YẾU TỐ BẢN ĐỊA

Một phần của tài liệu Ý thức thẩm mỹ nhật bản trong thơ haiku (Trang 92 - 104)

CHƯƠNG 4: NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý THỨC THẨM MỸ CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN

4.1. YẾU TỐ BẢN ĐỊA

4.1.1. Đặc trưng của thiên nhiên Nhật Bản

Nhật Bản từ thập niên 1970 đến nay là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nhìn vào vị thế đó, thật khó mà hình dung được nước Nhật là một vùng đất có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, và dân tộc Nhật Bản phải luôn nỗ lực để vươn lên từ thực tế khắc nghiệt đó.

Địa hình Nhật Bản chủ yếu là đồi núi, diện tích đồi núi chiếm hơn 70% diện tích lãnh thổ. Đặc điểm này khá quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tình hình kinh tế xã hội Nhật Bản. Thứ nhất là địa hình đồi núi có độ dốc lớn và cấu tạo đất không thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Do vậy mà nông sản ở Nhật có số lượng ít hẳn so với các quốc gia Đông Nam Á nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa phù hợp với việc canh tác lúa nước. Cùng với sự phát triển của hoạt động ngoại thương, lúa gạo và hoa quả từ khắp nơi trên thế giới được nhập khẩu vào Nhật Bản ngày càng nhiều. Tất nhiên, giá thành của các loại nông sản này khá cao so với trường hợp được sản xuất trong nước.

Thứ hai là địa hình đồi núi không phù hợp với việc cư trú do những bất tiện trong hoạt động giao thông nên đại bộ phận dân cư tập trung ở đồng bằng. Trong khi đó, diện tích lãnh thổ ở vùng đồng bằng chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng diện tích cả nước. Tình trạng tập trung dân cư đã làm cho Nhật Bản trở thành quốc gia có mật độ dân cư cao, xếp thứ 30 trên thế giới [39, tr. 9-10].

Về vị trí địa lý, Nhật Bản nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất nên thường xuyên phải chịu các dư chấn động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa. Ngoài ra, những cơn động đất có sức tàn phá, thường dẫn đến hiện tượng tsunami (sóng thần), xảy ra vài lần trong một thế kỷ. Do đặc điểm này, mọi công trình xây dựng lớn nhỏ trên nước Nhật đều

phải chú ý đến kỹ thuật nhằm hạn chế thiệt hại về người và của trong trường hợp xảy ra động đất.

Bên cạnh đó, những diễn biến cực đoan của khí hậu cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống người dân, đặc biệt ở những vùng phía bắc Nhật Bản, nơi có mùa đông lạnh và kéo dài khiến các đảo bị ngập trong những đống tuyết lớn.

Nói chung, sự bất ổn trong cấu tạo địa chất, tình trạng mất cân đối trong phân bố địa hình cùng với những biến động bất thường trong môi trường tự nhiên đã tạo nên một đất nước Nhật Bản không bình lặng.

Mặt khác, Nhật Bản cũng là một quốc gia nổi tiếng về cảnh quan tự nhiên phong phú, trữ tình. Nhật Bản là một trong những nơi có phong cảnh được coi là đẹp nhất thế giới vì những đặc trưng vốn có của tự nhiên.

Vẻ đẹp của thiên nhiên Nhật Bản trước hết là vẻ đẹp thay đổi theo mùa. Nhật Bản có bốn mùa rõ rệt, mỗi mùa thiên nhiên lại có những sắc màu và dáng vẻ rất khác nhau: Về mùa xuân, hoa anh đào với nhiều chủng loại, nhiều sắc độ của màu hồng nở lan dần từ phía Nam lên phía Bắc. Vào mùa hè, lượng mưa tập trung nhiều nên cây cỏ xanh mướt tạo nên bức tranh thiên nhiên tươi nhuận và đầy sức sống.

Vào mùa thu, momiji (lá của những loại cây ôn đới có đặc tính đổi màu mà điển hình là cây phong) khoác lên những triền núi, sườn đồi một tấm áo màu đỏ rực.

Màu đỏ của thiên nhiên cũng theo diễn biến khác nhau của khí hậu từng vùng mà lan dần từ Bắc xuống Nam. Vào mùa đông, đảo quốc tươi đẹp này lại ngập trong màu tuyết trắng. Đặc biệt là núi Phú Sĩ, ngọn núi cao nhất nước và chiếm một vị trí quan trọng trong tâm thức người Nhật, nằm giữa đồng bằng nhưng đỉnh núi thì quanh năm tuyết phủ tạo nên một vẻ đẹp sáng lạnh và trang nghiêm. Do đó ngọn núi này trở thành nguồn cảm hứng của rất nhiều văn sĩ và thi sĩ xứ Phù Tang cũng như của các văn nghệ sĩ, trong đó có các nhiếp ảnh gia và họa sĩ khắp bốn phương.

Vẻ đẹp của thiên nhiên Nhật Bản còn do tính đa dạng của địa hình. Ngoài những dãy núi cao thấp chạy ngang dọc trên toàn lãnh thổ, nước Nhật còn có những bồn địa giữa núi, những bình nguyên ven biển, các con sông và nhiều hồ. Các đảo

Nhật Bản là một phần của dải núi ngầm trải dài từ Đông Nam Á tới Alaska nên địa hình Nhật Bản có bờ biển dài, có đá lớn và nhiều vịnh nhỏ nhưng rất đẹp.

Vì là một quần đảo có dạng vòng cung hẹp và dài nên Nhật Bản cũng đa dạng về khí hậu. Tại miền bắc (đảo Hokkaido và phía bắc đảo Honshu), mùa hè ngắn nhất, mùa đông dài với tuyết rơi nhiều; trong khi đó, phía nam Kyushu và Okinawa có khí hậu bán nhiệt đới. Sự đa dạng của các đới khí hậu trên đất nước Nhật Bản đã tạo nên những sắc màu thiên nhiên phong phú và gợi cảm: màu trắng của tuyết, màu đỏ và xanh của lá cây, màu hồng của hoa anh đào và rất nhiều màu hoa khác.

Sống trên quần đảo giữa Thái Bình Dương trong điều kiện thiên nhiên nhiều biến động và đầy khắc nghiệt nhưng cũng không ít cảnh quan thi vị trữ tình, người Nhật luôn phải tìm cách khắc phục những bất lợi của tự nhiên để tồn tại và phát triển nhưng cũng chưa bao giờ đánh mất tình yêu đối với thiên nhiên. Tình yêu và sự gắn bó với thiên nhiên của người Nhật thể hiện trong từng khía cạnh đời sống và trong hầu hết những loại hình nghệ thuật truyền thống của họ.

Tập thơ cổ điển nổi tiếng của người Nhật ra đời vào thế kỷ VIII có tên là Manyoshu có nghĩa là “mười nghìn chiếc lá”. Người Nhật xem thơ ca như là sự hòa điệu giữa tâm hồn biết thưởng ngoạn của con người và cái đẹp của tự nhiên. Như lá cây mọc ra trên cành cây, thơ sinh ra từ thẩm mỹ của thiên nhiên và từ trái tim người. Do vậy mà nguyên tắc quan trọng của thơ haiku quy định rằng trong mỗi bài thơ đều phải có kigo, nghĩa là từ chỉ mùa hoặc kidai thể hiện những nét đặc trưng của tự nhiên theo từng mùa, ví dụ như mùa hạ thì có chim đỗ quyên (hototogisu), mùa thu thì có trăng (tsuki), mùa xuân có hoa mai (ume)..v..v..

Trong các loại hình nghệ thuật truyền thống, tính gắn bó và hòa điệu với thiên nhiên cũng thể hiện rất rõ. Chẳng hạn như nghệ thuật uống trà (sado). Để tổ chức lễ trà người Nhật cần phải có trà thất (chasitsu), là một kiến trúc nhỏ trong vườn, tách rời với ngôi nhà ở chính và nằm giữa thiên nhiên. Trong trà thất được bài trí đơn giản, với một bức tranh phong cảnh theo mùa phù hợp với thời điểm tổ chức tiệc trà, một bình hoa thường chỉ cắm một đóa hoa được hái trong vườn, thậm chí có thể là

một bông hoa dại nở vào buổi sớm. Người Nhật tổ chức tiệc trà không phải chỉ để uống trà mà còn để thưởng thức hương vị thiên nhiên, đắm mình vào không khí trong trẻo của tự nhiên để tâm hồn lắng lại, thoát khỏi những tất bật đời thường và chiêm nghiệm về bản thân, về cuộc sống.

Nếu như nỗi đam mê đang sôi sục trong tâm hồn con người sinh ra những cử chỉ nhất định thì, như nghệ nhân tiệc trà quan niệm, có những cử chỉ có thể tác động lên tâm hồn và làm nó dịu lại. Bằng những động tác bắt buộc nhất định, bằng vẻ đẹp hài hòa của chúng, tiệc trà tạo nên sự bình thản của tâm hồn, đưa nó vào trạng thái rất nhạy cảm với vẻ đẹp toàn diện của thiên nhiên [42, tr. 71] .

Trong đời sống thường nhật cũng vậy. Người Nhật luôn có khuynh hướng gần gũi với thiên nhiên. Khuynh hướng đó thể hiện rất rõ qua việc thiết kế ngôi nhà truyền thống và nghệ thuật vườn cảnh Nhật Bản:

Nếu nằm lọt trong một thành phố lớn, ngôi nhà dân tộc thường không còn những vuông sân nhỏ vây quanh….Nhưng ngay cả khi không còn một mẩu đất thừa nào nữa, người Nhật vẫn cố tìm mọi cách để tạo dựng những kiến trúc nhỏ, trông tựa như một khoảnh vườn cỏn con, và tại đó thế nào cũng bài trí một vài tảng đá thô theo mô thức các thạch viên (vườn đá) nổi tiếng [43, tr. 54].

Sự khắc nghiệt và vẻ đẹp đều là đặc trưng quan trọng của thiên nhiên Nhật Bản, và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng thẩm mỹ của người Nhật, thể hiện qua cách thức người Nhật đánh giá về cái đẹp trong đời sống hay giá trị của một tác phẩm nghệ thuật. Nếu thiên nhiên chỉ đẹp mà không mang đến cho con người những tai hoạ khủng khiếp, có lẽ người Nhật không trân trọng cái đẹp đến như vậy. Nhưng nếu thiên nhiên chỉ là sự đe doạ mà không gợi lên cảm xúc thẩm mỹ ở con người thì cũng không dễ hình thành nên một lối sống gần gũi, hoà hợp với thiên nhiên như truyền thống văn hoá Nhật Bản.

4.1.2. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên- Shinto 神道

Shinto là niềm tin truyền thống của người Nhật vào thế giới thần linh có tác động đến đời sống con người và niềm tin vào nguồn gốc thần thánh của dân tộc.

Đối tượng tín ngưỡng của Shintokami. Kami có thể được dịch là “Thần”, nhưng ý nghĩa của từ này không chỉ một đối tượng thần thánh cụ thể như cách hiểu của người phương Tây mà chỉ là một khái niệm chung để chỉ sự linh thiêng tồn tại ở vạn vật trong thế giới. Đây cũng là niềm tin tồn tại trong nhiều cộng đồng cư dân nông nghiệp như là một hình thức tín ngưỡng dân gian. Do hoạt động sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối của tự nhiên nên con người sùng bái những yếu tố thuộc về thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp..v..v.. và tôn thờ những yếu tố này như những sức mạnh bí ẩn chi phối cuộc sống con người.

Tuy nhiên, nếu như tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ở nhiều nước khác thờ các vị thần được cụ thể hoá, đại diện cho các thế lực thiên nhiên như thần mây, thần mưa, thần gió..v..v..thì đối tượng tín ngưỡng của Shinto đa dạng hơn rất nhiều. Ngoài những vị thần có tên gọi cụ thể gắn với một lĩnh vực của đời sống như Thần học vấn, Thần tình yêu..v..v.., người Nhật còn thờ cả những vật đơn giản như gốc cây, tảng đá vì cho rằng đó là nơi trú ngụ của Thần.

Quan niệm về thần linh như trên không chỉ xuất phát từ điều kiện canh tác nông nghiệp mà còn gắn với tình yêu, lòng ngưỡng mộ của người Nhật Bản đối với thế giới tự nhiên xung quanh mình. Người Nhật nhìn thấy trong sự đa dạng, nhiều vẻ của thế giới tự nhiên, trong sự phong phú của sinh vật và sự thay đổi theo chu kỳ của thời tiết có điều gì đó thật huyền bí. Vì vậy trong tư tưởng Nhật Bản, thiên nhiên không chỉ đẹp mà còn rất linh thiêng. “Đọc “Cổ kim tập” hay “Nhật Bản thư kỷ”, sẽ thấy lần lượt xuất hiện Thần mặt trời, Thần mặt trăng, Thần núi, Thần sông, Thần biển, Thần ruộng, Thần đất..v..v.. Có thể nói là “Tám trăm vạn thần linh”, gần như đồng nhất tự nhiên với thần linh” [58, tr. 40- 41].

Tín ngưỡng hình thành trong tâm thức người Nhật trên nền tảng quan niệm về thế giới tự nhiên, và rồi tín ngưỡng ấy lại ăn sâu vào tư tưởng dân tộc để trở thành yếu tố cốt lõi của ý thức thẩm mỹ Nhật Bản.

Xuất phát từ quan niệm cho rằng thần linh có thể hiện diện ở khắp nơi trong thế giới tự nhiên và trong cuộc sống con người, người Nhật luôn ý thức về sự linh thiêng của mọi vật, đặc biệt là những vật đã tồn tại lâu năm. Chẳng hạn như trong thiên nhiên, những loại cây thân gỗ sống lâu năm thường được xem là “linh mộc”, nghĩa là cây thiêng. Trong đời sống sinh hoạt thông thường, người Nhật cho rằng những vật dụng gắn bó lâu năm với con người cũng có “linh hồn” riêng của nó. Do vậy mới có quan niệm về mono no kokoro, có thể dịch là “hồn của vật”.

Mono no kokoro làm cho một đồ vật bình thường trở thành thiêng liêng, quý báu vì nó mang theo cùng với thời gian tâm hồn của những người đã từng tiếp xúc, nhìn ngắm, nâng niu và sử dụng nó như một phần cuộc sống của mình. Cũng giống như một cái cây lâu năm tích tụ trong mạch sống nhiều khí thiêng sông núi, một đồ vật được sử dụng qua nhiều thế hệ cũng nhuốm màu thời gian và có chiều sâu của một nền văn hoá, có hơi thở của sự sống và tâm hồn tình cảm của con người.

Theo cách hiểu như vậy, có thể nói mono no kokoro là nền tảng để hình thành nhiều lý tưởng thẩm mỹ cơ bản trong ý thức thẩm mỹ của người Nhật như mono no aware, wabi, sabi.

Nếu như người Trung Hoa tự hào về nền mỹ thuật gốm sứ của mình với những đồ sành sứ được chế biến tinh vi, được trang trí bằng nhiều hình vẽ sống động, duyên dáng, nhiều màu sắc thì người Nhật dùng những món đồ gốm thoạt nhìn có vẻ rất thô, thậm chí là quê kệch nếu nhìn theo tiêu chuẩn thẩm mỹ chuộng vẻ đẹp hình thức. Nhưng người Nhật Bản không nghĩ rằng những vật dụng như vậy là xấu xí, vì họ nhìn thấy vẻ đẹp không nằm ở chất liệu, kiểu dáng hay hoa văn trang trí bên ngoài. Vẻ đẹp của một chén trà bằng gốm, trong ý thức thẩm mỹ của người Nhật, không đẹp vì nước men hay các hình vẽ trang trí mà đẹp bởi nó là một vật dụng gắn bó với đời sống con người, lưu giữ kỷ niệm của một đời người hay nhiều thế hệ qua những vết rạn nứt trên xương gốm, qua những sắc độ đậm nhạt của nước men hay vết mòn do tay cầm lâu ngày để lại.

Người châu Âu cố gắng xóa sạch vết cũ kỹ khi chùi rửa đồ vật một cách dữ dội. Chúng tôi thì ngược lại cố gắng gìn giữ cẩn thận nó, đưa nó lên thành một nguyên tắc thẩm mỹ nào đó. Chúng tôi rất thích những đồ vật có dấu ấn của con người, dấu dầu mỡ, dấu phong sương. Chúng tôi không thích những màu sắc, ánh lấp lánh gây nên trong tâm trí chúng tôi những dấu ấn của các hiện tượng bên ngoài. Chúng tôi nghỉ ngơi bằng tinh thần, sống trong những ngôi nhà và giữa các đồ vật kiểu như vậy [42, tr. 56].

Quan niệm trên của người Nhật Bản có thể khó hiểu đối với những ai chưa từng biết về văn hoá Nhật, nhưng thật ra cũng không khó lý giải nếu hiểu được những đặc trưng đã hình thành nền văn hoá ấy. Người Nhật không yêu tự nhiên bằng một tình yêu phù phiếm, nhưng cũng không sợ hãi tự nhiên như một thế lực xa lạ. Trái lại, họ yêu tự nhiên và kính sợ tự nhiên một cách nghiêm túc, chân thành.

Đối với họ, vẻ đẹp của thiên nhiên không tách rời với sự huyền bí, mầu nhiệm trong thế giới tự nhiên mà con người không thể can thiệp, chi phối được. Vì vậy, một sự vật hiện tượng nếu được cho là đẹp thì phải hàm chứa một sự sâu sắc nội tại nào đó, phải gợi lên một cảm giác về sự thiêng liêng.

Theo quan niệm này, một vật dù được chế tác hoàn hảo nhưng chưa từng được sử dụng, chưa hấp thu trong lòng nó hơi ấm của con người thì chưa đạt đến lý tưởng của cái đẹp. Chính sự gắn bó với con người qua thời gian làm cho vật có “hồn”, có một sức mạnh huyền bí tiềm ẩm bên trong. Đó mới là vẻ đẹp sâu sắc nhất.

Cũng do quan niệm này mà trong thơ haiku nảy sinh khái niệm thơ naru và thơ suru. Thơ suru bị đánh giá thấp vì nó chỉ là tư tưởng hay tình cảm của một cá nhân, một cuộc đời giới hạn. Thơ naru được đề cao vì nó là loại thơ được sáng tạo một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào suy nghĩ cá nhân của nhà thơ. Cách giải thích như vậy về sự ra đời của một bài thơ naru mang màu sắc huyền bí, vì theo cách hiểu này thì thơ naru giống như là những ngôn từ được viết bởi thần linh, hoặc do thần linh sáng tạo thông qua trung gian là người cầm bút. Điều đó cho thấy cách nghĩ của

Một phần của tài liệu Ý thức thẩm mỹ nhật bản trong thơ haiku (Trang 92 - 104)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(126 trang)