắp ghép chi tiết
o Lượng dư gia công chi tiết
o Yêu cầu lắp ráp và trang sức bề mặt
o Tính toán nguyên liệu
o Các dạng phế liệu phát sinh trong quá trình gia công
o Tính toán nguyên liệu phụ
o Tính toán vật liệu liên kết
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu.
Thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập thông tin qua internet, sách, báo, khóaluận tốt nghiệp có liên quan
Thu thập tài liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, công nhânviên cổ phần chế biến lâm gỗ Thừa Thiên Huế
3.3.2 Phương pháp tính toán thiết kế
- Kết hợp nghiên cứu các lĩnh vực: Vật liệu- Công nghệ- Kinh tế- Môitrường- Tập quán văn hóa- Hình học- Cơ học- Màu sắc- Thời trang
- Trên cơ sở đó đề ra các phương án thiết kế
- Phân tích lực chọn phương án
- Tính toán và tối ưu hóa hình dạng và các thông số kích thước
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu.
- Số liệu điều tra xử lý theo lý thuyết thống kê
- Các số liệu và dữ liệu thiết kế được tính toán ứng suất và kiểm tra bền
- Phác thảo hình dáng dựa trên phân tích công năng
- Xác định kích các thước sản phẩm dựa vào tính công năng có nghiêncứu thêm các yếu tố như thẩm mỹ, khoa học, tập quán, mốt và phong thủy
- Kết cấu và liên kết dựa vào đặc điểm nguyên liệu, trạng thái chịu lực vàtính thẩm mỹ
- Kích thước chi tiết dựa theo kết quả tính bền và ứng suất của gỗ
Sử dụng một số phần mềm như: Word, Excel, AutoCAD, 3Dsmax,Photoshop, để thể hiện ý tưởng
Trang 20Công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế (HUWOCO) có tên tiếnganh là: Thua Thien Hue wood Processing Joint Stock Company, có trụ sở chínhtại: Lô A1 Khu công nghiệp Phú Bài, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế Công ty có
vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ (gần quốc lộ 1A), đường hàng không(gần sân bay Phú Bài), đường thủy (cảng Chân Mây) cho quá trình thu muanguyên liệu và vận chuyển hàng hóa của công ty được thuận lợi
Dự án thành lập công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế được triểnkhai đầu năm 2002 theo quyết định số 419/QĐ-TC-CTXL của sở xây dựngThừa Thiên Huế với mức đầu tư là 2 triệu USD, công suất dự tính khi dự án đivào hoạt động là 10.000m3/ngày Nhưng đến khi hoàn thành thì mức đầu tư dự
án là 20 tỷ đồng, trong đó nhà xưởng, vật dụng…là 14 tỷ, máy móc, thiết bị…là
6 tỷ đồng Dự án đi vào hoạt động chính thức ngày 26 tháng 03 năm 2003
Do yêu cầu của tình hình đổi mới, ngày 28 tháng 09 năm 2006 theo quyếtđịnh số 2063/QĐ-UBND của ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xí nghiệpchế biến gỗ Phú Bài trực thuộc Công ty xây lắp Thừa Thiên Huế được chuyểnđổi thành công ty cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế, nhằm tạo cho công tytính độc lập, tự chủ, khai thác hết tiềm năng của doanh nghiệp và hoạt động kinhdoanh ngày càng hiệu quả
Ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là: chế biến gỗ và sản xuấtcác sản phẩm mộc cho các công trình xây dựng, đồ gỗ trang trí ngoại thất, kinhdoanh mua bán các loại gỗ
4.1.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty bao gồm
(Sơ đồ tổ chức bộ máy công ty; hình 5 phụ lục)
Giám đốc: Chịu trách nhiệm quản lí và điều hành toàn bộ các hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty theo điều lệ tổ chức và nghị quyết, quyết định củahội đồng quản trị
Xây dựng phương án hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và đề racác giải pháp để thực thi phương án đó
Chỉ đạo, điều hành hoạt động của các phòng ban nghiệp vụ tổ chức sảnxuất để thực hiện kế hoạch sản xuất hoàn thành theo đúng yêu cầu sản xuất
Chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tài sản, vật tưcủa đơn vị trước hội đồng quản trị và pháp luật
Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật – sản xuất: là người được sự ủy quyền của
giám đốc, chịu trách nhiệm về công tác kế hoạch sản xuất, phụ trách công tác kỹ
Trang 21thuật chỉ đạo công tác thiết kế mẫu và sản xuất thử theo mẫu, tổ chức đôn đốc vàđiều phối nhân lực, lao động….
Phòng tài vụ: có trách nhiệm tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý,
sử dụng và điều tiết nguồn vốn của công ty đạt hiệu quả cao nhất Lập kế hoạchtài chính, tài sản của công ty Tổng hợp và phân tích các hoạt động kinh tế củacông ty hàng quý, hàng năm, hoạch toán lỗ lãi, báo cáo tài chính định kỳ theochế độ hiện hành
Phòng kỹ thuật: căn cứ theo hợp đồng của công ty và đơn đặt hàng của khách
hàng, phòng kỹ thuật lập ra các tiêu chuẩn, định mức, thiết kế mẫu và yêu cầu kỹthuật cụ thể để hướng dẫn các phân xưởng tổ chức công tác sản xuất sản phẩm.Quản lý về mặt kỹ thuật từ khâu thiết kế cho đến lúc sản phẩm hoàn thiện Có biệnpháp xử lí kịp thời các trường hợp không đúng theo yêu cầu đặt ra
Phòng kế hoạch – kinh doanh: Xây dựng kế hoạch định hướng sản xuất kinh
doanh cho từng đơn đặt hàng, tháng, quý, năm Xây dựng và tổ chức thực hiệncác kế hoạch phục vụ cho sản xuất, tiếp thị, tìm kiếm thị trường Nắm bắt xuhướng thay đổi của thị trường về giá cả, tìm hiểu đối thủ cạnh tranh, xây dựngkênh phân phối và chủ trì xây dựng giá thành sản phẩm
Các xưởng sản xuất: Nhận kế hoạch sản xuất từ các phòng ban liên quan, phổ
biến và triển khai tổ chức sản xuất xuống các tổ như sắp xếp, bố trí lao động, lậptiến độ kế hoạch sản xuất hàng ngày, chỉ đạo các tổ thực hiện đảm bảo đúng tiến
Hiện nay, với các đơn hàng là bàn ghế ngoài trời thì nguyên liệu chủ yếu
mà công ty nhập về để sản xuất là: keo, tràm
Thị trường – sản phẩm của công ty:
Dù thuộc lĩnh vực kinh doanh nào thì khách hàng luôn được xem là yếu tốquyết định tới sự thành công của doanh nghiệp Nắm rõ được vai trò to lớn cảukhách hàng thì toàn công ty Cổ phần chế biến gỗ Thừa Thiên Huế đã khôngngừng nắm bắt mọi thông tin của thị trường để từ đó đưa ra các loại sản phẩmthỏa mãn nhu cầu của khách hàng Điều đó được thực hiện rõ rang hơn khikhách hàng của công ty là các tập đoàn lơn như: Cattie, Eurofar, Promo,…vànhững tập đoàn này là khách hàng quen thuộc của công ty từ khi mới thành lập
Trang 22Ngoài các tập đoàn lớn là thị trường lâu năm thì công ty còn xuất khẩusang các nước như là: Hà Lan, Pháp, Đức, Hàn Quốc.
Với các loại sản phẩm chính như: bàn ghế ngoài trời, ghế băng, bànvuông, bàn chữ nhật
Đối với trong nước, chủ yếu là các vùng lân cận Quảng Trị, Thừa ThiêmHuế thì các sản phẩm được tiêu thụ như: bàn ghế, tấm ngăn văn phòng,…
Sản phẩm của công ty có tới 95% là xuất khẩu, còn 5% là tiêu thụ nội địa
4.1.4 Khảo sát dây chuyền công nghệ sản xuất
Nguyên liệu → cưa xẻ → sấy → gia công sơ chế → gia công tinh chế →lắp ráp cụm chi tiết → trang sức bề mặt → lắp ráp hoàn thiện → kiểm trađóng gói → lưu kho
Nguyên liệu: thông thường nguyên liệu nhập về có đường kính
70-120cm, chiều dài 1,2m trở lên Gỗ không có các khuyết tật như nứt nẻ, xốp ruột,nứt đầu, gỗ thẳng, độ cong không quá 15%
Sấy: ván sau khi được xẻ xong tiến hành đưa vào sấy, mục đích của sấy
gỗ nhằm nâng cao tính chất cơ lý của gỗ, đồng thời làm giảm lương co rút tronggiá trình gia công, đảm bảo kích thước của chi tiết theo đúng yêu cầu Thôngthường, độ ẩm cuối cùng của ván xẻ là khoảng 8-12%, trong quá trình sấy cầnhạn chế các khuyết tật như: cong vênh nứt nẻ,…
Gia công sơ chế: khi chuyển qua khâu sơ chế thì các chi tiết được định
hình theo mẫu Ở công đoạn này, các chi tiết được rong cắt theo quy cách củachi tiết với lượng dư gia công là 1mm, tiếp đến là bào 2 mặt, bào 4 mặt Đối vớicác chi tiết cong thì được tạo dáng với các máy phay tupi 1 trục, 2 trục, sau đótiến hành bào 2 mặt
Các thiết bị được sử dụng trong gia công sơ chế gồm có: cưa đĩa, máyphay roto, máy phay tupi, máy bào 2 mặt, máy bào 4 mặt,…
Gia công tinh chế: phôi được nhận từ khâu sơ chế phải đạt được những
tiêu chí nhất định, có lượng dư gia công theo đúng yêu cầu sản xuất (2mm đốivới chiều dày, 2-4mm đối với chiều rộng và 10-15mm đối với chiều dài), độ ẩm
<12%
Đối với khâu tạo dáng cần căn cứ trên bản vẽ để rập khuôn theo đúng kíchthước cũng như căn chỉnh máy móc được chính xác Ngoài ra cũng cần phải
Trang 23thường xuyên kiểm tra kich thược của chi tiết so với mẫu (hay bãn vẽ) để tránhnhững sai sót trong quá trình gia công.
Đối với công nhân thì cần đảm bảo đúng thao tác vận hành máy móc đểtránh xảy ra các tình huống ngoài ý muốn
Trong gia công tinh chế gồm các công đoạn: cắt tinh, chà nhám thô, đánhbiên, soi rãnh, tạo mộng, khoan,…
Lắp ráp cụm chi tiết: Các chi tiết sau khi qua công đoạn tinh chế được
đưa vào định vị, lắp ráp cụm chi tiết Do các liên kết của sản phẩm bao gồm liênkết cố định và liên kết tháo lắp nên phần liên kết cố định được lắp ráp theo cụmchi tiết trước Các lỗ mộng được tra keo đầy đủ
Các thiết bị dùng để lắp ráp: sung bắn đinh, mũi khoan, vít các loại, keosữa,…
Trang sức bề mặt: Gồm các cụm chi tiết và chi tiết, bao gồm 2 công đoạn
là làm nguội và nhúng màu
Làm nguội: với nhiệm vụ là chọn lựa làm sạch phôi và sửa chữa các
khuyết trong quá trình gia công tạo ra, với các phôi bị khuyết tật được sữa chữanếu không đạt yêu cầu thì loại bỏ Bề mặt phôi được làm sạch bằng việc chànhám (giấy nhám có mật độ hạt #240) để làm sạch các lông gỗ
Nhúng màu: Hóa chất sử dụng để trang sức bề mặt là màu Adora 301 và
chất pha loãng với tỷ lệ 1:1 Cần tiến hành khuấy kỹ trước khi sử dụng Nhúngphôi vào thùng nhúng rồi để khoảng 1-2 phút, sau đó dùng vải sạch lau trên toàn
bộ chi tiết (vải không ra màu) Tiến hành để khô trong khoảng 4-6 giờ tùy thuộcvào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường
Lắp ráp hoàn thiện: Khi tất cả các chi tiết và cụm chi tiết qua công đoạn
trang sức bề mặt đạt yêu cầu mới chuyển qua công đoạn lắp ráp hoàn thiện, đảmbảo sự đồng màu giữa các chi tiết, cụm chi tiết của sản phẩm Trong quá trìnhlắp ráp cần đảm bảo theo đúng quy cách, làm đúng theo hướng dẫn lắp ráp
Đóng gói, lưu kho: đây là khâu cuối cùng trong quy trình sản xuất sản
phẩm Sản phẩm sau khi lắp ráp hoàn thiện sẽ được kiểm tra: kích thước, hìnhdáng, màu sắc,…nếu đạt yêu cầu sẽ chuyển qua công đoạn đóng gói, nếu không đạtyêu cầu sẽ được sửa chữa lại hoặc loại bỏ Sản phẩm sau khi đóng gói thành phẩmcần tránh tiếp xúc với mặt đất Vật liệu, phụ kiện đi kèm phải đầy đủ, bao bì sạch
sẽ, không bị rách, móp, kích thước phải phù hợp với kích thước sản phẩm
4.2 Thiết kế kỹ thuật bộ bàn ghế bằng gỗ dùng cho phòng khách gia đình
Trang 244.2.1 Xác định tiêu chí cho sản phẩm
khá dài khoảng 10 – 20 năm, không sử dụng được mãi mãi mà cũng không phải
là đồ mộc dễ hỏng)
để ngồi ăn cơm
tật
tốt, bề ngoài có vân thớ đẹp, nên chọn gỗ thẳng thớ
trình gia công sản xuất
• Thời gian lưu kho sau sản xuất, cự ly vận chuyển: thời gian sản phẩm có thể cất giữ trong kho khoảng 100 ngày
• Giá thành và giá cả: 5÷7 triệu
4.2.2 Chọn nguyên liệu
Lựa chọn nguyên liệu là khâu quan trọng trong thiết kế và sản xuất hàngmộc, nó quyết định chất lượng và giá thành sản phẩm Nguyên liệu sản xuất phảiđáp ứng được yêu cầu của khách hàng, phù hợp với kết cấu sản phẩm, phù hợpvới điều kiện sản xuất và khả năng của nguồn cung cấp nguyên liệu
Gỗ Kiền Kiền có tên khoa học là Hopea pierrei Hance, thuộc họ Dầu
(Dipterocarpaceae) bộ Chè (Theales), gỗ kiền kiền là cây gỗ to, lá thường xanh,thân thẳng, nứt dọc sâu, có thể cao đến 40m, đường kính thường 0,6m-0,8mhoặc hơn tùy theo độ tuổi và môi trường sống
Gỗ Kiền Kiền là gỗ tốt, cứng, thớ mịn, ít cong vênh, rất bền ngoài khôngkhí, không bị mối mọt, dùng trong xây dựng, đóng tàu thuyền, làm khung nhà,ván sàn, đồ nội thất Vỏ cây dùng làm vách nhà thay gỗ, rất bền
Trang 25Gỗ kiền kiền hiện nay được tìm thấy ở Quảng Bình vào đến Kiên Giang(đảo Phú Quốc); tập trung ở các tỉnh Thừa Thiên – Huế (A Lưới), Quảng Nam –
Đà Nẵng (Hiên), Đắc Lắc – Đắc Min), Lâm Đồng (Di Linh: Lang Hanh), Sông
Bé, Kiên Giang, Phú Quốc)
Một số hình ảnh về gỗ kiền kiền được trình bày ở phụ lục 1
4.2.3 Thiết kế tạo dáng
4.2.3.1 Khái niệm cơ bản về tạo dáng
Tạo dáng là vẽ ra, tạo ra hình dáng phác họa của vật thể khi chưa có vậtthể thật Hình dáng của vật thể thực cần đạt đến giá trị tối ưu (Ergonomics),không chỉ thỏa mãn cơ bản về công năng mà còn đáp ứng yêu cẩu về mỹ quan
Vì vậy, hàm nghĩa của tạo dáng là vừa thỏa mãn tính công năng , vừa thỏa mãntính nghệ thuật Tạo dáng đối với vật dụng: Tạo giá trị vật chất (còn gọi là côngnăng vật chất) + giá trị tinh thần (còn gọi là công năng tinh thần)
Đồ mộc là sản phẩm công nghiệp, có liên quan đến sử dụng trong côngviệc, sinh hoạt của con người Vì thế, thiết kế tạo dáng đồ mộc được gọi là thiết
kế tạo dáng sản phẩm công nghiệp hay “ mỹ thuật công nghiệp”
Thiết kế tạo dáng đồ mộc còn phải phụ thuộc vào loại gỗ Loại gỗ cứng,mịn, dẻo có thể cho phép tạo dáng thanh, mềm mại Gỗ thớ thô nên tạo dángthẳng Gỗ cơ tính thấp cần to mập Một bản thiết kế đồ mộc có thể phù hợp vớiloại gỗ này, nhưng chưa chắc đã phù hợp với loại gỗ khác
4.2.3.2 Các yêu cầu của thiết kế tạo dáng
- Tạo dáng đảm bảo tính công năng: Đảm bảo tốt về yêu cầu công dụng,
có tính ổn định, độ tin cậy cao, hình dạng phù hợp để sử dụng được tiện lợi, đảmbảo thích hợp với môi trường sử dụng và tập quán, văn hóa của đối tượng sửdụng – vận dụng Ergonomics trong thiết kế
- Tính nghệ thuật: Đẹp về hình dáng, đẹp về màu sắc, phù hợp với khônggian trưng bày, có tính thời trang
- Tính khoa học: Kết cấu hợp lý, công nghệ và kỹ thuật chế tạo tiên tiến,vật liệu phù hợp đảm bảo an toàn
- Tính kinh tế: Giá thành thấp, lợi nhuận cao, thị trường tiêu thụ ổn định
- Tạo dáng cần xét đến sự thống nhất vật liệu với kết cấu, hình dạng vàcông nghệ:
Kết cấu cần phù hợp với loại vật liệu, như kim loại có thể cấu tạo thanhnhỏ, mảnh Gỗ cần thanh đủ lớn, nếu liên kết mộng lỗ thì mộng cũng phải đủ
Trang 26lớn Nếu chi tiết gỗ quá nhỏ, hình dạng quá phức tạp thì không đảm bảo độ bền
và cần nghiên cứu xem có phù hợp với công nghệ hiện có hay không
- Tạo dáng sản phẩm phải chú ý đến tính văn hóa, dân tộc, tính hiện đại,tâm lý người sử dụng
Tổ chức đường nét, phối màu sắc, hoa văn cần phù hợp với công năngtừng loại đồ mộc
Phù hợp với công nghệ sản xuất hiện thời: hiệu quả sản xuất cao
4.2.3.3 Các nguyên tắc
- Đồng thời thỏa mãn: Công năng, kết cấu , kinh tế, hợp lý công nghệ
- Phù hợp điều kiện sử dụng: Các yếu tố dân tộc, khu vực, nơi sử dụng,phong tục, tập quán,…
- Hiện đại, độc lập, sáng tạo
- Hiệu quả kinh tế
4.2.3.4 Các phương án thiết kế tạo dáng
Phương án 1:
Hình 4.1 Mẫu bộ bàn ghế phòng khách 1
Ưu điểm:
Đơn giản, gọn, phù hợp với hầu hết mọi không gian, ngoài tiếp khách có thể
sử dụng để làm bàn ăn Các chi tiết tương đối đơn giản nên dễ gia công, chế tạo
Nhược điểm:
Tư thế ngồi không được thoải mái lắm, số người sử dụng bị giới hạn (6người theo số ghế), là loại bàn ghế truyền thống không phù hợp với xu thế hiệnnay của thị trường
Trang 27Nhược điểm:
Trang 28Các chi tiết còn đơn giản nên tính thẩm mỹ chưa cao, kiểu dáng còn đơn
thuần
Lựa chọn phương án thiết kế
Dựa vào các đặc điểm cơ bản về tạo dáng, cấu tạo, nguyên vật liệu, và ưunhược điểm của các sản phẩm đã phân tích tôi đi đến lựa chọn sản phẩm thiết
kế Sản phẩm phương án 3 có kiểu dáng cân đối, thuận mắt, phù hợp với nhiềutiêu chí đề ra Từ những ưu điểm đó tôi tiến hành thiết kế cấu tạo cho sản phẩm
1 Thiết kế kiến trúc bàn
- Kiến trúc mặt trước (sau):
Hình 4.4 Mặt trước bàn
Cấu tạo của bàn khá đơn giản, gồm có các chân liên kết với xà trên tạonên khối vững chắc đỡ mặt bàn ở phía trên Kích thước của các chi tiết cấuthành bàn không lớn, kiểu cách đơn giản, nên bàn khá gọn nhẹ, thuận lợi choviệc di chuyển Các chân bàn được vát góc nhẹ để phù hợp thẩm mỹ
- Kiến trúc mặt bên trái (phải):
Trang 292 Thiết kế kiến trúc ghế dài
- Kiến trúc vách sau trên hình chiếu đứng
Trang 30- Kiến trúc mặt bên trái (phải):
Hình 4.8 Mặt bên ghế
Trang 31Chân sau được uốn cong nhằm tạo sự mềm mại, thẩm mỹ cho ghế; đồngthời tạo sự thoải mái cho người sử dụng khi tựa lưng Cũng như vậy, tay vịnđược bo tròn một góc ở phần đầu, nhằm mực đích thẩm mỹ cho người sử dụng.
Các chi tiết còn thì khá đơn giản, dễ gia công chế tạo
- Kế kiến trúc mặt chiếu bằng:
Hình 4.9 Mặt chiếu bằng ghế
Phần mặt ghế, các nan được sắp xếp đều nhanh từ trong ra ngoài và chứabên trong các thanh khung mặt ghế Tay vịn thì chế tạo theo trục đối xứng theotrục giữa mặt ghế
3 Thiết kế kiến trúc ghế đơn
- Kiến trúc mặt trước (sau):
Hình 4.10 Mặt trước ghế đơn
Trang 32- Kiến trúc mặt bên trái (phải):
4.2.5 Thiết kế kết cấu
Chọn một giải pháp liên kết nào đó phải hiểu rõ được ý nghĩa của từng chitiết đó thì mới tạo ra sản phẩm đủ bền, đẹp, tiện lợi cho gia công, có giá trị sửdụng cao cả về mặt liên kết lẫn mặt thẩm mỹ Đối với quá trình sản xuất thì việcchon giải pháp thực hiện được các thao tác dễ dàng, tạo được năng suất lao
Trang 33động Ngày nay, ngành công nghệ chế biến gỗ phát triển mạnh thì ngoài vis,chốt, mộng gỗ còn cần các sản phẩm từ các ngành cơ khí như: đinh, vis,bulong tạo mối liên kết cho các chi tiết chắc chắn hơn Các chi tiết được liênkết với nhau sẽ tạo ra được các bộ phận và cuối cùng là toàn bộ sản phẩm Việclựa chọn được các giải pháp thích hợp phải tạo điều kiện cho tháo lắp sản phẩmmột cách nhanh chóng và dễ dàng Chính vì những lý do trên, tôi chọn các giảipháp liên kết như sau cho sản phẩm thiết kế:
Liên kết mộng
Được sử dụng trong liên kết đi rời và cả liên kết lắp chết Liên kết mộng
có gia cố keo được sử dụng trong liên kết lắp chết, để liên kết chắc và cố định.Liên kết mộng có bắt vis được sử dụng trong liên kết đi rời
Liên kết mộng rãnh:
Là liên kết giữa 2 chi tiết trong một khoảng dài Liên kết mộng rãnh được
sử dụng trong liên kết giữa mặt bàn với các vai bàn
Liên kết chốt:
Dùng để liên kết giữa các chi tiết nhỏ khó tạo mộng hoặc để gia cố khảnăng liên kết của mộng Sử dụng liên kết chốt trong các chi tiết chịu lực chínhnhư: chân ghế, xà giằng,
Liên kết đinh:
Dùng để liên kết các chi tiết mỏng khó tạo mộng, liên kết đinh được sửdụng trong liên kết giữa mặt bàn với khung bàn
Các thanh và liên kết mộng xiên với nhau vửa đảm bảo đệp và vững chắc
Để đảm bảo liên kết chắc chắn, có thể sử dụng thêm keo để nâng cao khảnăng liên kết giữa các chi tiết
Trang 34Liên kết chính trong kết cấu khung bàn là liên kết mộng lỗ, mỗi mộng cókích thước 10 x 20 x 20.
Trang 35
Hình 4.15 Liên kết lỗ mộng và mặt cắt
Có thể sử dụng thêm chốt gỗ để gia cố liên kết mộng lỗ, nhằm đảm bảo
sự liên kết giữa các chi tiết
Trong phần mặt ghế gồm có các thanh bao liên kết với nhau tạo thànhkhung hình chữ nhật Trong khung là các nan ghế được sắp xếp theo kích thước
và trình tự nhất định
Với phần mặt ghế, liên kết chủ yếu là liên kết mộng lỗ, liên kết giữa cácthanh bao với nhau tạo thành khung, và liên kết giữa khung với các nan
Kích thước mộng của các thanh khung là: 20 x 20 x 20
Kích thước mộng của nan là : 10 x10 x10