1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

một số cảm thức thẩm mỹ trong thơ haiku của matsuo basho

79 2,7K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 774,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi vào tìm hiểu cái hay cái độc đáo trong thơ Haiku của Basho không thểkhông tìm hiểu về các cảm thức thẩm mỹ.. Hiểu được các cảm thức thẩm mỹ sẽ giúp ta hiểu được sâu hơn về bài thơ Hai

Trang 1

TR TRƯỜ ƯỜ ƯỜNG NG NG ĐẠ ĐẠ ĐẠIIII H H HỌ Ọ ỌC C C C C CẦ Ầ ẦN N N TH TH THƠ Ơ KHOA KHOA KHOA KHOA KHOA H H HỌ Ọ ỌC C C X X XÃ Ã Ã H H HỘ Ộ ỘIIII V V VÀ À À NH NH NHÂ Â ÂN N N V V VĂ Ă ĂN N

B

BỘ Ộ Ộ M M MÔ Ô ÔN N N NG NG NGỮ Ữ Ữ V V VĂ Ă ĂN N

***

PH PHẠ Ạ ẠM M M TH TH THỊỊỊỊ NH NH NHƯ Ư MSSV:

MSSV: 6106419 6106419

M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố C C CẢ Ả ẢM M M TH TH THỨ Ứ ỨC C C TH TH THẨ Ẩ ẨM M M M M MỸ Ỹ Ỹ TRONG TRONG

TH THƠ Ơ Ơ HAIKU HAIKU HAIKU C C CỦ Ủ ỦA A A MAT MAT MATS S SUO UO UO BASHO BASHO

Lu Luậ ậ ận n n vvvvă ă ăn n n ttttố ố ốtttt nghi nghi nghiệệệệp p p đạ đạ đạiiii h h họ ọ ọcccc Ng

Ngà à ành nh nh Ng Ng Ngữ ữ ữ V V Vă ă ăn n

C

Cá á án n n b b bộ ộ ộ h h hướ ướ ướng ng ng d d dẫ ẫ ẫn: n: n: Ths.GV Ths.GV Ths.GV TR TR TRẦ Ầ ẦN N N V V VŨ Ũ Ũ TH TH THỊỊỊỊ GIANG GIANG GIANG LAM LAM

C Cầ ầ ần n n Th Th Thơ ơ ơ,,,, n n nă ă ăm m m 2013 2013

Trang 2

ĐỀ ĐỀ C C CƯƠ ƯƠ ƯƠNG NG NG T T TỔ Ổ ỔNG NG NG QU QU QUÁ Á ÁT T

1.1 Giới thuyết về cảm thức thẩm mỹ trong văn học Nhật Bản

1.2 Đôi nét về thơ Haiku

1.2.1 Nguồn gốc thơ Haiku

1.2.2 Hình thức và đặc điểm thơ Haiku

1.2.3 Một số nhà thơ Haiku tiêu biểu

1.3 Cuộc đời và sự nghiệp Matsuo Basho

1.3.1 Cuộc đời hành giả của Matsuo Basho

1.3.2 Sự nghiệp thơ ca của Matsuo Basho

1.3.3 Quan niệm thơ ca của Matsuo Basho

Chương 2 MỘT SỐ CẢM THỨC THẨM MỸ TRONG NỘI DUNG THƠ HAIKU CỦA MATSUO BASHO

Trang 3

Văn học Nhật Bản được thế giới biết đến với nhiều tác phẩm, nhiều loại hìnhcùng nhiều tác giả nổi tiếng Như kịch No là di sản quý giá không chỉ của đất nước

“phù tang” mà còn là sản phẩm thuộc về kho tàng văn hóa thế giới Ysunari Kawabata(1899- 1972) và Oe Kenzabuno(1935-) là hai nhà văn đã xứng đáng vinh dự đượcnhận giải thưởng Nobel văn học uy tín danh giá lần lượt vào năm 1968 và năm 1994.Điều đó cho ta thấy những giá trị cũng như những cống hiến to lớn của học Nhật Bảnvào nền văn học thế giới Sức hấp dẫn của văn học Nhật Bản còn ở rất nhiều tác phẩm

từ cổ đại đến hiện đại Ví như C C Cổ ổ ổ ssssự ự ự k k kíííí là một bức tranh hoành tráng về xã hội và tâm

hồn Nhật Bản thời cổ sơ V V Vạ ạ ạn n n di di diệệệệp p p ttttậ ậ ập p p là kiệt tác thời Nara, “ngọn hải đăng của thơ ca

Nhật Bản” chứa đựng 4496 bài thơ, nó hầu như quy tụ mọi tâm hồn của người Nhật

với hệ thống nhân vật đông đảo Hay Truy Truy Truyệệệện n n Genji Genji Genji một trong những kiệt tác hàng đầu

của Nhật và được xem như là quyển tiểu thuyết đầu tiên của thế giới

Trong rất nhiều tinh hoa của nền văn học xứ sở “phù tang” có thể thơ Haiku

Đó là thể thơ độc đáo và hết sức đặc sắc bởi số lượng từ tuy ít ỏi nhưng hàm chứa nộidung sâu sắc, rộng lớn đòi hỏi sự cảm nhận, suy tư để thấu đáo Haiku đi vào thế giớinhư bản nhạc hay góp mình làm cho cuộc sống nhiều thêm những cung bậc tuyệt vời.Haiku là thể thơ đặc biệt ngắn nhưng lại diệu kì chứa đựng nhiều giá trị bí ẩn luôn hấpdẫn người đọc tìm đến chiêm ngưỡng, khám phá Haiku mở ra cho người đọc nhữngkhu vườn tri thức mới lạ Đó là niềm tự hào của người Nhật Đi vào vườn thơ Haiku ta

sẽ bắt gặp cây đại thụ Matsuo Basho, người được ví như linh hồn của thể thơ này,người đã hoàn thiện và góp phần phát triển thơ Haiku Basho không chỉ được tôn vinh

ở Nhật mà còn là thi hào được thế giới biết đến bởi những cống hiến to lớn của mìnhcho thơ ca nói riêng và cho văn học nói chung

Trang 4

Đi vào tìm hiểu cái hay cái độc đáo trong thơ Haiku của Basho không thểkhông tìm hiểu về các cảm thức thẩm mỹ Cảm thức thẩm mỹ là đặc trưng, là nguyên

lý dường như trở thành mặc định cho các sáng tác của văn học Nhật Bản Các cảmthức ấy chứa đựng linh hồn Nhật Bản, mạnh mẽ, huyền bí mà cũng dịu dàng thanhthoát Hiểu được các cảm thức thẩm mỹ sẽ giúp ta hiểu được sâu hơn về bài thơ Haiku.Đây là một phương diện tiếp cận thơ Haiku giúp ta thấy được sự cảm nhận sâu sắc,độc đáo của người Nhật về cái đẹp Với vai trò vừa là thi sĩ vừa là thiền sư, Basho sángtạo ra những bài Haiku ngắn gọn nhưng có sức chứa và sức sống lâu bền Để làm nênsức sống đó có sự góp sức của các nguyên lý thẩm mỹ mà luận văn sẽ tìm hiểu Hồnthơ haiku, hồn Basho như hòa quyện để bay lên cùng những cảm thức ấy Chính sự

độc đáo ấy đã cuốn hút chúng tôi để chúng tôi quyết định chọn đề tài “ “ “M M Mộ ộ ộtttt ssssố ố ố ccccả ả ảm m th

thứ ứ ứcccc th th thẩ ẩ ẩm m m m m mỹỹỹỹ trong trong trong th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku ccccủ ủ ủa a a Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho Basho” ” ” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

Oku được xuất bản năm 1999 bởi Nhà xuất bản Thế giới, trong quyển này ông đã dịch

và giới thiêu tập thơ L L Lố ố ốiiii llllêêêên n n mi mi miềềềền n n Oku Oku Oku nguyên văn tiếng Nhật là Oku Oku Oku no no no hosomichi hosomichi

của Basho Trong cuốn sách Vĩnh Sính cũng giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự

nghiệp của ông Trong quyển H H Hợ ợ ợp p p tuy tuy tuyểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n do Mai Liên tuyển chọn,

giới thiệu và dịch đã khái quát nội dung của một số tác phẩm tiêu biểu cho các giaiđoạn của văn học Nhật Bản trong đó có thơ Haiku của Matsuo Basho Bên cạnh đócòn rất nhiều bản dịch của các tác giả khác như Đoàn Lê Giang, Thanh Châu, HữuNgọc… Khi so sách các bản dịch tuy có sự khác nhau nhưng vẫn đảm bảo một số nộidung nhất định Điều đó cho thấy việc dịch thuật văn học Nhật Bản nói chung thơHaiku nói riêng là công việc khó khăn đòi hỏi sự tỉ mỉ, hiểu biết và năng khiếu vănchương để một mặt truyền tải tinh thần thơ Haiku mặt khác làm cho chúng có vần nhịpmền mại sinh động

Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy bên cạnh dịch thuật thì cũng có khá nhiều bàinghiên cứu về thơ Haiku của Basho cả về nội dung lẫn nghệ thuật Có thể điểm qua

các bài nghiên cứu như: D D Dấ ấ ấu u u ấ ấ ấn n n Thi Thi Thiềềềền n n ttttô ô ông ng ng trong trong trong th th thơ ơ ơ M.Basho M.Basho M.Basho của tác giả Đỗ Thái

Nhuận (Tạp chí văn hóa, số 5, 1997), Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho Basho – – – Nh Nh Nhà à à th th thơ ơ ơ llllớ ớ ớn n n ccccủ ủ ủa a a th th thểểểể th th thơ ơ ơ Haiku Haiku

Trang 5

của Nguyễn Tuấn Khanh (Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản số 3, 1995), M M Mộ ộ ộtttt ssssố ố ố đặ đặ đặcccc đ đ điiiiểểểểm m ccccủ ủ ủa a a th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku (Hà Văn Lưỡng, Tập chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 4,

2001)…Bên cạnh đó còn các bài so sánh Basho và một số tác giả khác của Việt Nam

như bài S S Sự ự ự bi bi biểểểểu u u hi hi hiệệệện n n ttttĩĩĩĩnh nh nh vvvvà à à độ độ động ng ng trong trong trong th th thơ ơ ơ Tr Tr Trầ ầ ần n n Nh Nh Nhâ â ân n n T T Tô ô ông ng ng vvvvà à à th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku ccccủ ủ ủa a M.Basho

M.Basho (Tạp chí ngiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1, 2006), bài Basho Basho Basho (1644- 1694)

(1644-1694) vvvvà à à Huy Huy Huyềềềền n n Quang Quang Quang (1254-1334) (1254-1334) (1254-1334) ssssự ự ự g g gặ ặ ặp p p g g gỡ ỡ ỡ vvvvớ ớ ớiiii m m mù ù ùa a a thu thu thu hay hay hay ssssự ự ự ttttươ ươ ương ng ng h h hợ ợ ợp p p vvvvềềềề ccccả ả ảm m m th th thứ ứ ứcccc th th thẩ ẩ ẩm m m m m mỹỹỹỹ (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 7, 2005)… Thơ Haiku nói chung

và của Basho nói riêng luôn có sức hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu mà nói nhưNhật Chiêu đó là hội tụ của “ba nghìn thế giới thơm” mang nhiều bí ẩn cần được khámphá

Nhật Chiêu là nhà nghiên cứu lớn về văn học Nhật Bản Ông đã có nhiều bàibáo, bài nghiên cứu và viết sách về văn học Nhật Bản Trong đó, ông cũng dành khánhiều tâm huyết cho việc nghiên cứu thơ Haiku Nhân ngày kỉ niệm 350 năm ngàysinh và 300 năm ngày mất của Basho, nhà nghiên cứu Nhật Chiêu đã viết quyển

Basho

Basho vvvvà à à th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku được xuất bản năm 1994 Tên quyển sách giản dị đơn sơ nhưng

chứa đựng cả tấm lòng của Nhật Chiêu như chính thơ Haiku nhỏ bé mang trong mìnhtâm hồn vĩ đại Basho Đây là công trình khác bao quát về thơ Haiku của Basho Vớitấm lòng trân trọng Nhật Chiêu gọi Basho là “tâm hồn Nhật Bản”, là “cái tên kì diệu”.Bên cạnh việc phân tích nội dung các bài thơ ông còn tuyển dịch một số bài của Basho.Khi phân tích phương diện nghệ thuật thơ Basho Nhật Chiêu khẳng định: “Haiku tiêu biểu cho phong cách Đông phương hơn cả, cô đọng, ý ở ngoài lời” [3; tr.53] Haiku

giản dị và ngắn gọn Nó làm ta xúc đọng chỉ bằng vài câu tự, vài hình ảnh “Thơ Haiku của Basho, với vỏn vẹn 17 âm tiết, tựa như những vỏ ốc kỳ diệu Nhỏ nhoi và mong manh, các vỏ ốc ấy chứa cả sóng gió đại dương và niềm tịch tĩnh Niết bàn” [3;

tr.63] Thơ Haiku được tạo thành từ những điều nhỏ nhoi nhưng lại rất thâm sâu Bêncạnh sự cô đọng, ngắn gọn của mình Haiku còn là những bức tranh thiên nhiên tuyệtvời với các quý ngữ (kigo) Các quý ngữ này giúp ta nhận biết bài thơ dược viết vàomùa nào Chính quý ngữ là biểu hiện tình yêu thiên nhiên của người Nhật Họ làm thơkhông chỉ để bài tỏ cảm xúc, sự xúc động mà họ làm thơ còn để gắn mình với cuộc đời,với thiên nhiên muôn màu Quý ngữ không chỉ là nét đặc trưng mà còn là một đặcđiểm nghệ thuật độc đáo Cũng nguyên cứu về nghệ thuật thơ Haiku của Basho, Nhật

Chiêu còn có bài Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho Basho vvvvà à à nguy nguy nguyêêêên n n llllýýýý llllà à àn n n h h hươ ươ ương ng ng Như “làn hương” thanh

Trang 6

trong nhưng lại ẩn chứa sức mạnh mê hoặc người khác, mỗi bài Haiku của Basho đòihỏi người đọc phải nhắm mắt lại, lắng tai nghe lòng mình vang vọng hòa cùng tiếnghồn bài thơ để nắm bắt được “nguyên lý làn hương” trong những bài Haiku bí ẩn Nhànghiên cứu Nhật Chiêu đã phát hiện ra nguyên lý độc đáo này trong thơ của Basho.

“Nguyên lý làn hương (nioi) là cái bạn chỉ có thể cảm nhận chứ không nhìn thấy được, giống như “dư tình” (yojo) trong waka cổ điển” [4] Bài viết của Nhật Chiêu không đi

đến tìm hiểu cuộc đời hay nội dung thơ Haiku mà chỉ cho chúng ta thấy nét độc đáo,hấp dẫn của Haiku từ phương diện nghệ thuật mà Basho sử dụng Đó là thi pháp lànhương Theo Nhật Chiêu lý giải “làn hương” ở đây là làn hương lan từ bài thơ nàysang bài thơ khác như hương hoa bay đi dù không nhìn thấy nhưng có thể cảm nhậnđược Những bài thơ Haiku ngắn gọn nhưng có sức lan tỏa về ý nghĩa

Về phương diện nội dung trong thơ Basho cũng được Nhật Chiêu đề cập trong

quyển Basho Basho Basho vvvvà à à th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku Ông nhận định “Thơ Basho có hoa và nước đái ngựa, có

bươm bướm và chấy bọ, ngân hà và vực thẳm, thiền sư và gái điếm…Nghĩa là có toàn thể, có cuộc sống ở thực tại của nó Nếu hoa có ý nghĩa thì nước đái ngựa cũng có ý nghĩa Tất cả đều đáng đưa vào thơ Tất cả đều có thể dựa vào thơ trong cái nhìn đạt

lý của thi nhân Ở phương diện này, Basho còn hiện đại hơn nhiều nhà thơ hiện nay.”[3; tr.7] Thơ Basho gắn với cuộc sống đến từng hơi thở Haiku không còn để

mua vui mà Haiku là sự dung hòa của tâm hồn và thiên nhiên, giữa con người và cuộcsống Cuộc đời thực nhiều mặt đa dạng đều được Basho tái hiện tại trong thơ bằng tất

cả tấm lòng Đó là nét hiện đại vượt thời gian của thơ Basho Về mặt nội dung có thể

kể đến bài viết của Hữu Ngọc Tác giả Hữu Ngọc trong quyển D D Dạ ạ ạo o o ch ch chơ ơ ơiiii vvvvườ ườ ườn n n vvvvă ă ăn n Nh

Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n gọi Basho là “nhà thơ lãng du trên cõi trần” Trong khu vườn văn học Nhật

Bản muôn sắc muôn hương mà Hữu Ngọc “dạo chơi” có bông hoa Haiku của Basho

Hữu Ngọc đã dành bài viết mang nhan đề “ “ “Ba Ba Ba Ti Ti Tiêêêêu u u thi thi thiềềềền n n ssssư ư ư,,,, nh nh nhà à à th th thơ ơ ơ llllã ã ãng ng ng du du du tr tr trêêêên n n ccccõ õ õiiii tr

trầ ầ ần n n” ” ” để nói về thơ Haiku của Basho Một mặt tác giả khẳng định vai trò của Basho

trong việc đưa Haiku thành “một thể thơ trữ tình vừa tuyệt mỹ, vừa cao siêu” [20;

tr.60] Mặt khác ông nhận thấy sự chuyển biến trong phong cách thơ Basho: “Thơ Haiku của Basho biến diễn từ thi cú cầu kì thời thanh niên sang giọng thanh thản lâng lâng vào tuổi già Nhũng bài làm vào thời tài năng nở rộ gợi sự hài hòa người và thiên nhiên.” [20; tr.61] Có thể thấy nội dung thơ Basho luôn hướng đến vấn đề con người

và thiên nhiên, trong đó thiên nhiên chiếm một vị trí quan trọng

Trang 7

Bên cạnh các bài nghiên cứu nội dung, nghệ thuật thì còn có một số bài nghiêncứu về mỹ học trong Haiku mà ở đây là nghiên cứu về các cảm thức thẩm mỹ Các

cảm thức thẩm mỹ trong thơ Basho được Nhật Chiêu bàn đến trong quyển Basho Basho Basho vvvvà à th

thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku Nhật Chiêu chỉ ra cảm thức chủ yếu mà Basho sử dụng là sabi (tịch),

yugen (u huyền), wabi (đà), và aware (bi cảm) Ông cho là các cảm thức này là các

“cảm thức trực giác tâm linh” Các cảm thức không được dựng lên bằng những lýthuyết khô khan thuần túy mà nó là những nguyên lý phải dùng sự cảm nhận để hiểu.Các cảm thức này ảnh hưởng từ tinh thần Thiền tông và được phát triển trong trà đạo.Các cảm thức thẩm mỹ làm nên nét đặc trưng riêng cho thơ Haiku của Basho Cũng

nghiên cứu các cảm thức thẩm mỹ, Hà Văn Lưỡng có bài viết “ “ “Nh Nh Nhữ ữ ững ng ng ssssắ ắ ắcccc th th thá á áiiii ccccả ả ảm m th

thứ ứ ứcccc th th thẩ ẩ ẩm m m m m mỹỹỹỹ trong trong trong th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n” ” ” đăng trên Tạp chí sông Hương số 195

tháng 05 năm 2005 Ông nêu ra 4 cảm thức thẩm mỹ chủ yếu là sabi (tịch), wabi (đà),aware (bi ai) và karumi (khinh) Tác giả đi vào phân tích các cảm thức thẩm mỹ và chothấy sự đặc biệt của các cảm thức thẩm mỹ trong thơ Basho Sau khi phân tích các cảmthức thẩm mỹ Hà Văn Lưỡng nhận định: “Từ cảm thức về sự cô tịch (sabi) đến nhận

ra cái đẹp ở sự bình dị, thanh thoát (wabi) và khẳng định cái thanh cao, ung dung (karumi) trong con người và sự vật là những biểu hiện của sắc thái thẩm mỹ mang dấu

ấn Thiền tông trong thơ haiku nói chung, đặc biệt trong thơ haiku của Basho” [17].

Tác giả đã khái quát lên được điểm chung của các cảm thức thẩm mỹ là điều mang dấu

ấn Thiền tông Như vậy cả hai tác giả đều chỉ ra cho người đọc thấy một số cảm thứcthẩm mỹ quan trọng trong thơ Haiku của Basho và nhận ra tầm ảnh hưởng của nhữngquan niệm Thiền tông

Qua việc tìm hiểu trên ta nhận thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu vềthơ Haiku của Basho Các công tình này tập trung vào khai thác nội dung và nghệthuật thơ của ông Bên cạnh đó, có các bài viết về các cảm thức thẩm mỹ Tuy nhiên,chưa có công trình nào đào sâu và nhấn mạnh vào việc phân tích các cảm thức thẫm

mỹ trong thơ Haiku của Basho một cách đậm nét Tuy nhiên các công trình này đãcung cấp những kiến thức nền tảng cho người viết thực hiện đề tài

Trang 8

Thứ nhất là tìm hiểu khái niệm cảm thức thẩm mỹ trong thơ Haiku nói chung vàkhái niệm cảm thức thẩm mỹ trong thơ Bahso nói riêng.

Thứ hai, chúng tôi khảo sát, phân tích các bài thơ của Basho để chứng minh làmsáng tỏ một số cảm thức tiêu biểu mà Bahso sử dụng Đó là sabi (tịch tĩnh, tĩnh lặng),wabi (đơn sơ, giản dị), aware (bi ai) và yugen (u huyền, sâu sắc)

4.

4 Ph Ph Phạ ạ ạm m m vi vi vi nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Với đề tài này chúng tôi khảo sát các văn bản thơ haiku của Basho đã được dịch

ra tiếng Việt Vì chưa có sách hoặc tuyển tập nào tổng hợp các bài thơ Haiku củaBasho nên chúng tôi khảo sát các văn bản thơ nằm rải rác ở các sách, báo khác nhau

Chúng tôi tìm hiểu các văn bản trên một số sách như quyển Basho Basho Basho vvvvà à à th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku của

Nhật Chiêu hay quyển H H Hợ ợ ợp p p tuy tuy tuyểểểển n n vvvvă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n do Mai Liên tuyển chọn.

Phạm vi đề tài là cảm thức thẩm mỹ nên chúng tôi tập trung nghiên cứu trọngtâm vào các cảm thức chủ yếu, nổi bật trong thơ Haiku của Basho mà cụ thể là bốncảm thức: sabi (tịch tĩnh, tĩnh lặng), wabi (đơn sơ, giản dị), aware (bi ai) và yugen (uhuyền, sâu sắc)

5.

5 Ph Ph Phươ ươ ương ng ng ph ph phá á áp p p nghi nghi nghiêêêên n n ccccứ ứ ứu u

Trong quá trình làm đề tài chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứukhác nhau nhằm giải quyết tốt nhất những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra Trong đó có cácphương pháp:

Phương pháp tiểu sử được sử dụng nhằm tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp MatsuoBasho Bởi vì cuộc đời có ảnh hưởng không nhỏ đến các sáng tác của các tác giả nên

ta cần dùng phương pháp này và từ cuộc đời của ông tìm thấy một số lý giải cho quanniệm sáng tác

Phương pháp phân tích nhằm phân tích các bài thơ để tìm ra cảm thức thẩm mỹ,tìm ra những nét đặc sắc những điểm hay và những giá trị trong nội dung thơ Ngoài rachúng tôi còn sử dụng phương pháp tổng hợp để tóm lại vấn đề một cách cô đọng, súctích

Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng khi liên hệ thơ của Basho với thơHaiku của một số tác giả tiêu biểu khác

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác như bình giảng, chứngminh…

Trang 9

PH PHẦ Ầ ẦN N N N N NỘ Ộ ỘIIII DUNG DUNG

Ch Chươ ươ ương ng ng 1 1.NH NHỮ Ữ ỮNG NG NG V V VẤ Ấ ẤN N N ĐỀ ĐỀ ĐỀ CHUNG CHUNG 1.1.

1.1 Gi Gi Giớ ớ ớiiii thuy thuy thuyếếếếtttt v v vềềềề ccccả ả ảm m m th th thứ ứ ứcccc th th thẩ ẩ ẩm m m m m mỹ ỹ ỹ trong trong trong v v vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n

Theo B B Bà à àiiii gi gi giả ả ảng ng ng m m mỹỹỹỹ h h họ ọ ọcccc đạ đạ đạiiii ccccươ ươ ương ng ng của tiến sĩ Nguyễn Hoa Bằng thì cảm thức

thẩm mỹ là khả năng rung cảm của con người trước những ấn tượng thẩm mỹ đượcnhận thức, là sự rung động của tâm hồn con người trải qua quá trình thụ cảm cái đẹp,cái cao cả, cái bi, cái hài trong cuộc sống Trước các khách thể thẩm mỹ trong cuộcsống và trong nghệ thuật con người có những xúc cảm với nhiều sắc thài khác nhau.Cảm thức thẩm mỹ được tạo ra khi chủ thể được tác động bởi các khách thể thẩm mỹ.Cảm thức thẩm mỹ là một cảm xúc tinh thần không chỉ mang đến động lực khơinguồn sáng tạo nghệ thật mà còn tham gia vào việc hình thành hình tượng nghệ thuật.Chỉ khi cảm xúc tuôn trào trước những cảnh của hiện thực cuộc sống thì tác phẩmnghệ thuật – đứa con tinh thần của tác giả mới ra đời thật sự “Những xúc cảm, tình cảm thẩm mỹ của chủ thể được đối tượng hóa (khách thể hóa) trong hình tượng đã đem lại cho nghệ thuật nét riêng biệt độc đáo, một sức mạnh lớn lao có khả năng

“gây chấn động” toàn bộ tâm hồn, tình cảm của con người” [8; tr.46] Cảm thức

thẩm mỹ là yếu tố quan trọng trong cuộc sống cũng như trong sáng tác tác phẩm nghệthuật

Cảm thức thẩm mỹ trong văn học Nhật Bản mang nhiều nét riêng độc đáo.Không chỉ có trong văn học nó còn được thể hiện trong văn hóa qua những phong tụcnổi tiếng như tục ngắm hoa, tục uống trà Tình yêu thiên nhiên là một truyền thống

mỹ học cao đẹp trong văn hóa dân tộc Nhật Người Nhật rất yêu mến và kính trọngthiên nhiên Điều đó được thể hiện vào phong tục ngắm hoa, thưởng ngoạn thiênnhiên đặc biệt là lễ hội ngắm hoa anh đào (hanimi) vào mùa xuân Người Nhật sẽ mặctrang phục truyền thống để đi ngắm hoa đào Người Nhật đi không chỉ để xem hoađẹp mà còn là nét nghệ thuật thưởng ngoạn cái đẹp với lòng yêu trọng thiên nhiên.Chính vì vậy, thiên nhiên là đề tài hết sức quan trọng trong các tác phẩm văn họcNhật Bản từ cổ đến hiện đại Thiên nhiên luôn được đề cao và mang vẻ đẹp vừa cao

sang vĩ đại vừa gần gũi bình dị Từ những bài Waka trong V V Vạ ạ ạn n n di di diệệệệp p p ttttậ ậ ập p p đến Tanka

trong C C Cổ ổ ổ kim kim kim ttttậ ậ ập p p và thơ Haiku đều có sự xuất hiện của thiên nhiên Người Nhật yêu

thiên nhiên bởi họ nhìn thấy “thần” (kami) trong những hiện tượng của thiên nhiên

Trang 10

Qua thiên nhiên, các nhà thơ thể hiện những bâng khuâng, xao động về lẽ vô thườngcủa cuộc đời, về sự phù du của cái đẹp.

“Có phải hoa mận trắng Trong vườn tôi

Đang rơi Hay từ trên trời Từng cánh tuyết trắng đang bay xuống đất?”

[15; tr.155]

Đây là bài thơ Waka trích từ V V Vạ ạ ạn n n di di diệệệệp p p ttttậ ậ ập p p nói về vẻ đẹp hoa mận trắng trong tuyết.

Vẻ đẹp này tinh khôi mong manh, trong sáng nhưng cũng diệu kì Là hoa mận trắngđang rơi hay là tuyết trắng? Vẻ đẹp của thiên nhiên luôn có sự giao hòa Cũng nói vềcây mận trong thơ Haiku của Issa có bài:

“Con chim chích trong lùm cây bay đến lau sạch đôi chân lấm bùn của nó giữa cây mận đang trổ hoa”.

[15; tr.644]

Người Nhật có một quan điểm hết sức ấn tượng về cái đẹp đó là cái đẹp của sựbất toàn Nhưng chính trong sự bất toàn ấy họ mong muốn một vẻ đẹp vĩnh cửu.Không phải những gì hoàn hảo, chỉnh chu mới gọi là đẹp Quan điểm này chiếm vị trí

quan trọng trong văn hóa và nghệ thuật Nhật Bản Trong cuốn Chanohon Chanohon Chanohon (S S Sá á ách ch ch tr tr trà à à),

Okakura Kakuzo viết: “Bản chất của trà đạo là sùng bái sự bất toàn” Cái đẹp của

hoa mãn khai, trăng mười bốn luôn hấp dẫn Ta có thể thấy cái đẹp của sự bất toàn thểhiện qua hình thức các thể thơ của văn học Nhật Thơ ca là những bài không hoàntoàn, không trọn ý mà nó luôn có khoảng trống Tiêu biểu là thơ Haiku, thể thơ cựcngắn chỉ có 17 âm tiết Mỗi bài Haiku khi dịch ra tiếng Việt thường được sắp xếp trên

ba dòng ngắn nhưng theo tiếng Nhật cả bài Haiku chỉ nằm vẻn vẹn trên một dòng.Các bài Haiku chỉ gợi lên những tư tưởng, triết lý, những tình cảm đạo đức tình cảmthơ ca chứ không lí giải chúng Mỗi bài Haiku là một viên ngọc mang vẻ đẹp của sựbất toàn, “Haiku là một nghệ thuật ẩn giấu, là thơ của thơ” [10; tr.142] Cái đẹp của

sự bất toàn có thể tìm gặp trong cảm thức thẩm mỹ yugen Đó là vẻ đẹp của điều chưanói Các tác phẩm của Nhật Bản thường có kết thúc mơ hồ, gợi mở như những cánhcửa chỉ khép hờ không đóng hẳn cũng không mở toan Ở những cánh cửa ấy người

Trang 11

đọc thấy gì là tùy thuộc vào điều cảm nhận của mỗi người Ví như trong B B Bố ố ốn n n b b bềềềề b b bờ ờ

b bụ ụ ụiiii của Akutagawa sự mơ hồ đã diễn ra từ khi mở đầu cho đến khi kết thúc câu

chuyện Mỗi nhân vật đều có cách lí giải của mình một cách hợp tình hợp lí, ai đúng

ai sai đều khó phân biệt Câu chuyện kết thúc như lúc nó mở ra vậy, đó là kết thúc bấttoàn không thỏa mãn, giải đáp cho sự tò mò của người đọc Nhưng cũng có lẽ vì vậy

mà nó để lại ấn tượng mạnh cho người đọc Vẻ đẹp của sự bất toàn hấp dẫn thậm chí

ăn sâu vào tâm thức người Nhật đặc biệt đối với các nhà văn lớn Nó ám ảnh họ cảtrong hành động Akutagawa hay Kawabata đều kết thúc cuộc đời bằng cách tự tử khi

mà họ vẫn đang ở đỉnh cao sự nghiệp, khi vẫn đang còn có thể sáng tác Họ ra đi lúc

mà không ai ngờ tới càng làm cho ta nhớ đến họ, chiêm ngưỡng họ nhiều hơn.Kawabata từng không đồng tình với việc Akutagawa tự sát nhưng chính ông lại chọncon đường ấy Phải chăng các ông cho rằng các tác phẩm của mình chưa đủ khắc họacái đẹp nên dùng cái chết để thể hiện cái đẹp của sự bất toàn? Cái chết đối với họ như

là một vẻ đẹp cần bộc lộ, khám phá, đến với cái chết là đến với một thử thách đầy mỹ

lệ Cái chết cũng là một nghệ thuật, họ xem nó như là tuyên ngôn nghệ thuật cuốicùng của cuộc đời mình Tuy có xuất hiện cái buồn như đó là nỗi buồn tuyệt đẹp Cáichết như là một vẻ đẹp hoàn mỹ, vẻ đẹp vĩnh cửu nhất

Người Nhật có đôi mắt yêu đời nhưng lại u sầu Có lẽ vì thế mà họ quanniệm vẻ đẹp gắn với cái buồn Họ nhìn thấy giới hạn của cái đẹp, giới hạn của mọi vậtnên họ luôn trân trọng mọi thứ Là nghệ sĩ cần phải phát hiện ra vẻ đẹp ẩn náo trong sựvật Quan niệm này gọi là mono no aware Mono no aware là quan điểm văn học và

mỹ học xuất hiện trong thời Heian (794 – 1185) Trong quyển V V Vă ă ăn n n h h họ ọ ọcccc Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n ttttừ ừ kh

khở ở ởiiii th th thủ ủ ủyyyy đế đế đến n n 1868 1868 1868 của Nhật Chiêu có đoạn định nghĩa về mono no aware như sau:

“Chữ aware, có thể ghi sang Hán tự là “ai” (bi ai), mang nhiều ý nghĩa khó xác định.

Các học giả Nhật đã theo dõi cách sử dụng nó từ thời cổ đại với tập thơ V V Vạ ạ ạn n n di di diệệệệp p p ttttậ ậ ập p

cho đến thời hiện đại Không cần thiết phải nhắc lại ý kiến của họ ở đây Chỉ cần biết rằng thời Heian, chữ aware được dùng để gợi tả vẻ đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm thức vô thường của Phật giáo Khi cần diễn đạt đầy đủ hơn, aware sẽ tạo thành mono no aware “Mono” (vật) có nghĩa là “sự vật” và “no” là “của” Vậy cụm

từ ấy có thể dịch sát là “nỗi buồn của sự vật” Tóm lại, aware là một niềm bi cảm trước mọi vẻ đẹp não lòng của thiên nhiên và của nhân thế” [6; tr.121] Tác giả Nhật

Chiêu đã giải thích khái niệm aware bằng cách chiết tự Trong khi đó Eiichi Aoki

Trang 12

trong quyển Nh Nh Nhậ ậ ậtttt B B Bả ả ản n n đấ đấ đấtttt n n nướ ướ ướcccc vvvvà à à con con con ng ng ngườ ườ ườiiii lại có sự định nghĩa khác: “Cốt lõi của

quan điểm này là sự hiểu đúng sâu sắc đồng cảm vẻ đẹp chóng tàn trong tự nhiên và đời sống con người, vì thế thường có vẻ buồn, trong một số tình huống có thể đi kèm với thái độ thán phục, kính sợ hoặc thậm chí hân hoan” [1; tr.437] Nội hàm khái

niệm aware không phải là một khái niệm tĩnh mà nó luôn có sự biến đổi theo thời gian.Điều này đã được học giả xuất sắc phái Kokugaku (Quốc học) Motoori Norinaga(1730 – 1801) nghiên cứu Thuật ngữ mono no aware được đặt ra trong thế kỷ 18 thờiEdo bởi Motoori Norinaga và ban đầu nó là một khái niệm được sử dụng trong phê

bình văn học của ông về tác phẩm Try Try Tryệệệện n n Genji Genji Genji Và sau đó khái niệm này được sử

dụng cho các công trình nghiên cứu khác về văn học của ông trong đó có nghiên cứu

về V V Vạ ạ ạn n n di di diệệệệp p p ttttậ ậ ập p p Mono no aware dần trở thành trung tâm triết lý của ông về văn học

và cuối cùng là trở thành một truyền thống trong văn hóa Nhật Bản Motoori chỉ rarằng aware ban đầu không chỉ giới hạn trong nỗi buồn mà nó là tất cả những cảm xúcsâu sắc trong trái tim con người bao gồm cả sự vui thích và sự say mê Aware mangtính bao quát toàn diện, nó bao gồm nhiều rung động, cảm xúc của con người trước sựvật Tuy nhiên, càng về sau theo thời gian aware lại chỉ niềm bi cảm, lại mang nỗibuồn nhiều hơn đặc biệt là nỗi buồn thấm đượm cảm thức vô thường của Phật giáo.Motoori giải thích điều này là do niềm vui thích chỉ khuấy động trái tim ở tầng lớpnông còn nỗi buồn và cảm xúc yêu đương lại rung động sâu sắc hơn Ngoài ra, thời kỳvăn học Heian là thời kỳ mà phụ nữ chiếm vị trí quan trọng trong văn đàng với nhiều

tác giả nữ nổi tiếng Đó là nữ nhà văn Murasaki Shikibu với tác phẩm Truy Truy Truyệệệện n n Genji Genji

Genji-được xem là đỉnh cao của văn học Heian Đây là tác phẩm mang đậm chất aware, chứađựng nỗi buồn của con người trước sự vô thường của cuộc sống Nữ sĩ Sei Sonagon

với tác phẩm S S Sá á ách ch ch g g gố ố ốiiii đầ đầ đầu u u, nữ sĩ Izumi Shikibu với tác phẩm Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k k kíííí Izumi Izumi Izumi Các tác

phẩm của các nữ sĩ đã đưa thời đại Heian thành “kỉ nguyên vàng” Chính họ là nhữngngười đưa chất nữ tính trữ tình lãng mạn và nỗi buồn aware vào văn học

“Tôi chỉ là giọt sương Đọng mình nơi ngấn lá Trên cành chơi vơi Dường như tôi đã sống Trước khi thế giới ra đời.”

[6; tr.136]

Trang 13

Bài thơ trích từ Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k k kýýýý Izumi Izumi Izumi, viết về câu chuyện tình qua những cánh thư tay

của “chàng” và “nàng” Dù là câu chuyện tình yêu nhưng trong tác phẩm vẫn hiện lênnỗi ám ánh về thời gian, về tuổi xuân, về thân phận con người Chất aware mang mácquyện vào tác phẩm

Một điều quan trọng khác trong khái niệm aware mà Motoori chỉ ra là kokorotức trái tim Nghĩa là phải dùng cả trái tim để thấu hiểu vẻ đẹp Những người có tráitim nhận thức được bản chất và sức mạnh làm cảm động của sự vật thì mới hiểu đượcaware Có rất nhiều người thấy được vẻ đẹp của hoa anh đào nhưng không phải aicũng hiểu vì sao hoa anh đào đẹp Nhiều người sẽ trả lời anh đào đẹp vì màu sắc, vì

vẻ ngoài lôi cuốn của nó nhưng những người dùng kokoro để cảm nhận hoa anh đào

sẽ trả lời khác Bởi họ nhận thấy sự mong manh chóng tàn, sự vô thường nơi hoa đểrồi bật lên niềm thương cảm sâu sắc trước vẻ đẹp ấy Chỉ khi nắm bắt bản chất và sứcmạnh khơi gợi xúc cảm của sự vật bằng trực giác, đồng cảm và rung động sâu sắctrước chúng thì ta mới cảm nhận thế nào là aware Để hiểu sâu sắc về thế giới tựnhiên xung quanh mình thì cần phải biết đồng nhất mình với chính nó Tức là trái timchân thành (makoto) để chìm vào sự vật khơi gợi cảm xúc trước những vẻ đẹp

Aware tiếp tục xuất hiện trong văn học Edo mà cụ thể là trong thơ Haiku củaBasho Niềm bi ai trong thơ ông không chỉ về cái chết, sự vô thường mà còn là sựnhạy cảm, đa sầu của nhà thơ trước cuộc sống Không chỉ trong thơ mà aware vẫnđược duy trì theo dòng chảy văn học Trong các tác phẩm của Kawabata sau này vẫn

có sự hiện diện của cảm thức này Kawabata là nhà văn chưa bao giờ khước từ nỗibuồn nên cái đẹp trong các tác phẩm của ông luôn gắn với nỗi buồn Kawabata từngkhắc họa hình ảnh chiếc chén Shino, một biểu tượng của cái đẹp truyền thống Chiếcchén mang trong mình dòng thời gian 300 trăm năm đã qua và vết son môi của ngườidung nó Nó là vật chứng cho bao thế hệ trà đạo đã qua Chính vì vậy Shino trở thànhvật kỉ niệm vô giá mang đậm tình cảm con người Cảm thức aware được thể hiện qua

vẻ đẹp mang dấu ấn con người và thời gian Trong thơ Haiku mono no aware đượcbiết với cái tên ngắn gọn là aware Đây là cảm thức thẩm mỹ quen thuộc trong Haiku,

nó đôi khi là niềm sầu thương sâu sắc:

“Lệ trào nóng hổi tan trên tay tóc mẹ làn sương thu”.

Trang 14

[19; tr.173]

Bài thơ của Basho là niềm xót thương đau đớn trước cái chết của người mẹ kính yêu.Giọt lệ đã rơi trên kỉ vật còn lại là mớ tóc, giọt lệ nóng hổi chứa chan niềm aware Cókhi là aware lại là nỗi buồn dịu nhẹ, man mác:

“Thật tuyệt vời! tôi nói,

và mỗi khi cô đơn tôi thấy mùa xuân trôi xa”.

nhấn mạnh vào sự cô quạnh Thơ waka trong V V Vạ ạ ạn n n di di diệệệệp p p ttttậ ậ ập p p có bài:

“Một mình lang thang Tôi đi giữa quê người xa lạ.

Gió heo mây buốt má.

Trang 15

Tiếng vịt kêu mang nhiều nỗi nhớ nao lòng nên cả trong thơ văn Nhật Bản lẫn ca daoViệt Nam hòa cùng lời điệu.

Không chỉ vậy nguyên tắc này còn được tiếp nối và phát triển theo đúng tinhthần Nhật Bản đến tận sau này trong nhiều loại hình nghệ thuật khác Tiêu biểu làtrong các tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết) của Kawabata Được mệnh danh là người đitìm cái đẹp nên Kawabata luôn hướng ngòi bút của mình đến cái đẹp đặc biệt là cáiđẹp của những giá trị truyền thống Chất sabi trong các tác phẩm của ông thường gắnvới yếu tố thời gian tức là cái đẹp của sự vật mang dấu ấn thời gian Đó là cặp chénRaku đã mấy trăm tuổi, một đen một đỏ, một âm một dương dùng trong tiệc trà vàthích hợp hơn cả cho cuộc đối ẩm giữa một người đàn ông và một người đàn bà Hình

ảnh chiếc chén Shino của nhân vật bà Ota trong tác phẩm Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ách ch ch h h hạ ạ ạcccc là điển hình

tiêu biểu cho sabi Chiếc chén đã 300 tuổi nó đã cũ kĩ nhưng chính sự cũ kĩ ấy lại toátlên nét đẹp rạng ngời Đó là nét đẹp tự nhiên, nguyên sơ qua dấu ấn thời gian và dấu

ấn con người Người dùng trân trọng nó và chiếc chén đáp trả tấm lòng của chủ nhânbằng cách in dấu ấn son môi người dùng lên thành thân mình Người và vật có sựtương tri với nhau Một vẻ đẹp sabi thật đặc biệt, thật quyến rũ Sabi còn thể hiên tronghoang sơ vùng “xứ tuyết” của Nhật Bản Kawabata làm người đọc liên tưởng ngay đến

tập L L Lố ố ốiiii llllêêêên n n mi mi miềềềền n n Oku Oku Oku của Basho Cả hai đều tìm kiếm cái đẹp trong sâu thẳm thiên

nhiên vùng phương Bắc Có thể nói vẻ đẹp cô đơn, tĩnh mịch của thiên nhiên là vẻ đẹpdường như ngưng đọng trong không gian xứ tuyết, không ồn ào, xô bồ mà yên tĩnh,thâm trầm Sabi tĩnh mịch, cô liêu thể hiện qua hình ảnh cây bá dương và sự yên tĩnhcủa khu rừng bá dương già cổ Sabi trong tác phẩm còn ở những cảnh vật mang dấu ấnthời gian Đó là con tàu xứ tuyết mang vẻ đẹp cổ sơ, là những mái nhà, mái chùa với

vẻ cũ kĩ của lớp bụi thời gian Tất cả đều mang đậm dấu ấn sabi

Thời đại Muromachi còn có cảm thức wabi là cảm thức nổi bật Ban đầu wabiđược hình thành và phát triển trong nghệ thuật trà đạo – một loại hình văn hóa đượcThiền sư Eisai Myoan truyền bá từ Trung Hoa đến Nhật Bản vào thế kỉ XII Trà đạo làmột loại hình nghệ thuật độc đáo nổi tiếng của người Nhật Trà đạo ra đời là dànhriêng cho người Nhật bởi tính cách người Nhật đáp ứng đủ tinh thần cơ bản của trà đạo:hòa, kính, thanh, tịnh Đó là hòa bình, cung kính tôn trọng bề trên, thanh cao tinh khiết

và sự tịch tĩnh của tâm hồn Một buổi trà phải đáp ứng đầy đủ bốn tiêu chí này mớiđược coi là trà đạo Uống trà cũng là một nghệ thuật và buổi uống trà phải thể hiện

Trang 16

được “đạo” Sau buổi trà người tham dự sẽ cảm thấy sự thanh thản, thư thái trong tâmhồn Khi bắt đầu người tham dự phải tẩy rữa sạch sẽ sau đó họ bước vào trà thất đểtiến hành buổi trà đạo Người Nhật vốn yêu thiên nhiên nên các vật dụng dùng trongtrà đạo thường có nguồn gốc tự nhiên như tre, gốm sứ, đất nung…Đặc biệt là các chénuống trà có họa tiết theo mùa, được chế tác tinh xảo và không bao giờ có hai chiếc

giống nhau trong một buổi trà Trong tác phẩm Ng Ng Ngà à àn n n ccccá á ánh nh nh h h hạ ạ ạcccc của Kawabata ta bắt

gặp chiếc chén Raku, chén Shino… đều làm từ đất giản dị đơn sơ những chứa đựngnhiều huyền bí khi trải qua bao tay người trong thời gian dài Cảm thức thẩm mỹ wabidần ảnh hưởng đến các ngành nghệ thuật khác của Nhật Bản nhất là trong hội họa vàthơ ca Wabi trở thành tiêu chí thẩm mỹ trong thời Muromachi (thế kỉ XIV – XVI).Chất mono no aware duyên dáng nữ tính thời Heian được chuyển biến thành wabi đơn

sơ, giản dị, thuần khiết vào thời Muromachi Trong sự chuyển biến đó tạo nên cuộchội ngộ giữa cái đẹp và sự giản dị, cái mộc mạc và sự sâu thẳm u buồn Chính điềunày tạo nên một wabi vừa đơn sơ gần gũi vừa độc đáo hài hòa

Cơ sở của nguyên lý wabi là dựa trên tư tưởng “vạn vật hữu linh” của Thần đạo(Shino) Thần đạo là tôn giáo cổ xưa nhất của Nhật Bản và cũng là tôn giáo gốc củangười Nhật Thần đạo không có người sáng lập, không có giáo lý cơ bản cũng không

có những bộ kinh kệ mà Thần đạo lấy tự nhiên làm gốc Trải qua thời gian dài đến nayThần đạo vẫn được người Nhật tôn trọng Tôn giáo này không có đấng chí tôn mà xemquan niệm “vạn vật hữu linh” là tinh thần cơ bản Mọi vật đều có linh hồn từ conngười đến cỏ cây, hòn đá, dòng sông con suối Thậm chí đến những đồ vật, dụng cụdùng hằng ngày người Nhật cũng đều trân trọng chúng Ví dụ như đôi guốc trong bàithơ Haiku sau:

“Trên núi vào mùa hè tôi cúi lạy đôi guốc cuộc hành trình khởi đầu”.

[15; tr.602]

Người Nhật thể hiện sự hòa hợp, lối sống chan hòa của mình với môi trườngxung quanh Chính từ quan niệm ấy mà đã toát lên nét đẹp trong tinh thần người Nhật,nét đẹp của sự chân thành, của tấm lòng yêu mến gắn bó cuộc đời Cuộc đời là tất cảnhững gì đang diễn ra có ô trọc và thanh khiết, có buồn thương và hỉ lạc Con người sẽđược thanh tẩy nếu sống hòa hợp với tự nhiên và biết trân trọng giá trị cuộc sống

Trang 17

Chính tư tưởng của Thần đạo đã có những ảnh hưởng nhất định đến quan niệm thẩm

mỹ của người Nhật Phạm Hồng Thái từng nhận định về ảnh hưởng của Thần đạo nhưsau: “Trong lĩnh vực thẩm mỹ, sự thuần khiết được thể hiện khá rõ trong nghệ thuật truyền thống còn rất được ưa chuộng tại Nhật Bản ngày nay Wabi và sabi là những quan niệm từ lâu đã trở thành tiêu chí thẩm mỹ cho việc thưởng ngoạn cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật, thể hiện rõ nhất là trong thơ Haiku, nghệ thuật cắm hoa và trà đạo Wabi và sabi là quan niệm tôn trọng sự giản dị, thanh tao, vượt qua những lạc thú vật chất để vươn đến sự cảm thụ vẻ đẹp của tinh thần về sự đơn sơ, thuần khiết Nét thẩm mỹ này có thể mang ảnh hưởng của phong cách Thiền Phật giáo, nhưng trong đó không thể phủ nhận được những dấu ấn của quan niệm về sự thuần khiết của Thần đạo” [25; tr.180]

Giống như tác giả Phạm Hồng Thái nhận định nguyên lý wabi còn có sự ảnhhưởng của Phật giáo mà ở đây là Thiền tông Vì Thiền tông chú trọng sự hòa hợp vớithiên nhiên, sống gắn bó gần gũi với vạn vật nên wabi mang vẻ đẹp của sự đơn sơ mộcmạc nơi những tạo vật bình thường Như trong nghệ thuật vườn cảnh mà người Nhậttạo ra Chỉ cần vài hòn đá đơn sơ trên nền cát, người nghệ sĩ cũng có thể tạo nên mộttác phẩm nghệ thuật giá trị Wabi cũng thế chỉ cần một chút ít đơn sơ cũng tạo thànhthi phẩm đẹp

“Những cánh hoa rải rác trên mặt nước cánh đồng:

những vì sao trên bầu trời đầy trăng”.

[15; tr.643]

Buson đưa ta vào không gian lãng mạn của cánh đồng và hồ nước Những cánh hoa rơihay là những vì sao đang rơi vào mặt nước Wabi là cảm thức của cái đẹp nhẹ nhàngthiên về những đồ vật thường ngày như cái mũ, đôi dép

“Lấy hoa roi ngựa gắn vào mũ

để làm triều y qua cửa ải”.

[15; tr.606]

Bên cạnh các cảm thức trên còn có cảm thức yugen Yugen có nghĩa là “mờ”,

“sâu” hay là “bí ẩn” Là khái niệm mỹ học được các nhà thơ waka và các tác giả kịch

No đề xướng từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV Yugen đặc biệt phổ biến trong thơ waka

Trang 18

của nhà thơ Fujiwara Shunzei (1114 – 1204) vào cuối thời Heian đầu thời Kamakura.Yugen theo quan niệm của ông là sự tập trung truyền tải cảm xúc lãng mạn với đặctrưng là nỗi nhớ và hối tiếc Ông cho rằng phải tạo nên sự quyến rủ, bí ẩn và sâu trongnhững bài Waka Còn trong kịch No yugen gắn với tên tuổi của nhà soạn kịch ZeamiMotokiyo (1363 – 1443) Không chỉ là nhà soạn No xuất sắc, ông còn là nhà lý luận và

mỹ học về kịch No Yugen thể hiện trong các tác phẩm của ông là sự sâu sắc, cảm giác

bí ẩn trong vẻ đẹp của vũ trụ và trong vẻ đẹp buồn đau khổ của con người Trong các

vở kịch của Zeami có những khoảnh khắc không hành động tương tự như sự bỏ ngỏ,không lời trong thơ Haiku Những khoảnh khắc này chính là yugen Người diễn viênphải nắm bắt được “linh hồn” của tác phẩm trong những khoảnh khắc này và truyền tải

ý nghĩa tác phẩm đến khán giả một cách tinh tế, sâu sắc qua những khoảng không hànhđộng Điều này rất khó bởi“linh hồn này phải được giấu kín trước khán giả Nếu nó

bị nhìn thấy, nó sẽ chỉ như những sợi dây của con rối bị lộ ra” [15; tr.537] Có thể

thấy yugen là cảm thức ẩn chứa nhiều điều huyền bí và khó hiểu Đến Haiku thì cảmthức này vẫn giữ được nét thâm sâu, khó hiểu của mình

“Gạo không còn hoa mùa thu ấy cắm vào bầu không.”

[3; tr.91]

Sự bất ngờ của bài thơ là ở sự chuyển ý từ câu đầu sang hai câu sau Câu đầu nói đếntình cảnh kham khổ không còn gạo nhưng hai câu cuối lại là hình ảnh hoa thu đang rơivào “bầu không” Hoa rơi từ trên cao xuống phải tiếp đất nhưng hoa trong bài lại rơivào hư không bao la, hoa rơi vào mênh mông vũ trụ Cánh hoa nhỏ bé hữu hạn đối lậpvới “bầu không” rộng lớn vô hạn Bài thơ không nhằm kể lể về hoàn cảnh kham khổ

mà bài thơ là giây phút đốn ngộ Hoa thu bé nhỏ cắm vào mênh mông nhưng nó khôngtan đi mà chính từ những sự vật nhỏ nhoi như hoa làm nên thế giới bao la diệu kì Bàithơ mang màu sắc yugen huyền bí bởi sự kì diệu trong khoảnh khắc hoa rơi Hoa rơivào thinh không cô tịch để rồi hoa đi vào thế giới của những điều bí ẩn Cánh hoa đangrơi là cánh hoa của thực tại hay là cánh hoa của những điều mầu nhiệm mà Basho đãlĩnh hội được? Basho không cho ta câu trả lời mà ông bỏ lửng điều ấy cho độc giảcùng suy ngẫm

Trang 19

Các cảm thức thẩm mỹ là những món quà đặc biệt mà người Nhật gửi gắm vàocác tác phẩm của mình Trong thơ Haiku các cảm thức này chiếm vị trí quan trọng gópphần tạo nên nét giá trị lôi cuốn hấp dẫn người đọc Tìm hiểu các cảm thức thẩm mỹ sẽgiúp ta mở ra thêm một con đường nữa đi vào thế giới thơ Haiku.

1.2.

1.2 Đô Đô Đôiiii n n néééétttt v v vềềềề th th thơ ơ ơ haiku haiku

1.2.1.

1.2.1 Ngu Ngu Nguồ ồ ồn n n g g gố ố ốcccc th th thơ ơ ơ haiku haiku

Haiku là thể thơ đặc sắc của thơ ca Nhật Bản ra đời vào thế kỉ XVII và pháttriển mạnh vào thời kì Edo (1603 – 1867) Được xem là thể thơ ngắn nhất hiện nay và

để trở thành thể Haiku như bây giờ thể thơ này đã trải qua một quá trình để hình thành,hoàn thiện Haiku bắt nguồn từ thể Renga Renga là thể loại thơ hợp tác Người ta sángtác Renga khi thăm viếng một ngôi đền, trong lúc tiệc tùng ngắm trăng hay khi uốngrượu sakê, lúc nghỉ ngơi thư giản… Để làm thơ Renga thông thường có vài ba ngườitham gia Cũng giống như là hình thức hát đối đáp ở Việt Nam Những người sáng tácRenga sẽ luân phiên sáng tác các đoạn thơ với nhau Ban đầu sẽ có người soạn rathượng cú gồm 3 câu đầu, sau đó sẽ có người soạn tiếp phần hạ cú gồm 2 câu Đề tài

do đoạn phát cú quy định, nó có thể là về các mùa trong năm, về tình yêu, về sựnghèo… Renga rất được giới quý tộc Heian ưa chuộng và những buổi sáng tác Rengatrở thành cuộc vui của họ Đến thời Kamakura (1186 – 1333) thơ Renga càng được nốidài ra thành một chuỗi gồm rất nhiều đoạn thơ do nhiều nhà thơ viết nối nhau ThơRenga được phát triển lên đỉnh cao là nhờ thi sĩ đồng thời là nhà sư Sôgi (1421 –1502) Renga thời này rất thịnh hành và được yêu mến trở thành niềm say mê của xã

hội Sôgi nổi tiếng với tác phẩm Renga Ba Ba Ba nh nh nhà à à th th thơ ơ ơ ở ở ở Minase Minase Minase do ông và hai môn đồ

khác soạn Bài thơ nối này dài đến 250 dòng và là mẫu mực của Renga

“Vẫn còn lại tuyết lưng núi sương mù một chiều mùa xuân”

(Sôgi)

“Xa xa dòng nước qua làng, mơ thơm”

(Shohaku)

“Gió từ sông đến liễu xanh một hàng

Trang 20

Trong các bài Renga thì đoạn mở đầu là quan trọng nhất và được gọi là Hokku(phát cú) Basho đã đưa Hokku dần trở nên độc lập và tạo thành một thể thơ riêng biệt

và được gọi là Haikai Sau này những bài Haikai được gọi là Haiku do ghép ngắn gọncủa từ Haikai và Hokku tạo thành Thơ Haiku được ra đời trên cơ sở kế thừa thể thơtruyền thống đã được cách tân Basho được ghi nhận là người hồn mới vào Haiku đưa

nó thoát khỏi tính bông đùa Basho không là người sáng tạo nên Haiku nhưng là cây cổthụ xuất sắc đưa Haiku trở nên sâu sắc, lãng mạn Và sau Basho lần lượt xuất hiệnnhiều nhà thơ Haiku tài năng trong đó phải kể đến ba nhà thơ nổi bật góp phần làmcho Haiku ngày càng rực rỡ hơn Đó là Buson (1716 – 1784), Issa (1762 – 1826), vàShiki (1867 – 1902)

Trên các chuyến hành trình những sản phẩm tinh thần là những bài Haiku ra đời,Basho trở thành nhà thơ của thiên nhiên, lấy cuộc sống tự nhiên làm đề tài chính Điềuđặc biệt của Basho nằm ở chỗ đưa thơ đến bờ siêu thoát nhưng không rời khỏi đờithường, điều này chứng tỏ ảnh hưởng của Thiền tông đối với ông Thơ Haiku củaBasho như những bản nhạc du dương về đồng nội, về cỏ cây, về những sinh vật nhỏ bébình thường Thơ ông phảng phất mùi vị Thiền tông nhưng ông không bao giờ thoáttục mà bám lấy cuộc sống để viết và tạo nên phong cách thơ Haiku độc đáo

1.2.2.

1.2.2 H H Hìììình nh nh th th thứ ứ ứcccc v v và à à đặ đặ đặcccc đ đ điiiiểểểểm m

Thơ haiku bắt nguồn từ thể thơ Renga (liên ca) gồm 31 âm tiết (onji): 5 – 7 –

5 – 7 – 7, mỗi đoạn có hai vế, vế đầu có 17 âm tiết (5 – 7 – 5), ba câu do một ngườikhởi xướng, vế sau hai câu có 14 âm tiết (7 – 7) do người khác họa theo Bài Renga cóthể dài đến hàng chục hàng trăm câu vì có nhiều người sáng tác nối tiếp nhau cứ thếkéo dài Măc dù Haiku bắt nguồn từ Renga nhưng từ hình thức đến nội dung đều đượcBasho cách tân theo phong cách khác độc đáo hơn Trong nguyên bản tiếng Nhật cảbài thơ Haiku chỉ được đặt trên một dòng hết sức ngắn gọn, tinh tế Trong thơ Haiku

Trang 21

có sự xuất hiện của một thành phần quan trọng đó là các quý ngữ (kigo) Quý ngữ lànhững từ ngữ dùng để chỉ mùa, đó là dấu hiệu để biết bài thơ được sáng tác trong mùanào Ví như hoa đào là chỉ mùa xuân, cánh đồng hoang vu tượng trưng cho mùađông… Điều này cho thấy Haiku bao giờ cũng nói về những cảnh vật trước mắt.

Haiku là thể thơ độc đáo, số lượng từ tuy ít nhưng chứa đựng cái chất bên trongrất nhiều Bài Haiku 17 âm tiết nhưng lại chứa đựng được nội dung sâu sắc và mangnhững triết lý sâu sắc về cuộc sống và về lẽ đời Thơ Haiku có tính hàm súc cao khôngchỉ do hình thức ngắn quy định mà còn bởi ảnh hưởng của chất Thiền và nhữngkhoảng trống trong thơ Hàm súc là hàm súc trong nội dung, trong giá trị bài thơ Cáihay của Haiku là nói ít nhưng gợi nhiều, ngôn từ không nhiều nhưng đều được chất lọc,lựa chọn kĩ càng Tính hàm súc, ngắn gọn không làm cho Haiku trở nên khô khan màtrái lại càng thêm phong phú, sinh động Sự kiệm lời không phải vì vốn từ hạn hẹp,ngôn ngữ ít kém mà bởi sự uyên bác mà có được, nói như thế dường như mâu thuẫnnhưng để đạt được trình độ thuần thục sáng tác thơ Haiku hay, có giá trị thì người sángtác phải có vốn ngôn ngữ sâu rộng Không phải chiếc lá nào cũng làm thành mùa thu,chiếc lá non mơn mởn trên ngọn cây làm sao là thu được nhưng một chiếc lá rụngdường như tắt dần sự sống lại làm nên mùa thu sinh động ngây ngất lòng người Sựhàm súc làm nên sự uyên bác cho thơ Haiku Thơ Haiku ghi lại những khoảnh khắc,những lát cắt của cuộc sống Đó có thể là những khoảnh tuyệt đẹp, hay phút giây đốnngộ, hay một khung cảnh đơn sơ cực độ…

“Dòng thác trong buông theo triền nước những lá xanh thông”.

[3; tr.76]

Bài thơ nhẹ nhàng như chiếc lá đang trôi theo dòng nước Khoảnh khắc trong veo củabức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp được Basho ghi lại Ngắn gọn, đơn sơ nhưng lại có sứcgợi Người đọc có thể hình dung ra một bức tranh thiên nhiên có thác trong mạnh mẽ

và có lá thông rơi nhẹ nhàng như chính nhà thơ đang thả hồn trôi vào thiên nhiên.Basho quả là bậc thiên tài yêu mến thiên nhiên

Gắn với đặc điểm hàm súc, cô đọng là tính chân không trong các bài Haiku.Thơ Haiku không bao giờ nói hết, nói đủ mà chỉ gợi tạo nên khoảng trống cho trítưởng tượng của người đọc Giống như Chế Lan Viên từng viết:

Trang 22

“Bài thơ anh chỉ làm một nửa mà thôi Còn một nửa để mùa thu làm lấy”.

Để gợi nên khoảng trống trong thơ thì ngôn từ trong bài phải ngắn gọn và thường dùngnhiều danh từ, tính từ và trạng từ để định danh và gợi lên sự vật Những bài Haiku nhưnhững bức tranh thủy mặc đơn giản nhưng tinh tế, chỉ chấm phá vài đường nét để gợichứ không tả Thơ Haiku không nói điều muốn nói nhưng người thưởng thức Haiku làngười nghe được lời nói của những điều không nói đó Như trong tranh thủy mặc họa

sĩ vẫn thường để những khoảng trống trong bố cục hoặc vẽ theo phong cách “một góc”.Khoảng trống ấy là nơi người thưởng thức cùng sáng tạo Nó không là khoảng trốngrỗng toách vô nghĩa mà nó là thể hiện trọng tâm của bức tranh cũng như của bài Haiku.Người hiểu Haiku sẽ hiểu khoảng trống ấy Các nhà thơ Haiku muốn dùng nhữngkhoảng trống, dùng sự im lặng để khơi gợi nơi người đọc những cảm thức sâu xa nhất:

“Bên vỏ ốc con trôi theo bọt sóng những cánh đinh hương”.

1.2.3.

1.2.3 M M Mộ ộ ộtttt ssssố ố ố nh nh nhà à à th th thơ ơ ơ Haiku Haiku Haiku ti ti tiêêêêu u u bi bi biểểểểu u

Bên cạnh cây cổ thụ Basho còn có rất nhiều nhà thơ sáng tác góp phần tạo nên

sự phong phú và thúc đẩy thơ Haiku phát triển Trong số nhiều ấy có ba nhà thơ têntuổi đã cùng với Basho được gọi là “tứ trụ Haiku” Ba nhà thơ đó là Yosa Buson,Koyashi Issa, và Masaoka Shiki

Yosa Buson (1716 – 1784) tên thật là Taniguchi Buson, sinh ra tại làng Kematỉnh Settsu ngoại ô thành Osaka Năm 1737, ông đến Edo học vẽ và làm thơ Ông xuất

Trang 23

thân trong gia đình giàu có nhưng có tinh thần tự lập cao Điều này có ảnh hưởng lớnđến sự nghiệp của ông Vì là một họa sĩ nên thơ ông mang đậm chất hội họa Nhữngbài thơ của ông như những bức tranh sống động về tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sốngsâu sắc Buson nối tiếp Basho làm cho Haiku ngày càng rực rỡ Ông là nhận vật chínhtrong phong trào tìm cách phục hồi tiêu chuẩn mỹ học “trở lại với Basho” Dù là lớphậu bối nhưng Buson luôn cố gắng sáng tạo cho mình phong cách riêng gắn với cuộcđời trần thế hơn.

Ông để lại khoảng ba nghìn bài thơ và nhiều thể loại tranh hai-ga (bài họa), loạitranh có lối vẽ đơn sơ, hàm sức gây ấn tượng như thơ Haiku Thơ ca Buson giàu màusắc, âm thanh, ý hàm súc, trữ tình Ông là nhà thơ tài năng với con mắt của một họa sĩnhìn thấy nhiều cảnh ngoạn mục, sống động Ông rất thích màu xuân và dành nhiềubút mực để viết về mùa xuân nên được gọi là “thi sĩ của mùa xuân”

“Dưới mưa xuân lất phất

áo tơi và ô cùng đi”.

[19; tr.206]

Đây là bài thơ viết vè mùa xuân hết sức trữ tình, lãng mạn Con người và thiên nhiênhòa hợp với nhau trong mưa xuân nhẹ nhàng xao xuyến Mùa xuân ở đây là mùa xuâncủa tuổi trẻ, của hạnh phúc đôi lứa nhẹ nhàng êm ái Mùa xuân mang con người đếngần bên nhau hơn và con người lại tô điểm cho mùa xuân thêm sức sống Khoảnh khắccuộc sống nhẹ nhàng đã được ông đưa vào thơ một cách ý nhị

“Bước qua vũng nông bàn chân cô gái vẫn bùn lên nước xuân trong”.

[19; tr.206]

Bài thơ mang trong mình nhịp đập cuộc sống thường nhật với hình ảnh hết sức giản dị.Đọc bài thơ ta như bắt gặp mình trong đó bới nó hết sức thân quen Dưới đôi mắt củanhà thi sĩ Buson cho ta thấy được vẻ đẹp thanh trong từ những hình ảnh nhẹ nhànggiản dị Thơ ông cũng giàu âm thanh:

“Gần xa đâu đây nghe tiếng thác chảy

lá non tràn đầy”.

Trang 24

[19; tr.206]

Tiếng thác mạnh mẽ cùng với lá non càng làm cho xuân thêm tràn đầy sức sống Nhìn

từ xa thác đổ một dòng như chưa từng có sự chuyển đổi nào nhưng bản chất bên trong

là sự biến đổi không ngừng để tạo ra dòng chảy Chính sự vận động từ nội tại làm chothác có sức sống lâu bền luôn mạnh mẽ, năng động Thơ Buson cũng vậy luôn hàmchứa nhiều nét đẹp, nhiều triết lí trong sự giản đơn, nhẹ nhàng

Một trong “tứ trụ Haiku” nổi tiếng nữa đó là Kabayashi Issa (1763 – 1828) TừIssa trong tên ông có nghĩa là tách trà Ông sinh ra trong gia đình nông dân ởKashiwabara, tỉnh Shinano (nay là tỉnh Nagano) Khi mới ba tuổi ông đã phải chịucảnh mồ côi mẹ Cuộc sống của ông thêm phần lạc lõng cô đơn và bất hạnh khi bànội – người luôn thương yêu ông qua đời, và ông phải sống cùng mẹ ghẻ Cũng nhưBuson ông lên Edo kiếm sống đến năm 49 tuổi ông về lại làng quê và cưới vợ Nhưngthật bất hạnh ba đứa con của ông lần lượt qua đời và cuối cùng đến lượt vợ ông ra đivào năm 1823 Cuộc đời của Issa là cuộc đời của sự bất hạnh, buồn đau Năm 1827nhà ông cháy ông phải sống trong nhà kho cho đến cuối đời Có lẽ vì thế mà thơ ôngchứa đựng nhiều trắc ẩn đầy nội tâm Ông để lại di sản thơ đồ sộ với khoảng 20000 bàithơ Haiku Thơ Issa mô tả sự nghèo khổ và kể lại tình yêu thương của ông đối với cácsinh vật và côn trùng nhỏ bé

“Nếu là thời điểm thích hợp tôi đã nói với lũ ruồi: “Hãy mời thêm vài người bạn quay quần bên thức ăn tôi”.

[15; tr.643]

Issa không chê trách, ghê ghét những con ruồi mà ngược lại ông coi chúng như bạn và

tỏ ý mời chúng cùng dùng bữa Không phải ai cũng có thể đối xử như thế với nhữngsinh vật bé nhỏ này

Thơ ông cũng mang đầy nỗi buồn thương đau xót:

“Hãy đùa vui thật nhiều hỡi chú chim sẻ nhỏ không còn mẹ yêu”.

[15; tr.644]

Và cũng chứa đựng nỗi sợ hãi, hoang mang, lo lắng:

“Khi già nua

Trang 25

khi bị người đời đố kị khi đó thật đáng sợ”.

[15; tr.644]

Nếu Basho là nhà thơ nổi bật của thời trung đại thì Masaoka Shiki (1867 – 1902)

là nhà thơ Haiku tiêu biểu cho giai đoạn cận đại Ông sinh ra tại thành phố Matsugama,tỉnh Iyo (nay là tỉnh Ehime) trong một gia đình samurai Cha của ông là một ngườinghiện ngập rượu cho đến lúc chết còn mẹ lại là con nhà có truyền thống Nho học.Năm 1883 ông chuyển đến Tokyo Shiki là con người tài năng ông không chỉ sáng tácHaiku mà còn làm thơ Tanka, viết văn xuôi, phê bình thơ Shiki sinh vào buổi giaothời của thời Tokugawa và thời Meji nên thơ ông thể hiện nhiều điều nghịch lí, trớ trêucủa xã hội bấy giờ Chính trong giai đoạn như thế thơ Haiku cũng suy yếu mang tínhmua vui của giới thượng lưu Shiki là người đem đến sự cách tân cho Haiku vớiphương châm tả thực trong sáng tác chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hiện thực củaphương Tây Ông qua đời vào năm 1902 vì bệnh lao Ở tuổi 35 đang rạo rực đầy sungsức ông ra đi để lại sự nuối tiếc cho giới văn đàng Mặc dù mất sớm nhưng cống hiếncủa Shiki rất có giá trị đặc biệt ở sự cách tân làm mới Haiku Quý ngữ được ông cáchtân thành các quý ngữ mới (shin – kigo) với ý nghĩa mới Quý ngữ không để chỉ thờigian bốn mùa mà là nơi chứa đựng sự giao thoa giữa con người và thiên nhiên

“Tiền mừng tuổi

đã sắp sẵn dưới gối đầu”.

[28]

“Tiền mừng tuổi” là quý ngữ mới khác biệt so với hệ thống quý ngữ chỉ mùa xuânthường xuất hiện trong thơ Haiku của những nhà thơ trước Quý ngữ này vừa đáp ứngtiêu chí chỉ mùa xuân vừa mang lại tính mới mẻ cho thơ Haiku Điều to lớn quan trọng

mà Shiki đã làm được cho thơ Haiku đó là đưa thể thơ này thoát ra ngoài vùng nhỏ hẹptrong giới thượng lưu để hòa nhập vào cuộc sống của quần chúng Chính vì vậy, Shiki

có vai trò quan trọng trong lịch sử Haiku

1.3.

1.3 Cu Cu Cuộ ộ ộcccc đờ đờ đờiiii v v và à à ssssự ự ự nghi nghi nghiệệệệp p p Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho

1.3.1.

1.3.1 Cu Cu Cuộ ộ ộcccc đờ đờ đờiiii h h hà à ành nh nh gi gi giả ả ả ccccủ ủ ủa a a Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho

Matsuo Basho sinh vào năm 1644, mất năm 1694 tên thật là Matsuo Munefusa.Ông là người con thứ bảy sinh ra trong một gia đình Samurai ở xứ Iga thành Ueno thời

Trang 26

Edo (1603-1868) Năm chín tuổi ông văo lăm tùy tùng cho con trai một lênh chúa tín

lă Yoshitada trong lđu đăi vùng Ueno Mặc dù lă tùy tùng nhưng hai người cùng nhauhọc tập, vui chơi như những người bạn Họ trở nín thđn thiết với nhau cùng trải quaquêng thời gian gắn bó dưới sự dạy dỗ của thầy Kitamura Kigin Vă tăi năng củaBasho đê được phât hiện Nhưng người bạn của Basho sớm rời cõi đời sau khi lđm bạobệnh vă mất sớm khi mới hai mươi bốn tuổi Việc năy đê có ảnh hưởng đến Bashonhiều, ông quyết định từ giê quí hương Iga thđn yíu đầy kỉ niệm lín Edo dù khôngđược lênh chúa đồng ý Trước khi đi, ông văo chùa Koya đặt một nắm tóc xanh củangười bạn thay cho lời giê biệt Có thể nói sự ra đi của người bạn có ảnh hưởng đếncảm nhận của Basho về cuộc đời Cuộc đời hư vô vă mang nhiều nỗi buồn, sự bi ainhưng cũng chính vì vậy mă cần trđn trọng nó từ những điều nhỏ nhoi nhất Đđy lănhững cảm nghiệm lần đầu về nỗi vô thường của cuộc đời, niềm cô tịch (sabi) mă saunăy nó trở thănh cảm thức thẩm mỹ chủ yếu, xuyín suốt trong thơ ông

Sau khi lín Edo Basho dănh thời gian nghiín cứu văn học Nhật Bản cổ đại, vănhọc Trung Quốc vă bắt đầu mở lớp dạy thơ Haikai Mùa xuđn năm 1679, Basho đượctặng tước hiệu Sosho (bậc thầy dạy thơ Haikai) Sau tâm năm sống ở Edo, năm 1680ông dời về sống ở một túp lều bín bờ sông Sumida Tại đđy ông luyện tập Thiền đạodưới sự hướng dẫn của thiền sư Buccho Tư tưởng Thiền bất đầu thấm văo thơ ông.Lúc ấy có một vị đệ tử đê tặng cho Basho cđy chuối, loăi cđy có nguồn gốc từ TrungHoa, ông say mí vă đem trồng nó trước hiín nhă vă từ đđy khâch đến thăm gọi nhẵng lă Ba tiíu am Basho đặc biệt yíu thích cđy chuối nín đê lấy bút hiệu lă Basho(cđy chuối) vă ông cũng bắt đầu định hình cho mình phong câch Shofu (Tiíu phong).Băi thơ Haiku thật sự thănh công tạo nín phong câch Shofu của Basho lă băi thơ :

“Trín cănh cđy cânh quạ đậu chiều Thu.”

Trang 27

tinh tế Người nghệ sĩ phải biết cảm và đón nhận những thay đổi của cuộc đời như tàu

lá đón lấy những hạt mưa cho dù cuộc đời có mong manh dễ tan biến

“Cây chuối trước cơn gió mùa thu tếng nước mưa dội vào chậu hứng nước tôi lắng nghe tiếng đêm.”

[22 ; tr.417]

Người nghệ sĩ cũng như cây chuối luôn đón nhận những hạt mưa sớm hơn trước khi

nó rơi vào chậu nước dù cho hạt mưa có lạnh lùng hay rát buốt Giữa đêm khuyaBasho lắng nghe tiếng lòng hòa vào tiếng mưa đêm để cảm nhận và suy ngẫm

Cuộc đời Basho gắn với những chuyến hành trình Trong lúc danh tiếng đanglan xa ông lại có trăn trở về nhiều điều trong cuộc đời nên đã quyết định tìm conđường đại ngộ cho chính mình Mùa thu năm 1684, ông trở thành một lữ nhân bướcvào cuộc lữ hành trên “con đường thăm thẳm” Lúc này ông đã 40 tuổi Bước chân

ông ghi dấu trên mọi nẻo đường từ chiến du hành trên con đường ven biển hướng vềphía bờ tây Rời Edo ông đi dọc Tokaido, vượt qua chân núi Phú Sĩ và đã đến thămđền thờ Thái dương Thần nữ ở Ise Basho về thăm mộ mẹ ở Ueno rồi sau đó rời đithăm núi Yoshino Ông đã đặt chân qua phía nam bờ hồ Biwa, đi đến Ôgaki thuộcvùng Mino Từ Ôgaki Basho xuống Kuwana đi Atsuta và lên thăm Nagoya Ông ngao

du ở Nara đến cuối tháng 4 năm 1685 mới trở lại Edo Năm 1686, Basho gây tiếngvang lớn sau khi viết bài thơ :

“Ao cũ con ếch nhảy vào vang tiếng nước xao.”

[3; tr.27]

Con ếch nhảy vào ao vang lên tiếng nước như phút giây đốn ngộ vang lên Bài thơ này

được in trong tập Xu Xu Xuâ â ân n n nh nh nhậ ậ ậtttt

Chuyến đi tiếp theo ông đi đến Kashima để thăm thiền sư Buccho và thăm câyanh đào Yoshino nổi tiếng để tưởng nhớ về người bạn cũ năm xưa đã qua đời.Kashima nằm cách Edo khoảng chừng 50 dặm về hướng đông Ở Kashima có ngôi đềnnổi tiếng và đó cũng chính là nơi thiền sư Buccho đang ẩn náo Basho đã đến thăm đền

và ngủ lại đó vì đêm ấy trời mưa to Đến lúc trời gần tảng sáng và mưa tạnh Buccho đã

Trang 28

đánh thức Basho dậy để ngắm trăng sau mưa Basho nhìn vầng trăng ẩn sau lớp mâybay nhanh và cỏ ướt những hạt nên đã làm bài thơ :

“Trăng đi nhanh hạt mưa trên lá rơi lã chã.”

[22, tr.424]

Basho là một lữ hành chăm chỉ nên ông tiếp tục chuyến đi đến Sarashima để tặnghưởng mùa trăng trên đỉnh Obasube Ông ghé núi Yoshono để thưởng ngoạn, đi thămđền Wakanoura cùng các thị trấn như Suma và Akashi trên bờ biển Seto

Cuộc du hành lớn nhất của ông là chuyến đi về phương Bắc Ông đã cùng đệ tửSora làm cuộc hành trình này Đây là cuộc hành trình nổi tiếng trong thơ ca Nhật Bản.Chuyến hành trình kéo dài 151 ngày qua hơn 2400km đầy gian khổ trên con đường vềphương Bắc còn nhiều nguyên sơ, hoang dã chứa đựng nhiều sự huyền bí sâu xa Có lẽchính vì vậy mà đường lên phương Bắc đối với Basho là đường đi vào thâm sâu cuộcsống Ông đã đi qua nhiêu nơi thấy được nhiều cảnh đời khác nhau Cuộc sống đachiều không chỉ có cái đẹp, sự hoàn mỹ mà còn cả những khổ đau những góc khuấtcuộc đời và Basho đã trải nghiệm những điều đó Chính vì vậy thơ Basho để lại những

ấn tượng khó quên về cuộc sống Cuộc sống như cánh hoa mong manh bên đường bịgiẫm đập, cuộc sống nhẹ nhàng như con ốc bò bên dậu nhưng cuộc sống cũng mang vẻđẹp đớn đau như chính hình ảnh người kỹ nữ bên lề ta gặp…Ông đi qua nhiều làngmạc, thị trấn mới lạ như Nikko, Shirakawa, Sendai, Matsushina…Ông đi qua đảoHonsku đến Sakata ở phía tây biển Nhật Bản Ông cũng tới Niigata, Kanazawa,Tsuruga Basho đã đi hết vòng cung của những con đường phương Bắc và cuối cùngông tạm dừng ở Ogaki vào mùa thu năm 1689

Sau chuyến đi đến phương Bắc ông còn đi thăm thú một số nơi Ông du ngoạnKyoto, thăm quê nhà rồi đi thưởng ngoạn hồ Biwa Năm 1691 ông mới trở lại Edotrong niềm vinh quang rạo rực Đến năm 1693, ông đóng cửa nhà sống cô tịch chìmtrong Thiền đạo, cửa nhà ông chỉ mở vào những dịp hết sức đặc biệt như khi hoa triêunhan nở bên bờ dậu Mùa xuân năm 1694, ông quyết định đi phương Nam mặc dùtrong người đã nhuốm bệnh Ông đã mất tại Osaka vào mùa đông năm 1694 sau khi đểlại bài thơ từ thế Jisei (vần thơ tuyệt mệnh) Đối với người Nhật cái chết không phải là

Trang 29

nỗi sợ hãi mà đó là điều hết sức tự nhiên luôn được họ đón nhận Nó trở thành quanniệm độc đáo và thú vị của người Nhật Bản.

“Đau yếu giữa hành trình chỉ còn mộng tôi phiêu lãng trên những cánh đồng hoang.”

[3; tr.41]

Khoảng ba trăm học trò đã đưa tiễn ông Ông được chôn cất trong một ngôichùa và được phong thần trong nhiều ngôi đền thần đạo Cuộc đời Basho là cuộc hànhtrình dài và đến cuối đời ông vẫn mang mộng du hành gửi vào trong lời thơ tạ thế Ông

đã ra đi vào cõi vĩnh hằng nhưng khát vọng lãng du về cuộc hành trình đi tìm cái đẹpcuộc đời, tìm sự tịch tĩnh, sự đại ngộ vẫn luôn sống mãi trong linh hồn ông, trongnhững tập thơ của ông Cuộc đời hành dã trải nhiều mưa nắng gió sương của ông đãảnh hưởng rất nhiều đến quan niệm thơ, đến những cảm thức thẩm mỹ trong thơ Haikucủa ông

Cuộc đời Basho là cuộc hành trình dài mà mỗi quãng đường qua đều để lạinhững ấn tượng nhất định Sinh thời Basho rất thán phục Saigyo (1118- 1190) tronglàm thơ cũng như trong quan niệm nên phần nào ông cũng chịu ảnh hưởng bởi quanniệm cuộc đời là một chuyến lữ hành Saigyo sống vào thời Kamaruma, là nhà thi sĩ,nhà sư và đồng thời cũng là một lữ nhân hành hương trên khắp nẻo đường Sau khi đãrời bỏ cuộc đời chiến binh để bắt đầu cuộc hành trình, ông đã sống trọn đời cho nhữngchiến phiêu bạc và sáng tác thơ ca

“Những làn gió thổi Sương khói Fuji Tan đi mãi mãi

Ai biết hồn tôi Lang thang chốn ấy?”

Có lẽ vì những cuộc “lang thang” của thi sĩ Sagyo đã hấp dẫn Basho nên ông đã thựchiện những chuyến lữ hành của mình và cho đến cuối đời ông đã ra đi vào chuyếnngao du mãi mãi với giấc mộng trên cánh đồng hoang

1.3.2.

1.3.2 S S Sự ự ự nghi nghi nghiệệệệp p p th th thơ ơ ơ ca ca ca ccccủ ủ ủa a a Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho

Sự nghiệp sáng tác của Basho gắn liền với cuộc hành trình của ông Năm 1679Basho viết bài thơ theo phong cách mới lạ gây được tiếng vang lớn

Trang 30

“Trên cành cây cánh quạ đậu chiều Thu”.

[3; tr.32]

Bài thơ giản dị và đơn sơ đúng chất sabi và yugen Nếu đây là một bức tranh thì

nó hết sức tối giản về đường nét lẫn màu sắc Chỉ một vài phác họa cùng gam màu chủyếu là đen nếu có thêm màu sắc thì họa chăng là màu nâu của thân cây khô mà thôi.Bài thơ đơn giản nhẹ nhàng đưa ta vào thế giới huyền bí của sự giản đơn Đó là dấu ấnđặc biệt trong các sáng tác của Basho Với bài thơ này cuộc hành trình thơ của ông thật

sự bắt đầu

Ông đã để lại cho đời nhiều tập thơ có giá trị Tập thơ đầu là tập Đô Đô Đông ng ng nh nh nhậ ậ ậtttt

được ông sáng tác cùng với những bạn thơ trong chuyến hành trình về phía Tây Đây

là tập thơ Haikai chú trọng vào tính cách phong nhã (fuga) và đó là nền móng cho lâu

đài thi ca của Basho sau này Tập thơ Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k k kíííí gi gi gió ó ó m m mư ư ưa a a đồ đồ đồng ng ng n n nộ ộ ộiiii (1685) cũng ra đời

trong chuyến hành trình đầu tiên này Tác phẩm là hợp thể giữa Haibun và Haiku tạonên thể loại văn xuôi pha thơ độc đáo

Năm 1686 ông viết tập Xu Xu Xuâ â ân n n nh nh nhậ ậ ậtttt cùng với đồ đệ của mình Trong tập thơ này

có bài thơ viết về đề tài con ếch đã gây nên sự xôn xao chấn động trong văn học Bàithơ rơi vào đời như chính tiếng xao của con ếch khi nó nhảy vào ao, nó như giây phútđốn ngộ vang lên Con quạ đen, con ếch nhỏ cũng làm nên điều kì diệu qua ngòi bút

tài năng của Basho Ra đời năm 1687 là tập thơ K K Kỷỷỷỷ h h hà à ành nh nh Kashima Kashima Kashima (1687), kết quả của

chuyến đi đến Kashima Đây là tập nhật kí có kèm theo tranh minh họa

Basho đi từ Edo đến bờ biểm Suma và viết nên tập Ghi Ghi Ghi ch ch chéééép p p tr tr trêêêên n n chi chi chiếếếếcccc ttttú ú úiiii h

hà à ành nh nh h h hươ ươ ương ng ng (1688) Basho cho thấy phong cách thanh tao, cao nhã (fuga) trong tập

thơ này Ông cho mình là một furabo (phong la tháp) một người hành giả lang thangtheo gió để phiêu lãng trở thành bạn của thời gian, của tự nhiên bốn mùa Phong nhã làsống đơn sơ, hòa hợp với thiên nhiên

“Áo bông tôi cởi quẩy lên vai trần mùa thu thay áo”.

[3; tr.31]

Trang 31

Trời đất đổi mình, con người đổi áo Lẽ thường giãn dị của bốn mùa được thể hiện đơngiản qua hành động cởi áo bông Cả thế giới chuyển động vào chính giây phút Bashokhoác chiếc áo của mình lên bờ vai phong trần của mình Sofu chính là như thế Cũng

vào năm này ông viết tập thơ Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k k kíííí Sarashima Sarashima Sarashima (1688) Đây là tập thơ ngắn được

viết khi ông đi đến Sarashima để thưởng ngoạn mùa trăng lên trên đỉnh Obasute

Cuộc hành trình dài nhất và nổi tiếng nhất về phương Bắc của Basho đã tạo nên

kiệt tác L L Lố ố ốiiii llllêêêên n n mi mi miềềềền n n Oku Oku Oku (1689) Tập thơ này còn được gọi với cái tên khác nữa là Con

Con đườ đườ đường ng ng ssssâ â âu u u th th thẳ ẳ ẳm m m bởi vì từ oku còn có nghĩa là thâm sâu Con đường lên phương

Bắc hoang vu như chính là con đường là “đạo” để ông đi vào thâm sâu cuộc sống,khám phá ra những vẻ đẹp huyền bí, đơn sơ của con người và thiên nhiên nơi đây Conđường ấy là con đường vừa nhỏ hẹp gian truân vừa sâu thẳm huyền bí

“Sớm ngày 27 tháng ba tôi lên đường Bóng tối còn bảng lảng trên bầu trời Vầng trăng vẫn còn đó, dù nhợt nhạt Cái bóng mơ hồ của đỉnh Fuji và hoa anh đào ở Ueno cùng Yanaka đang từ biệt tôi Bạn bè đã tề tựu từ đêm qua và họ đi thuyền cùng tôi vài dặm.

Dù vậy, khi chúng tôi xuống thuyền ở Sehiu, ý nghĩ về ba ngàn dặm còn ở phía trước bỗng dưng tràn ngập tim tôi, và nhà cửa cũng như gương mặt bè bạn trở thành những cái bóng trước đôi mắt đầy lệ:

Mùa xuân ra đi tiếng chim thổn thức mắt cá lệ đầy”

[3; tr.37]

Con đường đi tìm “đạo”, tìm cái đẹp không chỉ là phát hiện ra những cái đẹp ở

sự hoàng nhoáng mà còn ở cả những điều dung tục lẽ thường Basho đã viết về người

vũ nữ như thế này:

“Quán bên đường các du nữ ngủ trăng và đinh hương”

[3, tr.35]

Những người kỹ nữ bị xã hội ruồng bỏ, bị xem là thấp hèn nhưng Basho nhìn họ vớicon mắt khác, con mắt bình đẳng của một Thiền sư Họ ngủ bên trăng, bên hoa đinhhương, họ đẹp bình yên và lặng lẽ tỏa hương thơm mát

Trang 32

Basho đã đi, đã cảm nghiệm và để lại cho đời kiệt tác L L Lố ố ốiiii llllêêêên n n mi mi miềềềền n n Oku Oku Oku bằng

chính sự tương tác của mình với cuộc sống Là nhà hành giả trên những nẻo đường cátbụi gió sương ông đã đem những suy tư, những trải nghiệm để viết vào vào thơ bằng

một phong cách phảng phất Thiền vị L L Lố ố ốiiii llllêêêên n n mi mi miềềềền n n Oku Oku Oku là tập thơ mang giá trị văn học

và giá trị lịch sử cao

Năm 1691 ông viết tập thơ mang đậm chất Shofu Á Á Áo o o rrrrơ ơ ơm m m cho cho cho kh kh khỉỉỉỉ và tập Nh Nh Nhậ ậ ậtttt k

kíííí Sara Sara Sara Á Á Áo o o rrrrơ ơ ơm m m cho cho cho kh kh khỉỉỉỉ chứa đựng chừng 400 bài Haiku kể cả thơ đồ đệ Trong một

lần Basho đi du hành ngang qua một cánh rừng và ông trông thấy một chú khỉ nhỏđang run lên vì lạnh trong cơn mưa mùa đông giá buốt Nhà thơ tưởng tượng chú khỉnhư đang thầm ước có chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh

“Mưa đầu mùa đông con khỉ cũng

mong có cái áo tơi”.

[3, tr.40]

Bài thơ là gợi ý cho việc đặt tên cả tập thơ

Từ năm 1693 ông đóng cửa để Thiền Trong thời gian này ông mang đến chothơ Haiku một cảm thức thẩm mỹ mới gọi là karumi (khinh) Nó là sự thanh thoát nhẹ

nhàng trên những ô trọc của cuộc đời Lý tưởng này được thể hiện rõ trong tập T T Tú ú úiiii đự

đựng ng ng than than than (1694) được học trò ông ấn hành.

Sau 50 năm Basho ra đi với giấc mộng phiêu lãng của mình Ông để lại cho đờinhiều tác phảm giá trị Sau khi ông mất các bài thơ của ông cung một số đệ tử được tập

hợp thành Basho Basho Basho th th thấ ấ ấtttt b b bộ ộ ộ ttttậ ậ ập p p Con người vĩ đại ấy đã cống hiến cho sự nghiệp Haiku,

ông đã để lại cho đời những vầng thơ quý giá cùng những tư tưởng thâm sâu

1.3.3.

1.3.3 Quan Quan Quan ni ni niệệệệm m m th th thơ ơ ơ ca ca ca ccccủ ủ ủa a a Matsuo Matsuo Matsuo Basho Basho

Cuộc đời Basho có ảnh hưởng đến quan niệm thơ ca của ông rất nhiều Do ông

là nhà du hành trên nhiều nẻo đường nên ông rất yêu cuộc sống và yêu thiên nhiên.Basho quan niệm cuộc sống là cội nguồn cảm hứng thơ ca Với Basho thơ ca phản ánhnhững gì tự nhiên, gần gũi trong tự nhiên Thơ ca không tách rời cuộc sống, cuộc sống

là đề tài của thơ ca Thơ ca góp phần tô điểm cho cuộc sống này Vì vậy mà thiênnhiên và cuộc sống hằng ngày là hai mảng đề tài quen thuộc trong thơ Haiku của ông

“Thơ ca khởi đầu:

bài ca người trồng lúa

Trang 33

trong miền quí thđm sđu”.

cả cuộc đời mình để gắn bó vă tìm đến vẻ đẹp của thiín nhiín Câc cuộc hănh trình mẵng đê thực hiện không nhằm tìm danh vọng phù thế mă mục đích lă tìm về thiín

nhiín Thiín nhiín trong quan niệm thơ ca của Basho vừa lă câi đẹp cần khâm phâ vừa

lă người bạn thđn tình đâng mến

“Hoa diín vĩ buộc quanh băn chđn mang dĩp rơm”.

[3; tr.93]

Lấy rơm lăm dĩp, hoa diín vĩ lăm dđy buộc, Basho đê tạo cho mình đôi dĩp tuyệt vờibằng chất liệu thiín nhiín Đôi dĩp năy đê theo ông đi khắp nơi trong thời gian dăi

“Nằm gần tăn tôi vẫn còn rong ruổi nón lâ vă dĩp rơm”.

[3; tr.94]

Con người sống cùng thiín nhiín vă được thiín nhiín ban tặng cho những món quăđặc biệt Một trong những món quă ấy lă câi đẹp

“Trăng thu suốt đím tôi dạo

Trang 34

lanh quanh bên hồ”.

sơ Qua ngòi bút Basho thiên thiên luôn toát lên vẻ đẹp say đắm, sinh động đa dạngqua nhiều hình ảnh khác nhau

Thiên nhiên trong thơ ông luôn được cụ thể hóa bằng những hình ảnh quenthuộc giản dị Ông thường viết những đề tài nhỏ nhặt quanh ta chú ếch, con quạ, cáigậy hay đơn giản tới mức ta không để ý như chấy rận, con dế…

“Trong lều ngư dân giữa đám tôm cá

có con dế mèn”.

[3, tr.67]

Ông cho chúng ta thấy được cái đẹp của những sự vật hiện tượng bình thường nhỏ béquanh ta Chính vì thế những bài thơ của ông đậm chất wabi đơn sơ cao khiết Từnhững hình ảnh này thơ Haiku của Basho đi vào lòng người đọc một cách hết sức tựnhiên gần gũi

Nghệ thuật sinh ra từ cuộc sống, vẻ đẹp ẩn chứa trong mọi vật ở mọi nơi trongmọi mùa Nhiệm vụ của người thi sĩ là phát hiện ra những nét đẹp ấy Basho quanniệm rằng người nghệ sĩ như tàu lá chuối đặc biệt nhạy cảm với thế giới và phải biếtphản ánh thế giới bằng sự sáng tạo trong nghệ thuật Chính vì thế dù chịu ảnh hưởngcủa Saigyo, của Soin nhưng Basho vẫn định hình cho mình một phong cách độc đáo -phong cách Shofu Không chỉ thế Basho còn góp phần to lớn hoàn thiện thể thơ haiku,đưa nó từ hình thức giải trí, bông đùa thành thể thơ đầy giá trị và đậm chất triết lý.Người Nhật thường không có những triết lý riêng biệt mà họ thường thể hiện triết lýcủa mình thông qua văn học mà Haiku là một trong những thể thơ ngắn truyền tảinhiều triết lý của cuộc sống Thơ Basho luôn thể hiện cái đẹp mà trong đó nguyên lýthi ca trung tâm của Basho là cái đẹp cô đơn còn gọi là sabi, chấp nhận cái buồn nhưngkhông bi lụy Theo giáo sư Vĩnh Sính “chất sabi không chỉ được biểu đạt qua khách

Trang 35

thể phản ánh àm còn ẩn khuất trong tâm trạng của cái tôi trữ tình Một cái tôi u hoài

mà phong nhã, một cái tôi nhạy cảm trước nỗi vô thường, khát khao hướng tới thiên nhiên và tha thiết tìm về nét đẹp văn hóa truyền thống” [22; tr.596] Sabi là một trong

những nguyên lý thẩm mỹ đặc sắc trong Haiku của Basho bên cạnh một số nguyên lýtiêu biểu khác như wabi, yugen, aware Ngoài ra trong những năm cuối đời Basho đãđưa ra cảm thức thơ khác là karumi (khinh) Khinh ở đây tức là “nhẹ”, là sự ung dung,thanh thản, tĩnh tịch như dần đi vào Thiền định

“Người chèo thuyền ống điếu ngậm trong miệng gió mùa xuân lên”.

mà ông xây dựng nên những cảm thức thẩm mỹ khác nhau trong thơ Các cảm thức bắtnguồn từ cuộc sống tự nhiên dung dị bình thường mà mang nhiều vẻ đẹp

Basho gắn tên mình với thơ haiku và đề lại khá nhiều tác phẩm Cùng với giấcmộng lãng du của mình các tập thơ của ông hầu như lần lượt ra đời trong nhữngchuyến hành trình xuôi ngược Cuộc đời của Basho ảnh hưởng nhiều đến không chỉquá trình sáng tác thơ haiku mà còn ảnh hưởng quan niệm về cuộc đời thi sĩ, quanniệm về thơ, về nhũng cảm thức thẫm mỹ của ông

Trang 36

Ch Chươ ươ ương ng ng 2 2 2 M M MỘ Ộ ỘT T T S S SỐ Ố Ố C C CẢ Ả ẢM M M TH TH THỨ Ứ ỨC C C TH TH THẨ Ẩ ẨM M M M M MỸ Ỹ Ỹ TRONG TRONG TRONG N N NỘ Ộ ỘIIII

DUNG DUNG TH TH THƠ Ơ Ơ HAIKU HAIKU HAIKU C C CỦ Ủ ỦA A A MATSUO MATSUO MATSUO BASHO BASHO

2.1.

2.1 S S Sự ự ự ttttịịịịch ch ch ttttĩĩĩĩnh, nh, nh, ttttĩĩĩĩnh nh nh llllặ ặ ặng ng ng (Sabi) (Sabi)

Haiku là thể thơ ẩn chứa nhiều cảm thức thẩm mỹ Các cảm thức thẩm mỹ đềutinh tế, độc đáo mang tính đặc trưng rất riêng Haiku và các cảm thức thẩm mỹ kết hợpcùng ngân lên những bản nhạc mà giai điệu của nó vang mãi qua mấy trăm năm màkhông hề lạc nhịp Cái đẹp, cái bi, hài, cái buồn của cuộc sống được người Nhật nhìntheo một cách hoàn toàn mới lạ Đôi mắt thâm sâu thấu thị cuộc sống cùng tâm hồnyêu mến thiên nhiên đã giúp người Nhật cảm nhận và diễn đạt cuộc sống theo cáchriêng đặc biệt của mình Bậc thầy của Haiku, Basho là tầm hồn vĩ đại với đôi mắt thiền

sư và tâm hồn thi sĩ ông thấy nét đẹp ở mọi vật, mọi trạng thái Giữa chốn Edo xô bồcuộc sống cuồng nhiệt Basho như tách bạch hẳn tìm cho mình con đường đi đến sự côtịch Sự cô tịch ấy chính là cảm thức sabi mà người Nhật đã tạo ra Không phải vì ràocản ngôn ngữ mà bởi chính sự tuyệt diệu trong cảm thức thẩm mỹ nên sabi được diễndịch bằng loạt từ ngữ khác nhau: tịch lặng, đơn sơ, cô tịch… Sabi đặc biệt quan trọngtrong thơ Haiku nói chung và trong thơ Basho nói riêng Sabi trong Haiku không làniềm cô tịch của một cá nhân, là sự cô liêu riêng đơn lẻ bóng mà sabi là niềm cô tịch

vô ngã, cô đơn với vũ trụ Cô tịch, tĩnh lặng để thấu thị sự huyền diệu của thế giới, đểcảm nhận lời thì thầm của vũ trụ, sự bí hiểm của cái bao la bên ngoài con người đangnắm giữ

Sabi có nét buồn và cô đơn nhưng không bi luỵ Lấy cô tịch như một phươngtiện để linh hồn nhân thế hoà lẫn vào cái vô biên, cái vĩnh cửu của cuộc sống

“Trên cành cây cánh quạ đậu chiều Thu”.

[3; tr.23]

Đây là bài thơ hết sức quen thuộc Nó tiêu biểu cho cảm thức thẩm mỹ sabi trong thơHaiku của Basho Bức tranh con quạ đậu trên cành khô vào buổi chiều thu được Bashophác hoạ nên hoàn toàn biểu thị cho niềm cô tịch Không gian, thời gian và cả sinh vậtduy nhất trong không gian ấy đều toát lên sự tịch liêu, đơn sơ và buồn Tại sao lại làcánh quạ chứ không phải là con quạ hay bầy quạ? Chính việc sử dụng hình ảnh cánhquạ càng khắc họa sâu hơn sự ảm đạm, tiêu điều của bức tranh mùa thu Cánh quạ nhỏ

Trang 37

nhoi và dường như đang đậu bất động trên cành cây Cành cây là một bộ phận củatổng thể cây vì vậy càng làm tăng thêm sự đơn lẻ của sự vật Những hình ảnh này đãgiúp khắc sâu hơn nữa sự nhỏ bé của các sự vật trong không gian bài thơ Cành câyvào mùa thu nên chắc hẳn cành đã khô chứ không thể nào tươi xanh mơn mởn nênmàu của con quạ đen và màu của cây cùng màu bóng chiều hoà vào nhau tạo nên bứctranh tối màu tịch liêu u sầu Những hình ảnh trong bài dường như tự nhiên xuất hiệncạnh nhau nhưng đó là cả quá trình tư duy ngôn từ của Basho Ông đã chắt chiu, lựachọn các hình ảnh để đưa chúng vào thi phẩm của mình Cánh quạ như chìm vàokhông gian buổi chiều nó như hoà tan một cách im lìm vào cuộc sống nhưng cánh quạvẫn hiện hữu không mất đi vào niềm cô tịch Bài thơ đơn sơ cực độ nhưng lại sâu thẳm

vô cùng Đọc bài thơ làm ta có cảm giác như đang đứng trước vực và nhìn vào vực ấychỉ thấy một màu đen bao trùm nhưng vực ấy sâu thẳm và mang nhiều huyền bí Cảcon quạ, cành cây và chiều thu như bất động đứng im trong nền trời xám xịt nhưng tất

cả đang chuyển động Con quạ đang sống, chiều thu đang trôi, không gian và thời gianđang tiếp diễn và sẽ có sự thay đổi Con quạ ấy, cành cây và chiều thu ấy cô tịch đãmấy trăm năm qua như chính vũ trụ vẫn tịch liêu như ngày nó đã như thế Sức mạnh

mà sabi hướng tới là sức mạnh của chân không Đơn sơ đấy, cô tịch đấy nhưng ẩnchứa nhiều huyền diệu (yugen) – một cảm thức thẩm mỹ khác trong thơ Haiku Theogiải thích của Nhật Chiêu thì“đậu trong nguyên tác của Basho là “tomari” viết theo Hán tự là “chỉ”, thường mang ý nghĩa là dừng lại, một dụng ngữ quen thuộc của Thiền tông” [3; tr.24] Con quạ và buổi chiều dường như đang rơi vào trạng thái

Thiền định và cả vũ trụ như cũng đang toạ Thiền “Dừng lại” là để suy ngẫm, là khôngvận động ở hình thức bên ngoài để “đậu” vào khoảng không của trái tim mỗi người.Bài thơ đưa ta đến tịch liêu, đưa ta đến sự im lặng nhưng không có nghĩa là đưa ta đếncõi chết lặng ngắt

Bài thơ như bức tranh thuỷ mạc đơn giản với vài đường nét nhưng giá trị của nó

là điều đáng nói Bài thơ tuyệt diệu hàm chứa tâm hồn của một Basho thiền sư đã đemtim mình để lắng nghe niềm im lặng bất tuyệt của chân không Vũ trụ đang chuyểnđộng ẩn sau lớp màn không gian tĩnh mịch Vũ trụ biến động sau cái võ bất biến Nhưdòng thác mà Buson nói đến trong bài thơ sau:

“Gần xa đâu đây nghe tiếng thác chảy

Trang 38

lá non tràn đầy”.

[19; tr.206]

Thác là hình ảnh quen thuộc trong thơ ca Trung Hoa và Nhật Bản Lý Bạch cũng từng

viết về thác trong thi phẩm V V Vọ ọ ọng ng ng L L Lư ư ư ssssơ ơ ơn n n b b bộ ộ ộcccc b b bố ố ố.

“Nhật chiếu Hương Lô sinh tử yên,Dao khan bộc bố quải tiền xuyên

Phi lưu trực há tam thiên xích,Nghi thị Ngân hà lạc cửu thiên”

Dịch thơ:

“Nắng rọi Hương Lô khói tía bay,

Xa trông dòng thác trước sông này.

Nước bay thẳng xuống ba ngàn thước, Tưởng dãy ngân hà tuột khỏi”.

(Tương Như dịch)

Dòng thác như dãy lụa trắng được trải từ trên đỉnh núi đến chân núi Nếu dòng tháccủa Lý Bạch mạnh mẽ tràn đầy năng lượng thì dòng thác của Buson nhẹ nhàng hơn.Nhìn bên ngoài dòng thác vẫn như vậy, vẫn êm chảy qua thời gian nhưng nó ẩn chứabên trong sự vận động và dòng năng lượng mạnh mẽ Dòng thác vận động liên tục đểduy trì trạng thái bên ngoài của mình như vũ trụ như cuộc sống luôn biến thiên, luônhoạt động để duy trì sự sống và sự phát triển

Basho đã phát triển sabi thành cảm thức thẩm mỹ quan trọng trong thơ Haiku

Do là một thiền sư nên sabi trong thơ ông cũng mang dấu ấn của những quan niệmtrong Thiền Thiền tông (Zen) đã được du nhập vào Nhật Bản và được người Nhật tiếpnhận như một phần trong văn hoá của mình Thiền tông không chỉ ảnh hưởng trênphương diện tôn giáo mà còn ảnh hưởng đến phương diện nghệ thuật Thiền đượctruyền bá qua các tông phái Phật giáo khác vào thời Kamakura (1185 – 1333) nhưngphải đến cuối XII thì Thiền mới thực sự bắt rễ và đi sâu vào tư tưởng, văn hoá NhậtBản Eisai Myoan (1141 – 1215) và Dogen (1200 – 1253) là hai vị thiền sư đầu tiêntruyền bá Zen vào Nhật Bản Thiền tông chú trọng công án (Koan) và ngồi thiền(Zazen) Ngồi thiền là hình thức tỉnh tâm để giác ngộ, còn công án là câu nói tối nghãi

Trang 39

dùng để đưa người tu luyện thoát ra khỏi tập quán suy nghĩ bằng lý trí để lãnh hội bảnchất sư vật Cả hai hình thức này đều hướng đến sự đốn ngộ bằng trực giác Thiền tông

có ảnh hưởng đến nhiều loại hình nghệ thuật như: trà đạo, nghệ thuật vườn cảnh(teien), trường phái hội họa Sumie (tranh vẽ bằng mực xạ), nghệ thuật cắm hoa (ikebana), kiếm đạo (kendo), kịch No…và tất nhiên là có Haiku Thiền đến với Nhật Bảnkhông chỉ là một tôn giáo mà đó còn là triết lý sống và là định hướng sáng tạo nghệthuật Tinh thần vô ngã, tịch liêu, tôn trọng bản chất vạn vật trong tự nhiên…trong tinhthần Phật giáo được tái hiện trong văn hoá Thiền của người Nhật tạo thành nét đặctrưng rất riêng trong truyền thống

Basho sau thời gian học tập với thiền sư Buccho và tự nghiên cứu Thiền, ôngtrở thành vị Thiền sư và mang những ảnh hưởng của Thiền vào thơ ca mình.Chất sabitrong thơ ông đậm dấu ấn của Thiền

“Tiếng chuông đã dứt cảm thấy mùi hương hoa chắc hẳn hoàng hôn”.

[24; tr.421]

Mùi hương hoa hay là mùi vị của Thiền? Bài thơ làm ta bật lên câu hỏi như thế bởi sựnhẹ nhàng mà thấm sâu của nó Thiên nhiên ở đây không huy hoàng, lộng lẫy màmang vẻ u hoài, cô tịch Hoàng hôn kết thúc một ngày, cánh cửa mặt trời đang dầnđóng lại, đâu đó tiếng chuông từ xa vọng lại và người lữ hành cảm nhận hương hoathoang thoảng Basho không tả cảnh, không tả hoàng hôn nhưng ông đã gợi cho takhung cảnh một buổi chiều buồn và cô tịch Thiền tông chú trọng sự cảm nhận bằngtrực giác và khi cảm nhận đã đong đầy thì chỉ có thể diễn tả bằng sự im lặng mà thôi

Đó là sự im lặng có lời Từ ngữ làm sao có thể diễn tả hết cảnh giới của sự ngộ Bàithơ đậm dấu ấn Thiền, tình cảm của Basho đã đong đầy và ông chỉ có thể diễn tả nóbằng mùi hương hoa mà thôi Mùi hương ấy im lặng hoàn toàn, mùi hương ấy tĩnhmịch và vô hình Nhưng nó tác động đến mọi người, khướu giác vẫn tiếp xúc vẫn đanggiao hoà với hương hoa Giữa tịch liêu của chiều buồn ta cùng hương hoa vận động.Mùi hương im lặng nhưng hương đang bay, người đánh chuông đã dừng nhưng tiếngchuông vẫn còn vang vọng, mọi vật vẫn đang vận động…Sự tinh tế của Thiền và thơHaiku hòa vào nhau như những giai điệu mà sinh ra như thể vốn là của nhau

Ngày đăng: 04/10/2015, 22:45

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w