Vậy những yếu tố nào trong chén trà của Nhật Bản đã làm nên bản chất đặc biệt của Trà đạo Nhật Bản, trong chén trà đó có những cảm thức thẩm mỹ nào đã khiến cho nghệ thuật này thăng hoa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
HỒ TỐ LIÊN
CẢM THỨC THẨM MỸ TRONG
TRÀ ĐẠO NHẬT BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ : 0305150604
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS PHAN THU HIỀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC……… 1
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu……….3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……….10
4 Phương pháp nghiên cứu……… 11
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài……… 12
6 Bố cục của luận văn……… 13
CHƯƠNG 1 : TRÀ ĐẠO TRONG VĂN HÓA NHẬT BẢN……… 14
1.1 Định vị văn hóa Nhật Bản……… 14
1.1.1 Tọa độ văn hóa 14
1.1.2 Loại hình văn hóa 23
1.2 Trà đạo Nhật Bản 24
1.2.1 Vị trí 25
1.2.2 Khái niệm 29
1.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển 32
1.2.4 Tinh thần Trà đạo 37
1.2.5 Ý nghĩa của Trà đạo về mặt xã hội 42
1.3 Thẩm mỹ Thiền Nhật Bản 45
1.3.1 Thiền tông Nhật Bản 45
1.3.2 Khái niệm cảm thức thẩm mỹ 47
1.3.3 Đặc trưng 49
CHƯƠNG 2 : CẢM THỨC WABI……… ………53
2.1 Khái niệm 53
2.2 Trà wabi 56
2.2.1 Quá trình hình thành 56
2.2.2 Cốt lõi tinh thần trong Trà wabi 61
2.2.3 Khuynh hướng thẩm mỹ 65
Trang 42.3 Biểu hiện 67
2.3.1 Vườn trà 67
2.3.2 Trà thất 69
2.3.3 Trà cụ 75
2.3.4 Nghi lễ Trà đạo 82
CHƯƠNG 3 : CẢM THỨC SABI………86
3.1 Khái niệm 86
3.2 Biểu hiện 91
3.2.1 Vườn trà 91
3.2.2 Trà thất 96
3.2.3 Trà cụ 102
3.2.4 Nghi lễ Trà đạo 106
CHƯƠNG 4 : CẢM THỨC YŪGEN……….109
4.1 Khái niệm 109
4.2 Tính chất 113
4.3 Biểu hiện 117
4.3.1 Vườn trà 117
4.3.2 Trà thất 122
4.3.3 Trà cụ 129
4.3.4 Nghi lễ Trà đạo 133
KẾT LUẬN……….135
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 139
Trang 51 Lý do ch ọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Nhật Bản là một trong những nước Á Đông vẫn còn giữ được truyền thống văn hóa rực rỡ và đầy bản sắc, nơi hai nền văn hóa cổ truyền và hiện đại song song tồn tại trong cùng một không gian và thời gian, điều này khiến cho văn hóa Nhật Bản được cho là một trong những nền văn hóa Á Đông độc đáo, có sức lôi cuốn nhất Tuy hình thành muộn hơn so với những nền văn hóa lân cận, nhưng nhờ tinh thần tiếp thu tích cực có tính chọn lọc cao và khéo léo kết hợp với yếu tố bản địa, điều đó đã tạo nên một nền văn hóa mang những nét đặc trưng rất riêng biệt
Dân tộc Nhật Bản vốn đã được nhắc tới nhiều bởi tính lao động quên mình, nhẫn nại, nhưng một trong những nét đặc sắc trong văn hóa của họ, đó là con người Nhật Bản luôn thể hiện mỹ cảm trong cả quá trình lao động Theo một số quan điểm nói chung, mỹ cảm được cho là cốt lõi của tính cách dân tộc Nhật Các chuẩn tắc thẩm mỹ đã quy định nên các triết lý sống và xuyên suốt toàn bộ cuộc sống của người Nhật Từ những nghi thức sinh hoạt hằng ngày như việc uống trà, cắm hoa, viết chữ.v v tưởng chừng vốn giản dị, tầm thường nhưng với tâm hồn yêu cái đẹp, bằng những cảm thức thẩm mỹ tinh tế, người Nhật đã “nâng cấp” những việc tưởng chừng rất bình dị đó thành những môn nghệ thuật, và cao hơn nữa đã trở thành
“đạo” Người Nhật cho rằng, việc thực hành “đạo” cũng đồng nghĩa với việc tự thân rèn luyện, tìm đường giải thoát tâm trí khỏi những âu lo phiền não lẫn những ham muốn vật chất đời thường để tự tu dưỡng bản thân Những cảm thức thẩm mỹ này
đã được coi là “chỗ dựa” của người Nhật khi họ muốn tìm lại sự bất biến từ những nghệ thuật truyền thống trong một xã hội luôn thay đổi, trong đó có nghệ thuật Trà đạo
Từ khi ngành Nhật Bản học xuất hiện trong các trường Đại Học đã lôi cuốn từ các sinh viên đến các học giả niềm say mê nghiên cứu học hỏi về văn hóa - xã hội Nhật Bản, trong đó có Trà đạo – một trong những nhân tố quan trọng tạo nên nền văn hóa đặc sắc của Nhật Bản Có thể nói Trà đạo là một nghệ thuật đòi hỏi sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, sự tinh khiết và đức tính tinh tế nhằm tạo dựng cho chủ nhân và khách mời được thưởng thức những giây phút thư giãn, hạnh phúc,
Trang 6có mục đích hướng thượng trong cuộc sống đời thường Trà đạo đối với người Việt chúng ta là một khái niệm tuy không còn mới mẻ nhưng vẫn là một lĩnh vực văn hóa nghệ thuật lý thú luôn cuốn hút người nghiên cứu Vậy những yếu tố nào trong chén trà của Nhật Bản đã làm nên bản chất đặc biệt của Trà đạo Nhật Bản, trong chén trà đó có những cảm thức thẩm mỹ nào đã khiến cho nghệ thuật này thăng hoa
và trở thành một tôn giáo và nghệ thuật sống của con người Nhật Bản? Những cảm thức thẩm mỹ như wabi, sabi, yūgen v v đã xuất hiện trong nhiều nghệ thuật của Nhật Bản như Thi ca, văn Hoa đạo, kịch Nō v v vậy những cảm thức thẩm mỹ này đến từ đâu? Phải chăng những cảm thức thẩm mỹ này đã làm nên bản chất của Trà đạo và giúp nó tồn tại mãi cùng lịch sử? Sự hoàn hảo trong những công việc bài trí xếp đặt trong Trà thất mang tính hoàn toàn bất tương xứng là như thế nào? nghệ nhân Trà Rikyuu đã hòa lẫn vị Thiền và vị Trà trong một chén trà ra sao? Qua việc
đi sâu tìm hiểu ý nghĩa và biểu hiện của những cảm thức thẩm mỹ sabi, wabi, và yūgen – vốn được cho là cốt lõi tinh thần của Trà đạo Nhật Bản, đồng thời cũng là yếu tố làm nên những nghệ thuật mang tính “đạo” như Hoa đạo, Thư pháp, vườn cảnh… bức tranh tiêu biểu cho nghệ thuật Sống của Nhật Bản, luận văn này sẽ là một cách tiếp cận để hiểu rõ hơn về nghệ thuật Trà đạo nói riêng cũng như về văn hóa nói chung của dân tộc Nhật Bản
2 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước đây đã từng có rất nhiều sách, báo, công trình nghiên cứu của các học giả Việt Nam đã tiếp cận và nghiên cứu về văn hóa Nhật Bản, dù ít hay nhiều thì mảng đề tài về các nghệ thuật của Nhật Bản nói chung và Trà đạo nói riêng cũng đã được tìm hiểu và phát triển Có thể nhận thấy rõ các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước cũng như ngoài nước được chia làm hai xu hướng nghiên cứu như sau :
a/ Giới thiệu về Trà đạo
Đa phần các học giả khi nghiên cứu về Trà đạo Nhật Bản đều dùng cách tiếp cận chủ yếu là bằng phương pháp mô tả chi tiết các nghi thức uống trà Phần lớn các công trình nghiên cứu theo xu hướng giới thiệu này (kể cả các tác phẩm viết bằng
Trang 7tiếng Việt hay tiếng Anh, Nhật) đều hướng tới độc giả là những người muốn tìm hiểu về Trà đạo Nhật Bản ở mức độ “nhập môn”, hoặc những người muốn tiếp cận Trà đạo một cách tổng quát, dễ hiểu và mang tính chất “nghiệp dư”
Trong các công trình của các học giả Việt Nam mà chúng tôi tham khảo được,
có bài viết “Trà đạo Nhật Bản” trong Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 2/1995 của
tác giả Hoàng Minh Lợi là công trình tổng hợp các vấn đề liên quan đến Trà đạo như mô tả chi tiết các nghi lễ, các hình thức thưởng ngoạn trà, hoặc cung cách bài trí trong Trà thất bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp mô tả, đã cung cấp một lượng kiến thức phong phú cho người đọc về nghệ thuật Trà đạo để có thể có được cái nhìn khái quát về nghệ thuật này Tiếp sau đó, tác giả Nhật Chiêu với “Nhật Bản trong chiếc gương soi” năm 1999 đã viết về Trà đạo Nhật Bản trong chương “Chiếc gương thứ năm: Thiền tông”, trong đó ông nhấn mạnh đến chất Thiền trong Trà đạo,
“không có gì gợi lên hương vị giác ngộ cho bằng thức uống kỳ diệu gọi là trà” [Nhật Chiêu 1999: tr.88] Đồng thời, ông cũng là học giả Việt Nam đầu tiên đã gợi
mở cho người đọc về cảm thức thẩm mỹ trong chén trà Nhật Bản, “wabi là nguyên
lý cho rằng cái đẹp cao nhất nằm trong vẻ đơn sơ thanh tịnh và nó được phát triển cao nhất trong Trà đạo (chađô)”[ Nhật Chiêu 1999: tr.89] Tiếp sau Nhật Chiêu, những yếu tố tinh thần cùng tính thẩm mỹ của Trà đạo ngày càng được các học giả quan tâm tìm hiểu nhiều hơn, sâu sắc hơn, như trong hai cuốn “Trà đạo”và cuốn
“Tinh Hoa Văn Hoá Phương Đông - Trà Luận” được Nguyễn Bá Hoàn viết liên tục
từ năm 2002 đến 2003 đã đi sâu phân tích về tinh thần Thiền tông cùng tính cách con người Nhật Bản biểu hiện qua nghệ thuật Trà đạo Tác giả viết : “Trà đạo của Nhật Bản được xem là nghệ thuật tĩnh tâm, đây là hình thức chỉnh sửa thân tâm phô bày rõ nét”, “là mang lại sự bình yên, thanh thản cho người uống trà; sự êm dịu của tâm hồn và sự khỏe mạnh của thể xác”[Nguyễn Bá Hoàn 2002 : tr.14-15] Như vậy,
ít nhiều tác giả Nguyễn Bá Hoàn đã chạm đến những cảm thức thẩm mỹ trong Trà đạo Nhật Bản, dẫu rằng đó vẫn chưa hẳn là một nội dung rõ ràng Dù sao, đây cũng
là công trình nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc về cốt lõi tinh thần trong Trà đạo Sau đó, với bài viết “Chè và văn hóa trà” viết vào năm 2005, tác giả Trần Ngọc Thêm đã tổng hợp, đồng thời có sự đối chiếu so sánh ba nền văn hóa trà đặc sắc của phương
Trang 8Đông, đó là văn hóa trà Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc Cũng mang nội dung gần như tương tự, cùng trong năm 2006, cuốn “Chén trà phương Đông và Trà đạo Nhật Bản” của tác giả Hà Văn Lưỡng, tác giả Đỗ Ngọc Quỹ với “Trà từ châu Á sang
châu Âu” cùng cuốn “Trà Kinh” của tác giả Vũ Thế Ngọc đã khiến cho những ai
quan tâm đến nghệ thuật uống trà trong lịch sử và văn hóa Đông phương cùng những vấn đề xoay quanh nó như nguồn gốc, lịch sử hình thành v v đều có thể tìm thấy những lời giải thích xác đáng trong cuốn sách này qua lối văn phong kể chuyện hài hước và sâu sắc của tác giả Riêng cuốn “Trà Kinh” không hẳn là đề cập đến Trà đạo Nhật Bản, mà còn là cuốn sách Bách khoa toàn thư về trà và tục uống trà từ đời Nhà Đường của Trung Quốc và có ảnh hưởng sâu xa, rộng lớn đến các nền văn hóa trà sau này, gợi mở đến lịch sử hình thành Trà đạo Nhật Bản
Cũng cùng chung xu hướng giới thiệu khái quát về Trà đạo, song song với sách và các bài viết của các tác giả Việt, chúng tôi đã tham khảo nhiều bài viết và sách nghiên cứu của các tác giả nước ngoài được viết hoặc đã được dịch sang tiếng
Việt, tiêu biểu như cuốn sách “The book of Tea”(Trà đạo tiểu luận) của tác giả
người Nhật Okakura Kakuzo được ông viết vào năm 1906 (bản dịch tiếng Việt của Bảo Sơn tái bản năm 2008 NXB Văn Nghệ, bản dịch tiếng Anh năm 1935 là “The book of tea: a Japanese harmony of art, culture and the simple life” của hai dịch giả Angus & Robertson người Úc), đây có thể coi là cuốn sách gối đầu giường cho những ai muốn nhập môn Trà đạo Nhật Bản một cách sâu sắc Bằng lối diễn đạt hài hước cũng như cách phân tích, nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc, Okakura Kakuzo
và “The book of Tea” của ông đã khiến độc giả trên khắp thế giới hiểu được thế nào
là Trà đạo đúng nghĩa, qua nội dung chủ yếu là phân tích ý nghĩa và nêu bật những giá trị tinh thần đặc sắc bên trong Trà đạo Bằng phương pháp nghiên cứu Lịch sử -
xã hội, hệ thống cấu trúc, ông nhìn nhận Trà đạo như một yếu tố trong mối tương quan với hệ thống các yếu tố như tôn giáo, lịch sử, xã hội Ngoài ra, Okakura Kakuzo cũng khẳng định quan điểm của mình khi đặt Trà đạo Nhật Bản bên cạnh tục uống trà của phương Tây hay của Trung Quốc để so sánh, và ông đã thành công khi nêu bật lên được các yếu tố đã làm nên bản sắc rất riêng trong Trà đạo Nhật Bản Okakura Kakuzo đã viết rằng “Trong Trà đạo luôn hiện diện sự khoáng đạt vô biên
Trang 9của Phật giáo, sự tĩnh tại trong sáng của Thiền tông, cùng nét wabi chân chất giản dị trong sạch của Thần đạo (Shinto) bởi nếu không, mãi mãi và muôn đời nó vẫn chỉ là một thứ nước uống để giải khát không hơn không kém” [Okakura Kakuzo 1935 : tr15 – tr16] Mặc dù “The book of Tea” của Okakura Kakuzo không viết về những biểu hiện của những cảm thức thẩm mỹ wabi, sabi hay yūgen một cách rõ rệt, nhưng thiết nghĩ người đọc đã cảm nhận được phần nào dẫu chưa trọn vẹn Sau Okakura Kakuzo là cuốn “Trà đạo nhập môn”(茶の湯入門) được viết năm 1977
của NXB Shufu no tomo, hoặc “Trà đạo nhập môn”( 茶 道 入 門 ) của tác giả
Iguchikaisen viết năm 1985, bằng cách viết rất dễ hiểu cho cả độc giả là người Nhật cũng như người nước ngoài có thể tự đọc và tự luyện tập Trà đạo tại gia Ngoài ra, hiện nay tại Nhật hiện đang có ba trường phái Trà đạo lớn là Urasenke (裏千家), Omotesenke (表千家) và Mushanokojisenke (武者小路千家) đang được cho là ba trường phái Trà đạo tiêu biểu, mỗi trường phái Trà đạo đều đã cho xuất bản cuốn Trà đạo nhập môn cho riêng môn phái mình, có thể kể tới những tác phẩm “nhập
môn” tiêu biểu cho từng phái như cuốn sách “Trà đạo trường phái Omote” (表千家
流茶道) viết năm 1987, cuốn “Trà đạo trường phái Urasenke“ (裏千家茶道) của tác giả Sensoshitsu Kanshyu viết 1989 sau đó đã được soạn lại năm 2007, với nội dung chủ yếu là mô tả lịch sử phát triển của từng phái và nhấn mạnh cách tiến hành các nghi lễ, đồng thời đề cao tinh thần Hòa – Kính – Thanh – Tịch
Bên cạnh đó, cuốn sách “Người Nhật” viết năm 1991 của hai tác giả người
Nga V.Pronikov và I.Ladano đã cung cấp cho độc giả hình ảnh đẹp đẽ và thi vị, thanh tịnh của Trà thất và có đề cập đến cảm thức thẩm mỹ trong việc miêu tả nét wabi đạm bạc trong các Trà cụ, nhưng phần trình bày này lại quá ít ỏi, chỉ mang tính “nhập đề” cho việc giới thiệu về cảm thức thẩm mỹ Ngay sau đó có Thiền sư Suzuki bàn về Trà đạo qua cuốn “Thiền luận - Quyển thượng” viết năm 1992, trong
đó ông đã nhấn mạnh việc tư tưởng Thiền chi phối Trà đạo như thế nào
Trong các tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh, cuốn “The Japanese way of tea”
của NXB Tankosha được dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Anh vào năm 1979, tổng hợp của nhiều tác giả cũng đã trở thành cuốn sách kinh điển về Trà đạo cho những
Trang 10ai muốn nhập môn Trà đạo Nhật Bản Trước đó, tác giả A Sadler với tác phẩm
“Chanoyu-the Japanese tea ceremony” viết vào năm 1963 cũng đã được cho là tiền
đề của cuốn “The Japanese way of tea” của NXB Tankosha đã đề cập ở trên Đáng
chú ý nhất là cuốn “The Tea Ceremony” của tác giả Sen no Tanaka viết năm 1998 được người Nhật cho là một từ điển bách khoa bằng tiếng Anh về Trà đạo Nhật Bản với cách miêu tả chi tiết các nghi thức trong Trà đạo, thông qua đủ loại hình thưởng thức Trà đạo cũng như sự giới thiệu khái quát và tổng thể về lịch sử phát triển và các Trà cụ, đặc biệt là phần miêu tả về Trà viên Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại
ở phần miêu tả bố cục vườn trà và Trà thất là chính, chứ chưa đi sâu vào ý nghĩa, biểu tượng cũng như những cảm thức thẩm mỹ chứa đựng trong đó
Nhìn chung, với mục đích là hướng dẫn cho độc giả “nhập môn Trà đạo” nên
nội dung trong các công trình nghiên cứu nói trên đều không đi sâu nghiên cứu về những cảm thức thẩm mỹ, chí ít chỉ dừng lại trong việc trình bày tinh thần Hòa – Kính – Thanh – Tịch Ngoài những sách, tác phẩm và công trình nghiên cứu về Trà đạo theo xu hướng giới thiệu, khái quát đã được nêu trên, phải kể đến một xu hướng nghiên cứu thứ hai
b/ Nghiên cứu chuyên sâu về cảm thức thẩm mỹ trong Trà đạo
Với đề tài nghiên cứu chuyên sâu về cảm thức thẩm mỹ nói chung, thì đã có học giả viết về đề tài này, ở Việt Nam có thể kể ra tiêu biểu như tác giả Nhật Chiêu với “Cảm thức thiên nhiên của người Nhật và người Việt”, hoặc tác giả Hà Văn Lưỡng với “Cảm thức thẩm mỹ trong thơ Haiku” đều dựa trên đối tượng nghiên cứu là thơ ca Nhật Bản, qua đó tìm hiểu những sắc thái biểu hiện của cảm thức thẩm mỹ trong thơ ca Riêng hướng nghiên cứu về cảm thức thẩm mỹ trong những nghệ thuật khác như Trà đạo thì hiện nay vẫn chưa có một công trình cụ thể nào Tuy nhiên, trong các sách viết bằng tiếng Anh thì có khá nhiều tài liệu nghiên cứu về tính thẩm mỹ trong Trà đạo Cuốn sách viết về nghệ thuật xếp đặt Trà thất
và Trà viên mà chúng tôi đã có điều kiện đọc tham khảo được là cuốn “Living the
Japanese Arts and Ways: 45 Paths to Meditation and Beauty (Michi: Japanese Arts and Ways)” do H.E Davey viết năm 2002 bằng tiếng Anh trình bày về tính chất
“imperfect” (bất toàn vẹn) của những nghệ thuật Nhật Bản, trong đó nhấn mạnh đến
Trang 11cảm thức wabi và cảm thức sabi Với hai cuốn sách “Classic bonsai of Japan” do
hiệp hội Nippon Bonsai Association biên soạn lần thứ hai vào năm 2003 và cuốn
“The Garden of Japan” của NXB Kodansha cũng xuất bản năm này thì lại chú trọng
việc thể hiện của thẩm mỹ Thiền trong vườn cảnh và ít nhiều có đề cập đến cảm thức thẩm mỹ yūgen
Các công trình nghiên cứu tiếng Nhật về những cảm thức thẩm mỹ thì lại có khá nhiều và mang tính chuyên sâu Thông qua từng mảng nghiên cứu riêng biệt, từ Trà thất hoặc Trà viên, hoặc nghệ thuật cắm hoa Chabana trong Trà đạo… đã cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng thể lẫn chi tiết về vấn đề này Chẳng hạn chuyên về
cách thức thưởng ngoạn các Trà cụ như cuốn ” Chén trà quý” (唐物茶碗) của tác
giả Sasaki Mitsuaji viết năm 2007, cuốn “Trà đạo của Rikyū” (利休居士の茶道)
do tác giả Sen Munemori viết tháng 8 năm 2008, cuốn “Trà thất vàng và Trà cụ
vàng” (黄金の茶室・茶道具) của Hội Mỹ thuật Văn hóa Emuoe, đều nhấn mạnh
chất Thiền từ cảm thức wabi, sabi đem lại trong mỗi Trà cụ mà nghệ nhân Rikyu đã
sử dụng Bàn về nghệ thuật xếp đặt trong Trà thất, phải kể đến cuốn “Từ con đường
Roji đến Trà thất” (茶室露地) của NXB Mainichi Shimbun Cuốn “Từ điển nghệ
thuật cắm hoa” (生け花の辞典) của NXB Kabushiki cũng đề cao cảm thức thẩm
mỹ wabi, sabi trong từng kiểu cắm hoa nghệ thuật Những cuốn sách trên với nội dung khá cô đọng, đề cập chi tiết đến cảm thức wabi, sabi đã được nghệ nhân Rikyū xây dựng và vận dụng trong Trà đạo như thế nào, cụ thể là Thư pháp Thiền trong Trà thất, cách thể hiện của Chabana trong Trà thất, bố cục con đường roji v v Tóm lại, xét qua lịch sử nghiên cứu về đề tài Cảm thức thẩm mỹ của Trà đạo, có thể thấy ít nhiều đã được đề cập đến trong những cuốn sách, công trình nghiên cứu của nước ngoài, đặc biệt là của Nhật, mặc dù mang tính chuyên sâu song đó vẫn chỉ là những phần nghiên cứu theo từng mảng nghệ thuật riêng, ví dụ như gián tiếp thông qua nghệ thuật cắm hoa hay nghệ thuật Thi pháp Thiền để nói về chất Thiền biểu hiện qua từng cảm thức wabi, sabi, cũng như thông qua nghệ thuật bài trí vườn cảnh
để nói đến cảm thức yūgen hay aware, có thể nói đây là những mảng nghiên cứu rời rạc trên nền bối cảnh chung là Trà đạo
Trang 12Để làm rõ luận điểm nghiên cứu, tức là đi tìm hiểu về những cảm thức thẩm
mỹ trong Trà đạo Nhật Bản, phải xuất phát từ mốc lịch sử đã hình thành nên cảm thức wabi và sabi mà sau này đã phát triển thành điều gọi là trà wabi (侘び茶- wabi cha) Thế giới “trà wabi” của nghệ nhân Rikyū đã khẳng định chất Thiền nhã đạm, trong sáng của Trà đạo Nhật Bản, điều này đã được nhiều sách chuyên môn tiếng Nhật đề cập trong “Triết học trong Trà đạo” (茶道の哲学) do tác giả Hisamatsu Makoto viết năm 1987, hay cuốn “Trà và Mỹ” (茶と美) của tác giả Yanagi Sōetsu được viết vào năm 2000 Bên cạnh đó, trong thế giới trà wabi mà Rikyū đã sáng tạo, ngoài wabi-sabi, ông còn đưa cả cảm thức thẩm mỹ yūgen (幽玄- u huyền) vào trong Trà đạo, thế nên wabi – sabi - yūgen được cho là bộ ba cảm thức thẩm mỹ làm nên Trà đạo Nhật Bản Cảm thức yūgen vốn được coi là một đặc trưng, một thuộc tính của riêng nghệ thuật kịch Nō Vậy, wabi và sabi cùng yūgen có đúng là những cảm thức thẩm mỹ cơ bản nhất của Trà đạo Nhật Bản hay không, đây chính
là một luận điểm mà luận văn muốn làm rõ
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã chú ý đến một khái niệm mà các trường phái lớn của Trà đạo tại Nhật Bản đều đề cập khi giảng dạy về Trà đạo, đó là khái niệm về trà wabi (侘び茶 - wabi cha) Khái niệm về trà wabi hầu như chưa bao giờ được đề cập đến công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam, đây cũng chính là điểm còn thiếu sót đối với những người nước ngoài như chúng ta khi tìm hiểu về Trà đạo Cảm thức wabi, sabi cùng yūgen chính là cốt lõi tinh thần của Trà đạo, thể hiện tiêu chuẩn của Mỹ trong Trà đạo Nhật Bản, nhưng để xây dựng được wabi, sabi trong Trà đạo hay vận dụng yūgen khi xây nên căn Trà thất thì đó là cả một quá trình biến đổi lâu dài về thời gian và sâu sắc về nội dung, xoay quanh khái niệm trà wabi là cả một thế giới của nghệ thuật Thiền được xây dựng với vô số các cảm thức thẩm mỹ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với tên là “Cảm thức thẩm mỹ trong Trà đạo Nhật Bản”, luận văn đặt đối tượng nghiên cứu là cảm thức thẩm mỹ, cụ thể ở đây là cảm thức wabi, sabi và
Trang 13yūgen của Trà đạo Nhật Bản Xuất hiện trong các bài thơ Haiku của Nhật, “cảm thức thẩm mỹ” là cụm từ dùng để chỉ những trạng thái cảm xúc được thể hiện trong thơ haiku, có nghĩa là nhận thức cái đẹp bằng cảm giác Những cảm thức thẩm mỹ thường gặp nhất trong văn chương và cũng thường được các nhà thơ sử dụng là : sabi (tịch lặng), yūgen (u huyền), wabi (đơn sơ), aware (bi cảm) và karumi (khinh) Trong số đó, nghệ nhân Rikyu đã chọn cảm thức wabi, sabi và yūgen làm nên cốt lõi tinh thần Trà đạo
Do việc nghiên cứu về Trà đạo cũng đã được tiến hành tại nhiều quốc gia khác, nên phạm vi nghiên cứu lấy chủ thể nghiên cứu là Trà đạo, trong không gian nghiên cứu là tại Nhật Bản Thời gian nghiên cứu chúng tôi chọn bối cảnh lịch sử -
xã hội Nhật Bản từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVI, do nguồn gốc cây trà cùng tục uống trà bắt đầu xuất hiện tại Nhật vào thế kỷ VIII, phát triển mạnh mẽ và trải qua nhiều quá trình hoàn thiện từ thời đại Kamakura đến thời đại Muromachi, Trà đạo đã đạt được độ phát triển rực rỡ nhất và hoàn thiện nhất là vào thế kỷ XVI, thông qua đó cho thấy lịch sử hình thành và phát triển của “trà wabi”, nhằm chứng minh luận điểm những cảm thức thẩm mỹ sabi, wabi, và yūgen chính là cốt lõi tinh thần của nghệ thuật Trà đạo Nhật Bản Vì trong nghệ thuật Trà đạo còn có sự hiện diện của một số nghệ thuật khác như Hoa đạo và Thư đạo, vườn cảnh, nên đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu về biểu hiện của ba cảm thức wabi, sabi và yūgen chỉ trong phạm vi Trà đạo Luận văn sẽ đi sâu phân tích biểu hiện của những cảm thức thẩm
mỹ kể trên trong Trà đạo, cũng như cố gắng lý giải những nguyên nhân dân đến việc hình thành nên cảm thức thẩm mỹ đó
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào đối tượng nghiên cứu của luận văn, người viết đã sử dụng những phương pháp cụ thể như sau :
- Phương pháp quan sát tham dự ( trong thời gian thực tập tại Nhật Bản )
- Phương pháp liên ngành (lịch sử, triết học, xã hội học): đặt Trà đạo trong mối tương quan với các nghệ thuật khác, đồng thời xem xét những giá trị xã hội cũng
Trang 14như những chuyển biến theo lịch sử của Trà đạo để tìm ra nguyên nhân hình thành cảm thức thẩm mỹ wabi, sabi cùng yugen trong Trà đạo
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình phân tích và tìm ra thể hiện trong Trà đạo Nhật Bản thì người viết cần phải có sự so sánh, đối chiếu để khẳng định được vấn
đề tức là phải đặt các cảm thức thẩm mỹ cũng như bản thân đối tượng nghiên cứu
là Trà đạo Nhật Bản trong từng giai đoạn phát triển và hoàn thiện (từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVI) để so sánh sự thay đổi về mặt hình thức lẫn nội dung của những cảm thức thẩm mỹ theo từng thời kỳ
- Phương pháp hệ thống cấu trúc: Nhằm làm nổi bật những vấn đề cần khai thác khám phá người viết sẽ tiến hành phân tích về ngữ nghĩa cũng như biểu hiện cụ thể của từng cảm thức thẩm mỹ Sau khi phân tích, khám phá biểu hiện cũng như tính chất của từng cảm thức thẩm mỹ trong từng lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn như biểu hiện của wabi và sabi trong Trà cụ, yūgen trong Trà viên người viết hệ thống lại tất cả các cảm thức thẩm mỹ ấy trong bối cảnh chung của Trà đạo trên nền thời gian nghiên cứu Từ đó, người viết rút ra kết luận về giá trị cốt lõi trong tinh thần của Trà đạo Nhật Bản được xây dựng bởi những cảm thức thẩm mỹ này
5.Ý ngh ĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a.Ý nghĩa khoa học: Do tính thẩm mỹ là một đặc trưng văn hóa quan trọng của dân tộc Nhật, nên luận văn sẽ là bước tìm hiểu sâu về tính cách dân tộc cũng như văn hóa Nhật Bản, đồng thời mang tính cập nhật thêm về mặt kiến thức, giới thiệu và tìm hiểu về khái niệm về cảm thức thẩm mỹ, cách nhìn nhận về cảm thức thẩm mỹ trong văn hóa Nhật Bản Luận văn sẽ không chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát mà sẽ cố gắng tìm hiểu sâu hơn những nội dung văn hóa trong những nghệ thuật khác có liên quan của Nhật Bản
b.Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ cố gắng đóng góp thật nhiều kiến thức cho việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Nhật Bản theo chiều sâu, nhằm giúp cho những ai muốn tiếp cận trên diện rộng và tìm hiểu thấu đáo, sâu sắc hơn về văn hóa nghệ thuật Nhật Bản, đặc biệt là hỗ trợ thêm cho công việc giảng dạy về văn hóa Nhật Bản của các giảng viên ngành Nhật Bản học Việc tìm hiểu về những cám thức
Trang 15thẩm mỹ thể hiện trong Trà đạo Nhật Bản là hướng nghiên cứu mới mẻ, ít được đề cập trong các công trình nghiên cứu về Trà đạo Nhật Bản tại Việt Nam
6.B ố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm bốn chương:
- Chương 1 nêu khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của Trà đạo và nhận diện vị trí của nghệ thuật Trà đạo trong văn hóa Nhật, đồng thời là tiền đề lý luận cho những luận điểm chứng minh wabi, sabi là cốt lõi tinh thần của Trà đạo ở chương 2
- Chương 2 dựa trên cơ sở lý luận trong chương 1, đi sâu tìm hiểu, lý giải về mặt ngữ nghĩa của cảm thức wabi, cũng như đi tìm những biểu hiện thẩm mỹ của wabi trong Trà đạo Trà wabi được coi là phương thức chuyển tải cảm thức wabi và sabi vào trong nghệ thuật Trà đạo Nhật Bản, đồng thời là giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử phát triển Trà đạo Chương 2 cũng sẽ mở rộng phần so sánh với văn hóa trà Trung Hoa về cảm thức wabi
- Chương 3 tìm hiểu và giải thích ý nghĩa của cảm thức sabi, những biểu hiện đặc trưng của sabi trong Trà đạo, đồng thời đi tìm những nét khác biệt từ sabi trong Trà đạo Nhật Bản với văn hóa trà Trung Hoa
- Chương 4 tìm hiểu tính chất của yūgen ở lĩnh vực kịch Nō, song song với việc phân tích ngữ nghĩa trong văn học để đi sâu tìm hiểu sắc thái biểu hiện của yūgen trong Trà đạo, đồng thời mở rộng phần so sánh với văn hóa trà Trung Hoa về cảm thức yūgen
Trang 16CHƯƠNG 1 : TRÀ ĐẠO TRONG VĂN HÓA NHẬT BẢN
1.1 Định vị văn hóa Nhật Bản
1.1.1 Tọa độ văn hóa
a/ Không gian văn hóa
Nhật Bản là một đảo quốc ở Đông Bắc Á, có bốn đảo lớn xếp theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Hokkaidō (北海道 - Bắc Hải Đạo), Honshū (本州 - Bản Châu), Shikoku (四国 - Tứ Quốc) và Kyūshū (九州 - Cửu Châu) cùng hàng ngàn đảo nhỏ chung quanh, trong đó Honshū là đảo lớn nhất, chiếm 61% diện tích lãnh thổ quốc gia Nhật Bản có bờ biển rất dài khoảng 37.000 km, rất đa dạng và lồi lõm với vô số vịnh và bán đảo Đồi núi chiếm 73% diện tích tự nhiên cả nước, ngọn núi cao nhất
là núi Phú Sĩ cao 3776 mét Do 73% diện tích là địa hình đồi núi, nên hệ thống sông ngòi của Nhật có đặc điểm là nhiều thác nước, suối dốc, hẹp, sông ngắn và hồ nhỏ Giữa các núi là các cao nguyên và đồng bằng nhỏ hẹp chạy dọc theo ven biển, đồng bằng lớn nhất là vùng đồng bằng Kantō nằm phía bờ Thái Bình Dương là nơi tập trung dân cư và các cơ sở kinh tế phát triển nhất Tổng diện tích các đồng bằng chỉ bằng khoảng 20% diện tích cả nước, nhưng rừng bao phủ tới 66,5% tổng diện tích đất Do quần đảo Nhật Bản nằm phía trên hai vùng địa chất thường xuyên tương tác
là vành đai núi lửa Thái Bình Dương và khu vực địa chấn vành đai Thái Bình Dương, do đó Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng trên thế giới đó là nhiều núi lửa và lắm động đất Ngoài ra, Nhật Bản còn chịu ảnh hưởng của gió mùa, và nặng nề nhất là từ động đất và các trận sóng thần do các vụ động đất ngầm dưới đáy biển Các dòng biển đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà nhiệt độ và khí hậu vùng duyên hải Chính nhờ ảnh hưởng của các dòng biển mà khí hậu Nhật Bản tương đối ôn hoà Thiên nhiên Nhật Bản tuyệt đẹp trong sự thay đổi
đa dạng theo mùa, dịu dàng, tinh tế nhưng cũng rất khắc nghiệt, hung bạo đối với con người như động đất, núi lửa, sóng thần… Nhưng mặt khác, thiên nhiên cũng trở thành chuẩn mực cho mọi cái đẹp trong lối tư duy của người Nhật Chính điều này
Trang 17tạo cho dân tộc Nhật những cảm thức đặc biệt tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên
Cả thi ca, hội họa, kịch, Trà đạo, Hoa đạo, Thiền đạo… đều nhuộm màu thiên nhiên, đều được tẩm hương sắc của thiên nhiên, có thể nói thiên nhiên đã trở thành linh hồn của bản sắc văn hóa Nhật Bản
Tên "Nhật Bản" trong tiếng Nhật là 日本( đọc là Nihon hoặc Nippon), theo
âm Hán Việt hai chữ "Nhật Bản" có nghĩa là "gốc của Mặt Trời" nên nước Nhật được hiểu là "xứ Mặt Trời mọc" Vào thế kỷ thứ IV, người Nhật gọi tên nước mình bằng từ Yamato, sau này, người Nhật dùng hai chữ Hán là 大和 (Đại Hòa) để biểu thị cách phiên âm Yamato, tự gọi dân tộc mình là Hòa Nhân, đồng thời thể hiện lòng tự tôn dân tộc Nhật Bản còn được gọi là Phù Tang (扶桑), theo tên gọi của cây phù tang - một loại cây dâu Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang, là nơi thần mặt trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang trong nghĩa văn chương hàm ý chỉ nơi mặt trời mọc Nhật Bản còn được gọi tên bằng các mỹ danh như là
"xứ sở hoa anh đào", vì cây hoa anh đào (桜- sakura) mọc trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam, hoa anh đào được người Nhật yêu thích vì nó là biểu tượng cho tính nhạy cảm, yêu cái đẹp, tính cách sống và chết quyết liệt của dân tộc Nhật
b/ Đặc trưng tính cách người Nhật – chủ thể văn hóa
Các học giả đều cho rằng những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản là tộc người Ainu Sau đó, qua những phát hiện trong nghiên cứu cổ vật, xương đã khẳng định thêm người Nhật là con cháu của những người dân nhập cư đến sau tộc người Ainu và đã dần dần đẩy bộ tộc này ra khỏi quần đảo Những cư dân này được biết là
đã có mặt trên quần đảo ít nhất từ năm 5000 trước C.N 1, sau đó theo thời gian pha trộn với các giống người khác đến từ lục địa, phát triển qua lịch sử thành dân tộc Nhật Bản ngày nay Từ các kết quả điều tra thăm dò ý kiến công chúng, các nhà nghiên cứu về tâm lý học người Nhật đã đưa ra một số kết luận có giá trị về tư duy con người Nhật, chúng tôi xin chọn ra những đặc trưng tính cách văn hóa cơ bản nhất được cho là tiền đề trong việc cấu thành tinh thần Trà đạo Nhật Bản
1
công nguyên ( từ đây chúng tôi xin sử dụng cách viết tắt này trong luận văn)
Trang 18Trước hết, Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa Sự
cô lập về mặt địa lý đã mang lại những hệ quả xã hội hết sức sâu sắc cho nước Nhật
Từ khía cạnh lịch sử cho thấy các thế lực quân sự hùng mạnh đã từng tồn tại trên các vùng lục địa Á - Âu luôn luôn bị chặn lại ở bán đảo Triều Tiên trước khi nó có thể vươn tới quần đảo Nhật Bản Phần đại đa số các cư dân của những hòn đảo này
từ buổi đầu lịch sử nước Nhật chưa bao giờ bị buộc phải rời khỏi nơi quê cha đất tổ của họ hoặc bị chinh phục, chính vì thế nhiều nhà khoa học và dân tộc học đã nhận xét rằng Nhật Bản là một quốc gia cổ có tính đồng nhất về sắc dân và văn hóa Ngoài ra, yếu tố tín ngưỡng bản địa của Nhật Bản khiến họ luôn tin rằng chính các thần (kami) đã sinh ra dân tộc họ Điều này đã giúp họ ý thức mạnh mẽ về một dân tộc có cùng chung huyết thống Tính chất đảo cũng đem lại cho người Nhật tâm lý
“đảo quốc” khá nhiều biểu hiện mâu thuẫn, họ vừa hiếu khách, vừa dè dặt trong giao tiếp, quan hệ với người khác, vừa tự tôn dân tộc, vừa tự ti, mặc cảm… tóm lại, không thể diễn đạt tính cách con người Nhật Bản một cách đơn giản “Người Nhật –
đó là câu đố của thế kỷ, đó là dân tộc khó hiểu nhất và kỳ lạ nhất, nửa cuộc đời trầm
tư mặc tưởng, làm thơ và thưởng thức nghệ thuật và dành lại nửa cuộc đời cho việc chặt kẻ thù của mình ra từng khúc và chiêm ngưỡng tục mổ bụng của võ sĩ đạo” [Skimor Eliza 2004: 2] Chúng ta có thể bắt gặp nhiều hình ảnh ẩn dụ trái ngược từ đời thường đến văn chương về người Nhật Người Nhật có thể thưởng thức vẻ đẹp mong manh của hoa anh đào và ánh thép lạnh lùng của một thanh bảo kiếm Trung thành đến mù quáng, tỉ mỉ đến tuyệt đối, tĩnh tại đến vô ảo, nhẹ nhàng như cánh hoa đào rơi, mạnh bạo hơn vó ngựa giày trên thảm cỏ, ào ạt như thác đổ nhưng rồi lại tĩnh mặc trong tiếng chuông chùa ngâm nga Đúng hay không, những tính cách đó cũng hình thành nên cá tính của người dân Nhật trong thế giới hiện đại ngày nay
Dù tâm lý người Nhật có mâu thuẫn hay quá phức tạp để diễn tả như thế nào, nhưng nếu để nói về tính cách người Nhật trong một từ thì chắc chắn từ thích hợp nhất và
2
Skimor Eliza, Những ngày của xe kéo ở Nhật Bản
http://www.akebonogakko.vn/modules.php?op=modload&name=Forums&file=viewtopic&forum=13& topic=262
Trang 19tiêu biểu nhất là từ “hòa” – hòa hợp với thiên nhiên và hòa hợp giữa người với người
Cách nghĩ từ thời xa xưa của người Nhật đã luôn cho rằng, con người vốn được sinh ra từ tự nhiên, chính quan điểm này đã hình thành nên đặc trưng văn hóa trong quan hệ ứng xử với tự nhiên, đó là sống chan hòa và biết tự hài lòng với những gì thiên nhiên ban tặng, còn hơn là một thực thể đối lập với bà mẹ tự nhiên
“Người Nhật không xem thiên nhiên là cái đối lập với con người hay là cái mà con người phải chinh phục Thay vì thế, họ tin rằng con người sống hòa hợp trong lòng thiên nhiên, thiên nhiên hiện hữu đồng đẳng với con người và hai bên có một mối giao tình thân thiết Nói cách khác, cả thiên nhiên và con người chỉ là hiện tượng tạm thời của vòng luân hồi chuyển sinh Để có thể hòa đồng với thiên nhiên, họ phải phủ định tự kỷ của mình (自己否定), hướng tới thể nhập chân không Đó là một chân không đầy ắp thiên nhiên, nơi ta tìm lại mình trong cái chân không đầy an lạc mà người Nhật gọi là “sung thực không hư” (充実空虚) [Nhật Chiêu 2006: tr.6 – tr.8] Trong đó, Shinto - Thần đạo Nhật Bản - là một biểu hiện của tinh thần sống chan hòa với thiên nhiên trong con người Nhật Bản Shinto là tín ngưỡng bản xứ dựa trên sự tôn kính và thờ phụng các đấng thiên nhiên như mặt trăng, mặt trời, rừng núi, sông ngòi, hoặc hiện tượng tự nhiên như giông bão Những vị thần luôn
ẩn mình trong thiên nhiên và truyền tải các thông điệp đến loài người qua những biến đổi của thiên nhiên, bất cứ điều gì trong thiên nhiên cũng có thể tượng trưng cho một vị thần Những cảm thức thẩm mỹ cũng đều được hình thành từ cách thức người Nhật cảm thụ thiên nhiên xung quanh mình
Như đã nói, Nhật Bản về phương diện xã hội, ngôn ngữ văn hóa đều có tính
đồng nhất rất cao nên trong người Nhật ý thức quy thuộc về một xã hội đồng nhất là
rất mạnh mẽ Tính đồng nhất cũng luôn được thể hiện trong khái niệm “hòa” Khái niệm “hòa” theo cách nghĩ của người Nhật, đó là ngoài việc “hòa hợp” với thiên nhiên, còn phải biết điều chỉnh sao cho cái tôi của bản thân luôn “hòa hợp” với cộng đồng, chính xác hơn mỗi người luôn cố gắng để là một cá thể phụ thuộc vào cộng đồng đó Trong quan hệ cũng rất ít khi xảy ra mâu thuẫn, ngoài ra họ cũng luôn biết nghĩ về người khác, không làm ảnh hưởng xấu đến tâm trạng, cảm giác, ích lợi của
Trang 20người khác, đó cũng là một biểu hiện của “hòa” Trong quan hệ xã hội, “hòa” cũng được thể hiện qua tính cộng đồng nơi người Nhật Nền văn hóa có phần xuất phát từ gốc nông nghiệp đã sinh ra quan niệm về giá trị tập thể, cùng chia sẻ vất vả và cùng chung hưởng niềm vui Không như ở phương Tây, người Nhật không quan niệm sự độc lập và tự quản là dấu hiệu của trưởng thành Với họ, sự trưởng thành là dấu hiệu cho thấy trách nhiệm, thái độ lệ thuộc lẫn nhau vì những mục đích có lợi cho nhóm mà mình lệ thuộc vào Họ luôn thể hiện tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng và tinh thần hòa hợp rất cao như dựa vào và sống hòa hợp với tự nhiên, cùng hiệp lực với nhau chống chọi với thiên tai
Xã hội Nhật được cấu thành theo chiều dọc (dễ dàng thấy được điều này qua các mối quan hệ đàn anh – đàn em (senpai – kōhai), người trên người dưới trong công việc, trong trường học ) Chính từ cơ cấu này đã nảy sinh tính phụ thuộc và lòng trung thành của người Nhật, và nhờ đó mà việc thực hiện mục tiêu của tập thể trở nên tương đối dễ dàng Họ có khả năng đoàn kết lại vì mục tiêu chung “Người Nhật luôn hướng lòng mình về một nhóm nào đó mà họ thuộc về” [Prokinov.V và Ladanov.I 1991: tr.39] Cụm từ dantai ryokoū ( 団 体旅 行 - du lịch theo đoàn) thường là một ví dụ minh họa rõ nét về đặc trưng này trong tính cách dân tộc Nhật Người Nhật khi đi du lịch thường đi theo đoàn, hoặc khi làm gì đó, họ cũng quyết định trên cơ sở được tập thể thông qua Đặc điểm này trong quản trị kinh doanh kiểu Nhật được gọi theo khái niệm là shyūdan shyugi tekina (集団主義的な- chủ nghĩa tập thể), vốn là một nét đặc trưng của Nhật đối lập với Mỹ vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân Người Mỹ chấp nhận thay đổi công việc và tiến bộ cá nhân Điều này với các doanh nghiệp Nhật Bản lại là biểu hiện của sự thiếu trung thành đối với tập thể Sự điều hòa, thống nhất một nhóm, phát huy tính sáng tạo trên cả tổng thể của từng yếu tố lẻ là đặc tính dân tộc đồng thời là thế mạnh của dân tộc Nhật Sự tôn trọng "Hòa" của người Nhật là sống hòa hợp giữa người với người trên những nguyên tắc thống nhất và sống hài hòa với tự nhiên Thánh Đức Thái Tử khi ban hành Hiến pháp 17 điều của Nhật, ông đã chủ định trong Điều 1 nói về Hoà và Trung Hiếu: “Lấy Hoà làm quý, không hành động ngỗ ngược Mọi người đều có bè đảng thì khó đạt được đạo, cho nên sẽ không biết hiếu thuận theo đạo Vua – Cha,
Trang 21lỗi đạo với xóm giềng Cần phải hoà mục trên dưới, nhẹ nhàng bàn bạc thì mọi chuyên sẽ thông suốt, việc gì chẳng thành tựu.” [Đoàn Lê Giang: 3] Chữ "Hòa" của Thái Tử, không chỉ đơn giản là giao thiệp tốt với những người gần mình Điều 1 trong Hiến pháp của Thái Tử nói tiếp "Khi nói chuyện với người trên, cũng như người dưới mình, nếu nói thẳng và giữ được thân thiện với họ, tự nhiên sẽ hiểu được đạo lý và sự việc sẽ suôn sẻ" [Tani Akira) 2005: tr.29].Chữ “hòa” này cũng
đã trở thành một chuẩn mực tinh thần trong bốn ý niệm Hòa – Kính – Thanh – Tịch của Trà đạo Nhật Bản
Ngoài tính chất đồng nhất và tính hài hòa, theo V.Prokinov và I.Ladanov trong
cuốn “Người Nhật”, tính thẩm mỹ cũng được coi là một trong những yếu tố tạo nên
nền tảng của bản sắc dân tộc Nhật, nó chi phối mọi đặc trưng văn hóa còn lại Tính thẩm mỹ của người Nhật không chỉ biểu hiện qua các hiện tượng bên ngoài mà còn thể hiện qua lối suy nghĩ và cung cách làm việc của họ hàng ngày, hay nói rộng ra
là qua nhân sinh quan của họ Họ luôn tìm kiếm cái đẹp trong công việc của mình, người Nhật nổi tiếng là người làm việc tỉ mẩn cần mẫn, họ xem công việc của họ không những là “hoạt động kinh tế” mà còn là “hoạt động thẩm mỹ” “Cảm thức thẩm mỹ hầu như được đưa lên hàng đầu” [Prokinov.V và Ladanov.I 1991: tr.27]
Nó đã ngấm vào máu thịt họ tự hồi nào Người Nhật “tôn thờ cái đẹp trong nghệ thuật lẫn thiên nhiên” [Nhật Chiêu 1999: tr.9] Chính đặc trưng văn hóa sống chan hòa với thiên nhiên đã khiến nảy nở những cảm thức thẩm mỹ trong tâm hồn người dân Nhật Bản
c/ Thời gian văn hóa
Do vị trí địa lý đặc biệt của mình mà Nhật Bản có đủ khoảng cách để tránh họa xâm lăng, nhưng cũng đủ gần để tiếp cận những ảnh hưởng của nền văn hóa đại lục Lịch sử Nhật Bản đã trải qua nhiều thời đại với những mốc lịch sử quan trọng,
mà qua đó, chúng ta có thể thấy tiến trình văn hóa Nhật Bản đã diễn ra như sau :
- Lớp văn hóa bản địa : Dân tộc Nhật Bản khởi điểm là nền nông nghiệp phụ
thuộc nhiều vào thiên nhiên đã khiến những tín ngưỡng, tập tục ban đầu được hình thành gắn với các lễ hội, các nghi lễ tôn giáo đậm màu sắc dân gian Các nghi lễ tôn
3
Đoàn Lê Giang, Nho giáo Nhật Bản và Nho giáo Việt Nam, http://dongtac.net/spip.php?article1358
Trang 22giáo đầu tiên tập trung vào các lễ hội theo mùa nhằm cầu nguyện và tạ ơn các vị thần, các linh hồn tổ tiên phù hộ cho sự phì nhiêu của đất đai, cho vụ mùa bội thu Thần đạo đã ra đời từ đó và trở thành tín ngưỡng bản địa Hơn nữa, với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như sóng thần, động đất, núi lửa, bão nhiệt đới luôn xảy ra thường xuyên, nên điều kiện tự nhiên đặc biệt này cũng khiến dân tộc Nhật Bản phải lao động cật lực để cải tạo tự nhiên, để rồi từ đó hình thành nên tính cách cần
cù, tỉ mỉ, yêu lao động của người Nhật Tình yêu thiên nhiên và sự tôn thờ thần thánh chứa đựng trong từng nghi lễ tôn giáo cũng như trong chính tâm hồn mỗi người dân Nhật đã khiến văn hóa Nhật Bản trở thành một trong những nền văn hóa đặc sắc nhất thế giới
- Giao lưu và tiếp thu văn hóa từ Triều Tiên, Trung Hoa : vào thế kỷ thứ III
trước C.N, văn hóa đồ sắt đã phát triển ở bán đảo Triều Tiên, và người Triều Tiên
đã xuất khẩu các đồ thủ công tới Nhật trong thời đại Yayoi (năm 300 trước C.N – năm 300 sau C.N), đây là bước giao lưu đầu tiên của nước Nhật với lục địa Trong thời kỳ Tam Quốc vào thế kỷ IV, nước Bách Tề (thuộc Tây Nam bán đảo Triều Tiên) đã hấp thu văn hóa và kỹ thuật Trung Hoa qua các tiếp xúc với các triều đình Nam Triều trong thời kỳ mở rộng lãnh thổ của họ, sau đó nước Bách Tề đã đóng vai trò then chốt trong việc làm trung gian chuyển phát các phát triển văn hoá, như chữ Hán, chế tạo đồ sắt, gốm sứ vào Nhật Bản cổ đại Vào những năm 538-552, vua Bách Tề là Seimei-ô (Thánh Minh Vương) đã đem tượng Phật và kinh Phật tặng thiên hoàng Kinmei (Khâm Minh) và nhờ đó người Nhật biết đến đạo Phật
Tại Trung Quốc vào giai đoạn thống trị của nhà Tùy - Đường, nền văn minh rực rỡ từ Trung Quốc đã truyền bá sang các nước Đông Á xung quanh, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển cao hơn cho nền văn minh ở khu vực này, trong đó có Nhật Bản Vào thời kỳ Asuka, Thái tử Nhiếp chính Shotoku đã thực hiện nhiều biện pháp tích cực và chủ động tiếp nhận một cách trực tiếp nền văn minh Trung Quốc, đưa văn minh Nhật Bản phát triển vượt bậc Năm 600, người Nhật Bản lần đầu tiên đặt chân lên lục địa Trung Quốc, với mục đích tìm hiểu, học tập văn minh Trung Hoa và thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc Ngoài ra, do nhận thức được Phật giáo chứa đựng nhiều tri thức về thế giới, phù hợp với tâm tính của người Nhật,
Trang 23nên Thái tử Shotoku đã tích cực ủng hộ, cổ vũ việc tiếp thu Phật giáo chủ yếu qua con đường Trung Quốc, bước đầu xây dựng nền Phật giáo Nhật Bản Từ năm 794 nền kinh tế, chế độ chính trị và văn hóa đều đạt đến trình độ phát triển cao Đây chính là thời kỳ Nhật Bản đã áp dụng việc tiếp thu những thành tựu mọi mặt của nền văn minh cao hơn để nhanh chóng phát triển nền văn minh của mình và xây dựng nền văn minh đậm đà tính chất Nhật Bản Mặc dầu tích cực tiếp thu văn minh Tùy - Đường nhưng Nhật Bản đã chủ động tiếp nhận, chủ động chọn lọc, biến chuyển những thành tựu văn minh bên ngoài thành các yếu tố nội tại để xây dựng nền văn minh dân tộc phát triển ngang tầm văn minh nhân loại mà vẫn đậm tính dân tộc
- Tiếp nhận văn minh phương Tây : Mặc dù đã có một số tiền đề nhất định,
nhưng so với châu Âu thế kỷ XIX, Nhật Bản còn ở trình độ lạc hậu và đặc biệt, có
sự khác biệt rất căn bản về truyền thống văn hoá và tính cách dân tộc Như ý kiến của nhiều chuyên gia đã chỉ ra, một trong những đặc trưng của văn hoá Nhật Bản khác với phương Tây là tính chất cộng đồng khép kín trong ứng xử xã hội, tính cạnh tranh cá thể tương đối yếu, nên khi buộc phải mở cửa để học tập và tiếp thu văn minh phương Tây, người Nhật không khỏi ngỡ ngàng, lúng túng Nếu chỉ rập khuôn những bước đi mà châu Âu đã trải qua, cố gắng xây dựng một xã hội lấy cá nhân làm trung tâm, khuyến khích phát triển cạnh tranh như kiểu phương Tây thì chắc hẳn không có một nước Nhật như đã thấy trong lịch sử cận đại Họ tìm ra con đường đi riêng của mình, phát huy đến mức tối đa sức mạnh văn hoá dân tộc mà họ
có, giảm thiểu đến mức thấp nhất những hạn chế vốn có trong tính cách dân tộc Sau khi lật đổ chế độ Mạc phủ (Bakufu), chính quyền Minh Trị đã tiến hành nhiều biện pháp để nhanh chóng tiếp thu văn minh phương Tây Bất cứ lĩnh vực nào, người Nhật cũng phân tích kỹ lưỡng, tìm ra những cái nhất của từng nước để học tập Do quá trình tiếp thu mang tính “chọn lọc” cao mà Nhật Bản đã sớm nắm bắt được những kiến thức tiên tiến nhất để học tập, mới có thể “đi tắt đón đầu”, tiến kịp các nước tiên tiến nhất thế giới.[Nguyễn Tiến Lực 2007: tr.302] Nhờ chủ trương và phương cách học tập nền văn minh phương Tây một cách đúng đắn, cụ thể mà trong
Trang 24vòng 30 năm Nhật Bản đã duy tân thành công, trở thành một nước tư bản chủ nghĩa tiên tiến, ngang hàng với các cường quốc trên thế giới
Các học giả Nhật Bản đã gọi văn hóa Nhật Bản là “Nền văn hóa mặt trăng -月
の文化” [Tani Akira 2005: tr.37], cách gọi này đã xuất hiện trên nhiều sách báo và
các công trình nghiên cứu của những học giả Nhật Bản, sau khi tìm hiểu và phân tích dựa trên các tài liệu tổng hợp từ phía Nhật và Việt Nam, tác giả đồng tình với tên gọi bằng tiếng Nhật này và sử dụng trong luận văn, bởi nếu phân tích cách gọi này, giống như ánh sáng mặt trăng có được là do tiếp nhận ánh sáng phản xạ từ mặt trời, thì nền văn hóa Nhật Bản ngoài lớp văn hóa bản địa lâu đời và đậm chất tín ngưỡng dân gian tôn sùng tự nhiên, qua quá trình tiếp thu văn minh từ các nước Triều Tiên, Trung Hoa và giao lưu tiếp xúc với phương Tây, văn hóa Nhật Bản không chỉ đơn thuần là tiếp thu những tinh hoa của văn minh bên ngoài, mà còn ra sức chắt lọc, sáng tạo, biến đổi cái đã học được thành cái tinh hoa tinh túy nhất của riêng mình, để có thể tự tỏa sách bằng chính ánh sáng của riêng mình Với tên gọi này thì những yếu tố ảnh hưởng từ văn hóa bên ngoài không bao giờ mang tính
“vay mượn”, mà chính xác hơn nên dùng từ “chuyển hoán”[Prokinov.V và Ladanov.I 1991 : tr.25] Chính đặc trưng này trong tính cách dân tộc đã khiến người Nhật tạo nên cho bản thân dân tộc mình những bản sắc riêng không thể lẫn vào đâu được Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, khẩu hiệu “Hãy là người Nhật Bản" nhắc nhở mỗi người dân biết cần phải hội nhập văn hoá ớ mức độ nào Có lẽ
“nền văn hóa mặt trăng” là cách gọi chính xác cho đặc trưng tiêu biểu nhất cho văn hóa Nhật Bản, khi nhìn lại lịch sử của Nhật Bản
Qua tiến trình văn hóa cùng khái niệm “Nền văn hóa mặt trăng -月の文化”
mà người Nhật tự gọi tên, cho thấy tính chất nhạy bén của người Nhật Giáo sư
Vĩnh Sính đã viết rằng “Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật, và nếu như họ phát hiện ra trào lưu nào đang thắng thế thì họ có xu hướng sẵn sàng học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó” [Vĩnh Sính 1991: tr.46] Và chính tinh thần thực dụng, tính hiếu kỳ và óc cầu tiến của người
Trang 25Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến Từ cách thức tiếp nhận có chọn lọc các nhân tố văn hóa ngoại quốc, Nhật Bản vẫn bảo tồn được nền văn hóa bản địa bằng cách đồng hóa thật sự các nhân tố đó, nhờ thế mà các ngành nghề truyền thống tại Nhật Bản không những không bị mai một đi mà còn được cải tiến kỹ thuật và càng trở nên tinh tế sâu sắc hơn
1.1.2 Loại hình văn hóa
Khi nói về loại hình văn hóa của Nhật Bản, nhiều người ngộ nhận rằng Nhật Bản thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Bởi xét theo khu vực, phương Đông thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp và phương Tây thuộc loại hình văn hóa gốc du mục Đây là hai loại hình văn hóa mang tính bao trùm và tất cả các loại hình văn hóa đều thuộc hai loại hình này Chính vì vậy, khi quy chiếu vào khu vực thì Nhật Bản nằm ở khu vực châu Á (thuộc về phương Đông so với phương Tây) nên nhiều người nghĩ Nhật Bản thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ thì ta thấy ở Nhật Bản có sự đan xen của cả hai loại hình trên, hay
có thể gọi là loại hình văn hóa trung gian Vùng văn hóa phương Đông vốn mang tính chất trọng tĩnh, trọng tình, trọng đức, trọng văn, linh hoạt, dân chủ cộng đồng, còn vùng văn hóa phương Tây trọng động, trọng sức mạnh, tiền tài, trọng võ, và trọng cá nhân [Trần Ngọc Thêm 2006: tr.48], trong đó loại hình văn hóa trung gian của Nhật Bản là sự kết hợp và dung hòa cả hai Theo tác giả Trần Ngọc Thêm, trong việc hình thành các loại hình văn hóa thì “các điều kiện tự nhiên giữ vai trò chi phối chủ đạo, còn ở những biểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế thì cả các điều kiện và xã hội đều đóng vai trò quan trọng”[Trần Ngọc Thêm 2006: tr.48] Chính những điều kiện tự nhiên của phương Đông và phương Tây khác nhau đã dẫn đến việc hình thành hai loại hình văn hóa như trên Đặc biệt thiên nhiên tại Nhật Bản đã giữ vai trò chi phối chủ yếu trong việc định hình loại hình văn hóa của nước này Cũng như nhiều nước khác trong khu vực, Nhật Bản xuất phát là một nền văn hóa gốc nông nghiệp với đầy đủ các đặc trưng như hòa hợp với thiên nhiên, trọng tình, tính cộng đồng v v Bên cạnh đó, trong lĩnh vực tôn giáo, ở Nhật Bản, ban đầu Thần đạo được xem là một tín ngưỡng bản địa, sau đó, ba tôn giáo khác từ khu
Trang 26vực và thế giới được truyền vào nước này là: Phật giáo, Nho giáo và Thiên Chúa giáo Hầu hết các tôn giáo này đều được đông đảo người dân tiếp nhận và trở thành những giá trị tinh thần linh thiêng trong cuộc sống của người dân của vùng đất Phù Tang này Chúng ta có thể thấy hiện tượng người Nhật Bản cùng một lúc là tín đồ của rất nhiều tôn giáo, người Nhật có thể vừa là con chiên,vừa là Phật tử Có nghĩa
là họ chọn ở các tôn giáo những giáo lý, giá trị có lợi cho mình và phù hợp với cộng đồng để tôn thờ và tuân thủ Việc tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau mà không có một tôn giáo nào được xem là quốc giáo là một biểu hiện nổi bật đặc điểm của loại hình văn hóa trung gian của Nhật Bản
Mặt khác, văn hóa Nhật Bản cũng mang những đặc điểm của văn hóa du mục Xét về địa hình, phần lớn địa hình Nhật Bản là núi đồi, không thích hợp với nông nghiệp Mặc dù đồng bằng có nhưng lại rất ít, bên cạnh đó, đất đai ở Nhật Bản vốn nghèo tài nguyên, ngoài ra điều kiện địa lý ảnh hưởng đến thiên nhiên khắc nghiệt với núi lửa, động đất đã trở thành những trở ngại lớn để Nhật Bản tiếp tục phát triển nền nông nghiệp Do đó, khi mở cửa hội nhập và tiếp thu những yếu tố văn hóa bên ngoài, từ phương Tây Nhật Bản tiếp nhận văn hóa mới, đó chính là nền văn hóa gốc
du mục, và nước Nhật đã nhận ra một con đường phát triển đất nước thích hợp hơn với điều kiện đất nước Việc sùng bái Thiên Hoàng cũng là một trong những biểu hiện của văn hóa gốc du mục Thiên Hoàng được tôn như là người đại diện cho nữ thần Mặt Trời xuống chỉ bảo con cháu của người Mặc dù ngày nay Thiên Hoàng không còn nắm giữ quyền lực (quyền lực nằm trong tay thủ tướng) nhưng sự hiện diện của Thiên Hoàng vẫn còn ý nghĩa quan trọng trong tâm thức người Nhật Như vậy, trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, nền văn hóa bản địa mang tính nông nghiệp của Nhật Bản đã tiếp nhận những đặc điểm của nền văn hóa gốc du mục từ bên ngoài Do đó, có thể nói văn hóa Nhật Bản là nền văn hóa trung gian, mang những đặc điểm kết hợp giữa loại hình văn hóa gốc nông nghiệpvà loại hình văn hóa gốc du mục
1.2 Trà đạo Nhật Bản
Ngày nay cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, các loại nước
Trang 27giải khát xuất hiện ngày càng nhiều, song trà vẫn là một thức uống phổ biến của nhiều nước, trong đó có Việt Nam và Nhật Bản Cho dù thưởng thức bằng phương pháp nào, khởi nguồn của vị trà vẫn là những búp trà non xanh trên những nương rẫy, những đồi xanh lộng gió và tràn ngập nắng Nghệ thuật uống trà không sinh ra đầu tiên ở Nhật Bản, nhưng Nhật Bản chính là mảnh đất nuôi dưỡng trà thành một nghi lễ, một nghệ thuật và một truyền thống Trong cuộc sống của người Nhật, sự hiện diện của trà như một lẽ đương nhiên mà chúng ta có thể thấy ở mọi lúc mọi nơi
và tác động mạnh đến tính cách tâm hồn của người dân Nhật Bản Nhưng cũng chính sức sống của tâm hồn Nhật Bản qua bao nhiêu thế kỷ đã thổi vào trà cái thần
thánh của nghi lễ và cái thẩm mỹ của nghệ thuật thưởng thức
Về việc sắp xếp phân loại các loại hình nghệ thuật trước hết chúng tôi xin trình bày cách phân loại nghệ thuật theo quan điểm của các học giả Nhật Bản, sau
đó là cách phân loại nghệ thuật theo quan niệm chung, qua đó tiến hành so sánh nhằm xác định vị trí của nghệ thuật Trà đạo trong văn hóa Nhật Bản Tại Nhật, các loại hình nghệ thuật chủ yếu được phân loại theo sáu hình thức cơ bản sau :
- Mỹ thuật (美術 - bijyutsu): nghệ thuật điêu khắc, hội họa, kiến trúc
- Nghệ thuật biểu diễn(身体芸術 – shintai geijyutsu): loại hình nghệ thuật biểu diễn bằng ngôn ngữ cơ thể như nghệ thuật diễn tấu, múa…
Trang 28- Văn học (文学 –bungaku ): tiêu biểu là thơ Haiku, thể thơ dài Renka, thể thơ ngắn Tanka…
- Nghệ năng(芸能 - geinō: Trà đạo, hoa đạo, kịch Nō, nghệ thuật rối Bunraku, Kabuki
- Loại hình nghệ thuật khác : như điện ảnh, tranh truyện, nghệ thuật nhiếp ảnh Trên đây là cách phân loại cơ bản về các loại hình văn hóa nghệ thuật của Nhật Bản theo các học giả Nhật Bản mà chúng tôi tham khảo được qua các sách như “Văn hóa Trà đạo” của tác giả Tani Akira viết năm 2005, từ điển “Nghệ thuật của Nhật Bản về Trà – Hoa – Hương.Quyển 5” của NXB Heibonsha năm 1979, sách ”Mỹ thuật trong Trà thất và sự liên kết giữa Thiền và Trà“của NXB Tankōsha vào năm 1990 Qua đó cho thấy rằng Trà đạo đã được xếp vào loại hình Geinō (芸能- nghệ năng) cùng với hàng loạt các nghệ thuật mang chữ “đạo” như Hoa đạo, Thư đạo… Geinō (芸能- nghệ năng) là một lĩnh vực nghệ thuật trong cả một nền văn hóa nghệ thuật rộng lớn của nước Nhật, các học giả nước ngoài thường cho rằng Trà đạo là một nghệ thuật, nhưng theo cách phân loại của các học giả Nhật Bản thì rõ ràng không thể gọi Trà đạo với một danh từ “Nghệ thuật” chung chung,
mà phải đặt Trà đạo trong lĩnh vực của Geinō nơi mà nó thuộc về
Theo Đại từ điển tiếng Nhật của NXB Kodansha xuất bản năm 2001, và từ điển “Nghệ thuật của Nhật Bản – Trà – Hoa – Hương.Quyển 5” thì từ Geinō là sự kết hợp về ngữ nghĩa giữa hai danh từ geijyutsu (芸術- nghệ thuật) và ginō (技能-
kỹ năng), hàm ý là phương thức giáo dưỡng, tự trau dồi bản thân, được nâng cấp thành những kỹ năng Sự khác biệt lớn giữa “geijyutsu - nghệ thuật” và “geinō - nghệ năng”, chính là quan niệm coi nghệ năng là “nghệ thuật đồng thời là phương thức giáo dưỡng, tự trau dồi bản thân – 教養として身につけていなければならない学問や技術” [Đại từ điển tiếng Nhật 2001: NXB Kodansha], theo đó lĩnh vực nghệ năng là một tập hợp những nghệ thuật nào có tính chất “tu tâm dưỡng tính”, chính điều này đã trở thành một trong những lý do khiến lĩnh vực Geinō chỉ quy tụ những nghệ thuật mang chữ “đạo” như Trà đạo (茶道), Hoa đạo (生け花), Thư đạo (書道), Hương đạo (香道) Cần phải kể thêm tên nghệ thuật kịch Nō, nghệ thuật rối
Trang 29Bunraku, Kabuki, vì tính chất “tu tâm dưỡng tính” cũng được coi là chuẩn tắc rèn luyện tinh thần của những nghệ thuật mang tính biểu diễn này
Theo quan điểm chung trên thế giới về nghệ thuật, từ thế kỷ XVIII, người ta
bắt đầu phân biệt giữa useful art (nghệ thuật tiện ích) và fine art (nghệ thuật thẩm
mỹ) Với nghệ thuật thẩm mỹ, các tác phẩm chủ yếu có ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ, không trực tiếp hữu dụng trong các mục đích thực hành, tác phẩm là những sáng tạo thể hiện tài năng của các nghệ sĩ, tài năng này hầu như không thể đúc rút thành những quy tắc, nguyên lý để giảng dạy cho người khác học hỏi, vận dụng Còn
“nghệ thuật” trong nghĩa hẹp, tức là fine art (được xem như nghệ thuật đích thực, cao quý, nhiệm màu – real art) Trong phạm vi của Fine arts lại có thể phân chia thành nghệ thuật ngôn từ (văn chương), nghệ thuật biểu diễn (nhạc, vũ, kịch), nghệ thuật tạo hình (hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc) [Phan Thu Hiền 2008: 5] Theo đó, chúng ta có cách phân loại các nghệ thuật Nhật Bản như sau :
- Nghệ thuật ngôn từ ( văn học, thi ca) : thơ Haiku, thể thơ dài Renka, thể thơ ngắn Tanka…
- Nghệ thuật tạo hình hay còn gọi là mỹ thuật : điêu khắc, hội họa
- Nghệ thuật thanh sắc hay còn gọi là nghệ thuật biểu diễn : kịch Nō, nghệ thuật rối Bunraku, Kabuki, kịch Kyōgen v v
Cũng theo quan điểm chung về nghệ thuật, từ “geinō - nghệ năng” trong tiếng Nhật chính là được suy ra từ nghĩa rộng của “nghệ thuật”, mà chúng ta có thể hiểu
“geinō” là bắt đầu từ những kỹ thuật, được nâng lên thành nghệ thuật và cao hơn nữa là trở thành con đường rèn luyện tâm thức Theo cách phân loại này, các nghệ thuật như Hoa đạo, Hương đạo, Trà đạo được xếp vào lĩnh vực “geinō”, được hiểu
là một kỹ thuật (trong cách pha chế và thưởng thức trà, cách cắm hoa, cách pha hương liệu) đã được nâng lên thành một nghệ thuật, rồi trở thành con đường tu luyện tinh thần
Như vậy, qua phần trình bày về hai cách phân loại nghệ thuật theo quan niệm nói chung và của các học giả Nhật Bản nói riêng, dù có sự khác biệt nhiều về sự xắp
5
Phan Thu Hiền, Văn hóa học nghệ thuật như một chuyên ngành của văn hóa học
http://www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view&id=610&Itemid=97
Trang 30xếp các loại hình nghệ thuật, nhưng chúng tôi nhận thấy rằng hai cách phân loại đều
có chung một điểm tương đồng khi đặt Trà đạo vào lĩnh vực nghệ thuật geinō, đây
là cách nhìn nhận đúng và chính xác nhất về Trà đạo trước vô số cách xếp loại về nghệ thuật Trà đạo Tại Nhật, lĩnh vực geinō (芸能 - nghệ năng) được chính thức đặt tên vào giai đoạn từ thời đại Kamakura đến thời đại Muromachi, giai đoạn này được cho là đỉnh điểm phát triển tính chất “đạo” của các nghệ thuật kịch Nō, Trà đạo, Hoa đạo v.v… Người Nhật đã xây dựng nên một hệ thống những đặc thù của những nghệ thuật được xếp vào lĩnh vực Geinō này, đó là bốn tính chất sau:
- 無形 ( mukei - vô hình): không thể hiện thành hình dạng thực tế, mang tính phi vật thể
- 無用 ( muyō - vô dụng) : theo nghĩa đen mang tính chất “thừa thãi”, không cần thiết, theo nghĩa rộng có thể hiểu là nghệ thuật mang giá trị tinh thần, phủ nhận giá trị thực dụng
- 虚構 (kyokō – hư cấu) : có tính hư cấu, tưởng tượng
- 定型 (teikei – định chế): phải tuân theo quy tắc, luật lệ rất chặt chẽ
[Tani Akira 2005: tr.42- tr.43]
Những tính chất này của lĩnh vực nghệ thuật geinō Nhật Bản cũng tương đồng với quan điểm của các học giả thế giới đề cập khi miêu tả về nghệ thuật thẩm mỹ, trong đó “các tác phẩm chủ yếu có ý nghĩa, có giá trị thẩm mỹ, không trực tiếp hữu dụng trong các mục đích thực hành, tác phẩm là những sáng tạo thể hiện tài năng của các nghệ sĩ, tài năng này hầu như không thể đúc rút thành những quy tắc, nguyên lý để giảng dạy cho người khác học hỏi, vận dụng” [Phan Thu Hiền 2008: 6]
Tại Nhật, để thể hiện nghệ thuật thuộc loại hình geinō này, người nghệ sĩ phải đảm bảo đủ ba điều kiện, đó là :
- Người làm nghệ thuật phải quên hết bản thân, dồn hết tâm trí khi thể hiện nghệ thuật này, đến mức độ “自分という人間を「殺して」役になりきることです” [Tani Akira 2005: tr.45]- tạm dịch là “nhập vai đến mức triệt tiêu đi cái tôi trong
6
Văn hóa học nghệ thuật như một chuyên ngành của văn hóa học
http://www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view&id=610&Itemid=97
Trang 31chính con người mình”, hàm ý quên đi bản ngã để đạt “ngộ” trong nghệ thuật mà mình thể hiện
- Bảo đảm tính chặt chẽ về thời gian: từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc đều diễn ra theo một trình tự nhất định, trong một thời gian nhất định
- Giới hạn về không gian: nghệ thuật chỉ được thể hiện trong một không gian tinh túy, khác biệt hẳn với những không gian đời thường (điều này có thể thấy rõ qua không gian Trà thất, hay không gian nhà hát nghệ thuật rối Bunraku, sân khấu kịch Nō hay chiếu ngồi của nghệ nhân nói chuyện hài Rakugo) [Tani Akira 2005: tr.44- tr.45] Như vậy, bằng việc quy định những đặc tính và những điều kiện chọn lọc tuy nghiêm khắc mà tinh tế, đã hình thành nên một khái niệm cơ bản về lĩnh vực các nghệ thuật geinō – được coi là tập hợp các nghệ thuật của “đạo”, xem “đạo” là con đường tu tâm kiến tính, với các điều kiện quy định chặt chẽ đối với người làm nghệ thuật, đồng thời thể hiện bốn tính chất “vô hình, vô dụng, định chế, hư cấu” đã khiến lĩnh vực nghệ thuật geinō mang nét khác biệt với những loại nghệ thuật còn lại Qua việc tìm hiểu về lĩnh vực nghệ thuật geinō, các học giả Nhật Bản đã chỉ ra chính xác vị trí của nghệ thuật Trà đạo trong nền văn hóa Nhật Bản, làm cơ sở cho những nghiên cứu về Trà đạo được chính xác hơn
1.2.2 Khái niệm
Ở Trung Quốc, trà bắt đầu được biết đến từ thời Hán, trải qua đời Tùy, đến đầu đời Đường, trà được xem như một vị thuốc [Trần Ngọc Thêm 2005: 7] Vào cuối đời Đường tục uống chè mới phổ biến ở mạn Bắc Trung Hoa, được một môn phái ở phương Bắc đã hấp thụ khá nhiều giáo lý của Khổng giáo, và từ đó định hình dần một nghi thức đầy đủ hơn, gọi là Trà đạo (đây mới chỉ là Trà đạo của Trung Quốc và hoàn toàn chưa phải là Trà đạo đích thực của Nhật Bản) Nghệ thuật thưởng trà được coi là một trong những sinh hoạt "quốc hồn, quốc túy" của dân tộc Trung Hoa lúc đó Cách uống trà cũng theo những con đường buôn bán tơ lụa, đồ gốm và qua sự giao lưu của các thương gia tỏa ra khắp thế giới Sau đó, nước Nhật
7
Trần Ngọc Thêm, Chè và văn hóa trà
http://www.vanhoahoc.com/site/index.php?option=com_content&task=view
Trang 32trong khi theo sát bước nền văn minh Trung Hoa thời Đường đã làm quen với Trà trong những giai đoạn thăng trầm của nó
Trong tiếng Nhật, trà được phiên âm là “Cha”(茶) Trà xanh gọi là “Ocha”(お茶), và trà đỏ gọi là “Kōcha”(紅茶) Matcha (抹茶) là loại trà bột chủ yếu chỉ để dùng trong Trà đạo Trà đạo trong tiếng Nhật thường được gọi bằng những từ như sadō (茶道– trà đạo) hay là chanoyu (茶の湯– trà thang) Hình thức thưởng trà ở
Nhật bao gồm hai hình thức : senchadō (sử dụng lá trà) và matchadō (sử dụng trà
bột) Senchadō (煎茶道) là nghi thức uống trà tương đối đơn giản và phổ thông
Sencha được chế biến từ những cuộn lá trà, một trong các loại trà xanh phổ biến
nhất của Nhật Bản, còn hình thức Matchadō (抹茶道) được người Nhật đồng hóa với chính Chanoyu và đã trở thành nghi thức Trà đạo truyền thống tại Nhật
Một số học giả Nhật và Việt cho rằng chanoyu là thuật ngữ thường được dùng
để chỉ một nghi thức, nghi lễ uống trà đơn lẻ, còn sadō (茶道– trà đạo) lại ám chỉ đến "phương cách thưởng trà", cũng có khi là thuật ngữ đề cập đến việc nghiên cứu hay một học thuyết về “thuật uống trà” tại Nhật Bản Như vậy để tìm hiểu khái niệm Trà đạo Nhật Bản, chúng ta phải bắt đầu từ cả hai thuật ngữ trên
Chanoyu (茶の湯– trà thang) nếu xét theo âm Hán Việt nghĩa là “nước nóng dùng pha trà” Quả vậy, "Trà đạo không gì hơn là nấu nước, pha và uống trà" [Trường phái Trà đạo Omotesenke: 8], đó là ý niệm của ông tổ dòng trà đạo Urasenke là Sen no Rikyū truyền lại cho con cháu trong dòng họ Sen Thế nhưng, phải sống trong không gian ngôi nhà của Trà đạo và tận mắt chứng kiến cách thưởng thức trà, thì mới hiểu được sự thâm thuý và tinh tế trong câu tổng kết về nghệ thuật tưởng như đơn giản này Kể từ khi nghệ thuật uống trà được hoàn thiện
và nâng cao về mặt hình thức và bắt đầu có những tiêu chí đánh giá cao hơn về mặt tinh thần xã hội, đặc biệt là khi nghệ nhân Rikyū đề ra một loạt chuẩn tắc nghiêm ngặt định hình rõ nét cho việc rèn luyện tu dưỡng khi thực hiện một buổi trà, thì từ Chanoyu đã được người Nhật gọi tên thành sadō (茶道– trà đạo) vào năm 1906 (thời đại Minh Trị) Trong đó, tính chất “đạo” đã được người Nhật khẳng định rõ
8
Trường phái Trà đạo Omotesenke http://www.omotesenke.jp/chanoyu/6_3_1.html
Trang 33ràng qua cách sử dụng chữ 道 (dō- đạo), do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền,
tôn chỉ của Trà đạo là đơn giản, thanh tịch, đưa con người trở về với tự nhiên Theo
“Mỹ thuật trong Trà thất và sự liên kết giữa Thiền và Trà “ của NXB Tankōsha năm
1990, chữ “đạo” trong Trà đạo có nghĩa là “thực hành đạo đức” Chữ “đạo” ban đầu thường được giải thích là “cách thức vận hành của vũ trụ” Sau đó chữ “đạo” trong đạo Phật của người Trung Quốc và người Nhật được dùng để chỉ “đạo của đức Phật” Cả Đạo giáo và Phật giáo đều lấy sự thực hành đạo đức là trọng Sau đó, khái niệm về”đạo” dưới ảnh hưởng sâu sắc của thẩm mỹ Thiền, trở thành một thuật ngữ
mỹ học chỉ sự hòa hợp của đời sống và tôn giáo, đỉnh cao của nghệ thuật, cái đích
mà mọi hành trình hướng thiện của con người đều hướng tới Những quy tắc nghiêm khắc của nghi thức Trà đạo, mà mới thoạt nhìn người ta cho là quá nặng nề
và tỉ mỉ, thực tế là để nâng cấp những vận động của cơ thể khi pha trà thành những động tác mang tính kỹ thuật, và cao hơn nữa là để những kỹ thuật đó được thăng hoa thành nghệ thuật, nhưng ý nghĩa của Trà đạo không dừng lại ở đó, mục đích hướng thượng chính là để đạt tới điều gọi là “đạo” – phương thức tu tâm dưỡng tính, rèn luyện tâm hồn Đây cũng chính là một yếu tố đặc trưng của lĩnh vực Geinō, nơi
mà Trà đạo thuộc về
Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ, ông đã nhận định về Trà đạo Nhật Bản trong bài
“Luận về Trà đạo Việt Nam” như sau “Trà đạo – chadō, hay sadō, hay cha-no-yu, là một lễ nghi cao thượng ở Nhật Bản, có nguồn gốc Thiền (Zen) của Đạo Phật, nhằm tôn vinh cái đẹp trong cuộc sống đời thường Đây là một biểu diễn nghệ thuật của khách đến thăm chủ nhà, trong đó mọi động tác đều được quy định theo một quy trình chặt chẽ.”[Đỗ Ngọc Quỹ 2006: tr.31-32], như tác giả đã nhận xét, Trà đạo đã thỏa điều kiện ”時間の完結”- tính chặt chẽ về thời gian mà trong lĩnh vực Geinō quy định rất gắt gao [Tani Akira 2005: tr.42- tr.43] Chỉ nghệ thuật nào đáp ứng được bốn điều kiện khắt khe của lĩnh vực Geinō sẽ trở thành nghệ thuật mang tính
“đạo”, vốn để nhấn mạnh thêm tính “đạo” cao quý đi kèm theo giá trị của Chân - Thiện - Mỹ mà nghệ thuật đó đem lại Do đó, người Nhật quan niệm rằng Trà đạo
chính là “để tôn vinh cái đẹp trong cuộc sống đời thường” [Prokinov.V và
Trang 34Ladanov.I 1991: tr.283], quả thật Trà đạo đã khiến đời sống bình nhật của một người dân Nhật trở nên thi vị hơn, phong lưu hơn
Trong quyển “Văn hóa Trà đạo” và từ điển “Nghệ thuật của Nhật Bản : Trà – Hoa – Hương.Quyển 5”, với cùng một lối diễn đạt đã cung cấp cho độc giả một khái niệm chi tiết về Trà đạo như sau: “Trà đạo là một nghệ thuật diễn ra trong một không gian riêng biệt chỉ chuyên dùng cho việc thưởng trà, sử dụng các dụng cụ chuyên dụng, việc pha trà cũng như uống trà đều diễn ra theo một trình tự nhất định,
và nghệ thuật này được thực hiện từ cả người chủ và người khách ”[Tani Akira 2005: tr.46] Với khái niệm này, chúng tôi rút ra nhận xét rằng, về mặt cấu trúc hệ
thống, bản thân Trà đạo phải được xây dựng dựa trên bốn yếu tố, đó là: Trà cha), Trà thất (茶室 - chasitsu) và Trà viên, Trà cụ (茶道具 - chadōgu), Phương thức pha trà và uống trà(点前 - temae) giữa trà chủ và trà khách, bởi
(茶-theo khái niệm mà các học giả Nhật Bản đã đưa ra ở trên thì “không gian riêng biệt”
chính là Trà thất, các dụng cụ chuyên dụng chính là các Trà cụ, và việc pha trà và
thưởng trà cũng chính là một nghệ thuật đầy tính ”đạo” diễn ra giữa chủ và khách Ngoài ra, nếu nhìn trên quan điểm hoạt động thì Trà đạo cũng mang bốn yếu tố :
Trà – phương tiện; Trà chủ và trà khách - chủ thể hoạt động; Phương thức pha trà và uống trà - hoạt động; Tinh thần thanh tịch, đạt ngộ - sản phẩm Nếu thiếu mất một trong các yếu tố trên thì người ta sẽ không thể gọi lên cái tên Trà đạo
Vì bản thân nghệ thuật là một sự theo đuổi thẩm mỹ, Trà đạo không chỉ đặt trọng tâm vào việc uống trà, mà còn liên quan đến việc thưởng thức căn phòng nơi uống trà, khu vườn nối liền với căn phòng, những dụng cụ dùng cho việc pha chế và dọn trà, và sự trang trí khung cảnh, chẳng hạn như một bức tranh cuốn treo tường hay một bình hoa Từ kiến trúc đến khung cảnh vườn tược, từ đồ gốm đến hoa cảnh của Nhật, tất cả đều có ý nghĩa rất nhiều đối với Trà đạo
1.2.3 Lịch sử hình thành và phát triển
Chén trà xanh Nhật Bản, bắt đầu từ những cây chè mọc hoang sơ trong tự nhiên, rồi trở thành một nghệ thuật và được cả thế giới trân trọng, đó là một quá trình biến đổi của những bước thăng trầm cùng những biến động xã hội lịch sử của
Trang 35nước Nhật Dòng chảy của lịch sử Trà đạo từ thuở sơ khai cho đến lúc chính thức định hình trải qua ba giai đoạn sau :
- Hình thành (thế kỷ XII )với phong cách thưởng trà chasūki(茶数奇)
- Phát triển (từ thế kỷ XVI )với trường phái trà wabi (侘び茶)
- Hoàn chỉnh (cuối thế kỷ XVI )với tinh thần Hòa – Kính – Thanh – Tịch (和敬清寂)
Cả ba giai đoạn đều có sự góp mặt quan trọng của những Trà nhân, đặc biệt là
ba vị Murata Shukō (1422 – 1502), Takeno Joo (1504-1555) và Sen no Rikyū (1522-1591) trong đó, giai đoạn phát triển trà wabi được coi là giai đoạn rất quan trọng, có vai trò định hình cho nghệ thuật Trà đạo ngày nay
a/ Giai đoạn hình thành
- Du nhập (từ thời đại Nara đến thời đại Heian) : Cây chè và tục uống trà
thâm nhập vào Nhật Bản theo hai con đường: đầu tiên là từ bán đảo Triều Tiên và sau đó trực tiếp từ nhà Đường (Trung Quốc) vào thế kỷ VIII, bắt đầu được lịch sử ghi nhận bằng một loạt các sự kiện Thời Nara (710-794), các đoàn sứ giả Nhật tới
triều Đường đã mang một ít dancha (trà bánh) về làm quà Năm 729, Hoàng đế
Shomu ban thưởng tiệc trà nhập từ Trung Hoa cho hơn một trăm nhà sư của triều đình trong cung điện [Okakura Kakuzo 1967: tr.46] Năm 801, nhà sư Saicho (767- 822) – người sáng lập phái Thiên Thai tông được phái sang Trung Quốc và khi trở
về Nhật Bản ông đã mang theo những hạt giống trà đầu tiên Năm 1191 vào thời kỳ Kamakura (1192-1333), nhà sư Eisaizenji khi du học tại trường Thiền Tông phương Nam Trung Quốc (lúc đó là thuộc thời đại Nhà Tống), ông đã đem hạt chè
về Nhật Bản trồng tại Uji, phía nam Kyōto Từ đó nhà sư phổ biến đạo Phật Thiền Tông phương Nam lan truyền nhanh chóng ra khắp đất nước, cùng với tác phẩm
"Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký", với nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan tới thú vui uống trà, đồng thời ca ngợi đặc tính dược liệu quý báu của trà Từ đó, dần dần công dụng giúp thư giãn lẫn tính hấp dẫn đặc biệt của hương vị trà đã thu hút rất nhiều người dân Nhật đến với cái thú uống trà Năm 1214, Esaizenji đã viết một bài luận
về những công hiệu của trà, và điều này đã khiến trà càng trở thành một vị thuốc
Trang 36quý trong cuộc sống người dân Nhật từ lúc bấy giờ, khi trà được cho là mang tính kéo dài tuổi thọ, làm cho cơ thể khỏe mạnh hơn và minh mẫn đầu óc hơn Hương vị độc đáo của trà đã về tận hoàng cung, và cũng vì lẽ đó Thiên Hoàng đã cho khuyến khích trồng cây trà ở khắp mọi nơi Những cây trà dần trở nên phổ biến và lan rộng không giới hạn trên lãnh thổ Nhật Bản
- Trà trở thành Trà lễ của giới tu hành (nửa đầu thời đại Kamakura) : Cùng
với sự bành trướng nhanh chóng của Phật giáo Thiền tông vào thế kỷ XII đã có tác động sâu đậm đến sự hình thành một nghệ thuật uống trà và ngày càng gần gũi hơn với người Nhật Trong giới tăng lữ Phật giáo thời đại Kamakura (1192 – 1333), việc uống trà vốn xuất phát từ nghi lễ dâng trà lên Đức Phật, gọi là trà lễ (茶礼- Sarei), trong đó các quy tắc và nghi thức tỉ mỉ cho việc pha và uống trà là do các thiền sư tạo ra Trà lễ mang nhiều đặc tính của Thiền, trong đó sự thanh tịnh, tính giản dị và mộc mạc đã trở thành những đặc trưng thẩm mỹ trong cách thức dùng trà, do đó, dần dần trở thành một nghi lễ có tính nghệ thuật Đối với giới tăng lữ Phật giáo thì việc uống trà không chỉ có tác dụng trị bệnh mà còn là động lực để hành đạo Loại trà xanh (bột trà Matcha - 抹茶) bấy giờ được coi như liều thuốc có tác dụng an thần, vì vậy trà rất được ưa chuộng và thịnh hành trong giới tu hành Phật giáo [Hoàng Minh Lợi 1995: tr.51] Dần dần, nghệ thuật uống trà thoát khỏi nhà chùa, lấn vào địa hạt văn hóa, đạo giáo, mỹ học, cùng triết lý, kỷ luật, quan hệ xã hội Từ thiền viện cho đến giới võ sĩ Samurai, trà đã có được vị trí đáng kể trong lịch sử phát triển của mỗi giai cấp Nhật Bản
- Trà trở thành thú tiêu khiển của giới quý tộc (từ thời Kamakura đến thời Muromachi) : Cho đến giai đoạn đầu thời đại Kamakura, khi các nhà sư dùng trà
như một phương thuốc an dưỡng tinh thần ở những thiền viện, thì giới Samurai lại
sử dụng loại trà Matcha với mục đích cầu xin sức mạnh trong các buổi hội trà Từ nhu cầu tinh thần của mỗi giai cấp, một nghệ thuật thưởng thức Trà tên gọi là Tōcha (闘茶- Đấu trà) đã ra đời, môn đấu trà có nguốn gốc bắt đầu từ đời nhà Tống lan truyền sang Nhật Bản, trở thành môn Đoán Trà vào cuối thời Kamakura và phát triển mạnh từ thời kỳ Nam-Bắc triều (đầu thời đại Muromachi) đến giai đoạn trung
Trang 37kỳ thời đại Muromachi Lúc đầu chỉ mang tính chất phục vụ riêng cho đẳng cấp võ
sĩ và tăng lữ Phật giáo, sau đó mới được từ từ phổ biến rộng trong giai cấp quần chúng khác Trong Tōcha, người thi sẽ phải đoán xem xuất xứ và chủng loại của loại trà đó cũng như bình phẩm để phân loại trà qua hương sắc, mùi vị, lá chè già non và xuất xứ của trà Hình thức của nghệ thuật Tōcha tại Trung Quốc diễn ra với tất cả các loại trà, còn hình thức Tōcha ở Nhật Bản thì chỉ áp dụng với trà xanh Tōcha được giới quý tộc trong xã hội Nhật ưa thích, và họ luôn tổ chức các hội trà (茶会 - chakai) ở những nơi sang trọng để giới quý tộc có thể vừa uống trà vừa chơi trà giữa những Trà cụ đắt tiền quý hiếm Đến cuối thời đại Kamakura thì Tōcha đã được lưu hành rộng rãi cho đến giai đoạn trung kỳ của thời đại Muromachi Chính nghệ thuật chơi trà Tōcha này đã là tiền đề cho việc hình thành một trường phái nghệ thuật Trà, có tên gọi là chasūki (茶数奇), khởi nguồn cho việc hình thành một nghệ thuật kết hợp giữa việc uống trà và thưởng trà, đồng thời cũng là để nhằm phân biệt với cách thức uống trà bình thường là chakurai (茶食らい) mà giới quý tộc vốn mỉa mai cho đó là cách uống trà “thô tục” của dân thường
Thời đại Kamakura đã chứng kiến những biến chuyển suy thoái về quyền lực của chính quyền trung ương và vai trò thống trị của triều đình Kyōto Trong Trà đạo cũng có những bước chuyển biến, bước đầu hình thành những nét quy định bắt buộc chung về việc sử dụng các loại Trà cụ, hay các loại đồ vật có liên quan đến việc uống trà, cách trưng bày Trà cụ cùng với những động tác uống trà ở các phòng trà dần dần trở thành tiền đề cơ bản cho việc định ra những nghi lễ, quy tắc của Trà đạo
về sau này [Hoàng Minh Lợi 1995 : tr 51 – tr.52]
b/ Giai đoạn phát triển : Trà của thanh tịch
Trong bối cảnh xã hội như vậy, ở Osaka có một nhà sư tên Murata Shukō (1422 – 1502) đã tìm thấy vẻ đẹp giản dị trong văn hóa uống trà Ông đến với trà với tư cách là một nhà sư, rất coi trọng cuộc sống tinh thần Với tâm niệm đi tìm điều gọi là kokoro no fumi (心の文) trong chén trà xanh - ngụ ý “giải thoát cái Tâm bằng một chén trà” [Trường phái Trà đạo Omotesenke: 9], Shukō đề cao tính nhã
9
Trường phái Trà đạo Omotesenke http://www.omotesenke.jp/chanoyu/6_3_1.html
Trang 38đạm mà giản dị trong cách dùng trà, cũng như sự am hiểu và khả năng nhạy cảm mỹ
học gọi là wabi ( lúc này wabi chưa được nhìn nhận như một cảm thức thẩm mỹ),
sự tương phản giữa cái hay, cái đẹp và sự thô mộc của sự vật, đây chính là tiền đề thiết lập nên trà wabi Khi Shukō nhấn mạnh đến tính wabi và sabi, ông được cho là người đầu tiên nghĩ đến việc hoàn thiện các nghi lễ, cách thức pha trà cũng như
cung cách thưởng ngoạn trà thành “đạo” uống trà, ông đã biến Trà đạo từ một thú
giải trí xa hoa, lộng lẫy vốn chỉ dành cho giới quí tộc trở thành một thú vui bình dị dân dã
Nối tiếp tinh thần đơn sơ giản dị của wabi từ Murata Shukō, Trà nhân Takeno Joo (1502-1555) đã đề ra một phong cách thưởng trà mới, đó là dùng trà trong một ngôi nhà nhỏ, khiêm nhường, không phô trương, kết hợp với Thiền lý và nguyên tắc hài hòa
c/ Giai đoạn hoàn chỉnh
Sau Takeno Joo, đến thế kỷ XVI, nghệ nhân Sen no Rikyū là người khai triển trọn vẹn nghệ thuật này khi chính thức thiết lập nên Trà wabi, góp phần vào việc
“định hình” Trà đạo ngày nay với bốn ý niệm tinh thần Hòa – Kính – Thanh – Tịch
đã tạo nên một nền văn hóa Trà đạo rực rỡ được xã hội Nhật Bản tôn vinh thành một loại hình nghệ thuật, và chính thức được gọi tên là Trà đạo (茶道- sadō hay chadō) vào năm 1906 thuộc thời đại Minh Trị Dưới thời Rikyū, những nghi lễ của việc pha trà và uống trà chỉ nhằm một mục đích: đạt đến thanh thản tâm hồn, thông dung với vạn vật Rikyū là người có ảnh hưởng sâu rộng trong tầng lớp võ sĩ, những hoạt động nhằm phát triển môn phái trà của ông mang tính ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính trị thời đó Chính Rikyū là người đầu tiên làm một cuộc cải cách về dụng cụ uống trà, các trà cụ quý hiếm đắt tiền đã được ông bỏ đi và thay vào đó là những lò, chén, lọ đất bình dân, để bất cứ người dân Nhật nào cũng có thể đến với Trà đạo Cùng thời với Rikyū, cũng có hoạt động của Yabunnōchi Jyochi (học trò của Takeno Joo) cùng nhiều Trà nhân khác, điều này đã hình thành nên rất nhiều trường phái Trà đạo tại Nhật Bản Đến cuối thời kì Edo (1603-1868), văn hóa trà đã thực
sự phát triển rộng khắp nước Nhật, và Trà đạo đã đi vào mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản
Trang 39Như vậy, nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của Trà đạo, trải qua quá trình du nhập từ lục địa Trung Hoa vào Nhật Bản từ thế kỷ VIII nhưng phải đợi đến thế kỷ XVI nghi lễ Trà đạo mới chính thức được thiết lập hẳn hoi ở Nhật Bản, dần dần được dân tộc xứ sở Phù Tang hoàn thiện và nâng cao giá trị của trà lên thành một tôn giáo của Chủ nghĩa Thẩm Mỹ, với tên gọi mà hiện nay đều được thế giới
nhắc tới với sự trân trọng : TRÀ ĐẠO
1.2.4 Tinh thần Trà đạo
Nghệ thuật uống trà theo Phật giáo nhập vào Nhật Bản, từ một thức uống thuần túy đã trở thành một nghệ thuật của Thiền, tinh thần Trà đạo nằm trong tính
“đạo” là do “chất Thiền” trong đó tạo hình nên, nghĩa là cái đạo được hình thành từ
“chất Thiền” trong việc pha và thưởng thức trà Hầu hết mọi người khi nghe nhắc đến chữ ”đạo” đều lập tức liên hệ ngay đến khái niệm về một “đạo” mang tính giải thoát theo tinh thần Phật giáo, nhưng “đạo” trong Trà đạo không chỉ có vậy Khi ở các thiền viện bắt đầu nghi lễ dâng trà, khi trường phái thưởng trà đầu tiên chasūki (茶数奇)bắt đầu xuất hiện trong lịch sử Nhật Bản, thì nét tinh thần sơ khởi đầu tiên
mà việc uống trà đem lại cho con người chính là sự giác ngộ Bản chất của Trà đạo
là chú trọng đến sự vô thường, vì vậy những sự việc rất bình thường như việc uống một chén trà đều được làm một cách cẩn trọng, chu đáo, trong sự nhẫn nại kiên trì Nghi thức uống trà đơn thuần đã được phát triển với ảnh hưởng của Phật giáo Thiền tông, với mục đích là làm tinh khiết tâm hồn bằng cách hợp nhất với thiên nhiên Tinh thần của Trà đạo được diễn đạt bằng những từ ngữ như sự thanh thản, sự mộc mạc, sự thanh nhã, là "tính thẩm mỹ của sự đơn giản chân phương và sự nghèo túng tinh khiết" [Nguyễn Bá Hoàn 2003: tr.18], đó chính là biểu hiện của tinh thần nhã đạm (雅- miyabi) trong văn hóa Nhật
Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo, tinh thần Trà đạo ngày càng trở nên hoàn chỉnh hơn, sâu sắc hơn, đậm chất Thiền hơn với những chuẩn tắc lễ nghi trong đó Hầu hết các sách báo tư liệu tiếng Việt đều cho rằng tinh thần Trà đạo nằm trong bốn ý niệm Hòa – Kính – Thanh – Tịch, nhưng thực chất bốn ý niệm trên chỉ được coi là tinh thần của Trà đạo trong giai đoạn đã được hoàn chỉnh nhờ Sen
Trang 40no Rikyū Trước đó, vào thời đại của Takeno Joo (1504-1555) người Nhật đã luôn tâm niệm rằng hai cảm thức wabi và sabi là chính bản thân Trà đạo Và nhờ vào việc Rikyū đặt ra trường phái Trà wabi, cảm thức wabi và sabi đã trở thành tinh thần cơ bản của Trà wabi, đến tận giai đoạn cuối đời Rikyū người ta chính thức công nhận cốt lõi tinh thần trong nghệ thuật Trà đạo gồm các yếu tố sau :
Wabi sabi + (Hòa – Kính – Thanh – Tịch) + Ichigo ichie = TRÀ ĐẠO
“hòa” để đạt đến sự cân bằng về nội tâm
Kính ( Kei ) : Đức tính “Kính” trong Trà đạo thể hiện qua hành vi kính trọng, lễ kính không chỉ giữa người với người, mà còn ám chỉ sự tôn kính đối với vạn vật thiên nhiên nảy sinh từ niềm cảm tạ chân thành về
sự tồn tại hiện hữu của chúng
Thanh ( Sei) : Thanh trong Trà đạo được hiểu là trong sạch Đây là sự thanh khiết rất thuần túy cả về vật chất và tinh thần bên trong con người,
là nét ảnh hưởng rõ rệt nhất từ Thần đạo
Tịch ( Jaku) : Tịch có nghĩa là sự vắng lặng, tĩnh lặng Chính sự tĩnh lặng mới khiến tâm trong sáng (“Thanh”) từ đó là động cơ để phát khởi hai đức tính: ”Kính” và Hòa” Việc đạt đến trạng thái tịnh lặng trong tâm tưởng được coi là yếu tố quan trọng nhất trong nghi thức Trà đạo
Bốn ý niệm Hòa – Kính – Thanh – Tịch được xây dựng từ rất nhiều yếu tố, trước hết phải kể đến chính là bảy chuẩn tắc của Rikyū đã đề ra, cũng không kém