Từ đó, có thể thấy rằng sự yêu chuộng và quý trọng cái đẹp không dừng lại ở mức độ cá nhân hay một vài trường hợp cá biệt, mà đã trở thành một phần quan trọng trong văn hoá nhận thức của
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÂU Á HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đoàn Lê Giang
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 0
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ HAIKU 俳句 12
1.1 GIÁ TRỊ THẨM MỸ VÀ NGHỆ THUẬT NHẬT BẢN 12
1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ THƠ HAIKU 15
1.3 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ HAIKU 17
1.4 ĐỀ TÀI TRONG THƠ HAIKU 22
1.5 MỘT SỐ NHÀ THƠ HAIKU TIÊU BIỂU 28
CHƯƠNG 2: Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP HUYỀN BÍ, TÂM LINH TRONG THƠ HAIKU 37 2.1 MONO NO AWARE ものの哀れ 38
2.2 WABI 侘 44
2.3 SABI 寂 / 錆 51
2.4 YUGEN 幽玄 57
CHƯƠNG 3: Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP TINH TẾ, CÔ ĐỌNG TRONG THƠ HAIKU 65
3.1 YOJO 余情 65
3.2 OKASHIMI おかしみ 71
3.3 SHIBUSA 渋さ 77
3.4 KARUMI 軽み 84
CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC THẨM MỸ CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN 91
4.1 YẾU TỐ BẢN ĐỊA 91
4.2 YẾU TỐ NGOẠI NHẬP: TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO 103
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 3Một trong những đặc trưng của tính cách Nhật Bản là sự yêu chuộng và quý
trọng cái đẹp, đúng như nhận xét của các nhà nghiên cứu người Nga: “Tình yêu đối với cái đẹp, dĩ nhiên mọi dân tộc khác đều có, nhưng ở người Nhật, đó là một bộ phận không thể tách rời với truyền thống dân tộc” [43, tr 33]
Tình yêu của người Nhật đối với cái đẹp được thể hiện rõ ràng trong đời sống hàng ngày và trong các loại hình nghệ thuật Chẳng hạn, khi chế tạo một vật dụng thông thường nào đó, hoặc khi dọn một bữa ăn, gói một món quà, người Nhật đều
cố gắng sao cho sản phẩm làm ra thực sự có giá trị thẩm mỹ, cho dù cái đẹp không
có ảnh hưởng quyết định đến giá trị sử dụng hay tính năng của sản phẩm đó
Tinh thần coi trọng cái đẹp ở người Nhật Bản là nguyên nhân của sự xuất hiện một số loại hình nghệ thuật truyền thống ở đất nước này như trà đạo (nghệ thuật uống trà, hoa đạo (nghệ thuật cắm hoa) Uống trà, cắm hoa là những hoạt động trong đời sống hàng ngày, phổ biến ở nhiều nền văn hoá trên thế giới Nhưng đặc biệt trong văn hoá Nhật Bản, những sinh hoạt này được nâng lên thành những loại hình nghệ thuật đặc trưng với những quy định rõ ràng về cách thức uống trà, cắm hoa để tiệc trà, bình hoa đạt được những tiêu chuẩn thẩm mỹ nhất định Nhờ đó, việc cắm hoa, uống trà ở Nhật Bản không đơn giản là một sinh hoạt thông thường
Trang 4trong đời sống mà đã được nâng lên thành “đạo”, trở thành các loại hình nghệ thuật truyền thống cùng tồn tại với các loại hình nghệ thuật phổ biến khác như hội hoạ, văn chương v v
Từ đó, có thể thấy rằng sự yêu chuộng và quý trọng cái đẹp không dừng lại ở mức độ cá nhân hay một vài trường hợp cá biệt, mà đã trở thành một phần quan trọng trong văn hoá nhận thức của người Nhật, được gọi là “ý thức thẩm mỹ Nhật Bản” (日本人の美意識), và điều này đã thu hút sự quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu về văn hoá Nhật Bản, mỹ học Nhật Bản trong lịch sử nghiên cứu của ngành Nhật Bản học
Tuy nhiên, với tư cách là đối tượng nghiên cứu của ngành mỹ học, ý thức thẩm
mỹ Nhật Bản không đơn giản chỉ là khuynh hướng chú trọng đến cái đẹp Để hiểu được ý thức thẩm mỹ Nhật Bản, người nghiên cứu không thể không trả lời những
câu hỏi quan trọng như “Người Nhật quan niệm về cái đẹp như thế nào?”, “Điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội chi phối như thế nào đến ý thức thẩm mỹ của người Nhật Bản?”, và “Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản thay đổi như thế nào theo thời gian, cùng với những diễn biến lịch sử của đất nước?”, hay “Ý thức thẩm mỹ biểu hiện nhất quán hay đa dạng trong các khía cạnh của đời sống và trong các loại hình nghệ thuật ở Nhật Bản?” Theo những công trình nghiên cứu mà chúng tôi có
điều kiện tiếp cận, câu trả lời của các nhà nghiên cứu cho các câu hỏi trên có một số điểm chung nhất định, nhưng đồng thời cũng có khá nhiều điểm khác nhau Thêm vào đó, ý thức thẩm mỹ là một phần trong văn hoá nhận thức của người Nhật Bản, nên vẫn tiếp tục thay đổi theo thời gian, dưới ảnh hưởng của các nhân tố bên trong
và bên ngoài chủ thể thẩm mỹ Tóm lại, có thể nói ý thức thẩm mỹ Nhật Bản vẫn là một vấn đề đang được nghiên cứu và cần được tiếp tục nghiên cứu của ngành Nhật Bản học Vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề này để thực hiện luận văn thạc sĩ ngành châu Á học, với mong muốn trình bày một cách hệ thống và tương đối chi tiết về các phạm trù quan trọng của mỹ học Nhật Bản
Trang 5Nhưng ý thức thẩm mỹ Nhật Bản là một phạm trù rất rộng và phức tạp Chẳng hạn, cách biểu hiện cái đẹp hay tiêu chuẩn về giá trị thẩm mỹ trong các lĩnh vực của đời sống và văn hoá Nhật Bản khá đa dạng và khó nắm bắt Trong một số trường hợp, cái đẹp được thể hiện qua những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo, hoành tráng Trong những trường hợp khác, vẻ đẹp lý tưởng lại là sự giản dị đến mức thô mộc
Vì vậy, thông thường nghiên cứu về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản phải gắn với một lĩnh vực cụ thể trong đời sống hoặc một loại hình nghệ thuật Để thực hiện luận văn
này, chúng tôi đã chọn thơ haiku làm phạm vi để tìm hiểu về ý thức thẩm mỹ Nhật
Bản vì các lý do sau:
Thứ nhất, thơ haiku được biết đến như một thể thơ đặc trưng của người Nhật
Bản, tương tự với thơ Đường luật ở Trung Hoa hay thơ lục bát ở Việt Nam Từ
những quy định về hình thức đến chủ đề, nội dung biểu đạt, thơ haiku toát lên một
phong vị đặc trưng của nghệ thuật truyền thống Nhật Bản, với những đặc điểm mà người đọc thơ rất dễ nhận thấy như: ngắn gọn nhưng hàm súc, nhiều ẩn ý, không có vần, coi trọng yếu tố “mùa” trong lời thơ, thiên về mỹ học hơn là triết học v v
Hơn nữa, thơ haiku, mặc dù có nguồn gốc từ truyền thống thơ ca Nhật Bản từ thời
cổ đại, nhưng chính thức hình thành và phát triển như một thể loại độc lập vào thời
kỳ tồn tại chế độ Mạc phủ, trong khoảng thời gian mà các loại hình nghệ thuật
truyền thống như trà đạo, hoa đạo, kịch no, kabuki…v v được hình thành và góp phần tạo nên diện mạo riêng của nền văn hoá Nhật Bản Do vậy, thơ haiku cũng
mang những đặc trưng của mỹ học Nhật Bản thời trung đại như tính đại chúng hay
phong cách nghệ thuật chịu ảnh hưởng của triết lý Thiền (Zen), và có thể được xem
là một trong những loại hình nghệ thuật điển hình của văn hoá Nhật Bản truyền thống, thể hiện ý thức thẩm mỹ của người Nhật thời trung đại
Thứ hai, thơ haiku hiện nay đã được biết đến rộng rãi trên thế giới nhờ một số
bài thơ được dịch sang các ngôn ngữ khác, chủ yếu là tiếng Anh Không những vậy, thể loại này còn được sáng tác ở nhiều nước trên thế giới, thậm chí ở Việt Nam còn
thành lập câu lạc bộ haiku và tổ chức thi sáng tác thơ haiku bằng tiếng Việt và tiếng Nhật Mặc dù thơ haiku được sáng tác bằng tiếng Anh hay tiếng Việt đều khác với
Trang 6thơ haiku viết bằng tiếng Nhật của người Nhật Bản về giá trị nghệ thuật, sự lan toả rộng rãi này đã thể hiện một cách rõ ràng sức sống của thơ haiku nói riêng và sức mạnh nội tại của văn hoá Nhật Bản nói chung Từ đó, chúng tôi cho rằng thơ haiku
là một lĩnh vực quan trọng cần được tìm hiểu khi nghiên cứu về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản
Vì các lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản trong
thơ haiku” để tìm hiểu sâu hơn về vẻ đẹp Nhật Bản, tâm hồn Nhật Bản
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng chính mà đề tài tập trung tìm hiểu là ý thức thẩm mỹ của người Nhật Bản Ý thức thẩm mỹ là một phạm trù mỹ học, một yếu tố trong cấu trúc của đời sống thẩm mỹ Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Khang, ý thức thẩm mỹ là một đặc trưng của chủ thể thẩm mỹ và được thể hiện thành các quan điểm thẩm mỹ [6, tr 154] Như vậy, tìm hiểu ý thức thẩm mỹ Nhật Bản là tìm hiểu quan niệm, cảm nhận
và đánh giá của người Nhật về cái đẹp
Ý thức thẩm mỹ vừa là sản phẩm của quá trình nhận thức khách quan vừa thể hiện cảm nhận chủ quan của chủ thể thẩm mỹ, nên được thể hiện hết sức đa dạng và phức tạp, thậm chí có thể biểu hiện thành các khuynh hướng trái ngược nhau Vả chăng, trong nghệ thuật thì năng lực sáng tạo của cá nhân được đặt lên hàng đầu, nên mọi quy chuẩn được đặt ra đều có trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn như đặc
trưng về hình thức của thơ haiku truyền thống là một bài thơ có 17 âm tiết, nhưng
vẫn có những tác phẩm nhiều hơn 17 âm tiết, hoặc không ngắt câu theo nhịp 5- 7- 5 Hay về mặt thủ pháp thì thơ Basho thiên về gợi ý, trong khi thơ Shiki thiên về tả thực Bên cạnh đó, điều kiện lịch sử- xã hội, những trào lưu văn hoá của từng thời đại cũng có tác động rất lớn đến ý thức thẩm mỹ của một dân tộc, nên khó có thể
mô tả bao quát một cách đầy đủ về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản
Tuy nhiên, như quan điểm của nhà nghiên cứu Donald Keene, “tuy có nhiều ngoại lệ nhưng nói về những lý tưởng thẩm mỹ thì vẫn có một số điểm được xem là đặc trưng của Nhật Bản” [57, tr 7- 8] Vì vậy khi thực hiện luận văn này, chúng tôi
Trang 7đã cố gắng tìm hiểu và trình bày chi tiết những đặc trưng quan trọng nhất của ý thức
thẩm mỹ Nhật Bản trên cơ sở khảo sát, phân tích thơ haiku đồng thời tiếp thu những
lý thuyết trong một số công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và được người Nhật Bản thừa nhận
Nói chung, ý thức thẩm mỹ là một phạm trù rất rộng và mang tính trừu tượng nên rất khó bao quát Vì vậy trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu ý thức thẩm mỹ thông qua một thể loại thơ rất phổ biến trong đời sống văn
chương Nhật Bản là thơ haiku, trong số rất nhiều lĩnh vực có thể hiện ý thức thẩm
mỹ hay quan niệm về cái đẹp của người Nhật Hơn nữa, chúng tôi cũng không có
định hướng phân tích và đánh giá thơ haiku với tư cách là một hình thức nghệ thuật
ngôn từ của người Nhật Bản hoặc đi vào chi tiết những thành tựu, những biến đổi của loại thơ này mà chỉ tập trung tìm hiểu ý thức thẩm mỹ mang tính truyền thống của người Nhật được thể hiện trong thơ
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản là một vấn đề đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản và phương Tây, và đã được trình bày trong nhiều công trình nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Nhật với nhiều nội dung quan trọng như ý thức thẩm
mỹ truyền thống, ý thức thẩm mỹ hiện đại, ý thức thẩm mỹ thể hiện trong các loại hình nghệ thuật Nhật Bản
Về ý thức thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như 日本の美意識 (Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản) của Miyamoto Kenji 宮元健次 (2008), và 日本人の美意識 (Ý thức thẩm mỹ của người Nhật Bản) của Donald
Keene do Kanaseki Hisao 金 関 寿 夫 dịch từ nguyên tác tiếng Anh (1990) Miyamoto Kenji đã trình bày khá chi tiết một số phạm trù cơ bản của mỹ học Nhật
Bản như wabi, sabi, yugen, kirei và phân tích những biểu hiện của ý thức thẩm mỹ
Nhật Bản qua cuộc sống, quan điểm sáng tác của những nhà thơ nổi tiếng trong nhiều loại hình nghệ thuật Ở phương Tây cũng có một số công trình nghiên cứu
quan trọng như Japanese Aesthetics (Mỹ học Nhật Bản) của Donald Keene (1969),
Trang 8Japanese Aesthetics and Culture (Mỹ học và văn hoá Nhật Bản) của Nancy G Hume (1995) và A Tractate on Japanese Aesthetics (Bài nghiên cứu về mỹ học Nhật Bản) của Donald Richie (2007) Những công trình này đều có đề cập và phân tích quan niệm của người Nhật về cái đẹp thể hiện qua các phạm trù mỹ học như mono
no aware, yugen, yojo, wabi, sabi v v… Mặc dù cách diễn giải nội dung của các
phạm trù mỹ học trên tương đối giống nhau trong các công trình, mỗi tác giả lại đưa
ra những luận chứng và minh hoạ khác nhau Thêm vào đó, phần lớn các tác giả đều thiên về hướng viết tuỳ bút, nên các phạm trù mỹ học nói trên cũng chưa được sắp xếp theo một hệ thống, vì tác giả không sử dụng bất cứ tiêu chí hay mối liên hệ ràng buộc nào để kết nối các nội dung trình bày theo một trật tự nhất định
Về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản hiện đại, có một số công trình nghiên cứu viết bằng tiếng Nhật trong đó nổi bật nhất là 近代日本人の美意識 (Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản hiện đại) của Yamaori Tetsuo 山折 哲雄 (2001) đề cập đến sự hình thành,
phát triển của mỹ học Nhật Bản hiện đại liên quan đến các giá trị Nhật Bản như tôn giáo, nghệ thuật, tình cảm Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu viết
bằng tiếng Anh như A History of Modern Japanese Aesthetics (Lịch sử mỹ học Nhật Bản hiện đại) (2001) và Modern Japanese Aesthetics : A Reader (Mỹ học Nhật Bản hiện đại- một cách đọc) (2002) của Michele F Marra
Ngoài ra, cũng phải kể đến một số công trình nghiên cứu tập trung phân tích ý thức thẩm mỹ Nhật Bản trong phạm vi một lĩnh vực văn hoá nghệ thuật Theo hướng này, trong tiếng Nhật có các tác phẩm như 舞台の奥の日本 - 日本人の美意
識 (Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản bên trong sân khấu) của Kawatake Toshio 河竹 登志
夫 (2000), nghiên cứu ý thức thẩm mỹ trong nghệ thuật sân khấu, 詞華集 日本人 の美意識 (Từ hoa tập- Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản) của nhóm tác giả Kubota Jun 久
保田 淳, Umetani Fumio 梅谷 文夫, Ando Hiroshi 安藤 宏, Watabe Yasuaki 渡部 泰明(1991) viết về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản thông qua việc trình bày và phân tích các tác phẩm thơ ca của Saigyo 西行, Basho 芭蕉, Buson 蕪村 và Shiki 子規 Viết
Trang 9bằng tiếng Anh có các công trình như cuốn Zeami and the Transition of the Concept
of Yugen: A Note on Japanese Aesthetics (Zeami và sự chuyển đổi khái niệm yugen: một ghi nhận về mỹ học Nhật Bản) của Andrew Takahisa Tsubaki (1971), The Ethics of Aesthetics in Japanese Cinema and Literature: Polygraphic Desire (Đạo đức mỹ học trong điện ảnh và văn học Nhật Bản: khát vọng của nghệ thuật polygraphy) của Nina Cornyetz (2008) hay Spontaneity in Japanese Art and Culture (Tính tự nhiên trong văn hoá và nghệ thuật Nhật Bản) của David và Michiko Young
(2005)
Ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu về mỹ học Nhật Bản hay ý thức thẩm mỹ Nhật Bản Tuy nhiên, những vấn đề khái quát về văn học Nhật Bản, tinh thần duy mỹ của người Nhật, quan niệm của người Nhật về cái đẹp, ảnh hưởng của Thiền đến nghệ thuật Nhật Bản đã được đề cập đến trong những công trình nghiên cứu về văn hoá, văn học Nhật Bản Trong số đó có thể nêu ra những tác phẩm điển
hình như Văn học Nhật Bản, Thơ ca Nhật Bản của nhà nghiên cứu Nhật Chiêu (1998), Đại cương văn hoá phương Đông do Lương Duy Thứ chủ biên (1998), hay một số tác phẩm dịch từ tiếng nước ngoài như Người Nhật do của V Pronikov & I Ladanov (2004), Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại của N I Konrad (1999), Hài
cú nhập môn của Harold G Henderson (2000) Về hướng nghiên cứu mỹ học trong
văn học Nhật Bản, PGS TS Đoàn Lê Giang đã có đề cập và phân tích một số phạm
trù mỹ học và những đặc trưng của thơ haiku trong tập bài giảng Quan niệm văn học cổ điển Nhật Bản trong cái nhìn so sánh và một số bài báo đăng trên các tạp chí nghiên cứu Chẳng hạn trong bài So sánh quan niệm văn học trong văn học cổ điển Việt Nam và Nhật Bản đăng trên Tạp chí Văn học số 9 năm 1997, tác giả đã trình bày chi tiết về mono no aware, một phạm trù cơ bản của mỹ học Nhật Bản Ngoài ra, những vấn đề về nội dung, thủ pháp nghệ thuật của thơ haiku cũng đã được đề cập
và phân tích trong các khóa luận tốt nghiệp đại học và luận văn thạc sĩ của sinh viên, học viên cao học khoa Đông Phương học
Tuy nhiên, cho đến hiện nay ở nước ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu về
mỹ học Nhật Bản, cũng như chưa có công trình nghiên cứu về ý thức thẩm mỹ của
Trang 10người Nhật trong thơ haiku Do vậy, luận văn này được thực hiện với mong muốn
đóng góp một cách trình bày hệ thống và chi tiết về vấn đề trên
4 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản trong thơ haiku, chúng tôi đã thực hiện khảo sát thơ haiku bằng cách đọc hiểu thơ haiku bằng tiếng Nhật, so sánh
nguyên tác với những bản dịch tiếng Việt và tiếng Anh để sử dụng bản dịch chính xác nhất, kết hợp với những tư liệu về lý thuyết mỹ học được trình bày trong các công trình nghiên cứu để có thể phân tích biểu hiện của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản
trong thơ haiku và trình bày thành các phạm trù mỹ học cụ thể
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích- tổng hợp tài liệu Ngoài ra, để đảm bảo tính thuyết phục và sự chính xác về ý nghĩa của các phạm trù mỹ học được phân tích trong chương 2 và chương 3, chúng tôi còn kết hợp phương pháp so sánh- đối chiếu giữa ý thức thẩm
mỹ Nhật Bản và ý thức thẩm mỹ của các dân tộc khác
5 Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: trên cơ sở khảo sát và tổng hợp tư liệu, chúng tôi cố gắng
trình bày tương đối hệ thống và chi tiết về ý thức thẩm mỹ trong thơ haiku
đồng thời tìm hiểu về những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành ý thức thẩm
mỹ Nhật Bản
- Ý nghĩa thực tiễn: chúng tôi mong muốn tập luận văn này sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho các sinh viên ngành Nhật Bản học và những ai có quan tâm tìm hiểu về đất nước, dân tộc Nhật Bản
6 Nguồn tư liệu
- Tư liệu về thơ haiku: các bài thơ haiku được xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng
Anh và tiếng Nhật Nguồn tư liệu này là cơ sở để tìm hiểu những đặc trưng
của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản trong thơ haiku, và được sử dụng trên cơ sở so
Trang 11sánh bản dịch với nguyên tác để đảm bảo tính chính xác của những luận chứng được trình bày trong luận văn
- Các công trình nghiên cứu về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản: vì ở Việt Nam chưa
có công trình nghiên cứu về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản nên trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng tư liệu bằng tiếng Nhật qua các công trình tiêu biểu như sau:
ドナルドキーン (Donald Keene) (2007),「日本人の美意識」(Ý thức thẩm mỹ của người Nhật Bản), 中公文庫, 東京
7 Cấu trúc của luận văn
Luận văn có cấu trúc gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung chính và phần kết luận Nội dung chính của luận văn gồm 4 chương, được sắp xếp theo thứ tự như sau:
Chương 1: Khái quát về thơ haiku
Chương này được trình bày đầu tiên như một bước chuẩn bị cho những chương chính của luận văn Chương 1 có vai trò giới thiệu những yếu tố cơ sở cho
việc tìm hiểu ý thức thẩm mỹ của người Nhật Bản thể hiện trong thơ haiku ở
chương 2 và chương 3 Nội dung chủ yếu của chương là giới thiệu nguồn gốc, sự
phát triển, những đặc điểm của thơ haiku và những nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử
thơ ca Nhật Bản với thể loại thơ này
Chương 2: Ý thức về cái đẹp huyền bí, tâm linh trong thơ haiku
Trang 12Trong chương này, chúng tôi đưa ra và phân tích các khái niệm được xem là những phạm trù quan trọng của mỹ học Nhật Bản, đồng thời là những khái niệm thể
hiện vẻ đẹp đặc trưng của thơ haiku Các khái niệm đó bao gồm mono no aware, wabi, sabi, và yugen
Cái đẹp huyền bí là một hình thái ý thức thẩm mỹ độc đáo, hướng về chiều sâu tâm linh được thể hiện trong nhiều loại hình nghệ thuật Nhật Bản, trong đó có thể
loại thơ haiku Cái đẹp sâu sắc là cái đẹp của cuộc sống, con người; là cái đẹp của
sự trân trọng cuộc sống Hơn nữa, cái đẹp huyền bí còn thể hiện những trải nghiệm tâm linh của thi nhân nói riêng và con người nói chung trong hành trình dài của cuộc đời phù ảo, trong những nỗ lực vươn đến một trạng thái vô ưu, thanh tịnh của
tâm hồn Trong chương này sẽ tập trung phân tích những bài thơ haiku thể hiện
những triết lý về những phạm trù như sự sống và cái chết, vinh quang và bi kịch
Chương 3: Ý thức về cái đẹp tinh tế, cô đọng trong thơ haiku
Cái đẹp tinh tế, cô đọng là một hình thái ý thức thẩm mỹ của người Nhật Bản
được thể hiện trong thơ haiku Đây là cái đẹp nảy sinh từ tình yêu thiên nhiên và
khuynh hướng quý trọng vẻ đẹp tự nhiên và tính hài hước rất đặc trưng của người Nhật Cái đẹp tinh tế, cô đọng được thể hiện qua những phạm trù thẩm mỹ đặc
trưng là okashimi, shibusa, karumi và yojo Với các phạm trù thẩm mỹ này, những
bài thơ hàm chứa cái đẹp giản dị, thanh thoát tạo nên diện mạo thẩm mỹ tinh tế và
rất riêng của thơ haiku
Chương 4: Những yếu tố ảnh hưởng đến ý thức thẩm mỹ của người Nhật
Bản
Chương 4 là sự tổng kết từ những phân tích chi tiết ở các chương trên Trong chương này, chúng tôi trình bày những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành và hình thái của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản, gồm có yếu tố bản địa và yếu tố được người Nhật Bản du nhập từ bên ngoài trong quá trình tiếp biến văn hóa
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THƠ HAIKU 俳句
1.1 GIÁ TRỊ THẨM MỸ VÀ NGHỆ THUẬT NHẬT BẢN
Quá trình sống và phát triển của con người là quá trình tương tác giữa con người và điều kiện tự nhiên Trong quá trình đó, con người nhận thức, tác động, cải biến thế giới khách quan và sáng tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống
Nhờ hoạt động sáng tạo, con người khám phá ra cái đẹp và những quy luật của
cái đẹp “Cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con người, gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ của con người” [11, tr 23] Cảm nhận về cái đẹp của con
người được gọi là cảm xúc thẩm mỹ
Khi hoạt động sáng tạo để thoả mãn nhu cầu xã hội của con người được thực hiện do sự chi phối của cảm xúc thẩm mỹ thì kết quả của hoạt động đó là nghệ thuật
Do vậy, có thể nói nghệ thuật là sản phẩm của quan hệ thẩm mỹ giữa con người với hiện thực khách quan
Những yếu tố cơ bản tạo nên quan hệ thẩm mỹ gồm có chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ và cái đẹp Vì là sản phẩm của quan hệ thẩm mỹ giữa con người
và hiện thực, nghệ thuật mang thông điệp về cả chủ thể và khách thể thẩm mỹ, trong
đó ý thức thẩm mỹ là một thành tố quan trọng
Chủ thể thẩm mỹ có bản chất phụ thuộc vào toàn bộ các mối quan hệ xã hội Nhưng chủ thể thẩm mỹ trước hết là một cái tôi sáng tạo và thưởng thức các giá trị thẩm mỹ, có đặc trưng và có cấu trúc rất riêng với bảy thành tố; trong đó ý thức thẩm mỹ được lý tưởng thẩm mỹ soi đường, định hướng mà tạo nên một nhân cách hoàn chỉnh [11, tr 157]
Như vậy, nghệ thuật là một hình thức thể hiện ý thức thẩm mỹ của dân tộc, mang những nét đặc trưng của nền văn hoá do dân tộc đó sáng tạo ra Vì vậy thông qua những thành tựu nghệ thuật có thể hiểu được quan niệm của một dân tộc về giá trị thẩm mỹ
Trang 14Cái đẹp hay cái thẩm mỹ là yếu tố trung tâm của nghệ thuật, và là một khái niệm rất khó thống nhất về mặt nội hàm, vì có thể được định nghĩa khác nhau tuỳ theo quan điểm Mỗi dân tộc, mỗi giai cấp hoặc mỗi cá nhân có ý thức khác nhau về cái đẹp
Theo nguyên tắc hình thành tâm lý thẩm mỹ, quan niệm về cái đẹp còn được quy định bởi tính dân tộc Bởi một dân tộc được gọi là dân tộc khi
nó có lãnh thổ riêng, ngôn ngữ riêng, phong tục tập quán, lối sinh hoạt, lối sống riêng…Những sự vật, hiện tượng, lý tưởng, hành vi, nếp nghĩ, nếp sống được xem là đẹp phụ thuộc rất lớn vào bản sắc riêng đó của mỗi chủ thể đánh giá trong mỗi dân tộc [11, tr 43]
Nghệ thuật bao gồm quá trình sáng tạo, biểu hiện, thưởng thức và đánh giá cái đẹp, nên nghệ thuật cũng đa dạng và bị chi phối bởi ý thức về cái đẹp của từng dân tộc Chẳng hạn, những dân tộc xem việc chinh phục tự nhiên là một thành quả vĩ đại của con người thường có khuynh hướng sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có quy mô lớn, thể hiện khát vọng về giá trị thẩm mỹ trường tồn với thời gian, thể hiện
sự nổi bật của con người và sự vĩnh cửu của cái đẹp Ngược lại, có dân tộc xem cái đẹp là những biểu hiện tinh tế, là sự hài hoà giữa đời sống con người và môi trường
tự nhiên thì lại cho rằng tính tự nhiên, chân thực là giá trị cao nhất của hoạt động sáng tạo thẩm mỹ Do vậy cùng là nghệ thuật tạo hình nhưng cách thể hiện của các loại hình nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ ở phương Tây và phương Đông rất khác nhau
Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản là một hình thái đặc thù của ý thức xã hội Nhật Bản, hình thành cùng với quá trình phát triển văn hoá của dân tộc Ý thức thẩm mỹ Nhật Bản được thể hiện ở mọi khía cạnh trong đời sống, như nhận xét của nhà nghiên cứu Donald Keene:
Có thể nêu lên thực tế là trong cuộc sống thường ngày của người Nhật, ngay cả trong những lĩnh vực có thể nghĩ rằng không có chỗ cho những biểu hiện mang tính thẩm mỹ thì tư tưởng thẩm mỹ vẫn vươn tới Trong
Trang 15hoàn cảnh hiện tại dù mức sống hầu như đã được hiện đại hoá, quốc tế hoá, những người từ nước ngoài đến Nhật, hầu như không có ngoại lệ, đều có thể nhìn thấy những bình hoa xinh xắn có cắm hoa tươi hoặc hoa giả được trang trí phía trên chỗ ngồi của tài xế xe buýt, hoặc những nhánh hoa dịu dàng rủ xuống từ lẵng hoa gắn trên tường trong nhà vệ sinh [57, tr 8]
Trong văn hoá phương Tây có sự phân biệt rõ ràng giữa nghệ thuật (arts) và thủ công (crafts) nhưng ở Nhật Bản thì nghệ thuật hoà lẫn vào đời sống Chẳng hạn, qua lịch sử hình thành và phát triển của các loại hình nghệ thuật truyền thống Nhật Bản như trà đạo, hoa đạo, có thể thấy sự mơ hồ về ranh giới giữa cái đẹp trong nghệ thuật và cái đẹp trong đời sống thường ngày trong tư tưởng Nhật Bản Việc uống trà, cắm hoa vốn là những hình thức sinh hoạt thông thường trong đời sống, nhưng đã được người Nhật nâng lên thành những loại hình nghệ thuật với những nguyên tắc thẩm mỹ nhất định, cũng như khi trình bày món ăn hoặc sản xuất ra những vật dụng thông thường, người Nhật đều dụng công để làm cho vật đó trở nên xinh đẹp, tinh tế như một tác phẩm nghệ thuật thật sự
Do đó, ý thức thẩm mỹ Nhật Bản có thể được tìm hiểu thông qua lối sống, phong tục tập quán và cả những tác phẩm nghệ thuật Ví dụ dễ thấy nhất là quan niệm của người Nhật về lối sống hoà hợp với tự nhiên Quan niệm này được thể hiện qua cách thiết kế nhà ở, cách giao tiếp của người Nhật trong đời sống và được nâng lên thành tiêu chuẩn thẩm mỹ trong các loại hình nghệ thuật từ hoa đạo, trà đạo đến hội hoạ, thơ ca v v
Quan niệm về cái đẹp của người Nhật Bản có thể được thể hiện trong đời sống
và trong nghệ thuật dưới dạng những giá trị thẩm mỹ đặc thù như wabi, sabi, yugen v v Các giá trị này có thể được biểu hiện trong nhiều lĩnh vực, nhiều loại hình nhưng cũng có thể gắn bó với một loại hình đặc trưng nào đó, như yugen được thể hiện phổ biến nhất trong kịch no, hay sabi gắn liền với thế giới haiku của Basho
Trang 16Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, thơ ca Nhật Bản là sự biểu hiện của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản, hay quan niệm của người Nhật về cái đẹp Tập thơ đầu tiên
xuất hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ VIII có tên là Manyoshu 万葉集 (Vạn diệp tập), nghĩa là tuyển tập mười nghìn chiếc lá Dùng hình ảnh chiếc lá để nói đến thơ
ca, người Nhật muốn ví những bài thơ được sáng tác một cách tự nhiên như hơi thở của con người, như lá mọc trên cành Điều đó thể hiện khuynh hướng gần gũi với tự nhiên trong sáng tạo nghệ thuật của người Nhật Bản
Thơ ca Nhật Bản có nhiều thể loại, được hình thành và phát triển từ buổi bình minh của văn hoá Phù Tang đến thời kỳ hiện đại Có những thể loại sử dụng ngôn
từ với dung lượng lớn như choka 長歌, renga 連歌 và cũng có những thể loại hạn chế về ngôn từ như tanka 短歌 (31 âm tiết) và haiku 俳句 (17 âm tiết) Có thời kỳ
thơ ca hầu như chỉ được sáng tác bởi những người thuộc tầng lớp trên của xã hội như Thiên hoàng, quý tộc, tăng lữ Tuy nhiên, từ thời trung đại trở đi, cùng với sự
phát triển của các loại hình nghệ thuật thuộc tầng lớp bình dân như no 能, kabuki 歌
舞伎, chủ thể sáng tạo và thưởng thức thơ cũng được mở rộng ra toàn xã hội Haiku
cũng là một thể loại ra đời trong thời gian đó, và là loại thơ có dung lượng ngôn từ hạn chế nhất Trải qua một tiến trình lịch sử phát triển và hoàn thiện, ngày nay
haiku đã trở thành thể thơ không chỉ phổ biến ở Nhật Bản mà còn quen thuộc trong
nhiều nền văn học ở châu Á và Tây Âu Cũng như những loại hình nghệ thuật khác,
haiku là một hình thức biểu hiện của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản thông qua ngôn ngữ,
hình ảnh và hệ thống các giá trị thẩm mỹ trong tư tưởng Nhật Bản truyền thống
1.2 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ THƠ HAIKU
Haiku xuất phát từ một thể loại thơ truyền thống Nhật Bản là renga Renga còn gọi là renku 連句 rất thịnh hành vào những năm đầu của thời Edo, tức vào thế
kỷ XVI Renga là một thể loại thơ liên hoàn gồm nhiều bài tanka nối tiếp nhau Mỗi bài tanka gồm 31 âm tiết được phân bố thành 5 câu với cấu trúc về số lượng âm tiết trong câu là 5- 7- 5- 7- 7 Những nhà thơ Nhật Bản thường sáng tác renga trong
những cuộc gặp gỡ hoặc trong những dịp đặc biệt như ngày tết, ngày hội Một nhà
Trang 17thơ sẽ làm đoạn hokku 発句 mở đầu bài thơ gồm 17 âm tiết với cấu trúc 5- 7- 5
Người tiếp theo sẽ nối tiếp bài thơ với 14 âm tiết theo cấu trúc 7- 7 Sự luân phiên như thế được thực hiện liên tục cho đến khi kết thúc bài thơ Do vậy, có những bài
renga rất dài, gồm hàng trăm bài tanka nối tiếp nhau Tuy nhiên, trong thời Edo thì
độ dài thông thường của một bài renga gồm 36 bài thơ tanka
Renga thường được viết với giọng điệu trào lộng, được gọi là haikai no renga 俳諧の連歌, trong đó chữ “hai” có nghĩa là “hài hước” Một đặc trưng của hình thức thơ liên hoàn này là đoạn hokku rất được coi trọng, vì nó có vai trò định hướng cho ý tưởng của bài thơ Do vậy khi sáng tác renga, thông thường người xuất sắc và được nể trọng nhất trong nhóm sẽ là người sáng tác đoạn hokku Đặc trưng này cũng là một cơ sở để hình thành thể loại haiku độc lập sau này
Như vậy, haiku không phải là một thể loại thơ hoàn toàn độc lập với quá trình
lịch sử hình thành và phát triển riêng biệt mà là kết quả của một quá trình thay đổi
trong sáng tác thơ ca của người Nhật Bản, cụ thể là trong việc sáng tác thơ renga Tính chất hài hước và hình thức cấu trúc gồm 17 âm tiết của thơ haiku đều đã tồn tại trong thơ renga với tư cách là đoạn thơ mở đầu Tuy nhiên, giữa đoạn hokku trong một bài renga và một bài haiku độc lập vẫn có sự khác nhau nhất định
Matsuo Basho 松尾芭蕉 (1644- 1694), một nhà thơ nổi tiếng của Nhật Bản
sống vào thời Edo, được cho là người đã tạo nên vị trí độc lập của thơ haiku Basho tham gia văn đàn Nhật Bản vào lúc mà thể loại renga rất thịnh hành Bản thân nhà thơ cũng tham gia các hội sáng tác renga rất thường xuyên Tuy nhiên, khi ông
muốn gửi gắm những cảm xúc sâu sắc nhất trong tâm hồn hay những trải nghiệm riêng tư của bản thân vào thơ thì những đoạn thơ 17 âm tiết được ông viết ra không
phù hợp với vai trò hokku cho một bài thơ liên hoàn nữa Trong thời gian này, đoạn
thơ với hình thức như vậy dần dần khẳng định tính độc lập của mình, đồng thời cũng trở nên gắn bó với thể loại văn xuôi mang tính chất bút ký vốn là một hình
thức sáng tác quen thuộc của Basho, được gọi chung là haibun 俳文 (một dạng sáng tác gồm có văn xuôi xen kẽ với những bài thơ haiku); hoặc được viết lên những bức
Trang 18tranh thuỷ mặc, gọi là haiga 俳画 (loại tranh thuỷ mặc có đề thơ haiku kèm theo)
Đến thế kỷ XIX, nhà thơ Masaoka Shiki 正岡子規 (1867- 1902) đã chuyển tên
hokku thành haiku, được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay Và một khi tên gọi haiku trở nên quen thuộc với nhà thơ cũng như độc giả thì không còn sự phân biệt mang tính lịch sử khi sử dụng danh từ này Nói cách khác, hiện nay danh từ haiku
được sử dụng để chỉ chung cho thể loại thơ 17 âm tiết của Nhật Bản, chứ không phải chỉ dùng cho những bài thơ được sáng tác từ thời Masaoka Shiki trở về sau Trong thời kỳ đầu của văn học Nhật Bản hiện đại, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, cùng với những trào lưu cách tân trong sáng tác văn học, đã xuất hiện một
dạng thức mới trong thể loại haiku là haiku tự do Haiku tự do có đặc điểm là không
tuân thủ những quy tắc truyền thống, mà chủ yếu là những quy tắc về hình thức
ngôn từ như số lượng âm tiết, việc sử dụng kigo 季語 (quý ngữ), 季題 (quý đề) và kireji (từ dùng để ngắt câu) Tuy nhiên, hình thức này không hoàn toàn thay thế cho thơ haiku truyền thống Đến cuối thế kỷ XX thì các nhà thơ sáng tác thơ haiku lại
chủ trương quay về với những quy tắc cũ của thể loại này
1.3 MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA THƠ HAIKU
Trong văn học Nhật Bản truyền thống, một bài thơ haiku thường được viết
thành một dòng liên tục theo chiều dọc Trong tiếng Việt hoặc tiếng Anh, loại thơ
này thường được viết thành 3 dòng ngắn Trong tiếng Nhật, thơ haiku có hai dấu hiệu đặc trưng về ngôn ngữ, đó là kigo - hoặc kidai - và kireji
Kigo được hiểu là từ chỉ mùa Trong trường hợp tác giả không dùng từ chỉ mùa trực tiếp thì có thể dùng kidai Kidai không nhất thiết phải gọi tên trực tiếp các mùa
như xuân, hạ, thu, đông mà chỉ cần nhắc đến những sự vật sự việc mang tính đặc trưng khiến người đọc liên tưởng đến một mùa nào đó trong năm, nhờ đó hiểu bối
cảnh mà bài thơ được sáng tác Có thể nói kigo hay kidai là ngôn ngữ mang tính ước
lệ dựa trên truyền thống văn hoá và tình yêu thiên nhiên của người Nhật Bản Chẳng hạn, trong hai bài thơ của Basho dưới đây:
Trang 19枯れ枝に Kareeda ni Trên cành khô
烏の止まりけり Karasu no tomarikeri Quạ đậu
秋の暮れ Aki no kure Chiều tàn thu
(芭蕉) (Basho) (Đoàn Lê Giang dịch)
ほととぎす Hototogisu Tiếng chim quyên
消え行くかたや Kieyuku kata ya Tan dần về phía
島一つ Shima hitotsu Đảo cô liêu
(芭蕉) (Basho) (Đoàn Lê Giang dịch)
Nếu trong bài thơ thứ nhất sử dụng trực tiếp từ “aki” nghĩa là mùa thu thì trong bài thơ thứ hai tác giả dùng “hototogisu” (chim đỗ quyên) như một hình ảnh tượng
trưng cho mùa hè Hai từ này là kigo và kidai trong thơ haiku
Kireji là từ dùng để kết thúc ý hoặc ngắt ý trong bài thơ- một hiện tượng độc
đáo trong tiếng Nhật mà hầu như không tìm thấy dạng tương đương trong các ngôn
ngữ khác Mặc dù không có ý nghĩa ngữ pháp rõ ràng, sự tồn tại của kireji trong một bài haiku hết sức quan trọng Với sự hiện diện của kireji, cấu trúc của bài thơ được xác định rõ ràng hơn, nhờ đó một bài thơ haiku có thể tồn tại một cách độc lập
và được phân biệt với một câu văn bình thường Ngoài ra, kireji còn làm tăng mức
độ biểu cảm của ngôn từ, làm cho điểm kết của bài thơ có vẻ trang trọng và dứt khoát Trong bài thơ của Issa:
故郷や Furusato ya Trở về quê hương
よるも障るも Yoru mo sawaru mo Khóm hoa hồng dại
茨の花 Bara no hana Chào đón bên đường
(一茶) (Issa)
Trang 20Những từ “ya” hoặc “mo” được xem là kireji Nhờ có những từ này mà bài thơ
có thể viết thành một dòng duy nhất trong tiếng Nhật vẫn được ngắt ý đúng chỗ, và dựa vào đó người ta có thể viết lại thành 3 dòng ngắn như trên
Do xuất phát từ haikai no renga- một thể loại thơ trào lộng- nên haiku vốn có nội dung hài hước Tuy vậy, tính chất hài hước trong thơ haiku không hoàn toàn giống với thể loại haikai Vì một bài renga là tác phẩm của một tập thể người trong
một cuộc gặp gỡ nên nội dung của bài thơ thường nhẹ nhàng, dễ hiểu và không đi
quá sâu vào những ưu tư của cá nhân Tính chất trào lộng trong haikai cũng khá nhẹ nhàng Khi haiku phát triển thành một thể thơ độc lập thì tính cá nhân trong một bài
thơ trở nên rõ nét, nội dung phản ánh trong tác phẩm cũng mang tính nghiêm túc và
sâu sắc hơn Dù khuynh hướng trào lộng vẫn còn để lại dấu ấn trên thơ haiku nhưng
đã trở thành một dạng trào lộng có hàm ý, có chiều sâu về tư tưởng và cảm xúc, do
đó khác với hình thức trào lộng nhằm mục đích giải trí đơn thuần Sự khác biệt đó được thể hiện rõ khi so sánh hai bài thơ sau:
皆人の Minnahito no Nhà nhà say giấc ban trưa
昼寝の種や Hirune no tane ya Bởi đêm qua
秋の月 Aki no tsuki Trăng thu đẹp quá
(貞徳) (Teitoku)
世の中は Yo no naka wa Trong cõi ta bà
地獄の上の Chigoku no ue no Trên tầng địa ngục
花見かな Hanami kana Ta ngồi ngắm hoa
(一茶) (Issa) (Đoàn Lê Giang dịch)
Trong bài haikai của Teitoku, bằng cách dùng hình ảnh “trăng thu” để lý giải
giấc ngủ trưa muộn màng của mọi người, nhà thơ vừa gợi lên vẻ đẹp của vầng trăng
Trang 21vừa tạo nên một ý thơ dí dỏm nhẹ nhàng Trong khi đó, nhà thơ Issa muốn nói đến
sự thăng hoa của cái đẹp vượt trên những nỗi niềm bi ai của cuộc sống qua hình ảnh
“ngắm hoa” đối lập với “địa ngục” Sự đối lập này gây bất ngờ cho độc giả khi đọc câu cuối của bài thơ, nhưng đồng thời hướng người đọc đến một triết lý sâu sắc về cuộc sống chứ không dừng lại ở tính hài hước trong biểu đạt ngôn ngữ
Thơ haiku còn có một đặc trưng quan trọng là ý nghĩa biểu đạt luôn vượt ra
ngoài phạm vi ngôn ngữ, “ý tại ngôn ngoại” Với dung lượng ngôn từ rất hạn chế, ý nghĩa của bài thơ phụ thuộc vào mức độ tài hoa của nhà thơ trong cách dùng từ Để
có hiệu quả biểu đạt cao, từ ngữ dùng trong thơ phải có sức gợi tả rất lớn Đồng thời, cách sắp xếp các hình ảnh và từ ngữ trong bài thơ cũng phải thật tinh tế để có thể
tạo hiệu ứng cảm xúc cho người đọc Một bài haiku đôi khi cũng giống như một
công án Thiền, với những hình ảnh và từ ngữ đơn giản và nhiều khoảng trống Người đọc phải tự mình tham gia vào bài thơ để lấp đầy khoảng trống và nhận ra ý nghĩa sâu xa nhất mà tác giả gửi gắm thông qua ngôn từ Do vậy, thưởng thức thơ
haiku là một hiện tượng đồng sáng tạo giữa độc giả và tác giả- một hiện tượng
thường thấy trong văn hoá phương Đông, như thưởng thức một bức tranh thuỷ mặc với vài nét chấm phá đơn sắc Để minh hoạ ý này, xin được dẫn bài thơ sau:
花の雲 Hana no kumo Từ đám mây hoa
鐘は上野か Kane wa Ueno ka Tiếng chuông vọng lại
浅草か Asakusa ka Chùa Ueno hay Asakusa
(芭蕉) (Basho) (Đoàn Lê Giang dịch)
Ngôn từ trong bài thơ cực kỳ đơn giản Hình ảnh hoa anh đào nở rộ như một đám mây, và không gian vang vọng tiếng chuông chùa Tác giả hoàn toàn không diễn đạt cảm xúc cá nhân, cũng không bình luận gì về những hình ảnh được đưa ra
Ý nghĩa của bài thơ phụ thuộc vào sự liên tưởng và cảm nhận của người đọc Điều quan trọng mà tác giả bài thơ đã làm được là phác hoạ khung cảnh một buổi hoàng hôn mùa thu ở Nhật Bản và nhờ đó gieo vào lòng người một cảm giác trầm lặng,
Trang 22tịch liêu Người đọc có thể tự hỏi tác giả đang làm gì, nghĩ gì trong khung cảnh này
và sẽ tự trả lời cho điều đó bằng khả năng suy đoán, tưởng tượng Phần quan trọng
và sâu sắc nhất của bài thơ không nằm ở những gì bài thơ mô tả mà nằm ở khoảng
trống tác giả đã cố tình để lại Đó là sự thành công khi sáng tác một bài thơ haiku
Có thể tìm hiểu thêm đặc điểm này qua ví dụ sau:
よく見れば Yoku mireba Nhìn kỹ mới nhận ra
薺花咲く Nazuna hana saku Dưới chân hàng dậu
垣根かな Kakine kana Khóm khúc tần nở hoa
(芭蕉) (Basho) (Đoàn Lê Giang dịch)
Về mặt ngôn từ, bài thơ chỉ dừng lại ở một hình ảnh quan sát được bằng mắt thường, đó là hình ảnh những bông hoa dại nhỏ li ti màu trắng nở trên nền đất dưới chân rào Nhưng ý nghĩa của bài thơ không chỉ là sự miêu tả đơn giản đó Nếu thâm nhập được vào khung cảnh của bài thơ và trở nên đồng điệu với tác giả, người đọc
sẽ hiểu rằng “hoa nazuna” là một tín hiệu của thiên nhiên khi mùa xuân đến Khi nhìn thấy loài hoa dại nhỏ bé kia cũng bừng tỉnh khoe sắc trước sự thay đổi của tự nhiên vào lúc chuyển mùa, tác giả không chỉ ngạc nhiên và cảm động trước vẻ đẹp tinh tế và thuần khiết của thiên nhiên mà còn thay đổi tâm trạng hoà vào không gian tươi mới của đất trời
Thơ haiku là một hình thức biểu đạt hiệu quả và độc đáo của tiếng Nhật Ngoài việc sử dụng kireji, tính mơ hồ trong tiếng Nhật đã làm tăng khả năng biểu cảm của
thể loại thơ này Chẳng hạn, trong tiếng Nhật không có sự phân biệt từ số ít và từ số nhiều về mặt hình thức như trong các ngôn ngữ biến hình Do vậy, từ “hana” có thể hiểu là một đoá hoa hoặc là cả một đám mây hoa Điều đó một mặt tạo điều kiện để nhà thơ có thể tự do hơn trong sáng tác, mặt khác yêu cầu người đọc phải có sức tưởng tượng để hiểu đúng ý nghĩa bài thơ Để có thể thưởng thức những bài thơ
haiku truyền thống, ngoài kiến thức ngôn ngữ, người đọc còn cần phải hiểu được
những đặc trưng của văn hoá Nhật Bản Thêm vào đó, các nhà thơ thường sử dụng
Trang 23các hư từ mang tính biểu cảm và các từ tượng thanh, tượng hình để tăng vẻ sinh động của bài thơ Cũng vì lý do này mà việc chuyển ngữ thành công một bài thơ
haiku Nhật Bản sang một ngôn ngữ khác là rất khó
Ngày nay, haiku đã trở thành một thể loại thơ phổ biến trên khắp thế giới và
được nhiều người ưa chuộng Tuy nhiên, do đặc trưng ngôn ngữ của mỗi dân tộc
không giống nhau, nên thơ haiku ở mỗi nên văn hoá sẽ có những đặc trưng riêng biệt Đặc điểm chung nhất và quan trọng nhất của haiku còn được duy trì đến ngày nay là sức biểu cảm vượt ra ngoài phạm vi ngôn ngữ Ngôn từ trong thơ haiku
không dùng để phân tích, lý luận Đó là ngôn từ của sự trải nghiệm trực tiếp từ thực
tế, và vai trò của nhà thơ là truyền đạt sự trải nghiệm ấy đến độc giả
Có ít nhất hai trọng điểm kỹ thuật làm cho bài thơ trở thành mẫu mực Một, cả tâm cảnh hay niềm cảm xúc được biểu hiện bởi một miêu tả dung dị- một trình bày đơn sơ về sự vật đã hoàn thành bức tranh Hai, hai phần đã cấu thành cái toàn thể đối chiếu với nhau; không bằng các biện pháp tu từ so sánh hoặc ẩn dụ, mà như hai hiện tượng đơn lập Có thể gọi đây là “nguyên lý đối chiếu nội tại”, trong đó những biệt dị cũng hệ trọng như những tương đồng [14, tr 25- 26]
Ngoài ra, những đặc trưng khác như việc sử dụng kigo, kireji đều bị biến đổi khi haiku được sáng tác bằng một ngôn ngữ khác Chẳng hạn, trong tiếng Anh kireji
thường được thay thế bằng các dấu câu
1.4 ĐỀ TÀI TRONG THƠ HAIKU
Haiku là một thể loại thơ rất đa dạng về đề tài thể hiện, nên hầu như không thể
xác định được đâu là những đề tài quan trọng của thể thơ này
Sự đa dạng về đề tài của thơ haiku có nhiều lý do Trước hết, haiku vốn là đoạn mở đầu của một bài tanka, nhưng được sáng tác theo dạng thơ liên hoàn gồm
nhiều bài nối tiếp nhau Với hoàn cảnh sáng tác như vậy, một đoạn thơ thường là kết quả của một cảm xúc bất chợt trong một khoảnh khắc có thi hứng, nên đề tài có thể là bất cứ điều gì xuất hiện trong tầm nhìn hoặc trong suy nghĩ của nhà thơ Hơn
Trang 24nữa, thuyền thống thơ ca Nhật Bản vốn phong phú về đề tài Điều này đã được thể
hiện trong thơ tanka cổ điển với các chủ đề từ phong cảnh thiên nhiên đến những cảm xúc và tâm trạng con người trong tình yêu Haiku vẫn nối tiếp truyền thống này,
nhưng phát triển theo khuynh hướng thẩm mỹ dung dị hơn nên càng phù hợp với nhiều đề tài đơn giản đến từ những cảnh sinh hoạt bình thường trong cuộc sống
Nhưng, quan trọng nhất là chính đặc điểm của thơ haiku tạo nên sự đa dạng về
đề tài thể hiện Mỗi bài thơ haiku, với quy định hết sức hạn chế về dung lượng ngôn
từ, rất giống với một công án Thiền- một dạng câu đố mà các Thiền sư đưa ra cho Thiền sinh để suy ngẫm, được sử dụng như một phương tiện để đạt đến giác ngộ
Thơ haiku, vì hình thức ngắn gọn của nó, chỉ đưa ra những hình ảnh hoặc sự kiện
mà nhà thơ quan sát được trong thế giới khách quan Phần kết nối những hình ảnh,
sự kiện để tạo ra ý nghĩa hay giá trị nghệ thuật của bài thơ không hiển lộ trên bề mặt ngôn ngữ mà ẩn đi như một câu đố Tác giả bài thơ đặt ra câu đố và độc giả là người
giải đố- một hình thức đồng sáng tạo trong nghệ thuật Do đặc điểm này, thơ haiku
có thể được sáng tác trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trong bất kỳ trạng thái cảm xúc nào của nhà thơ Vì vậy đề tài của bài thơ có thể là một hình ảnh bất kỳ trong thiên
nhiên, trong cuộc sống “Bụi cám, tôm cá, dế mèn, chiếc áo bông đang cởi bỏ, nhà dột, cột xiêu, phiến gỗ vừa đốn, con sâu đang gặm hạt dẻ…được nhắc tới thật là hồn nhiên, tự nhiên nhi nhiên” [29, tr 149]
Sự đa dạng về đề tài của thơ haiku còn là biểu hiện của tư tưởng Thiền trong
thể loại thơ này Với triết lý Thiền, mọi sự vật nhỏ nhoi trong thế giới đều mang trong nó cả cuộc sống, cả vũ trụ bao la Với triết lý Thiền, không có sự phân biệt về bản chất giữa những sự vật, hiện tượng vốn được xem là khác biệt do định kiến về
sự sang - hèn, cao - thấp, thanh khiết- ô trọc v v Do vậy, thơ haiku, mặc dù cũng
sử dụng thi pháp tượng trưng, rất khác biệt so với thơ Đường, và cả thơ tanka truyền thống của người Nhật, ở sự phong phú của đề tài Haiku không bị giới hạn về
nội dung tư tưởng ở những giá trị mà Nho giáo đề cao, không ràng buộc với chủ đề
ca ngợi cuộc sống hoa lệ của tầng lớp quý tộc cung đình hay sự vinh quang của
chiến thắng Như một công án Thiền, haiku có thể nắm bắt bất cứ hình ảnh nào
Trang 25trong tự nhiên và trong cuộc sống thường nhật của con người, đặt những hình ảnh
ấy bên cạnh nhau để người đọc nhận ra ý nghĩa
Bài thơ nổi tiếng sau đây của Basho giống như một bức ảnh với khung cảnh tĩnh lặng, trong đó dung hợp các hình ảnh mà bình thường tưởng chừng rất khó kết hợp với nhau:
一つ屋に Hitotsu ya ni Chung một mái trọ
遊女も寝たり Yojo mo netari Những du nữ ngủ
萩と月 Hagi to tsuki Trăng và hoa thu
(芭蕉) (Basho) (Đoàn Lê Giang dịch)
Những hình ảnh trong bài thơ trên vốn rất quen thuộc với tất cả mọi người trong cuộc sống, và tự thân những hình ảnh như “du nữ”, “hoa thu” không phải là cái đẹp nổi bật khiến người ta phải chú ý, nên bài thơ có vẻ như một bức ảnh được chụp một cách ngẫu nhiên Thế nhưng, khi được đặt bên cạnh nhau, sự đối lập được nhấn mạnh làm cho tác phẩm trở nên có chiều sâu một cách bất ngờ Khung cảnh trong bài thơ, tuy rất hẹp, lại như bao trùm khắp cả cõi người ta Trong không gian
đó, cả vầng trăng cao vời và những bông hoa đinh hương nhỏ bé thầm lặng cùng tồn tại, như thi nhân và du nữ cùng nghỉ đêm trong một quán trọ bên đường Đó là một thế giới của tự nhiên, không bị những định kiến hẹp hòi chi phối, nên toát lên một
vẻ đẹp trong sáng và tĩnh lặng
Hay bài thơ của Issa dưới đây:
木の陰や Ki no kage ya Dưới bóng cây
蝶と宿るも Cho to yadoru mo Trú mưa cùng bướm
他生の縁 Tasei no en Duyên trần ai hay
(一茶) (Issa) (Nhật Chiêu dịch)
Trang 26Hình ảnh thi nhân và bướm cùng trú mưa dưới bóng cây cũng tạo nên một khoảnh khắc đẹp Trong khoảnh khắc đó, những “tha sinh” trong cõi ta bà thiên sai vạn biệt chợt gần lại với nhau Khi con người nhìn cánh bướm với đôi mắt bao dung không định kiến thì sự gặp gỡ giữa người và bướm trong một cơn mưa bất chợt cũng là “duyên” Tâm hồn thi nhân đủ tinh tế để phát hiện những hình ảnh bé nhỏ thường bị khuất lấp trong sinh hoạt đời thường, đủ rộng để xoá những khoảng cách trong cái nhìn sai biệt và tạo nên những khoảnh khắc bất ngờ
Sự khác nhau về tài năng và cả phong cách sáng tác của các nhà thơ haiku thể
hiện ở khả năng sắp đặt những hình ảnh, chứ không phải ở ý nghĩa thông thường của từng hình ảnh được nhìn nhận bởi định kiến của con người Để có được một bài
haiku độc đáo, người sáng tác thơ phải có tâm hồn phóng khoáng, an nhiên và phải hết sức tinh tế trong cách nhìn, cách cảm nhận cuộc sống Một bài haiku thành công
là một khoảnh khắc, một lát cắt sinh động ở mọi nơi, từ mọi góc độ trong thế giới, trong đó những hình ảnh đơn giản được đặt bên cạnh nhau làm phát sinh một nét
nghĩa mới lạ, một cảm xúc đặc biệt Vì thế, haiku giống như một công án mang lại
khoảnh khắc “ngộ” cho người đọc thơ
Các nhà phê bình và nghiên cứu thường gắn chủ đề trong thơ haiku với từng
nhà thơ, chẳng hạn như Basho là nhà thơ về những cuộc du hành, Buson nổi tiếng với những bài thơ về cảnh thiên nhiên hay Issa viết về nỗi bi ai của con người Đó chỉ là những cảm nhận cơ bản về cảm thức chủ đạo trong tác phẩm của từng nhà thơ, chứ không phải là đề tài cụ thể của từng bài Trong sáng tác của mỗi nhà thơ nói trên đều có những hình ảnh của thiên nhiên Nhật Bản như hoa đào mùa xuân, cỏ mùa hạ, trăng mùa thu, tuyết mùa đông Mặt khác, mỗi nhà thơ đều có những bài thơ hay về nỗi buồn, sự cô độc hay cảm nhận về sự hư vô của cõi người
Do sự đa dạng về chủ đề, không thể dùng tiêu chí đề tài để phân loại thơ haiku
Tuy nhiên, về nội dung tư tưởng trong thơ, có thể nhận thấy một số khuynh hướng
thể hiện trong thể loại haiku như sau:
Trang 27Một số bài thơ thiên về tả thực Nhà thơ không viết ra cảm xúc hay lời bình
của mình mà chỉ đưa ra những hình ảnh khách quan Với những bài haiku được viết
theo kiểu này, cảm thức thẩm mỹ trong thơ phụ thuộc vào năng lực tưởng tượng và cảm nhận của người đọc Chẳng hạn như bài thơ dưới đây của Buson:
菜の花や Na no hana ya Hoa cải rực vàng
月は東に Tsuki wa higashi ni Phương tây mặt trời ngả bóng 日は西に Hi wa nishi ni Phương đông mặt trăng lên (蕪村) (Buson) (Đoàn Lê Giang dịch)
Bài thơ trên là một bức tranh phong cảnh với ít đường nét và rất nhiều khoảng trống Ngay cả những tính từ chỉ màu sắc cũng không được sử dụng Khi đọc bài thơ này, người đọc phải tưởng tượng về một cánh đồng mênh mông rực vàng hoa cải Ở chân trời phía tây, ánh chiều tà chưa khuất hẳn, nhưng vầng trăng mọc sớm
đã hiện lên phía trời đông Nhà thơ không thể hiện tâm trạng của mình, cũng không dùng những từ biểu cảm khi miêu tả để gợi ý cho người đọc Với tác phẩm này, cảm thức thẩm mỹ tuỳ thuộc vào độc giả, với cách cảm nhận riêng của từng người, tuỳ theo năng lực tưởng tượng hay tâm trạng, hoàn cảnh
Trường hợp phổ biến nhất là loại thơ kết hợp miêu tả và thể hiện tâm trạng Ở trường hợp này, nhà thơ bộc lộ cảm nhận của mình trong vài từ ngắn gọn nhưng hàm súc, hoặc lồng tâm trạng vào khung cảnh được miêu tả, như trong những bài thơ sau:
静かさや Shizukasa ya Vắng lặng u trầm
岩にしみ入る Seki ni shimi iru Thấm sâu vào đá
蝉の声 Semi no koe Tiếng ve ngâm
(芭蕉) (Basho) (Đoàn Lê Giang dịch)
Trang 28我春は Waga haru wa Mùa xuân tôi ư
竹一本に Take ippon ni Cây trúc đơn độc
柳かな Yanagi kana Và cành liễu tơ
(一茶) (Issa) (Nhật Chiêu dịch)
Mặc dù lời thơ không có ngôn từ trực tiếp tả tâm trạng nhưng qua cách miêu tả của hai bài thơ trên, người đọc có thể hình dung được khung cảnh miêu tả đồng thời hiểu được tâm trạng của tác giả lồng trong khung cảnh đó Với cách thể hiện này, sự sâu sắc và cảm thức thẩm mỹ của từng bài thơ cũng rất khác nhau Trong bài thơ trên của Issa, sự cô độc của nhà thơ trong bối cảnh mùa xuân được thể hiện qua hình ảnh cây trúc và cành liễu, và được nhấn mạnh bởi từ “một cây” (ippon) Hầu như mọi độc giả đều có thể cảm nhận được tâm trạng cô đơn đó Nhưng trong bài thơ của Basho thì tâm trạng của nhà thơ không còn là sự cô đơn nữa mà là một cảm thức nảy sinh trong khung cảnh u tịch, cảm thức này được nhấn mạnh bởi sự đối lập giữa tiếng ve ồn ã và sự trầm mặc yên lặng của những tảng đá Mặc dù có yếu tố tả thực, thơ của Basho vẫn đạt đến một chiều sâu mà không phải ai cũng hiểu được dễ dàng
Một nhà thơ có tâm hồn sâu sắc như Basho cũng có thể sáng tác những bài thơ
ít hình ảnh nhưng giàu tính triết lý, như bài thơ dưới đây:
手を打てば Te wo tateba Tôi vỗ bàn tay
こだまに明くる Kodama ni akaruku Dưới trăng mùa hạ
夏の月 Natsu no tsuki Tiếng dội về, ban mai! (芭蕉) (Basho) (Nhật Chiêu dịch)
“Tiếng vỗ của bàn tay” gợi nhắc đến một công án Thiền Trong bài thơ này, tiếng vỗ tay dưới ánh trăng mùa hạ như một âm thanh huyền bí Với âm vang đó, ánh bình minh của ngày mới đã bừng lên
Trang 29Bài thơ trên cũng là một khoảng bừng tỉnh của tâm thức Với phong cách này,
thơ haiku đã đạt đến một tầm cao triết học và mỹ học, khác hẳn với phong cách hài hước dí dỏm của thơ haikai buổi đầu Tuy nhiên, do văn học Nhật Bản có truyền
thống đề cao mỹ học hơn triết học, những bài thơ triết lý thuần tuý thường ít gặp
trong thơ haiku
1.5 MỘT SỐ NHÀ THƠ HAIKU TIÊU BIỂU
1.5.1 Matsuo Basho 松尾芭蕉 (1644- 1694)
Basho, tên thật là Matsuo Kinsaku,
sinh trưởng trong một gia đình thuộc tầng
lớp samurai ở Ueno, thuộc vùng Iga
Trong thời niên thiếu, Basho đã trải
qua thời gian sống trong lâu đài Ueno, với
vai trò tuỳ tùng cho Sengin Yoshitada, con
trai lãnh chúa Basho và Yoshitada trở nên
thân thiết với nhau và cùng nhau học về thơ
ca trong thời gian sống tại lâu đài
Năm 1666, Yoshitada đột ngột qua đời
ở tuổi 24 Sau đó, Basho đã rời bỏ lâu đài Ueno và trải qua một khoảng thời gian sống tại Kyoto, tiếp tục tìm hiểu thơ ca và bắt đầu trở nên nổi tiếng
Năm 1672, sau một thời gian ngắn trở lại quê nhà, Basho lên đường đi Edo Ở tuổi ba mươi, ông thành lập một trường phái thơ ca mới và nhận môn đệ đầu tiên là Kikaku 其角
Basho đã sáng tạo phong cách thơ ca mới gọi là “shofu”蕉風 (phong cách
Basho), kết hợp tính trào lộng của haikai no renga với sự thanh nhã sâu sắc của thơ
ca cổ điển để hình thành thể loại thơ haiku độc lập
Năm 1680 Basho sống trong lều cỏ bên bờ sông Sumida và bắt đầu tu tập theo triết lý Thiền
Hình 1.1: Matsuo Basho
Trang 30Basho là một trong những nhà thơ Nhật Bản đã sống và trải nghiệm cuộc đời như một lữ nhân Ông đã thực hiện nhiều chuyến đi dài, và những tác phẩm lớn của ông được sáng tác chủ yếu trong những cuộc hành trình, cùng với nhiều môn đệ thân tín
Từ năm 1684, Basho rời bỏ lều cỏ và bắt đầu du hành các nơi Ông trở về thăm quê nhà ở Ueno, rồi đi Nagoya, đến hè năm sau mới trở về Edo Trong chuyến đi
này, Basho cùng với các môn đệ đã soạn tập thơ Fuyu no hi 冬の日 (Mặt trời mùa đông) và cuốn nhật ký du hành với tựa đề Nozarashi kiko 野晒紀行 (Du ký phơi thân đồng nội) Bắt đầu từ đó, Basho liên tục dấn thân vào các cuộc lữ hành Đó
cũng là thời gian ông có nhiều môn đệ và sáng tác nhiều nhất Loại tác phẩm phổ biến của ông là nhật ký hành trình, được viết dưới dạng văn xuôi kết hợp với các bài
thơ haiku
Chuyến đi nổi tiếng nhất của Basho là cuộc hành trình lên miền đông bắc nước Nhật, khởi đầu từ mùa xuân và kết thúc vào mùa thu năm 1689, được ghi lại trong
tác phẩm Oku no hosomichi 奥の細道 (Con đường nhỏ lên miền Oku)
Năm 1694, Basho lại lên đường đi về phía nam với dự kiến Kyushu sẽ là điểm đến cuối cùng Tuy nhiên, khi đến Osaka thì Basho lâm trọng bệnh và qua đời tại đó Thơ ca của Basho thể hiện rõ nét cái nhìn và tâm trạng của một lữ khách Ông viết về cảnh thiên nhiên, về những sự vật, hiện tượng và con người mà ông đã gặp trong các cuộc du hành
Triết lý Thiền cũng để lại nhiều dấu ấn trên tác phẩm của ông, trong cách ông viết về sự sống và cái chết, về định mệnh hay sự vô thường của cuộc đời Trong
những năm cuối đời Basho theo đuổi lý tưởng karumi 軽み trong sáng tác, nghĩa là
hướng đến cảm thức nhẹ nhàng, thanh thoát- một trong những lý tưởng thẩm mỹ của người Nhật Bản
Tác phẩm Oku no hosomichi của Basho được xem là một trong những kiệt tác của thơ ca Nhật Bản Oku no hosomichi có nghĩa là “con đường hẹp” Đó là con
Trang 31đường hoang vu đi lên miền đông bắc Nhật Bản mà Basho đã lựa chọn để thực hiện
cuộc du hành Theo cách khác, Oku no hosomichi còn có thể hiểu là con đường đi
vào cõi sâu thẳm, đi vào chiều sâu của tha giới và của tâm thức thi nhân, con đường
đi tìm kiếm và khám phá sự kỳ diệu của thiên nhiên, cuộc sống Trong tác phẩm này,
những bài thơ haiku được viết xen kẽ với những đoạn văn xuôi, miêu tả những cảnh
tượng mà nhà thơ đã gặp trên đường đi, phản ánh những cảm nhận của nhà thơ về
phong cảnh thiên nhiên, về tình cảm con người Những bài haiku trong tác phẩm
này thể hiện cái đẹp thâm trầm và sâu sắc, là tiếng thơ của một tâm hồn từ bi và cao nhã
Cùng thực hiện những cuộc hành trình và cùng sáng tác với Basho là rất nhiều môn đệ Không rõ số lượng môn đệ của Basho chính xác là bao nhiêu người, nhưng trong số đó mười người nổi tiếng nhất là Etsujin 越人, Hokushi 北枝, Joso 丈草, Kikaku 其角, Kyorai 去来, Kyoroku 許六, Ransetsu 嵐雪, Shiko 支考, Sampu 杉
風, Yaba 野坡 Những môn đệ này, tuy nổi tiếng và có những bài thơ được đánh giá
cao trong thế giới haiku, không hẳn là sự kế thừa của Basho về phong cách sáng tác Chẳng hạn, Kikaku được đánh giá là có tài năng nổi bật, nhưng những bài haiku do
ông viết ra mang một phong vị khác hoàn toàn so với không gian tịch liêu thường gặp trong thơ của Basho
1.5.2 Yosa Buson 与謝蕪村 (1716- 1783)
Trang 32Buson tên thật là Taniguchi Buson, sinh
tại một ngôi làng gần Osaka Thời tuổi trẻ,
ông đã đến Edo và sống một cuộc sống tự lập
Trong thời gian ở Edo, Buson bắt đầu
học và sáng tác haiku Ông cũng học Hán tự
và hội hoạ Những tác phẩm thơ ca đầu tiên
của Buson không đặc sắc lắm, và số lượng
cũng không nhiều
Mùa xuân năm 1741, Buson rời Edo
Trong khoảng thời gian ba năm từ 1741 đến 1744, ông thực hiện chuyến du hành lên phương bắc, nơi còn in dấu bước chân đại thi hào Basho
Về sau, Buson định cư tại Kyoto, tiếp tục sáng tác và trở nên nổi tiếng trên cả hai lĩnh vực thơ ca và hội hoạ
Là tác phẩm của một hoạ sĩ, thơ haiku của Buson rất sinh động, giàu hình ảnh
và màu sắc Những hình ảnh trong thơ Buson thể hiện năng lực quan sát tuyệt vời
và tình yêu cái đẹp của một hoạ sĩ tài năng Ông có thể sáng tác những bài thơ haiku
về mọi khoảnh khắc của cuộc sống: một người chèo thuyền đơn độc trong mưa bão, một đôi tình nhân đi dưới mưa xuân, những cành hoa anh đào bên ngôi chùa cổ, tiếng ếch vang trong đêm, thiếu phụ đọc thư dưới ánh trăng, một cánh đồng rực
vàng hoa cải v v Hơn nữa, thầy dạy thơ haiku đầu tiên cho Buson là một nhà thơ
có lối viết trong sáng, tránh nói đến những khía cạnh dung tục như đa số các nhà thơ cùng thời trên thi đàn của trào lưu Tenmei 天明 (một trào lưu trong thơ ca Nhật Bản
vào thế kỷ XVII, có sự tham gia của nhiều nhà thơ sáng tác haiku) Có thể vì ảnh hưởng từ phong cách đó mà thế giới haiku của Buson thường đầy sắc hoa, ánh sáng
và hương vị của tình yêu lãng mạn
Mặc dù rất ngưỡng mộ tài năng của Basho và là một trong những người đã nhiệt liệt ngợi ca đại thi hào, Buson không thể hiện là người chịu ảnh hưởng từ Basho về phong cách sáng tác Do vậy, khó có thể so sánh tài năng của hai nhà thơ,
Hình 1.2: Yosa Buson
Trang 33tuy có nhiều ý kiến cho rằng Buson là nhà thơ lớn trong thế giới haiku và chỉ đứng
ở vị trí thứ hai sau Basho
Tác phẩm của Buson còn để lại gồm khoảng hơn ba nghìn bài haiku Ngoài ra, ông còn sáng tác các thể loại thơ khác như renga và thơ chữ Hán Buson được cho
là người đầu tiên đã thể nghiệm loại thơ tự do ở Nhật Bản, trước khi người Nhật chịu ảnh hưởng của văn học hiện đại phương Tây vào thế kỷ XIX
Trong khi sáng tác thơ haiku, Buson cũng tạo ra những nét mới trong thơ bằng
cách phá vỡ những quy ước truyền thống của thể loại thơ này Chẳng hạn, thay vì
tuân thủ số lượng âm tiết của các câu trong haiku là 5- 7- 5, Buson đã sáng tạo một
cấu trúc khác như sau:
月光西に渡れば Gekkou nishi ni watareba Dưới tán hoa đằng đông 花陰東に Hana kage higashi ni Dạo bước thong dong
歩むかな Ayumu kana Phía trời tây trăng dõi
(蕪村) (Buson)
Bài thơ trên tuy cũng gồm ba câu nhưng lại có cấu trúc âm tiết là 11- 8- 5,
khác với quy định về âm tiết của thơ haiku truyền thống Hơn nữa, ý nghĩa trong bài
thơ có phần giống với Hán thi thể hiện qua khuynh hướng đối lập nhau ở hai câu đầu (mặt trăng đi về phía tây, bóng hoa ở phía đông) Tuy nhiên, hình ảnh “hana kage” (bóng hoa đào) lại là một hình ảnh quen thuộc trong thơ ca Nhật Bản
Ngoài sự phá cách về cấu trúc ngôn từ, thơ của Buson còn đặc biệt nhờ sử dụng nhiều từ tượng hình và từ tượng thanh và từ đồng âm khác nghĩa Hai bài thơ dưới đây là ví dụ điển hình:
日は日暮れよ Hi wa hi kure yo Từ sáng đến hoàng hôn
夜は夜明けよと Yo wa yo ake yo to Từ đêm đến bình minh
鳴く蛙 Naku kawazu Vang vang tiếng ếch
Trang 34(蕪村) (Buson) (Đoàn Lê Giang dịch)
春の海 Haru no umi Biển mùa xuân
終日のたり Hinemosu notari Cả ngày dài không ngừng
のたりかな Notari kana Nhấp nhô nhấp nhô ngọn sóng (蕪村) (Buson)
Ở bài thơ thứ nhất, nhà thơ sử dụng các từ tượng thanh để mô tả tiếng ếch kêu (“yo-wa-yo”) nhưng cũng có dụng ý chơi chữ do hiện tượng đồng âm của từ (“yo”
có nghĩa là “đêm”), do vậy bài thơ này không thể dịch ra một ngôn ngữ khác mà vẫn giữ nguyên các tầng nghĩa vốn có
Bài thơ thứ hai lặp lại từ tượng hình “notari” (nhấp nhô) làm cho hình ảnh biển trong bài thơ trở nên sinh động, đồng thời tạo cảm giác của một sự lặp lại kéo dài để nhấn mạnh ý nghĩa của từ “hinemosu” (suốt cả ngày)
Tuy có khuynh hướng sáng tác thơ tự do và thể hiện nhiều nét mới trong thơ
haiku nhưng Buson lại đồng thời là “nhân vật trung tâm của phong trào phục hưng thơ haiku” [30, tr 280], chủ trương quay về với phong cách haiku truyền thống của
Basho
Buson còn nổi tiếng với một lĩnh vực nghệ thuật mang tính tổng hợp là haiga
俳画 Haiga là một loại hình kết hợp hội hoạ và thơ haiku vào cùng một tác phẩm Haiga kết hợp cái đẹp của ngôn từ và cái đẹp của hình ảnh thể hiện qua nét vẽ
Trong một bức thư hoạ, cái đẹp của hình vẽ cụ thể hoá cái đẹp ngôn từ, và bản thân chữ viết của bài thơ cũng mang cái đẹp của đường nét Với tài năng trong thể loại này và lòng ngưỡng mộ dành cho Basho, Buson đã thực hiện phần minh hoạ cho tác
phẩm nổi tiếng Oku no hosomichi
Trang 351.5.3 Kobayashi Issa 小 林 一 茶 (1763-
1827)
Issa tên thật là Kobayashi Nobuyuki, sinh
trưởng trong một gia đình nông dân ở vùng
Shinano
Issa mất mẹ từ rất sớm, và điều đó dường
như là sự kiện khởi đầu cho một chuỗi dài bất
hạnh trong cuộc đời ông
Vì mối quan hệ tình cảm không tốt đẹp với
người mẹ kế, ông bỏ nhà lên Edo từ năm mười
lăm tuổi Kể từ khi rời khỏi nhà, trong suốt hai
mươi năm sau đó ông rất ít khi về lại quê hương
Đến năm 1801 thì ông về chịu tang cha, sau đó lại
bị mẹ kế và em trai tranh giành quyền thừa kế
Gia đình riêng mà Issa xây dựng với người vợ là Kiku cũng gặp nhiều bất hạnh Những đứa con của ông với người vợ này đều qua đời khi còn nhỏ, và chính Kiku cũng rời bỏ Issa
Sau cái chết của Kiku, Issa lập gia đình một lần nữa với mong muốn có con nối dõi, nhưng cuộc hôn nhân thứ hai này lại tan vỡ rất nhanh Cho đến khi trút hơi thở cuối cùng, Issa vẫn là một con người cô đơn, một tâm hồn trĩu nặng những nỗi đau trần thế
Khi còn nhỏ tuổi, Issa đã được học về thơ haiku qua một thầy giáo ở trường
làng Những nỗi buồn quá lớn đến với ông, khi đó chỉ là một cậu bé, đã trở thành một nhân tố quan trọng để tiếng thơ bật lên một cách bất ngờ
Trong thời gian sống ở Edo, tuy phải vất vả để tự lực mưu sinh nhưng Issa vẫn
tiếp tục tìm hiểu và thực hành thơ haiku với một người thầy khác, nhà thơ Chikua
竹阿
Hình 1.3: Kobayashi Issa
Trang 36Với cuộc sống ly hương và tâm hồn của một thi sĩ, Issa cũng thực hiện nhiều chuyến du hành Ông đã từng đến thăm bạn bè ở vùng Kansai, và đi đến nhiều vùng khác của Nhật Bản như Kyushu, Chugoku, Shikoku v v Với Issa, du hành cũng là con đường dẫn đến hội ngộ với nhiều nhà thơ Nhật Bản, là con đường tìm kiếm cái đẹp và trở về với tâm linh
Issa là một tín đồ của phái Tịnh Độ Chân Tông, nhưng niềm tin tôn giáo không giúp ông thoát khỏi sự nặng nề của những bất hạnh mà ông gánh chịu trong đời Vì vậy, thơ của Issa không có màu sắc tươi sáng như thơ Buson, cũng không đạt đến
vẻ đẹp nhẹ nhàng như thơ Basho mà trĩu nặng tình cảm đời thường với ngôn từ bình
Qua những tập thơ này, có thể thấy những hình ảnh về quê hương của Issa và chính tình cảm riêng của nhà thơ đối với quê nhà chiếm một vị trí quan trọng trong
sự nghiệp sáng tác của ông Những hình ảnh thiên nhiên như tuyết, biển, trăng hay chim chóc, hoa cỏ đều được ông nhắc đến trong dòng hoài niệm về quê cũ khi làm một lữ nhân trên đất khách Một điều đáng chú ý ở đây là tình cảm của Issa đối với quê hương không đơn giản chỉ là nỗi nhớ dịu dàng, như tình cảm thông thường ở những người xa xứ Vì những nỗi bất hạnh riêng trong cuộc sống gia đình, hình ảnh quê hương trong thơ của Issa thường xuất hiện trong cảm xúc mâu thuẫn, vừa nhớ nhung thương yêu vừa xót xa cay đắng Chẳng hạn như bài thơ thể hiện cảm xúc của ông khi trở về quê nhà sau khoảng thời gian dài sống tha hương:
Trang 37故郷や Furusato ya Trở về quê hương
よるも障るも Yoru mo sawaru mo Khóm hoa hồng dại
茨の花 Bara no hana Chào đón bên đường
(一茶) (Issa)
Trong bài thơ trên, “bara” là kidai chỉ mùa hè, và là tên của một loại hoa hồng
dại thường mọc hoang trên những cánh đồng và ven đường ở thôn quê “Bara” vừa
là một hình ảnh giản dị, nhỏ bé, thân thương gắn với quê nhà, lại vừa hàm ý về sự tổn thương vì gai góc, vì hoa hồng dại cũng là một loài cây bụi có gai Khi viết bài thơ này, có lẽ tâm hồn nhà thơ đang day dứt vì hai dòng cảm xúc khác nhau Một đằng là tình cảm bồi hồi khi trở về quê cũ, gặp lại những hình ảnh quen thuộc, một đằng là sự dằn vặt, cay đắng vì phải đối diện với những vấn đề tranh chấp trong gia đình, với thái độ lạnh nhạt của những người thân
Với tất cả những mất mát và đau thương trong đời, Issa là một thi nhân với trái
tim bao dung và tràn đầy bi cảm Trong những bài haiku của Issa, có thể thấy tình
thương vô tận trong cách nhà thơ nhìn vào cuộc sống Một con ruồi nhỏ bé cũng là một sinh mệnh đáng trân trọng Cuộc hội ngộ với một cánh bướm cũng được xem là
“duyên” Thế giới haiku của Issa là một thế giới bi ai nhưng đầy tình cảm Một thế
giới thơ rất gần gũi với đời thường, với bất cứ ai hiểu được nỗi đau và trân trọng
tình thương Chính vì vậy mà Issa trở thành nhà thơ haiku được yêu mến nhất, cùng với Basho và Buson tạo thành “ba đỉnh cao” của thế giới haiku, mặc dù ông không
uyên thâm và lỗi lạc như hai nhà thơ đi trước
Trang 38CHƯƠNG 2: Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP HUYỀN BÍ, TÂM LINH
TRONG THƠ HAIKU
Các phạm trù của mỹ học Nhật Bản thường có một số nét nghĩa giống nhau, đồng thời mỗi khái niệm cũng có ý nghĩa riêng và gắn với một lĩnh vực nghệ thuật, hay thể hiện phong cách nghệ thuật của một nghệ sĩ, một thi nhân nào đó Chẳng
hạn như yugen thường gắn với kịch no, sabi được biết đến như một đặc trưng thẩm
mỹ của thơ Basho, hay wabi là tinh thần của trà đạo theo quy chuẩn của Rikyu Do
vậy, rất khó để phân loại và sắp xếp các khái niệm mỹ học theo một tiêu chuẩn, một
hệ thống nào đó Điều này được thể hiện khá rõ trong các công trình nghiên cứu về
ý thức thẩm mỹ Nhật Bản Trong các công trình nghiên cứu viết bằng tiếng Nhật và tiếng Anh, các tác giả thường trình bày từng khái niệm thẩm mỹ độc lập, tuy rằng
có thể nêu ra nhiều điểm khá giống nhau về nội hàm ý nghĩa giữa các khái niệm đó Cách trình bày như vậy có ưu điểm là tác giả có thể làm rõ nội dung của từng khái niệm mà không bị vướng mắc trong vấn đề phân biệt giữa khái niệm này với khái niệm khác, nhưng lại không thể giúp người đọc nhận ra đâu là những nét chính của
ý thức thẩm mỹ Nhật Bản Nói cụ thể hơn, nếu chỉ đọc về mỹ học Nhật Bản qua những khái niệm rời rạc, người đọc sẽ cảm thấy ý thức thẩm mỹ Nhật Bản là một vấn đề mơ hồ, khó nắm bắt và thậm chí còn hàm chứa những nét nghĩa mâu thuẫn nhau
Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu trước đây và cũng để đáp ứng yêu cầu về tính hệ thống, tính cân đối trong cấu trúc của một luận văn, khi thực hiện luận văn này chúng tôi đã sắp xếp các khái niệm của mỹ học Nhật Bản vào hai chương với hai chủ đề khác nhau Đây là một cố gắng để mang lại cho người đọc
những ý niệm cơ bản nhất về ý thức thẩm mỹ Nhật Bản trong thơ haiku Tuy nhiên,
do tính đa dạng và phức tạp về mặt ý nghĩa của các khái niệm mỹ học, việc sắp xếp theo một trật tự nào, hay một chủ đề nào cũng có thể tồn tại nhiều chỗ chưa hợp lý,
do vậy có thể xem các chủ đề được đặt thành tên chương ở chương 2 và chương 3 chỉ là những ý khái quát nhất về các khái niệm được trình bày trong chương Hơn
Trang 39nữa, nếu xét một cách chi tiết thì vẫn có những khái niệm mỹ học khác – không được trình bày trong luận văn- cũng thể hiện những chủ đề này, hoặc có những khái niệm đa nghĩa, có thể xếp vào chủ đề này hoặc chủ đề khác
2.1 MONO NO AWARE ものの哀れ
“Mono” trong tiếng Nhật là một danh từ chỉ chung các sự vật trong thế giới khách quan “Aware” có nghĩa là nỗi buồn Hai từ này ghép với nhau thường được dùng để diễn đạt tâm trạng buồn, nỗi bi ai trong cuộc sống Như tâm trạng của một người cô độc trong bóng chiều hôm vọng tiếng chuông chùa Như đám mây hoa đào vừa rực rỡ sắc hồng đã rụng lả tả trong cơn gió Như tiếng kêu sầu thảm của loài
chim đỗ quyên trong một buổi chiều hè Từ đó, mono no aware được phát triển
thành một thuật ngữ của mỹ học truyền thống Nhật Bản, để nói đến cảm thức u sầu của con người do cảm nhận về một thế giới vô thường, luôn thay đổi
Mono no aware còn có nguồn gốc từ quan niệm về thế giới tự nhiên của Thần
đạo Theo quan niệm tôn giáo, sự vật trong giới tự nhiên gồm có hai phần cơ bản là
sự sống (mono no ke) và linh hồn (mono no kokoro) Con người muốn thấu hiểu được thế giới tự nhiên thì phải nắm bắt linh hồn sự vật, nên mono no kokoro là điều
quan trọng mà con người luôn nỗ lực để cảm nhận bằng cách rèn luyện một cách sống gần gũi và hoà hợp với thế giới xung quanh
Được hình thành từ hai khái niệm mono no ke và mono no kokoro, mono no aware thể hiện cảm thức chân thành của tâm hồn hướng đến hoà nhập vào sự sống
của mọi vật trong một thế giới đang thay đổi
Khi Phật giáo được tiếp nhận vào nền văn hoá Nhật Bản, nghĩa của từ mono no aware được mở rộng hơn với khái niệm “vô thường” Theo triết lý Phật giáo, thế
giới không có sự tồn tại thường hằng vĩnh cửu mà luôn luôn biến động Quan niệm này có thể bị phê phán là theo khuynh hướng bi quan Tuy nhiên, khi người Nhật tiếp nhận Phật giáo, họ đã hiểu triết lý trên theo nghĩa tích cực, cho rằng chính vì sự biến thiên muôn trùng của thế giới mà từng khoảnh khắc của cuộc sống, từng sinh mệnh trong thế giới đều cần được trân trọng Cách nghĩ này được thể hiện trong tuỳ
Trang 40bút Tsurezuregusa 徒然草 (Đồ nhiên thảo) của Yoshida Kenko 吉田兼好, viết vào khoảng những năm 1319 đến 1350, với những câu sau: “Dù bạn có trẻ trung và khoẻ mạnh đến đâu thì cái chết vẫn đến sớm hơn mong đợi Thật là kỳ diệu khi bạn còn tồn tại đến hôm nay; liệu bạn có cho rằng mình nên dừng lại để thư giãn trong chốc lát?” [89]
Hiện hữu trong một thế giới không ngừng thay đổi nên cái đẹp cũng rất mong manh, dễ mất Tình yêu của con người dành cho cái đẹp cùng với ý thức về trạng
thái mong manh đó càng làm cho cái đẹp trở nên sâu sắc hơn, đáng quý hơn Mono
no aware không chỉ là cảm xúc nảy sinh trước sự vô thường mà còn là ý thức thẩm
mỹ hướng về cái đẹp có chiều sâu, ẩn dưới những biến động không ngừng của sự vật, hiện tượng
Người Nhật có quan niệm về cái đẹp khác với người phương Tây Nếu như trong văn hoá Tây phương, cái đẹp được thể hiện rõ ràng và được đánh giá qua những tiêu chuẩn nhất định thì trong văn hoá Nhật Bản truyền thống, một sự vật được xem là “đẹp” không phải bởi cấu trúc của bản thân nó mà bởi những ý nghĩa hay cảm xúc mà nó gợi lên ở người cảm nhận Có thể thấy rõ khuynh hướng này qua tình yêu của người Nhật dành cho hoa anh đào Trên tất cả mọi lý do, hoa anh đào chiếm vị trí đặc biệt trong trái tim người Nhật bởi sự mong manh của nó Hoa mai trắng, mặc dù có nhiều nét rất giống với hoa đào, và rất được đề cao trong thơ
ca cổ điển Trung Hoa và Việt Nam với vẻ đẹp cao nhã và thanh thoát, lại không được người Nhật yêu quý bằng hoa anh đào vì loại hoa này còn bám trên cành khá lâu sau khi nở Rõ ràng là khái niệm “đẹp” trong tâm thức người Nhật không phải chỉ có yếu tố sắc màu hay cấu trúc, mà chủ yếu là sức gợi cảm, khả năng lay động tâm hồn bởi sự liên tưởng về một ý nghĩa nào đó gắn với đời sống con người và thế
giới tự nhiên Mono no aware thể hiện ý thức về cái đẹp theo khuynh hướng như
vậy
Theo Miyamoto Kenji thì mono no aware còn là biểu hiện của cái đẹp không
hoàn hảo (未完美) Tính mong manh dễ mất của sự vật hiện tượng trong thế giới