Tuy nhiên, những sản phẩm làm từ gỗ tự nhiên vẫn luôn được người dùng ưa chuộng vì tính an toàn, bảo vệ môi trường,… Các loại sản phẩm đồ mộc bây giờ không chỉ đáp ứng các nhu cầu đời số
Trang 1TÓM TẮT LUẬN VĂN
Gỗ và lâm sản là loại nguyên liệu được con người sử dụng từ rất lây đời, các sản phẩm làm từ gỗ vô cùng đa dạng, phong phú về chủng loại, kiểu dáng, chất lượng cũng ngày một nâng cao nên luôn được người dùng ưa chuộng Một trong những sản phẩm từ gỗ được sử dụng nhiều nhất đó là bàn ghế Bàn ghế bao gồm bàn ghế trong nhà và bàn ghế ngoài trời, chúng được sử dụng tại các không gian khác nhau nên kết cấu cũng như vật liệu cũng khác nhau rõ rệt Điều đó đòi hỏi người kỹ sư phải lựa chọn các phương án thiết kế phù hợp cho mỗi loại sản phẩm mộc Xuất phát từ những yêu cầu trên và được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Huế và ban lãnh đạo Xí nghiệp chế
biến gỗ Vinafor Đà Nẵng Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thiết kế bộ Bàn Ghế xếp bằng gỗ dùng ngoài trời tại Xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng”.
Mục tiêu của tôi khi nghiên cứu đề tài này là bước đầu làm quen với quá trình sản xuất ra một sản phẩm mộc Học hỏi được các kinh nghiệm trong quá trình thiết kế và sản xuất tại xí nghiệp thực tập Từ đó, tôi có thể thiết kế được một sản phẩm của bản thân có hình dáng đẹp, kết cấu và chi tiết đầy đủ, sản phẩm phải có ý nghĩa thực tế, có thể đưa vào sản xuất và sử dụng
Đề tài nghiên cứu của tôi có nội dung cụ thể và được thực hiện trong suốt quá trình thực tập tại công ty Từ việc hình thành ý tưởng thiết kế, xem xét, lựa chọn phương án thích hợp đến việc thực hiện ý tưởng đó trên bản vẽ Các yêu tố
về hình dáng và kết cấu của sản phẩm cũng phải được thể hiện rõ ràng Sau quá trình thiết kế sơ bộ, thiết kế được hình dáng và kích thước các chi tiết trên bản
vẽ thì tính toán chịu lực và các yếu tố vật liệu phụ trợ, các mối nối, liên kết, kết cấu bên trong Sau đó phải tính toán giá thành hợp lý và bố trí máy móc, nhân lực sản xuất thường xuyên
Để thực hiện được các mục tiêu trên, tôi dựa vào phương pháp nghiên cứu
cụ thể, trước hết phải điều tra, thu thập các số liệu cần thiết về nguyên liệu, máy móc và các phụ kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, những thông tin này phần lớn được thu thập từ xí nghiệp, ngoài ra còn có thể tìm hiểu thêm thông qua mạng internet, báo chí và các tài liệu liên quan Sau khi điều tra thu thập được các số liệu cần thiết thì cần xử lí các số liệu đó, có thể căn cứ vào các sản phẩm tương đồng để lựa chọn các yếu tố cần thiết cho bản thân Số liệu sơ cấp, thứ cấp và bản vẽ được xữ lý, trình bày bằng các phần mềm như word, excel, autocad, 3D max,…để hoàn thành bài báo cáo
Trang 2Sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tại xí nghiệp tôi đã tìm hiểu được cơ cấu tổ chức của công ty, quy trình sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh Nhờ việc học hỏi được rất nhiều kiến thức về thiết kế và thực tế sản xuất, tôi đã thiết kế được sản phẩm của mình từ việc tham khảo các sản phẩm của xí nghiệp cũng như qua sự chỉ bảo tận tình của các anh chị phòng kỷ thuật Từ đó, tôi đã thiết kế chi tiết của bộ bàn ghế, kết cấu cũng như phụ kiện cần thiết cho bộ sản phẩm của mình, dự toán được giá thành sản phẩm và chi phí phát sinh.
Sản phẩm bàn ghế xếp ngoài trời có kết cấu đơn giản, có khà năng thu xếp lại khi không sử dụng hoặc vận chuyển đến địa điểm khác Kết cấu bộ bàn ghế dạng thanh, có thể lắp ráp tại xí nghiệp sản xuất cũng như tại nơi sử dụng với những dụng cụ đơn giản, do đó có thể tiết kiệm được không gian vận chuyển Tôi đã tính toán khả năng chịu lực và các trạng thái chịu lực đặc biệt nên ghế đảm bảo yêu cầu cơ bản
Giá thành cho bộ sản phẩm là 1.543.284 VND trương đối phù hợp với mặt hàng xuất khẩu và sử dụng bình dân Giá thành này đã bao gồm thuế VAT
và lợi nhuận của xí nghiệp
Trong suốt quá trình thực tập tại xí nghiệp, tôi nhận thấy xí nghiệp còn tồn tại một số vấn đề về kiểm tra chất lượng sản phẩm như cần chú trọng công đoạn xẻ gỗ và sấy gỗ để tăng tỉ lệ lợi dụng gỗ Đồng thời, xí nghiệp cần quản lý chặt chẻ hơn khâu kiểm tra chất lượng nguyên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra, nhiều đơn hàng bị trả lại do chất lượng sản phẩm không đảm bảo Ngoài ra, nguồn lao động cũng là vấn đề mà xí nghiệp đang quan tâm Số lượng lao động thay đổi theo từng thời gian và không ổn định ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của xí nghiệp, nếu số lượng lao động không đảm bảo có thể làm trễ đơn hàng sản xuất
Trên đây là bản tóm tắt các nội dung chính của luận văn Kính mời thầy
cô và các bạn xem bản luận văn hoàn chỉnh
Trang 3PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ xa xưa con người đã biết sử dụng gỗ tự nhiên để làm nhà cửa, làm thuyền và các mục đích khác nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày, chính vì lẽ đó mà gỗ trở nên thân thiết với con người hơn Trải qua bao thăng trần của lịch sử, các sản phẩm đồ mộc vẫn luôn được con người yêu chuộng sử dụng và cải tiến về mọi mặt Đồ mộc dần trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống con người
Nước ta là một trong những nước có nhiều rừng tự nhiên và đất đai, khí hậu thích hợp cho trồng rừng nên nguồn tài nguyên gỗ vô cùng phong phú và đa dạng Sản phẩm đồ gỗ của việt Nam đã xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó các thị trường chủ lực là EU, Mỹ, Nhật Bản Trong những năm qua, ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ chế biến và nội thất đã đạt được nhiều kết quả, kim ngạch xuất khẩu luôn đạt mức tăng trưởng mạnh, trở thành một trong số 10 mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác
Kinh tế ngày càng phát triển làm cho nhu cầu của con người ngày một tăng lên Các cuộc cách mạng về vật liệu mới mở ra nhiều hướng phát triển đồng thời cùng mang tới không ít khó khăn cho ngành chế biến Tuy nhiên, những sản phẩm làm từ gỗ tự nhiên vẫn luôn được người dùng ưa chuộng vì tính an toàn, bảo vệ môi trường,… Các loại sản phẩm đồ mộc bây giờ không chỉ đáp ứng các nhu cầu đời sống sinh hoạt mà ngoài các công năng sẳn có, các sản phẩm này phải có hình dáng, mẫu mã đẹp, chất lượng đảm bảo và phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng Điều đó đồng nghĩa với việc người kĩ sư chế biến phải luôn tìm tòi, sáng tạo ra cái mới, cải thiện những cái củ để các sản phẩm đồ mộc ngày càng hoàn thiện về mọi mặt Phải làm sao có được sản phẩm với chất lượng tốt nhất cho khách hàng, vừa phải đảm bảo giá thành phù hợp
Một trong các sản phẩm đồ mộc mà các kĩ sư thiết kế hướng đến đó là các sản phẩm bàn ghế từ gỗ, ván hoặc kết hợp từ nhiều loại vật liệu với nhau Bàn ghế bao gồm bàn ghế trong nhà và bàn ghế ngoài trời, chúng được sử dụng tại các không gian khác nhau nên kết cấu cũng như vật liệu cũng khác nhau rõ rệt Các sản phẩm ngoại thất thì ngoài các yêu cầu về hình dáng kế cấu như các sản phẩm ngoại thất thì còn phải chú ý đến yếu tố khả năng chống chịu với môi trường, có thể sử dụng hóa chất hoặc các loại sơn phủ để hổ trợ thêm Bàn ghế
Trang 4hài hóa và mang tính thiên nhiên, hơn nữa đồ mộc có rất nhiều ưu điểm nổi bật so với các loại vật liệu khác Một số loại gỗ có khả năng chóng nóng, tính hàn, giúp cho cơ thể con người mát mẻ hơn, khi sử dụng có cảm giác thoải mái; một số loại
gỗ còn được ví như các loại thuốc trị các bệnh về xương, khớp Ngoài ra sử dụng
đồ mộc còn phù hợp với phong thủy của gia đình Với những công dụng đó, đồ mộc cho đến bây giờ vẫn luôn được con người ưa chuộng sử dụng
Được sự đồng ý của nhà trường, Khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm Huế và ban lãnh đạo Xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng Tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Thiết kế bộ Bàn Ghế xếp bằng gỗ dùng ngoài trời tại
Xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng”.
Trang 5PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử phát triển nghề mộc ở nước ta
Nghề mộc ở Việt Nam đã ra đời từ xa xưa Nhiều dân tộc ở vùng núi phía Tây Bắc - Việt Bắc nước ta từ lâu đã ở trong những căn nhà sàn nhỏ bằng gỗ và tre nứa đan ghép Các dân tộc Tây Nguyên cũng sống trên các loại nhà rông bằng những cây gỗ to nguyên khối và cao lớn Dân tộc Kinh ở miền trung, miền bắc có kiểu nhà gỗ ba gian với nhiều đồ dùng hàng ngày bằng gỗ như phản gỗ
để nằm nghỉ, khung cửi, chày cối, đũa, bát gỗ,…
Nghề mộc nước ta bắt đầu tựu hình vào thế kỷ thứ X, bắt đầu từ thời Nhà Đinh, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân lập nên Nước Đại Cồ Việt
Theo sử sách còn ghi lại, ông tổ của Nghề Mộc là Ninh Hữu Hưng Ninh Hữu Hưng (936 - 1020), quê ở thôn Chi Phong, xã Trường Yên, Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Khi Vua Đinh Tiên Hoàng tuyển thợ giỏi về giúp triều đình, ông được Vua giao cho việc xây dựng cung điện trong kinh thành và được phong cho chức Công tượng lục phủ Giám sát tướng quân
Đến Nhà Tiền Lê, Ninh Hữu Hưng càng được trọng dụng Một lần nhà vua Lê Đại Hành đi qua vùng Cái Nành (Nam Định ngày nay), Vua đã cho ông
ở lại đất này Từ đó, Ninh Hữu Hưng đem con cháu tới đây an cư lạc nghiệp Ngày nay, vùng đất này là thôn La Xuyên, của xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, Nam Định Ninh Hữu Hưng còn là ông tổ của Nghề chạm khắc gỗ, khảm xà cừ, khảm trai lên đồ gỗ
Qua nhiều giai đoạn lịch sử, nghề Mộc dần lan tỏa ra nhiều vùng miền trong
cả nước Sau này, có rất nhiều làng nghề Mộc được hình thành tại từng địa phương
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hàng mộc trên thế giới
Trong những năm gần đây, tình trạng suy thoái kinh tế kéo dài làm cho mức tiêu thụ hàng hóa của các nước giảm sút đáng kể Các thị trường xuất khẩu chủ lực là EU, Mỹ, Nhật Bản cũng giảm dần các đơn đặt hàng.Từ tháng 3/2013,
EU áp dụng “quy định về trách nhiệm giải trình” đối với đồ gỗ nhập khẩu vào thị trường này.Theo đó, các doanh nghiệp phải chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của gỗ và sản phẩm gỗ
Nhiều nhà máy chế biến gỗ tại Ý, Đức, Mỹ đã đóng cửa hoặc thu hẹp sản
Trang 6chống bán phá giá cao nhất, làm mất lợi thế cạnh tranh Trong bối cảnh đó, ngành gỗ Việt Nam càng có nhiều cơ hội để mở rộng thị trường trị giá 300 tỷ USD mỗi năm.
Ngành chế biến gỗ trên thế giới cũng đang dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sản xuất đồ gỗ gắn liền với máy móc hiện đại cho sản lượng và chất lượng cao hơn nhiều so với sản xuất đồ mộc truyền thống bằng thủ công, sản phẩm có tính chính xác cao và giá thành giảm nhiều do tiết kiệm được thời gian sản xuất và chi phí thuê nhân công
2.3 Tình hình sản xuất, kinh doanh sản phẩm đồ mộc của Việt Nam
Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam
Nước ta là một thị trường lớn, nhiều tiềm năng với dân số gần 100 triệu người Hiện đang là thị trường của làng nghề và của các doanh nghiệp chế biến gỗ vừa và nhỏ Đồ gỗ nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ và gỗ phục vụ xây dựng là những nhóm sản phẩm được tiêu thụ mạnh
Ngành chế biến gỗ của Việt Nam không ngừng phát triển với khoảng 3.900 doanh nghiệp chế biến lâm sản khác nhau Trong đó khoảng 95% số doanh nghiệp
là sở hữu tư nhân, 5% số doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ chiếm 10% về số lượng nhưng lai chiếm chiếm 35% về khả năng xuất khẩu hàng hóa đồ mộc do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đều có công nghệ sản xuất hiện đại, chất lượng sản phẩm cao và ổn định Có 26 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào chế biến gỗ ở Việt Nam như Đài Loan, Hàn Quốc, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc,…
Các doanh nghiệp chế biến lâm sản phân bố không đồng đều, 70% doanh nghiệp tập trung ở Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ, Tp HCM, Đồng Nai, Bình Dương và Quảng Nam – Đà Nẵng, Bình Định, Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, Quảng Ninh và Đồng Bằng Sồng Hồng chiếm 30% Trong đó trên 90% tổng
số doanh nghiệp ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ Chi có Khoảng 5,5% số doanh nghiệp ở quy mô vừa và khoảng 4,2% số doanh nghiệp có quy mô lớn Một số khu vực đã hình thành một số tập đoàn, khu, cụm công nghiệp chế biến gỗ lớn
Hiện đồ gỗ đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực đứng thứ 5 của Việt Nam sau dầu thô, dệt may, giày dép và thủy sản Sự phát triển này đã đưa Việt Nam vượt Indonesia và Thái Lan trở thành một trong hai nước xuất khẩu đồ gỗ đứng đầu Đông Nam Á Chất lượng sản phẩm đồ gỗ Việt Nam luôn được nâng cao, có khả năng cạnh tranh được với các nước trong khu vực
Trang 7Hầu hết các sản phẩm đồ gỗ của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp của Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, các nước Đông Âu và Mỹ La Tinh Chỉ tính riêng Trung Quốc đã có trên 50,000 cơ sở sản xuất với hơn 50 triệu nhân công và sản xuất với doanh số gần 20 tỷ USD.
Thị trường xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển mạnh
mẽ, sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam có mặt ở 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với các chủng loại sản phẩm đa dạng, từ hàng trang trí nội thất trong nhà, hàng ngoài trời, đến các mặt hàng dăm gỗ… Kim ngạch xuất khẩu gỗ liên tục tăng nhanh và phát triển không ngừng
Tình hình xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ở nước ta 9 tháng đầu năm 2014
Khả năng xuất khẩu đồ mộc của nước ta luôn đạt mức tăng trưởng cao Năm 2012 đạt 4,57 tỷ USD, tăng gần 200% so với năm 2007 Năm 2013 dự kiến đạt 5,3 tỷ tăng 12 % so với năm 2012
Theo thống kê từ Tổng cục Hải quan, 9 tháng năm 2014, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đã đạt 4,45 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2013 Tại hầu hết các thị trường, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đều có sự tăng trưởng, trong đó Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường dẫn đầu về kim ngạch với 1,6 tỷ USD, chiếm 36,1% tổng kim ngạch
Nhật Bản là thị trường xuất khẩulớn thứ 2, đạt 0,7 tỷ USD, tăng 22,0% so với cùng kỳ, chiếm 15,9% tổng kim ngạch Thị trường Trung Quốc dù có sự sụt giảm 10,2% so với cùng kỳ 2013 nhưng lại là thị trường lớn thứ 3 với tổng trị giá xuất khẩu trong 9 tháng năm 2014 đạt 0,6 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của gỗ
Gỗ và các sản phẩm từ gỗ hiện xếp thứ 7 trong 10 mặt hàng XK lớn nhất hiện nay của Việt Nam Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES), với tốc độ phát triển bình quân 2 chữ số liên tục nhiều năm, ngành chế biến xuất khẩugỗ Việt Nam đang chạm đích mục tiêu 6,5 tỷ USD cho năm 2014
Thực tế, từ nhiều năm qua, ngành chế biến và xuất khẩu sản phẩm gỗ đã
có những bước phát triển vượt bậc Nếu như năm 2000, giá trị xuất khẩucác sản phẩm gỗ của Việt Nam mới ở mức khiêm tốn là 214 triệu USD thì đến năm
2004, kim ngạch đã lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD (1,154 tỷ USD)
Suốt giai đoạn 2001-2012, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm gỗ của Việt
Trang 8Năm 2013, kim ngạch xuất khẩugỗ tiếp tục tăng 19,2%, đạt 5,7 tỷ USD, chiếm khoảng 1,5% thị phần toàn cầu Với thị phần này, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 6 thế giới, đứng thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩugỗ và các sản phẩm từ gỗ.
Cùng với sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu, thị trường xuất khẩucác sản phẩm gỗ cũng không ngừng được mở rộng Nếu năm 2003, sản phẩm gỗ Việt Nam chỉ xuất khẩuvào hơn 6 quốc gia và vùng lãnh thổ thì đến nay đã có mặt tại trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ
Ngoài Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc là 3 thị trường chính đang chiếm khoảng 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, đồ gỗ Việt Nam còn được xuất khẩu mạnh sang các nước Hàn Quốc, Úc và Canada,…
Sở dĩ đồ gỗ Việt Nam có thể đạt tăng trưởng nhanh và xâm nhập được vào các thị trường lớn là do có chất lượng tốt, mẫu mã cải tiến, giá cả hấp dẫn Ngoài ra, nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ thế giới luôn cao.Hiện tại, quy mô thị trường đồ
gỗ thế giới đang ở mức 300 tỷ USD/năm Trong khi đó, kim ngạch XK đồ gỗ và
gỗ của Việt Nam vẫn ở mức thị phần khiêm tốn 1 - 1,5%
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu tại 10 nước 9 tháng đầu năm 2014
Thị trường xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2014
Trang 9Thời cơ vàng cho xuất khẩu đồ gỗ cũng đến khi Việt Nam chuẩn bị ký kết hàng loạt những hiệp định quan trọng như Hiệp định Đối tác tự nguyện Việt Nam - EU (VPA/FLEGT), Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), FTA Việt Nam – EU,… Dự kiến, việc ký kết VPA/FLEGT
sẽ diễn ra vào nửa đầu năm 2015
2.4 Cơ sở lý thuyết
2.4.1 Khái niệm về thiết kế sản phẩm mộc
Sản phẩm mộc là các loại đồ vật làm từ gỗ được chế tạo để phục vụ đời sống của con người
Thiết kế được hiểu là ý đồ và kế hoạch, tiếng Anh là “design” Thiết kế sản phẩm mộc là sự thể hiện toàn bộ quá trình của tư tưởng và kế hoạch mang tính sáng tạo thông qua bản vẽ trước khi sản xuất ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng, tâm lý và thị giác của con người Từ các bản thiết kế đó, người thợ thi công được sản phẩm giống như thiết kế
2.4.2 Nhiệm vụ của thiết kế sản phẩm mộc
Thiết kế bao gồm ý tưởng và kế hoạch thực hiện ý tưởng đó bằng bản vẽ Nhiệm vụ của việc thiết kế sản phẩm mộc là phải tạo được cấu trúc hình dáng của sản phẩm, thể hiện được kích thước, các mối liên kết giữa các chi tiết, các ý tưởng được cụ thể hóa trên bản vẽ bằng ngôn ngữ mà người thi công có thể hiểu được, gia công được các chi tiết liên quan và thuận lợi trong việc lắp ráp các chi tiết với nhau
Nhiệm vụ của thiết kế đồ mộc:
Thiết lập được bản vẽ thiết kế hoàn chỉnh phục vụ cho công đoạn thi công sản phẩm đó Yêu cầu đối với bản vẽ là phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí đặt ra
Yêu cầu đối với người thiết kế:
Nắm vững lý luận thiết kế, phương pháp, phương tiện cơ bản và tri thức liên quan đến thiết kế
Hiểu biết nguyên tắc và các quy định trong linh vực thiết kế
Có hiểu biết chuyên môn về lĩnh vực thiết kế
Có khả năng phân tích kết cấu, bản vẽ và các đặc tính của sản phẩm thiết kế.Phải có kỹ năng vẽ kỹ thuật để thực hiện các bản vẽ thiết kế
Trang 102.4.3 Đặc điểm của thiết kế sản phẩm mộc
Đồ mộc là một loại hàng hóa nên phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thị trường Vì vậy, khi thiết kế đồ mộc cần thiết kế đến nhiều lĩnh vực như thị trường, tâm lý, Ergonomics, vật liệu, kết cấu, công nghệ, thẩm mỹ, tập quán, văn hoá,… Người thiết kế cần hiểu biết rộng, có kiến thức chuyên sâu và năng lực vận dụng tổng hợp những tri thức này, đồng thời phải có khả năng truyền đạt những ý tưởng và kỹ năng đọc bản vẽ, kỹ năng vẽ
2.4.4 Nguyên tắc thiết kế sản phẩm mộc
Để có được một sản phẩm mộc tốt, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về công năng, thẩm mỹ cũng như yêu cầu về kinh tế thì nhất thiết phải tuân thủ theo các nguyên tắc trong thiết kế sản phẩm mộc
Tính thực dụng
Tính thực dụng của đồ gia dụng thể hiện trên giá trị sử dụng của nó Yêu cầu đầu tiên của thiết kế sản phẩm là phải phù hợp với công dụng trực tiếp của
nó, có thể thỏa mãn được một số yêu cầu nhất định nào đó của người sử dụng,
mà nó cũng phải có được tính chắc chắn, tuổi thọ cao; đồng thời hình dáng kích thước của đồ gia dụng cũng cần phải phù hợp với đặc trưng hình dạng của con người, thích hợp với những điều kiện về sinh lý của con người, thoả mãn được những nhu cầu sử dụng khác nhau và đem những tính năng của nó để hạn chế được đến mức tối đa sự mệt mỏi của con người, tạo ra những điều kiện thuận lợi, thoải mái cho con người trong sinh hoạt cũng như trong công việc
Nguyên tắc đảm bảo công năng được chú ý nhiều nhất trong quá trình tính toán nguyên vật liệu và các giải pháp liên kết, kết cấu sản phẩm
Tính nghệ thuật
Tính nghệ thuật của đồ gia dụng thể hiện ở giá trị thưởng thức đối với nó Yêu cầu đối với thiết kế sản phẩm ngoài nhằm thoả mãn những tính năng về sử dụng ra, nó cũng cần phải tạo ra được cái đẹp cho con người thưởng thức khi sử dụng hoặc chiêm ngưỡng nó Tính nghệ thuật của đồ gia dụng được biểu hiện chủ yếu ở các mặt như tạo hình, trang sức, màu sắc,… Do vậy, thiết kế đồ gia dụng yêu cầu phải phù hợp với tính lưu hành của thời đại, thể hiện được đặc trưng thịnh hành của xã hội, để thường xuyên và kịp thời thúc đẩy sự tiêu dùng sản phẩm, cũng như làm thoả mãn được những yêu cầu của thị trường
Trang 11Tính kinh tế
Đồ mộc là một trong những mặt hàng giao dịch lớn trên thị trường trong
và ngoài nước, do đó khi thiết kế cần nhấn mạnh được tính thương phẩm và tính kinh tế đối với đồ gia dụng, cần phải xem xét đến các mặt như: nguyên vật liệu, kết cấu, gia công,… Để thiết kế ra được những sản phẩm có giá thành thấp, thiết
kế ra được những sản phẩm đồ gia dụng thích hợp cho việc bán hàng, đạt được yêu cầu về chất lượng tốt, ngoại hình đẹp, tiêu hao nguyên liệu ít, cũng như những yêu cầu về môi trường
Tính công nghệ
Tính công nghệ của sản phẩm mộc thể hiện ở chỗ thiết kế phải có đường nét mộc mạc, kết cấu đơn giản, gia công thuận tiện, vật liệu sử dụng và công nghệ gia công phải thỏa mãn các yêu cầu sau: đa dạng hóa vật liệu (gồm nguyên vật liệu và vật liệu trang trí); linh kiện lắp ráp hóa (có thể tháo lắp hoặc gấp xếp); tiêu chuẩn hóa sản phẩm (quy cách hóa, hệ thống hóa và thông dụng hóa linh kiện); liên tiếp hóa gia công (thực hiện cơ giới hóa và tự động hóa, giảm bớt tiêu hao sức lao động, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu suất lao động sản xuất)
Tính an toàn
Tức là vừa yêu cầu các sản phẩm có đủ cường độ lực học và tính ổn định, vừa yêu cầu sản phẩm có tính môi trường Nghĩa là vừa thỏa mãn các yêu cầu của người sử dụng, vừa có lợi cho sự an toàn và sức khỏe của người sử dụng, không làm tổn thương và độc hại đối với con người Hay nói cách khác là dựa vào yêu cầu của “sản phẩm xanh” để thiết kế và chế tạo thành “đồ mộc xanh” Trừ chỉ tiêu tính năng lực học trong bản thân sản phẩm có thể phù hợp với tiêu chuẩn quy định, thỏa mãn công năng sử dụng và công năng tinh thần thì thiết kế sản phẩm mộc phải có khả năng lợi dụng nguyên liệu tốt nhất, giảm ô nhiễm môi trường và thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng Đồng thời trong quá trình sản xuất, sử dụng, xử lý thu hồi, không ô nhiễm môi trường và không có hại cho sức khỏe của con người
Tính khoa học
Sản phẩm mộc ngày nay không chỉ là sản phẩm sinh hoạt đơn giản nữa,
nó ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt nhằm nâng cao hiệu quả công việc và nghỉ ngơi; nó còn sử dụng vô cùng tiện lợi và thoải mái
Vì thế, thiết kế sản phẩm mộc phải xoay quanh các mục tiêu trên, đi sâu vào nghiên cứu và ứng dụng các nguyên lý cơ bản tương quan với tâm sinh lý môi
Trang 12quy luật phát triển khoa học kỹ thuật và ứng dụng vật liệu, thiết bị, công nghệ, phương pháp gia công tiên tiến hiện đại, tính đến nguyên tắc lợi dụng kế thừa vật liệu, làm cho sản phẩm mộc từ sản phẩm thủ công nghiệp trở thành sản phẩm có tính khoa học cao và hiệu quả trong sử dụng công việc hàng ngày.
Tính hệ thống
Thể hiện ở 3 phương diện: tính đồng bộ, là chỉ sản phẩm và môi trường nội thất cùng với các đồ gia dụng hay đồ trưng bày khác có tính bổ sung và hài hòa khi sử dụng động bộ, kết hợp mật thiết công năng sử dụng và hiệu quả tổng thể của môi trường nội thất và sản phẩm mộc Tính tổng hợp, là thiết kế sản phẩm mộc phải thuộc về thiết kế công nghiệp, công việc thiết kế không chỉ là vẽ bản vẽ kết cấu sản phẩm và bản vẽ phối cảnh, mà tiến hành thiết kế toàn hệ thống từ công năng sản phẩm, tạo hình, kết cấu, vật liệu, công nghệ, lắp ráp đóng gói, tiêu chuẩn hóa
Tính sáng tạo
Tính sáng tạo chính là điểm nhấn trong thiết kế sản phẩm mộc, tạo nên sự mới mẻ cho sản phẩm mộc Tính sáng tạo thể hiện được phong cách, cái tôi của người thiết kế Việc phát triển thêm những tính năng mới, những hình thức mới, vật liệu mới, kết cấu mới, kỹ thuật mới của đồ gia dụng đều là quá trình mà người thiết kế thông qua tư duy sáng tạo và việc ứng dụng những biện pháp kỹ thuật mới tạo ra
Như vật tính sáng tạo của sản phẩm mộc thể hiện ở chỗ thường xuyên đổi mới hình thức, vật liệu, kết cấu và kỹ thuật năng mở rộng công năng của sản phẩm
Tính lâu dài
Khi thiết kế đồ gia dụng bắt buộc phải xem xét đến nguyên tắc lợi dụng liên tục đối với nguồn tài nguyên gỗ Cụ thể mà nói thì nó chính là việc lợi dụng tốt nhất đối với những loại gỗ mọc nhanh, gỗ có đường kính nhỏ, giảm thấp lượng tiêu hao của gỗ có đường kính lớn Đối với những loại gỗ quý hiếm thì cần lợi dụng khả năng tạo ván mỏng để dán mặt đối với ván nhân tạo, nâng cao
tỷ lệ lợi dụng đối với những loại gỗ quý, cần phải có kế hoạch khai thác và điều tiết hợp lý đối với những loại gỗ quý này, để đảm bảo được môi trường sinh tồn cho con người cũng như khả năng lợi dụng được tốt nhất nguồn tài nguyên gỗ
2.4.5 Các nguyên lý tạo dáng sản phẩm mộc
Tạo dáng sản phẩm mộc là một trong những công đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình thiết kế sản phẩm Giá trị của mỗi sản phẩm không chỉ
Trang 13được đánh giá qua độ bền, chức năng mà còn phải có chất lượng thẩm mỹ Mỗi sản phẩm đều được tạo nên từ một hình dáng, kết cấu và kích thước nhất định Với mỗi hình dáng đó tập hợp các đường nét, cấu tạo được tổ hợp, sản phẩm được thể hiện theo hình dáng riêng và được con người cảm nhận trên điều kiện không gian nhất định.
Để đạt được yêu cầu đó, khi thiết kế tạo dáng sản phẩm mộc cần chú ý đến việc vận dụng các nguyên lý cơ bản sau:
+ Các kích thước cần thiết cho nhu cầu sử dụng , trong đó các kích thước của người đã được tiêu chuẩn hóa là cơ sở chính cho việc xác định kích thước sản phẩm
+ Sử dụng nguyên vật liệu hợp lý sẽ làm tăng giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh tế của sản phẩm
+ Sự phân chia các phần trên bề mặt gây được cảm giác về sự cân bằng.+ Sự hài hòa màu sắc hay tương phản hợp lý sẽ làm tăng vẽ thẩm mỹ của sản phẩm
+ Chú ý đến tỷ lệ các sản phẩm và mối tương quan đồng bộ (như giữa ghế và bàn).+ Các yếu tố xung quanh môi trường sử dụng ảnh hưởng đến cảm giác của con người
Trang 14PHẦN 3:
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
− Thiết kế được sản phẩm bàn ghế gỗ sử dụng ngoài trời, phù hợp với các gia đình bình dân với mẫu mã đẹp, đảm bảo độ bền và an toàn khi sử dụng
− Thiết kế được sản phẩm đồ mộc có tính thực tế và có thể đưa vào sản xuất, sử dụng
− Tính toán được các yếu tố cần thiết như tỉ lệ lợi dụng gỗ, tỉ lệ phế phẩm
và các dạng khuyết tật xảy ra trong quá trình sản xuất Đảm bảo được các kết cấu chịu lực của sản phẩm, đảm bảo tính thẩm mỹ và phù hợp với xu thế của thời đại
− Xác định được các ưu điểm của sản phẩm, cải thiện được các nhược điểm và thiết kế kích thước và kết cấu phù hợp với yêu cầu của khách hàng
− Tính toán được lượng nguyên liệu cần thiết, giá thành của nguyên luyện, phụ kiện để xác định giá thành của sản phẩm, vừa đem lại lợi nhuận vừa đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường
3.2 Nội dung nghiên cứu
− Tìm hiểu khái quát tình hình sản xuất của xí nghiệp chế biến gỗ đang thực tập, nhìn nhận các điểm mạnh yếu để lựa chọn hướng đi phù hợp
− Tìm hiểu quy trình sản xuất sản phẩm mộc của công ty
− Tìm hiểu về nguyên liệu làm sản phẩm, máy móc hiện có, các phương pháp gia công
− Đề xuất các phương án, hướng thiết kế dựa trên việc tìm hiểu cơ bản tại xí nghiệp kết hợp với các nguồn khác như mạng internet hoặc các anh chị khóa trên
− Đánh giá các phương án thiết kế và lựa chọn phươn án thiết kế hiệu quả
và phù hợp với bản thân
− Tiến hành thiết kế ý tưởng trên bản vẽ, tính toàn và sản xuất thử nghiệm
− Thiết kế kỹ thuật bộ bàn ghế xếp bằng gỗ
− Tính toán khả năng chịu lực và các yếu tố vật liệu phụ trợ, các mối nối, liên kết, kết cấu bên trong
Trang 15− Sau đó phải tính toán giá thành hợp lý và bố trí máy móc nhân lực sản xuất thường xuyên.
− Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất tại xí nghiệp
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu.
− Điều tra, thu thập các số liệu cần thiết về nguyên liệu, máy móc và các phụ kiện cần thiết cho quá trình sản xuất
− Tìm hiểu và thu thập số liệu liên quan qua mạng internet và báo chí
− Tìm hiểu thêm từ các văn bản, báo cáo kinh doanh cua công ty, phỏng vấn nhân viên của xí nghiệp để vừa nắm bắt được tình hình tại các phòng ban và xưởng sản xuất
− Tiến hành khảo sát các sản phẩm cùng loại về công năng, kiểu dáng, các mối liên kết, kết câu sản phẩm,… trong công tri cũng như trên thị trường để đánh giá những điểm mạnh, yếu Từ đó có đúc kết được một số kinh nghiệp, đề xuất, giải pháp thiết kế cho sản phẩm của bản thân
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
− Xử lý các số liệu thu thập được, căn cứ vào các sản phẩm có tương đồng
về kích thước, các mối liên kết, nguyên liệu,… để lựa chọn các yếu tố cần thiết cho sản phẩm của bản thân
− Từ các số liệu trên, tiến hành chắt lọc, lựa chọn loại nguyên liệu, máy móc, các mối liên kết (mộng, keo, đinh vít), các nguyên phụ liệu cho sản phẩm
− Hình thành ý tưởng và tiến hành thiết kế trên bản vẽ Sử dụng một số phần mềm như word, excel, autocal, 3D max,…để hoàn thành bài báo cáo
Trang 16PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Khái quát về Công ty cổ phần Vinafor Đà Nẵng
Công ty cổ phẩn Vinafor Đà Nẵng có trụ sở tại số 42 – đường Lạc Long Quân - khu Công nghiệp Hoà Khánh – Thành phố Đà Nẵng Là vùng trọng điểm của khu vực miền Trung, nơi thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư và cũng là nơi thu hút khá nhiều nguồn lao động từ các tỉnh lân cận Khu vực này có nguồn tài nguyên Lâm Nông sản, đặc sản rừng phong phú, nơi tập trung ba cảng biển lớn và các sân bay quốc tế tại Đà Nẵng, Huế, Quy Nhơn, Vinh Đó là những điều kiện rất thuận lợi cho việc vận chuyển và đi lại
Công ty cổ phần Vinafor Đà Nẵng là thành viên của công ty lâm nghiệp Việt Nam (thuộc NN & PTNT) chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực trồng rừng, bảo vệ rừng và chế biến lâm sản Công ty cổ phần Vinafor Đà Nẵng được thành lập trên cơ sở cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là công ty sản xuất và xuất nhập khẩu Lâm sản Đà Nẵng theo quyết định số 7013/QĐ/BNN-TCCB ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Công ty là đơn vị hạch toán độc lập, hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
số 3203000045 ngày 10 tháng 6 năm 2002 do sở kế hoach và đầu tư thành phố
Đà Nẵng cấp, luật doanh nghiệp , điều lệ công ty và các quy định pháp lý hiện hành có liên quan với vốn điều lệ 20.182.500.000 VND trong đó Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam chiếm 51% vốn điều lệ Công ty có 6 đơn vị trực thuộc gồm: khách sạn Sơn Trà 1, khách sạn Sơn Trà 2, Xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor
Đà Nẵng, Chi nhánh công ty cổ phần Vinafor Đà Nẵng tại thành phố Hồ Chí Minh, Xí nghiệp bảo quản lâm sản, Xí nghiệp lâm nghiệp
Xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng là một trong những nhà sản xuất
và xuất khẩu gỗ hàng đầu tại Miền Trung Việt Nam Công ty đã áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001-2000 và hệ thống CoC để đảm bảo rằng các sản phẩm của công ty đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về cả chất lượng và vấn đề bảo vệ môi trường.Với sự phát triển của công ty và nhu cầu về hàng hoá của khách hàng ngày càng tăng Để đáp ứng được nhu cầu đó, xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng đã có hai nhà máy chế biến với diện tích 60.000 m2, hàng trăm công nhân có tay nghề, quy trình xử lý gỗ đạt tiêu chuẩn cao, trang thiết bị máy móc công nghệ tiên tiến, với nguồn nguyên liệu và phụ kiện kim khí nhập khẩu theo tiêu chuẩn Châu Âu Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là: tư vấn thiết kế, sản xuất lắp đặt và thi công sản phẩm
Trang 17đồ gỗ nội thất, ngoại thất xuất khẩu, tiêu dùng trong nước Cung cấp các sản phẩm nội thất nhà bếp, phòng khách, phòng ngủ, chung cư cao cấp, nội thất hàng rời theo thiết kế cho các khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, resort, cà phê, biệt thự, nhà ở tư nhân, văn phòng, showroom,…
Xí nghiệp đã thiết lập được mối quan hệ hợp tác kinh tế bền vững với các khách hàng tại Châu Á và Châu Âu cụ thể như: Đức, Đan Mạch, Hà Lan, Ý, Pháp, Hy Lạp, Thái Lan, Malaysia, Hồng Kông,…
4.2 Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp
Nhận xét: Quan sát sơ đồ cơ cấu tổ chức của xí nghiệp, ta thấy rằng xí
nghiệp được tổ chức khá chặt chẽ, bộ máy quản lý được phân thành các phòng ban theo chuyên quyền hạn chức năng, thể hiện trách nhiệm phạm vi rõ ràng của từng thành viên Cấp dưới chịu sự chỉ đạo, báo cáo trực tiếp lên cấp trên và chịu
sự quản lý của các bộ phận chức năng Ta còn thấy các bộ phận từ cấp trên đến cấp dưới điều tham gia vào hoạt động kinh doanh, các phòng có mối quan hệ chức năng với nhau, hỗ trợ, bổ sung, tham mưu cho nhau và điều chịu sự quản
lý của các cấp quản trị cao hơn lãnh đạo, giám sát Mọi thông tin từ trên đưa xuống cũng như từ dưới đưa lên điều nhằm phản ánh chính xác tình hình trong
xí nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi, dể dàng cho việc ra quyết định Mọi khiếu nại
từ bên trong và bên ngoài điều được giải quyết nhanh gọn, phát huy kịp thời tính năng động của cơ sở và sự hiểu biết về cơ sở của cấp lãnh đạo xí nghiệp
Trang 18P Kinh Doanh
Tổ phun màu
Tổ lắp ráp
Tổ xông khói
Tổ hoàn thiện
Tổ tinh chế
Tổ
cơ điện
Tổ Bốc xếp
Tổ sấy
Trang 194.3 Đặc điểm môi trường kinh doanh của xí nghiệp
Lĩnh vực kinh doanh
Công ty Vinafor Đà Nẵng chuyên kinh doanh các lĩnh vực sau:
− Trồng rừng nguyên liệu Công nghiệp và khai thác hàng Lâm Nông sản
− Sản xuất sản phẩm gỗ từ rừng trồng và rừng tự nhiên: Đồ mộc ngoài trời, trang trí nội thất (khả năng sản xuất hàng xuất khẩu là 15 container/tháng)
− Kinh doanh, nhập khẩu và xuất khẩu máy móc, thiết bị vật tư, hàng tiêu dùng,…
− Dịch vụ Khách sạn, du lịch và lữ hành trong và ngoài nước
− Xí nghiệp chế biến gỗ vinafor là một bộ phận của Công ty, xí nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm mộc nội – ngoại thất Nguyên liệu chủ yếu từ gỗ bạch đàn, gỗ keo, gỗ bạch dương, gỗ teak,…
Đặc điểm về khách hàng
Các mặt hàng của công ty chủ yếu xuất khẩu đi các nước trên thế giới, khách hàng nội đị chiểm tỷ trọng rất nhỏ nhưng đang ngày càng tăng thêm như: anh Sơn Tropicol, cửa hàng Trung Dũng,… và các khách hàng nhỏ lẻ như: hộ dân, hộ gia đình trên địa bàn thành phố
Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hà Lan, Đan Mạch, Pháp, Italy, Đức,…
Thị trường nhập khẩu chính: Malaysia, Indonesia, Đức, Nga, Lào, Philipin, Hàn Quốc, Braxin, Nam Phi, Papua New Guinea,…
Đặc điểm về thị trường tiêu thụ
Xí nghiếp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng đã xác định cho mình hai thị trường chính: thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu Trong đó thị trường xuất khẩu là thị trường chính của doanh nghiệp chiếm 90%, còn lại là thì trường nội địa chiếm 10%
Trang 204.4 Tình hình sản xuất kinh doanh tại xí nghiệp
4.4.1 Tình hình sử dụng lao động của xí nghiệp
Bảng 4.1: Tình hình nguồn lao động tại xí nghiệp
Phân theo giới tính
Tỉ lệ lao động nam – nữ có sự chênh lệch khá lớn do tính chất công việc và ngành nghề hoạt động kinh doanh Phần lớn lao động nữ chỉ làm công tác văn
Trang 21phòng, tạp vụ, vệ sinh hay lao động nhẹ trong các phân xưởng như đánh bóng gỗ, đóng thùng, gia công.
Độ tuổi của người lao động trong xí nghiệp không chênh lệnh lắm, lao động trẻ dưới 25 tuổi chủ yếu là lao động gián tiếp, công nhân tại các phân xưởng sản xuất, là lớp lao động được đào tạo cho thời gian tới do chưa có nhiều kinh nghiệm Lao động từ 25 đến 40 tuổi có số lượng lớn hơn 2 nhóm kia Người lao động ở độ tuổi này hầu hết là những người vừa có sức khỏe vừa có kinh nghiệm, phù hợp với tính chất tương đối nặng nhọc của công việc, xí nghiệp không cần tốn thời gian và chi phí đào tạo Người lao động có độ tuổi trên 40 là những người đã gắn bó thời gian dài với xí nghiệp, họ là những công nhân lành nghề, nhiều kinh nghiệm tại các phòng ban và xưởng sản xuất
4.4.2 Quá trình sản xuất kinh doanh
Nguyên liệu
Tất cả các nguyên liệu của công ty điều được thu mua theo kế hoạch sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, nguồn nguyên liệu luôn đảm bảo có chứng chỉ FCS hoặc chứng nhận rừng trồng hoặc chứng nhận khai thác hợp pháp Điều này giúp cho xí nghiệp có lợi thế trong việc xuất khẩu sang các thị trường như Hòa Kỳ (Áp dụng đạo luật Lacey) hay cộng đồng chung Châu Âu (Áp dụng hiệp định FLEGT) về nguồn gốc của gỗ nguyên liệu trong sản xuất hàng mộc
Đối với gỗ nguyên liệu: Tùy theo yêu cầu của sản phẩm mà nguyên liệu xí nghiệp nhập về bao gồm cả nguyên liệu từ rừng tự nhiên và từ rừng trồng Nguồn nguyên liệu chủ yếu của xí nghiệp chủ yếu được khai thác từ các lâm trường được phép khai thác trong khu vực và thu mua từ những kho rừng trồng của người dân khu vực Miền trung – Tây nguyên
Nguyên liệu chủ yếu được sử dụng trong chế biến tại xí nghiệp chủ yếu là gỗ keo, bạch đàn, chò, xoan đào, kiền kiền,…các loại ván nhân tạo và nguyên liệu nhập khẩu như: gỗ teak, bạch dương, tần bì,…
Hiện nay nguyên liệu chủ yếu được nhập về đưới dạng ván nguyên liệu thay cho việc nhập gỗ nguyên liệu như trước đây Gỗ nguyên liệu được nhập về chủ yếu
là các loại gỗ quý có giá trị cao như gỗ teak, chò, bạch dương, tần bì,…
Thiết bị máy móc và công tác tổ chức tại xưởng
Trang 22Bảng 4.2: Thiết bị máy móc xí nghiệp năm 2013
STT Tổ Tên máy, thiết bị sử dụng
1 Xẻ Cưa vòng nằm, cưa xăng, cơ cấu ròng rọc…
2 Sấy Lò sấy, hệ thống sấy, xe nâng…
3 Sơ chế Cưa vòng đứng, cưa đĩa, bào 2 mặt, bào 4 mặt, nhám thùng…
4 Kết cấu Cưa đĩa, oval âm, oval dương, khoan đứng, khoan nằm, khoan
dàn, toupie, router, chà nhám…
5 Cơ điện Hệ thống máy mài dao, máy khoan…
6 Hoàn thiện Máy nhám chuổi, nhám cạnh
7 Lắp ráp Súng bắn đinh, khoan tay, súng bắn vis…
8 Phun màu Súng phun sơn, súng bắn đinh…
Có thể nói với trang thiết bị máy móc khá đầy đủ và cách thức quản lý tổ chức sản xuất hợp lý là yếu tố góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo tiến độ giao hàng và tiết kiệm được chi phí sản xuất Số lượng máy móc của xí nghiệp tương đối đầy đủ, có thể đáp ứng được các đơn hàng của khách Tuy nhiên, một số loại máy móc đã sử dụng lâu nên độ chính xác cũng như khả năng hoạt động không ổn định, các máy này chỉ hoạt động cầm chừng trong thời gian chờ thay thế
Trong phân xưởng, quản đốc thông qua các tổ, mỗi tổ làm nhiệm vụ của một khâu công nghệ lớn và trong mỗi tổ là các khâu công nghệ chi tiết hơn Do trong quá trình sản xuất, số lượng công nhân có thể thay đổi do nhiều yếu tố, nên người công nhân trực tiếp sản xuất cũng được bố trí hợp lý sao cho phù hợp với chức năng của máy móc và có thể linh động khi kế hoạch sản xuất thay đổi
Trang 23Mặt bàng phân xưởng sản xuất
Mặt bằng được bố trí để thuận tiện cho quá trình sản xuất và diện tích mặt bằng hiện có của xí nghiệp Bải gỗ tròn được bố trí tại cửa phụ của xí nghiệp để thuận tiện cho quá trình nhập nguyên liệu, kế tiếp là phân xưởng xẻ để rút ngắn thời gian và công vận chuyển, sau khi xẻ thì gỗ nguyên liệu được đưa vào kho để chứa và mang đi sấy Có 2 phân xưởng sản xuất chính Phân xưởng 1 đảm nhận nhiệm vụ sơ chế, tạo phôi và gia công thô, phun sơn, ngâm tẩm, xử lý hóa chất; phân xưởng 2 đảm nhận công đoạn tinh chế lại và lắp ráp, sơn phủ đóng gói và hoàn thiện sản phẩm Khu văn phòng được bố trí gần cổng và đường lớn để thuận tiện cho đi lại và làm việc của nhân viên Khu vực vệ sinh được bố trí xem kẻ nhau, lòng ghép gần các khu vực sản xuất và khu văn phòng để thuận thiện cho người lao động Khu nhà ăn được bố trí tách biết với các xưởng sản phẩm để đảm bảo vệ sinh chung và đảm bảo chất lượng bửa ăn Nhà xe được bố trí gần cổng ra và để tiện cho
tổ bảo vệ quản lí và thuận tiện cho công nhân và người lao động đi lại
Phân xưởng sản xuất 2
Phân Xưởng sản xuất 1
KhoHóa chất
WC
Hút bụi
Nh
à xeXưởng xẻ
Kho gỗ
Trang 24Hình 4.3: Mặt bằng phân xưởng sản xuất
4.5 Quy trình sản xuất sản phẩm mộc của xí nghiệp
Thiết lập quy trình sản xuất là thiết kế các bước của công nghệ gia công của sản xuất sản phẩm Nếu thiết lập quy trình một cách hợp lý có tính logic cao thì sẽ tăng năng suất, chất lượng của sản phẩm trong quá trình lao động, không làm gián đoạn quá trình sản xuất Quy trình công nghệ bao gồm nhiều khâu và công đoạn, mỗi công đoạn đều được tính toán chi tiết, cụ thể các yếu tố để nhằm xác định các mục tiêu cần đạt được Các quy trình công nghệ được thiết lập sao cho đi vào từ khâu nguyên liệu và đầu cuối là sản phẩm hoàn chỉnh được đóng gói và nhập vào kho hay xuất đi Quy trình sản xuất phải tuân thủ theo nguyên tắc dòng nước chảy, nghĩa là các khâu không được chồng chéo lên nhau không gây gián đoạn cho nhau Phải biết xác định khâu nào nên thực hiện trước, khâu nào làm sau để đảm bảo tính logic Có như vậy quá trình sản xuất mới được xuyên xuốt, thống nhất và hệ thông hoạt động có tổ chức
Kiểm hàng
Kho hàng
Tổ nội thất
Khu vực sơn PU
Tổ sơ chế
Tổ kết cấu
Tổ lắp ráp
Tổ hoàn thiện
Tổ phun màu
Tổ cơ điện
Tổ xẻ
Tổ sấy
Kho hóa chất
Trang 25Quy trình sản xuất của một công ty hay xí nghiệp có ảnh hưởng tới năng xuất, chất lượng sản phẩm cũng như doanh thu của xí nghiệp vì vậy việc xác lập quy trình sản xuất hợp lý và hiệu quả là vô cùng quan trọng Quy trình sản xuất sản phẩm mộc của Xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng được áp dụng theo quy trình sau:
Quy trình sản xuất phân xưởng xẻ, sấy, sơ chế:
Kho sơ chế 1 Rong thẳng
Tu-bi hai mặt
Nhập kho sơ chế 2
Trang 26(Nguồn: Phòng Kỹ Thuật)
Hình 4.5: Sơ đồ quy trình sản xuất phân xưởng Tinh chế
Tổ tinh chế 1
Xử lý khuyết tậtMáy nhám trục
Hoàn thiệnLàm màu
Kho Lắp ráp tổng thểNhúng dầuKiểm hàngĐóng thùngKho xí nghiệpKho p/x xẻ phôi
Trang 274.6 Thiết kế, phân tích sản phẩm
4.6.1 Hình thành ý tưởng và phương án thiết kế
Ý tưởng thiết kế
Ngày nay, các sản phẩm đồ mộc vẫn luôn được người dùng ưa chuộng Xã hội ngày càng phát triển khiến nhu cầu của con người cũng ngày một tăng lên Sản phẩm đồ mộc hiện nay rất đa dạng về chủng loại và nhiều phong cách khác nhau Chúng không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của con người mà nó còn thể hiện được phong cách, địa vị của người sử dụng Do vậy, ngoài những công năng sản có, đồ mộc cần phải có các yêu cầu về thẩm mỹ tùy thuộc vào nhu cầu người sử dụng Để có một sản phẩm tốt, được nhiều người ưa chuộng thì sản phẩm đó phải hội tụ được nhiều yếu tốt cần thiết Chính vì vậy, người thiết luôn phải cải tiếp, sáng tạo, bắt kịp với nhu cầu của thời đại, thiết kế những sản phẩm có kết cấu mới lạ, vừa có tính thẩm mỹ vừa đảm bảo công năng sử dụng cũng như tính an toàn chịu lực, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng cũng như nâng cao giá trị cho sản phẩm
Đề xuất phương án thiết kế
Phương án 1: Tìm hiểu về một sản phẩm hiện đang sản xuất tại xí nghiệp
rồi thiết kế lại sản phẩm đó Trong quá trình đó có thể hiểu thêm về kết cấu, hình dáng sản phẩm và các chi tiết, học hỏi thêm kinh nghiệm của những người thiết kế chuyên nghiệp Đánh giá được chất lượng sản phẩm của xí nghiệp, từ đó rút ra cho bản phân những kinh nghiệm và các yêu cầu cần thiết trong quá trình tạo bản vẽ và nghiên cứu các mối liên kết và kết cấu của một sản phẩm
Phương án 2: tiến hành thiết kế sản phẩm hoàn toàn mới theo sự sáng tạo
của bản thân, căn cứ vào quá trình nghiên cứu các sản phẩm tại xí nghiệp về hình dáng, nguyên liệu, kết cấu bên trong,…Từ đó tăng cường khả năng sáng tạo và vận dụng linh hoạt kiến thức đã được học vào thực tiễn Tuy nhiên phương án này gắp nhiều khó khăn do tôi là sinh viên năm cuối, chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, kết cấu sản phẩm còn yếu nên lượng kiến thức thu thập được tại xí nghiệp phải đầy
đủ mới có thế thiết kế được sản phẩm hoàn chỉnh
Phương án 3: Thiết kế cải tiến một sản phẩm đã có của xí nghiệp hoặc theo
đơn đặt hàng của khách hàng, phía khách hàng yêu cầu chỉnh sửa lại sản phẩm đó,
Trang 28sản phẩm góc để tìm ra các điểm sáng trong thiết kế và khắc phục các thiết sót hoặc chỉnh sửa lại sản phẩm để phù hợp với yêu cầu của người sử dụng.
Phân tích lựa chọn ý tưởng thiết kế
Xí nghiệp chế biến gỗ VINAFOR Đà Nẵng đã sản xuất hàng ngàn sản phẩm đồ mộc trong các năm qua, chúng đa dạng về mẫu mã và chủng loại Trong đó, có rất nhiều sản phẩm được thiết kế, chỉnh sửa theo đơn đặt hàng của các đối tác nước ngoài; một số khác lại được người kỹ sư thiết kế sản và cung cấp mẫu mã đó cho khách hàng xem xét lựa chọn Do đó, điều mà tôi hướng đến là thiết kế ra một sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng – người sử dụng đặt ra Qua thực tế tại xí nghiệp và được sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Hồ Đăng Hải và chỉ đạo của cán bộ kỹ thuật xí nghiệp, tôi lựa chọn ý tưởng thiết kế cải tiến sản phẩm tại xí nghiệp theo yêu cầu của khách hàng, nhằm tạo ra sản phẩm có kết cấu hợp lý và phù hợp với sở thích của người sử dụng Phương án thiết kế này là sự kết hợp giữa hai phương án trước đó Nó vừa có căn cứ thiết kế là sản phẩm có sẳn, kết cấu đầy
đủ, vừa yêu cầu tôi phải tìm tòi, sáng tạo các kết cấu mới, kích thước mới để phù hợp với những yêu cầu của đơn đặt hàng Với phương pháp này, tôi không gặp nhiều khó khăn trong quá trình thiết kế do tôi có thể căn cứ vào thiết kế trước đó, giảm bớt áp lực thiết kế và tập trung vào các yêu cầu cần thiết mà khách hàng mong muốn, đồng thời tôi cũng học hỏi được các kết cấu cơ bản của sản phẩm đó Cho nên đây là phương án tối ưu mà tôi lựa chọn
4.6.2 Lựa chọn nguyên liệu thiết kế
Trong mọi công đoạn sản xuất, nguyên liệu luôn là yếu tố được quan tâm đầu tiên và được chú tâm rất nhiều Lựa chọn nguyên liệu phù hợp giúp cho quá trình tính toán thiết kế và sản xuất sản phẩm mộc diễn ra thuận lợi hơn Nó quyết định tới chất lượng, dây chuyền sản xuất và giá thành của sản phẩm Nguyên liệu sản xuất vừa phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng vừa phải phù hợp với nguồn nguyên liệu của xí nghiệp
Nguồn nguyên liệu của xí nghiệp khá phong phú các loại nguyên liệu từ gỗ quý như gỗ chò, gỗ teak, bạch dương, tần bì,… tới gỗ rừng trồng như keo, thông, cao su,… Ngoài ra, xí nghiệp còn sử dụng các loại ván nhân tạo, ván ghép thanh trong các sản phẩm của mình Trong đó, gỗ keo là loại gỗ được sử dụng nhiều nhất, đặc biệt đối với các đơn hàng sản xuất số lượng lớn và theo yêu cầu của khác hàng
Trang 29Keo là loại cây dễ trồng, thích nghi với các loại đất nghèo chất dinh dưỡng, ở những nơi thời tiết khắc nghiệt Keo từ lúc trồng đến lúc thu hoạch cũng chỉ độ mươi năm là đã có thể cho đường kính từ 17 đến 20 cm Gỗ Keo có khối lượng thể tích ở độ ẩm 12% là (524-597 kg/m3), Hệ số co rút thể tích trung bình (0.39-0.46), Giới hạn bền khi uốn tĩnh yếu (627-1013 kg/cm2), Sức chống tách trung bình (10.5-12.7 kg/cm), Gỗ keo có giới hạn bền khi nén dọc thớ trung bình (432-462 kg/cm2),
− Gỗ keo có giá thành rẻ hơn so với các loại gỗ có cùng chất lượng
− Vân thớ mịn, độ dẻo dai cao nên thuật tiện trong quá trình gia công lắp ráp
4.6.3 Xác định tiêu chí sản phẩm
1 Loại đồ mộc: Bộ bàn ghế xếp bằng gỗ dùng ngoài trời cho 4 người ( cả người lớn và trẻ em)
2 Cấp đồ mộc: Đồ mộc dân dụng bình thường
3 Đặc tính sử dụng: bán vĩnh cửu
4 Không gian sử dụng: ngoài trời (sân, vườn nhà), trong nhà (quán trà, cafe,…)
5 Không gian trưng bày: Khuôn viên hoặc phòng khoảng 3m2 khô ráo
6 Công dụng chính: dùng để ngồi, đặt các vật dụng nhỏ
7 Yêu cầu về hình dáng: kiểu dáng đơn giản, mặt bàn hình vuông hoặc chữ nhật, 4 chân Mặt ghế vuông, 2 chân sau cong, 2 chân trước thẳng
8 Yêu cầu về kích thước: vừa phải, có khả năng xếp gọn
9 Yêu cầu về kết cấu và độ bền: kết cấu đơn giản
10 Yêu cầu về mặt hình thức: sơn phủ nhẹ nếu mặt gỗ đẹp, it khuyết tật; sơn màu theo yêu cầu hoặc che các khuyết tật; phủ sơn bảo vệ nếu sử dụng ngoài trời
11 Yêu cầu về vật liệu: không
Trang 3012 Yêu cầu về chất lượng gỗ: gỗ keo ít khuyết tật cong vênh, nút nẻ, màu sắc hài hòa, độ ẩm sau khi sấy từ 8% – 12%.
13 Công nghệ sản xuất của cơ sở: máy móc thiết bị có độ chính xác càng cao càng tốt
14 Số lượng: thiết kế thí điểm 1 bộ gồm 1 bàn vuông và 4 ghế
15 Thị trường: không
16 Thời gian lưu kho sau sản xuất, cự ly vận chuyển: không
17 Yêu cầu về nguồi gốc xuất sứ: xí nghiệp chế biến gỗ Vinafor Đà Nẵng
18 Giá thành và giá cả: giá tầm trung phù hợp với sử dụng bình dân và hàng loạt
4.6.4 Phân tích công năng của bộ bàn ghế
Bộ bàn ghế này tôi thiết kế dựa trên yêu cầu chỉnh sửa của khách hàng ở châu Âu nên kích thước và kết cấu của ghế phải phù hợp với cơ thể của người sử dụng Người nước ngoài có chiều cao và cân nặng khác so với người Việt Nam nên các yêu cầu về chiều cao ghế, chiều cao lưng tựa cũng như độ sâu ngồi cũng khác biệt so với khách hàng trong nước
Ghế
− Ghế có tựa, độ nghiêng của ghế là 18o, phù
hợp với trạng thái ngồi của cả người lớn và trẻ em,
tránh trường hợp ngồi quá thẳng dẫn đến mỏi lưng
− Mê ngồi của ghế được ghép từ nhiều thanh
gỗ tăng khả năng chịu lực mà giảm được momen
uốn Các thanh ghép lại với nhau thành hình chữ
nhật (400x315), khoảng cách giữa các thanh là
3mm nên trẻ con không bị kẹt tay khi đưa vào Mê
ngồi gồm 5 thanh ghép lại rất gon nhẹ và dễ dàng
gia công
− Chiều cao mặt ghế là 441mm nên người
mọi người đều dễ dàng sử dụng
Trang 31− 2 chân sau công và bắt chéo với 2chân trước và được cố định bằng vít,
kiểu dáng gọn nhẹ nhưng vẫn phải đảm bảo tính
chịu lực và độ bền của ghế
− Ghế có thể xếp lại, giúp tiết kiệm không gian sử dụng cũng như lưu trữ khi
không dùng đến
Bàn
− Bàn vuông đi kèm với ghế tựa,
khoảng cách giữa mặt ghế và mặt bàn là
392 mm Đây là khoảng cách không cao
lắm, thích hợp cho cả trẻ em ngồi và
thuận tiện cho việc đặt ly, tách để uống
trà, cafe
− Mặt bàn vuông (600x600) được
ghép từ 10 thanh gỗ nhỏ, khoảng cách các
nan là 4mm nên trẻ em không thể cho tay
vào được cũng như đồ vật để trên mặt bàn
cũng được cân bằng, kích thước bàn ghế
nhỏ gọn có thể để sát tường sử dụng 2 ghế
hoặc 4 ghế về 4 phía của bàn, diện tích để
đặt 1 bàn và 4 ghế khoảng 2.5m2 đến 3m2
− Chân bàn xiên đan chéo và được liên kết bằng đinh vít.
− Bàn chỉ dùng để ngồi nói chuyện, uống trà nên không chịu lực lớn, các
thanh ghép không cần quá dày
4.6.5 Thiết kế tạo dáng
4.6.5.1 Khái niệm thiết kế tạo dáng
Tạo dáng là công đoạn đầu tiên trong quá trình thiết kế một sản phẩm đồ mộc Tạo dáng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành nên sản phẩm, vì hình dáng là thứ mà người sử dụng nhìn thấy trước tiên Nó còn là cơ sở để người thiết kế lựa chọn cách thức liên kết giữa các chi tiết, cụm chi tiết sao cho sản phẩm vừa đảm bảo về mặt kết cấu, chịu lực, vừa có hình dáng bên ngoài đẹp, ưa nhìn
Hình 4.6: Hình dáng ghế
Hình 4.7: Hình dáng bàn
Trang 32Ban đầu, người thiết kế đưa ra các phương án về hình dáng của sản phẩm thông qua các nguyên tác thiết kế, thị trường hoặc đơn đặt hàng của đối tác Sau đó, tùy thuộc vào từng yêu cầu khác nhau của sản phẩm và khách hàng mà người thiết kế lựa chọn hình dáng phù hợp cho sản phẩm và tiến hành tạo dáng sơ bộ cho sản phẩm.
Trên đây là bản vẽ phối cảnh của bộ bàn ghế Bộ bàn ghế gồm 4 ghế đơn và 1 bàn vuông Diện tích đặt bàn theo tiết diện hình vuông vào khoảng từ 2,5m2 – 3m2, đây được coi là kích thước phù hợp mà tôi đã tính toán cho bộ bàn ghế này Ghế được thiết kế với hình dáng cao, 2 chân sau cong để tạo độ mềm mại Mặt bàn có hình vuông, tiết diện rộng hơn độ mở của chân ghế không đáng kể, tạo ra sự cân đối cho bàn Chiều cao của bàn cũng phải phù hợp với tiết diện mặt bàn, vừa tạo sự cân đối, vừa đảm bảo cân bằng Chiều cao và chiều rộng của ghế và bàn tương thích với nhau, không có sự chênh lệnh, có thể dùng 4 ghế hoặc nếu không cần thiết thì có thể chỉ sử
Hình 4.8: Bản vẽ phối cảnh bàn
Trang 33dụng với 2 ghế Mặt bàn được thiết kế đủ rộng để đặt đồ đạc, ly nước hoặc các vật dụng đơn giản khác với kích thước không quá lớn.
4.6.5.2 Phân tích tham số kích thước ghế
Chiều sâu ngồi
Chiều sâu ngồi phải tỷ lệ nghịch với chiều cao ngồi, tức là chiều sâu ngồi càng lớn thì chiều cao ngồi càng nông và ngược lại Mục đích của việc thiết kế ghế thấp là dùng để nghỉ ngơi vì thế đều tăng chiều sâu ngồi của ghế Vì thân trên của người trong ghế dùng để nghỉ ngơi từ trạng thái thẳng đứng dần diễn biến thành trạng thái ngang, cho nên phần lưng phải có vật đỡ mới cảm thấy dễ chịu Tôi thiết kế ghế có chiều sau ngồi là 315mm, thích hợp cho việc uống trà và làm việc, phần lưng có hướng vươn thẳng lên trên, kích thước mặt ngồi có chiều sâu dọc từ phần đùi đến phần hông khoảng 300mm
Chiều cao ngồi
Chiều cao ngồi của ghế có ảnh hưởng lớn đến tính năng sử dụng, tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà có thể thiết kế chiều cao ngồi khác nhau Ghế làm việc thường có chiều cao ngồi lớn hơn so với các loại ghế dùng để nghỉ ngơi Ở đây, tôi thiết kế ghế dùng ngoài trời hoặc trong các phòng trà, cafe Ghế chủ yếu được sử dụng để ngồi chơi, nói chuyện, uống trà nên tôi kết hợp giữa ghế sử dụng cho làm việc và nghỉ ngơi
Chiều cao ngồi của ghế là 441mm từ sàn nhà đến mặt ghế, là chiều cao ngồi trung bình cho thanh thiếu niên và người lớn có chiều cao từ 1m55 trở lên Thông thường chiều cao của người châu Âu thường trên 1m6, do đó chiều cao ngồi nay tôi tính đến cả trẻ em Chiều cao ngồi không được quá cao, vì nếu quá cao thì 2 chân treo lo lửng, không chạm tới đất, không có điểm tựa, khối lượng của chân ép lên mạch máu của đùi, ảnh hưởng đến tuần hoàn của máu, dễ làm cho người ngồi có cảm giác mệt mỏi Đối với trẻ em hoặc người thấp dưới 1m55, 2 chân không chạm tới đất thì có thể đặt chân lên xà ngang của chân trước nên vẫn tạo cảm giác thoải
Hình 4.9: Chiều sâu ngồi