1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của mạng xã hội youtube trong việc xây dựng ý thức thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố hồ chí minh

113 23 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của mạng xã hội youtube trong việc xây dựng ý thức thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn thành phố hồ chí minh
Tác giả Nguyễn Minh Trung, Nguyễn Vũ Anh, Phan Thị Cẩm Thạch, Nguyễn Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Phan Văn Tú
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại Công Trình Nghiên Cứu Khoa Học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu này các tác giả đã chỉ ra quá trỉnh hình thành và phát triển của mạng xã hội hơn một thập niên qua đồng thời điểm ra một số công dụng và tác động của mạng xã hội đến ngư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2015

Tên công trình:

ẢNH HƯỞNG CỦA MẠNG XÃ HỘI YOUTUBE TRONG VIỆC XÂY DỰNG Ý THỨC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Minh Trung MSSV:1156030129, PTTT Điện tử, 2011

Thành viên: Nguyễn Vũ Anh 1156030005, Báo in, 2011

Phan Thị Cẩm Thạch 1156030104, Báo in, 2011 Nguyễn Thị Thu Thảo 1156030101, PTTT Điện tử, 2011

Người hướng dẫn: Thạc sĩ Phan Văn Tú – Bộ môn Truyền hình

Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 3/2015

Trang 2

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Giới hạn đề tài: 6

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn: 6

a Ý nghĩa lý luận: 6

b Ý nghĩa thực tiễn: 7

5 Phương pháp nghiên cứu: 7

6 Kết cấu của đề tài: 8

Chương 1: Mạng xã hội YouTube nhìn từ lý thuyết truyền thông 8

Chương 2: Quá trình tương tác của mạng xã hội YouTube với sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM 8

Chương 3: Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube tới ý thức thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM 8

CHƯƠNG 1: 10

1.1 Truyền thông và truyền thông đại chúng 10

1.1.1 Khái niệm 10

1.1.2 Phân loại truyền thông và truyền thông đại chúng 11

1.2 Cơ chế tác động của truyền thông đại chúng (2) 13

1.3 Giáo dục ý thức thẩm mỹ như một chức năng của truyền thông đại chúng 17

1.3.1 Ý thức thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ và nghệ thuật 17

1.3.2 Các chức năng của truyền thông 20

1.3.3 Chức năng giáo dục của truyền thông 22

1.4 Mạng xã hội - một kênh truyền thông đặc biệt 23

1.4.1 Khái niệm mạng xã hội 23

1.4.2 Phân loại 25

1.4.3 Đặc trưng (1) 27

1.5 Mạng xã hội YouTube 28

1.5.1 Lịch sử hình thành 28

1.5.2 Đặc điểm và quy mô của kênh truyền thông YouTube 30

1.5.3 Nội dung truyền thông trên YouTube: 32

1.5.3.1 Phân loại theo chủ thể thực hiện sản phẩm 32

1.5.3.2 Phân loại theo hình thức thực hiện 32

Trang 3

1.5.3.3 Phân loại theo nội dung thực hiện 32

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

Chương 2: Quá trình tương tác giữa mạng xã hội YouTube với sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM 34

2.1 Quy trình chọn mẫu đại diện cho khảo sát 34

2.2 Sinh viên - nhóm công chúng truyền thông đặc biệt của YouTube 40

2.2.1 Đặc điểm nhân khẩu 41

2.2.1.1 Yếu tố giới: 41

2.2.1.2 Yếu tố tuổi 41

2.2.2 Đặc điểm xã hội 42

2.2.2.1 Môi trường sống năng động – sinh viên năng động 42

2.1.2.2 Môi trường sống hiện đại – sinh viên hội nhập tốt 43

Tiểu kết 45

2.2.3 Sinh viên là nhóm công chúng tiếp nhận đồng thời là nhóm chủ thể sáng tạo truyền thông trên YouTube 45

2.3 Vai trò, sự hữu ích của mạng xã hội YouTube đối với sinh viên 46

2.3.1 YouTube - một kênh học tập 46

2.3.2 YouTube - một kênh giải trí 47

2.3.3 YouTube – một kênh xã hội hóa cá nhân 48

2.3.3.1 Lý thuyết xã hội học về công chúng đám đông 48

2.3.3.2 Lý thuyết về xã hội hóa cá nhân 49

2.3.3.3 Quá trình xã hội hóa cá nhân trong môi trường YouTube 50

2.3.3.4 Tự đăng tải video – Con đường mới thúc đẩy xã hội hóa cá nhân trên YouTube 52 2.3.4 YouTube – một kênh tự do ngôn luận của sinh viên 54

2.4 Thói quen, hành vi, đặc điểm khai thác, sử dụng YouTube của sinh viên 56

2.4.1 Mức độ thường xuyên truy cập YouTube 56

2.4.2 Thời lượng cho mỗi lần truy cập YouTube 57

2.4.3 Điểm hấp dẫn của YouTube đối với sinh viên 58

2.4.4 Những nội dung sinh viên không muốn theo dõi trên YouTube 58

2.5 Một số biểu hiện sử dụng YouTube phổ biến trong sinh viên 61

2.5.1 Chỉ đơn thuần giải trí 61

2.5.2 Phong trào “tự sướng” 61

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64

Chương 3: Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube trong việc xây dựng ý thức thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM 65

Trang 4

3.1 Môi trường YouTube bao gồm những sản phẩm truyền thông “tốt đẹp” lẫn “độc hại” 65

3.1.1 YouTube – môi trường kết nối mở tích cực 65

3.1.2 Thực trạng những video có nội dung “độc hại” 67

3.1.2.1 Thực trạng video có nội dung bạo lực, khiêu dâm 67

3.1.2.2 Thực trạng những video có nội dung “độc hại” khác 69

3.2 Ảnh hưởng của YouTube tới phản ứng của sinh viên trên phương diện thẩm mỹ quan: 73

3.2.1 Tác động hoàn toàn: 74

3.2.2 Hòa nhập nhưng không hòa tan: 77

3.2.3 Phản xạ tự vệ 83

3 3 YouTube - diễn đàn tranh luận, đánh giá quan điểm thẩm mỹ: 87

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 91

KẾT LUẬN 92

PHỤ LỤC 97

Trang 5

Trang mạng xã hội đầu tiên được ghi nhận là SixDegrees.com1 với kết cấu cũng bao gồm phần thông tin cá nhân và danh sách kết bạn giống các trang mạng xã hội hiện tại như Facebook, Linkedin,… nhưng ở cấp độ cơ bản hơn nhiều Phát sinh từ những nguồn cơ bản đó, các trang mạng xã hội khác lần lượt ra đời như My Space, Facebook, Instagram, Twitter,…

Những trang mạng xã hội đó tồn tại như một hình thức giao tiếp xã hội, nơi mà con người có thể qua đó giao lưu, học hỏi, nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức Chính bởi sự hữu dụng và tiện lợi, dễ xài do nhiều cải tiến mới gần đây của các mạng

xã hội nên số người tham gia mô hình giao tiếp mới này càng nhiều Theo như bài viết của Randall Craig, CEO của 108 ideaspace đăng trên Huffington Post2 YouTube cũng không là một ngoại lệ

YouTube xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2005 và có những bước phát triển vượt bậc kể từ đó, nhất là từ sau khi gia nhập đứng dưới sự quản lý của công ty Google Khởi nguồn chỉ đơn giản với ý tưởng là trang chia sẻ video tiện dụng cho tất

cả mọi người, nhưng càng về sau YouTube càng được cải tiến và thể hiện những tính chất của một mạng xã hội thực thụ Người tham gia có thể bình luận, đóng góp ý kiến, kết bạn, theo dõi những cá nhân khác đã đăng kí tài khoản trên YouTube Chính sự

1 Danah M Boyd và Nicole B Ellison (2007), Social Network Sites: Definition, History, and Scholarship, School

of Information, UC Berkely & Department of Telecommunication, Information Studies, and Media, Michigan State University

2 Randall Craig (21-3-2013), How many social media sites will survive?, Huffington Post

Link bài viết: http://www.huffingtonpost.ca/randall-craig/social-media-sites_b_2925234.html

Trang 6

phát triển này cũng tạo cho YouTube những đặc điểm tương tự các trang mạng xã hội khác

Một trong số những đặc điểm then chốt của mạng xã hội đang khiến nhiều cá nhân từ các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đến các bậc cha mẹ, thầy cô, những người tham gia công tác giáo dục quan tâm đó là sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng của mạng xã hội đến đời sống sinh hoạt và học tập của con em họ Vấn đề này đang được chú trọng hết sức từ những người nghiên cứu trong nước đến quốc tế, từ các bài báo từ các tờ báo uy tín đến các báo đời sống thường nhật Trong bài viết “Social Influence: More than Just a game” của tác giả quyển “The Millennial CEO” Daniel Newman đăng trên Huffington Post3, ông cho rằng chính sự nở rộ của mạng xã hội đã làm cho người ta trở nên nổi tiếng một cách dễ dàng hơn và chính điều này “khiến những đứa trẻ ngày nay có một ước mơ kiểu mới là được trở thành Ngôi sao Mạng xã hội – một nghề nghiệp chưa từng có trước sự xuất hiện của mạng xã hội” Song tác giả cũng đặt ra câu hỏi cho những ảnh hưởng của mạng xã hội đến giấc mơ nổi tiếng thực sự mà giới trẻ đang hướng tới ngày nay liệu có bền vững khi những sự nổi tiếng chỉ có giá trị trong giây lát rồi chìm trong biển thông tin mà mạng xã hội mang lại

Hay như trong bài viết “10 ảnh hưởng tiêu cực mạng xã hội mang lại”4 được dịch lại từ trang Lifehack, đăng trên chuyên mục Đời sống của báo điện tử VnExpress, mạng xã hội cũng được đề cập đến như một hình thức tương tác tuy có nhiều tiện lợi nhưng gây hại cho những người sử dụng không đúng cách Các hệ lụy như chứng “mất ngủ” hay “xao nhãng mục tiêu”, “ảnh hưởng quá trình sáng tạo” được nhiều bình luận

từ độc giả hưởng ứng mạnh mẽ Điều này chứng tỏ mạng xã hội cần được đặt ra như một thực thể nghiên cứu nghiêm túc

Sau quá trình tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước, chúng tôi thấy một

số mạng xã hội được tập trung nghiên cứu như là đại diện của các trang mạng xã hội Facebook là một điển hình Các nghiên cứu về Facebook ngày càng nhiều đặc biệt là

3 Daniel Newman (6-2-2014), Social Influence: More than Just a Game, Huffington Post

Link bài viết: http://www.huffingtonpost.com/daniel-newman/social-influence-more-tha_b_4732545.html

4 Quỳnh Trang - theo Lifehack (1-8-2014), 10 ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội, VnExpress

Link bài viết:

http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/gioi-tinh/10-anh-huong-tieu-cuc-cua-mang-xa-hoi-3025331.html

Trang 7

các bài nghiên cứu nhỏ về những tác động của mạng xã hội trong đó Facebook được lấy làm đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, khi tìm hiểu tài liệu để viết về YouTube, rất

ít các nghiên cứu trước đó, nhất là các nghiên cứu ở Việt Nam thực hiện đề tài về YouTube Với ý tưởng khảo sát, tìm hiểu một khía cạnh của YouTube để từ đó làm giàu tài nguyên nghiên cứu cho những nghiên cứu sau, chúng tôi đã tìm đến YouTube như một mạng xã hội độc lập làm đối tượng nghiên cứu

Như đã nói trên, YouTube là một mạng xã hội hoàn chỉnh với các cách thức tương tác lẫn nhau giữa các người dùng, thế nên những tác động của nó như một mạng

xã hội thực thụ rất đáng lưu tâm Hơn thế nữa, YouTube với sức hút của một kênh chia

sẻ video chất lượng tốt, quản lý chặt chẽ sẽ thu hút các nhóm đối tượng có tính tương tác cao với hình ảnh, ở đây chúng tôi chọn đó là nhóm đối tượng sinh viên Sinh viên

là lứa tuổi đã bắt đầu có những quan sát, đánh giá và làm chủ hành vi bản thân, vì vậy khi nghiên cứu về tầm ảnh hưởng của YouTube đến ý thức thẩm mỹ - nhận thức về cái đẹp, cái hay của nhân loại sẽ có thể đưa ra những đúc kết bền vững hơn những nghiên cứu các nhóm đối tượng còn trong giai đoạn định hình nhân cách, hoặc đã phát triển hoàn thiện nhân cách nhưng ít tương tác với mạng xã hội

Nhận định từ những lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh

hưởng của mạng xã hội YouTube trong việc xây dựng ý thức thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới có nhiều nghiên cứu xoay quanh các vấn đề liên quan đến mạng xã

hội, thế nhưng các nghiên cứu về YouTube thì còn khá khan hiếm

Những tài liệu nghiên cứu về mạng xã hội có thể làm nền tảng cho nghiên cứu về YouTube có thể kể đến như nghiên cứu “Ảnh hưởng của mạng xã hội tới trẻ vị thành niên”5 diễn tả mối liên quan giữa các chất gây nghiện thông thường như thuốc phiện, thuốc lá với mạng lưới quan hệ mà các mạng xã hội tạo ra Qua đó, nghiên cứu khẳng định sự tác động mạnh mẽ của loại hình xây dựng kết nối này – mạng xã hội tới nhóm đối tượng dễ chịu ảnh hưởng bởi các tác động bên ngoài như lứa vị thành niên Trích

5 Thomas W Valente (2003), Social Network Influences on Adolescent, Keck School of Medicine University of Southern California USA

Trang 8

dẫn một đoạn từ nghiên cứu có thể thấy những đúc kết từ nghiên cứu trên hỗ trợ nhiều cho những đánh giá về sau của nghiên cứu chúng tôi về tác động của YouTube đến đối tượng khá gần với tuổi vị thành niên – sinh viên “…Mạng xã hội có tầm ảnh hưởng tới nhóm đối tượng vị thành niên Nghiên cứu chúng tôi cho thấy đối tượng vị thành niên có xu hướng chọn bạn giống với chúng Những người bạn này có ảnh hưởng rất lớn đến chúng và cũng đồng thời có nguy cơ rất cao cùng tham gia chung vào các hoạt động mang tính nguy hiểm.”

Một nghiên cứu khác cũng về mạng xã hội rất quan trọng để hình thành các tiền

đề cho nghiên cứu của chúng tôi đó là nghiên cứu “Các trang mạng xã hội: Khái niệm, Lịch sử và các tìm hiểu sâu”6 Trong nghiên cứu này các tác giả đã chỉ ra quá trỉnh hình thành và phát triển của mạng xã hội hơn một thập niên qua đồng thời điểm ra một

số công dụng và tác động của mạng xã hội đến người dùng như tạo mạng lưới quan hệ, xây dựng hệ thống các cộng đồng, quốc tế hóa các mối quan hệ bạn bè,…

Các lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn khác quan tâm đến YouTube nhưng dưới khía cạnh khác không chỉ đơn thuần phục vụ chức năng như một mạng xã hội mà còn

là một kênh truyền thông có thể kể tới như cuốn “Báo chí có sống còn trước Internet?”7 của tác giả Martin Hirst Ở chương 6 của cuốn sách có phần “Báo chí thời

kỉ nguyên YouTube” nhấn mạnh sự trỗi dậy nổi bật của YouTube với vai trò như là kênh tiếp nhận và truyền tải thông tin hình ảnh nhanh nhạy và phổ biến trên diện rộng nhất Tác giả cũng nhắc nhở các nhà báo, nhà truyền thông phải nắm bắt kịp bước phát triển của thời đại và tận dụng YouTube không chỉ như là một nguồn tin quan trọng mà còn là một kênh câp nhật, truyền tải thông tin tiện dụng, nhanh chóng Ông thậm chí còn chỉ ra công thức giúp YouTube có thể vững mạnh như hôm nay là nhờ 3 nguyên tắc: dễ xem, dễ đăng tải và dễ chia sẻ video Thực chất các lợi thế của YouTube, đúng như Hirst đã phát biểu, có thể quy về 3 đặc tính này

6 Danah M.Boyd & Nicole B.Ellison (2007), Social Network Sites: Definition, History and Scholarship, University

of California Berkely & Michigan State University

7

Martin Hirst (2011), Can journalism survive the Internet?, Allen & Unwin (Úc)

Trang 9

Ngoài ra, các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến YouTube phải kể đến nghiên cứu “YouTube – Mạng xã hội”8 của các nhà khảo sát ở Google và công ty ETH trụ sở tại Zurich Nghiên cứu này với các số liệu khảo sát xã hội học rõ ràng, bài bản đã trình bày các mối quan hệ diễn ra trên “diễn đàn” YouTube, và đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt của mạng xã hội này ở mối quan hệ ba phần tử người phát – nội dung thông tin hình ảnh – người tiếp nhận

Một khảo sát nữa được thực hiện bởi chính YouTube đó là khảo sát về hành vi

sử dụng YouTube của nhóm đối tượng là đàn ông tuổi từ 18 đến 34 Kết quả khảo sát được trình bày dưới dạng các thông tin đồ họa dễ hiểu và gây ấn tượng mạnh Các biểu

đồ chỉ ra rằng nhóm đối tượng này đặc biệt thích ứng nhanh với sự phát triển của mạng xã hội và dần có xu thế chuyển đổi từ thói quen theo dõi thông tin hình ảnh qua truyền hình sang theo dõi các chương trình trực tiếp hoặc video thu hình phát sóng lại trên YouTube Một số kết quả đáng ngạc nhiên khác như YouTube là kênh chia sẻ lại được nhiều người sử dụng nhất trên Facebook hay việc hầu hết những người trả lời đều cho rằng YouTube có nội dung thông tin rất đa dạng, nhất là các video mang tính giáo dục, hướng dẫn

Trong nước, các nghiên cứu về YouTube nói riêng và về mạng xã hội nói

chung còn khá hạn hẹp Chủ yếu các nguồn tư liệu về đề tài bằng tiếng Việt là từ các bài báo, bản tin hoặc những bài viết dịch lại của các báo nước ngoài Các bài báo do những chuyên gia viết có thể tham khảo như bài viết: “Nếu mạng xã hội dễ dãi”9 của tác giả Hạnh Nhân, Thạc sĩ Truyền thông Marketing được đăng trên trang điện tử VNExpress với nội dung bàn luận về cách quản lý siết chặt hơn của nhiều mạng xã hội hiện nay sau các vụ bê bối liên quan đến cho phép đăng tải hình ảnh nhạy cảm, phản tôn giáo, đạo đức hoặc để những bình luận, bài đăng vô văn hóa xúc phạm đến một cá nhân, tổ chức Bài viết qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của thao tác quản lý, kiểm soát chất lượng thông tin trên mạng xã hội này, và đề cập đến vai trò của những

“người gác công” – content moderator

Hạnh Nhân (1/11/2014), Nếu mạng xã hội dễ dãi, Báo điện tử VNExpress

Địa chỉ link bài viết: http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/neu-mang-xa-hoi-de-dai-3101145.html

Trang 10

Có thể thấy, các nghiên cứu ở Việt Nam còn ít quan tâm, luận bàn đến những tác động sâu rộng của mạng xã hội YouTube tới đời sống sinh hoạt của con người Trên thế giới ngày càng nhiều học giả, nhà nghiên cứu để ý tới YouTube như một nguồn đề tài khoa học xã hội phong phú cần khai thác Điểm chung của các kết quả nghiên cứu trên là họ đều chỉ ra được các số liệu dẫn chứng tác động của YouTube đến con người, ở một số nghiên cứu cụ thể hơn ảnh hưởng của YouTube tới giới trẻ (nhưng vẫn có hạn chế như nghiên cứu do chính YouTube tổ chức nhưng chỉ khảo sát

nhóm đối tượng nam) Đề tài “Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube trong việc xây

dựng ý thức thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM”, vì vậy,

sẽ phần nào đóng góp thêm thông tin khảo sát và tài liệu cho các nghiên cứu về YouTube sau này, nhất là khi nghiên cứu dùng để đánh giá ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ con người, một khía cạnh còn khá mới về mặt hướng tiếp cận đề tài so với các nghiên cứu trước

3 Giới hạn đề tài:

a Đối tượng: Sinh viên tại một số trường đại học trên địa bàn TP.HCM (độ tuổi từ 18-25)

b Phạm vi nghiên cứu:

- Thời gian: Trong vòng 4 năm trở lại đây (2010-2014)

- Không gian: Các trường đại học trên địa bàn TP.HCM

- Quy mô của mẫu khảo sát: Ba trường đại học làm mẫu đại diện: Đại học Khoa học xã hội nhân văn TP.HCM, Đại học Mở TP.HCM, Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM

4 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:

a Ý nghĩa lý luận:

Từ những nhận định, đánh giá cũng như các số liệu khảo sát có trong nghiên

cứu về “Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube trong việc xây dựng ý thức thẩm

mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM” chúng tôi mong

muốn có thể đóng góp tham luận vào kho đề tài nghiên cứu về mạng xã hội YouTube nói riêng và các trang mạng xã hội nói chung Những đúc kết từ nghiên cứu này cũng có thể là nguồn tài liệu để hỗ trợ về lý thuyết và các số

Trang 11

liệu kiểm chứng cho các tổ chức, cá nhân, công ty quan tâm đến đề tài này có

cơ sở để phát triển các hệ thống hoặc sản phẩm cá nhân có liên quan

b Ý nghĩa thực tiễn:

Đề tài có những thông tin, đúc kết hữu ích tới nhiều đối tượng bạn đọc Các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục có thể tận dụng để hiểu thêm đặc tính ảnh hưởng của các mạng xã hội – một công cụ giao tiếp, sinh hoạt thiết yếu của hầu hết các bạn trẻ hiện nay – tới con em họ nói riêng và học sinh sinh viên nói chung Những người làm truyền thông, báo chí cũng cần quan tâm đến cách thức tương tác mới thông qua các kênh mạng xã hội để giao tiếp với khách hàng của họ thuộc nhóm đối tượng trẻ, qua nghiên cứu này cũng có thể gặt hái được một số kết luận cần thiết Không thể không kể đến bản thân những nhà nghiên cứu để thực hiện các đề tài rộng hơn hoặc chuyên sâu hơn cũng có thể thu hẹp các chất liệu khảo sát dựa trên một số kết luận có sẵn từ đề tài của chúng tôi

5 Phương pháp nghiên cứu:

Chúng tôi thực hiện kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cơ bản để đánh giá, phân tích, tổng hợp các kết luận và số liệu cho đề tài

Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Chúng tôi tiến hành chọn mẫu, lập bảng hỏi và phát khảo sát cho sinh viên ba trường đại học trên địa bàn TP.HCM Bảng hỏi xoay quanh các khía cạnh cần khảo sát về quá trình và mức độ tác động của các video trên YouTube đến đối tượng khán giả sinh viên đại học

Phương pháp phân tích nội dung: Nghiên cứu đến chủ thể là YouTube – mạng

xã hội có lượng đăng tải video lớn nhất thế giới với hơn 300 giờ video được đăng tải lên trang này mỗi phút, tất nhiên, chúng tôi phải đánh giá ảnh hưởng của nó dựa trên không chỉ chất lượng mà chất lượng nội dung của các video Kết hợp với phương pháp khảo sát, chúng tôi có đặt ra hai câu hỏi tình huống đòi hỏi người trả lời phải giải quyết chọn phương án Bằng cách này, nhóm nghiên cứu có thể thẩm định được hiệu quả về mặt nội dung của các video này

Phương pháp tổng hợp: Tham khảo từ các nguồn sách, tư liệu, những nguồn nghiên cứu khác, chúng tôi tổng hợp các thông tin này lại để kết hợp giải quyết các

Trang 12

kết quả khảo sát và đưa ra các đánh giá, kết luận khách quan, chính xác nhất về đề tài

Phương pháp quan sát thực tiễn: Chúng tôi thực hiện các quan sát ngay trên chủ thể nghiên cứu – YouTube Có thể thu về khá nhiều chất liệu thông tin để phân tích bằng cách theo dõi số lượt xem, chất lượng video, nội dung các bình luận trên các video của YouTube Từ các thông tin đó, chúng tôi có thể đưa ra các kết luận chân thực và dễ hiểu, dễ liên kết hơn tới các nhóm đối tượng bạn đọc nghiên cứu

6 Kết cấu của đề tài:

Đề tài “Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube trong việc xây dựng ý thức thẩm mỹ

cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM” được thực hiện gồm 3

chương, chưa kể đến hai phần dẫn luận và kết luận

Chương 1: Mạng xã hội YouTube nhìn từ lý thuyết truyền thông

Chương này nghiên cứu một số học thuyết truyền thông làm nền tảng cho các kết quả nghiên cứu, phục vụ cho việc đánh giá đề tài; đồng thời giải thích một số khái niệm cần biết trong đề tài nghiên cứu như ý thức thẩm mỹ, mạng xã hội,… Bên cạnh

đó, lịch sử của mạng xã hội nói chung và YouTube nói riêng cũng được đề cập như một tiền đề cho các phân tích, nhận định ở những chương sau

Chương 2: Quá trình tương tác của mạng xã hội YouTube với sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM

Nội dung chương 2 đề cập đến con đường mà YouTube gây ảnh hưởng tới sinh viên và ngược lại Các yếu tố định lượng như thời lượng, kênh phương tiện theo dõi hay định tính như niềm tin, mục đích theo dõi của nhóm khách thể khảo sát đều được đưa ra xem xét như một nhân tố dẫn dắt tầm ảnh hưởng của YouTube tới ý thức, quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ của sinh viên

Chương 3: Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube tới ý thức thẩm mỹ của sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM

Chương cuối giải quyết mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu về mạng xã hội YouTube này, đó là kết luận và đánh giá về tầm ảnh hưởng của YouTube tới sinh viên các trường đại học TP.HCM dựa trên các tìm hiểu, khái quát từ hai chương trước, và

Trang 13

từ các manh mối thông tin ở kết quả khảo sát Những ảnh hưởng này đem đến lợi ích hay tác hại gì cho sinh viên, tác động tiêu cực hay tích cực đến quá trình hình thành và phát triển ý thức thẩm mỹ trong sinh viên sẽ được bàn luận ở chương này

Trang 14

Có nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông và truyền thông đại chúng

Theo Từ điển tiếng Việt (2002), truyền thông là quá trình “truyền dữ liệu giữa các

đơn vị chức năng”.10 Truyền thông thường được xem xét như một quá trình truyền đạt thông tin được thực hiện qua ngôn ngữ hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành vi biểu

lộ cảm xúc Nguyễn Văn Hà trong quyển Giáo trình cơ sở lý luận báo chí (2011) thì

giải thích từ truyền thông bằng cách tách ngữ từ Hán Việt: “truyền” có nghĩa là

“chuyển đi, trao cho”, “thông” có nghĩa là “đi suốt qua, hai bên hiểu nhau” Truyền

thông là sự chuyển đi thông điệp đến một đối tượng khiến cho hai bên (người chuyển

và người nhận) có thể hiểu nhau.11

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, truyền thông là “hoạt động truyền đạt

thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó

là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên”.12 Quyển Chân

dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM) (2001) của Trần

Hữu Quang cho biết khái niệm truyền thông, tương ứng với thuật ngữ

“communication” trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một xã hội nào mang tính xã hội.13 Nếu xem xét từ trong tiếng Anh là

“communication”, truyền thông có nghĩa là “quá trình truyền đạt thông tin từ một chủ

Wikipedia, http://vi.wikipedia.org/wiki/Truy%E1%BB%81n_th%C3%B4ng , truy cập ngày 27.2.2015

13 Trần Hữu Quang (2001), Chân dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM), NXB Tổng

hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Trung tâm Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, trang 4

Trang 15

thể phát tin đến các đối tượng khác Đó là sự tác động hoặc trao đổi ý tưởng, quan điểm, thông tin bằng lời nói, chữ viết, ký hiệu…”.14

Trên thế giới, các nhà khoa học đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về truyền

thông Tác giả Frank Dance trong công trình Khái niệm cơ bản về truyền thông (1970)

ghi nhận 15 lý thuyết khác nhau của các học giả thế giới định nghĩa về truyền thông

Đơn cử, công trình trích dẫn định nghĩa của George Herbert Mead, cho rằng truyền

thông thực chất là một sự tương tác Thomas L Friedman thì cho hay với việc là một

hoạt động thực tiễn gắn liền với lịch sử phát triển của nhân loại, truyền thông đang giúp thế giới ngày nay trở nên “phẳng” hơn.15

Với các khái niệm trên, có thể giới thuyết chính xác nhất về truyền thông như

Nguyễn Văn Hà đưa ra trong quyển Giáo trình cơ sở lý luận báo chí (2011): “Truyền

thông là hoạt động có ý thức của con người Đó là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ

thông tin, tình cảm, kỹ năng bằng một hệ thống ký hiệu quy ước nhằm tạo sự liên lạc với nhau để có thể dẫn tới những thay đổi trong nhận thức và hành vi”.16

1.1.2 Phân loại truyền thông và truyền thông đại chúng

Có 4 cách phân loại truyền thông cơ bản:

- Dựa trên chất liệu, phương tiện truyền thông: Theo các phân loại này, các

nhà khoa học chia truyền thông thành hai loại: truyền thông bằng ngôn ngữ (verbal) - tức truyền thông bằng lời nói, chữ viết hay hình ảnh, ký hiệu đã được quy ước - và truyền thông phi ngôn ngữ (non-verbal) – tức truyền thông bằng động tác, cử chỉ hay điệu bộ để biểu hiện một cảm xúc, thái độ nào đó

- Dựa vào số lượng người tham gia truyền thông: Các nhà truyền thông học

Mỹ chia truyền thông thành 5 loại theoc cách này Truyền thông nội nhân (intrapersonal communication) là sự trao đổi thông tin mà không ai khác nhận được thông điệp, ngoại trừ bản thân ta Truyền thông liên cá nhân (interpersonal communication hay point to point communication) là sự trao đổi thông tin giữa hai

Trang 16

người Truyền thông trong nhóm nhỏ (small group communication) là truyền thông diễn ra trong một nhóm dưới 10 người và truyền thông trong nhóm lớn (large group communication) là truyền thông diễn ra trong một nhóm có từ trên 10 người đến vài trăm người Cuối cùng, truyền thông đại chúng (mass communication) là trường hợp truyền thông từ một tổ chức hay cơ quan truyền thông đại chúng đến nhiều người, không có sự phản hồi tức thì của chủ thể tiếp nhận.17

- Dựa vào khung cảnh và bản chất truyền thông: truyền thông được chia ra

làm 4 loại là truyền thông trong tổ chức (organizational communication) diễn ra trong khuôn khổ một cơ quan, đơn vị; truyền thông một chiều (one-way communication) – dạng thức truyền thông chỉ đi từ nguồn đến người nhận; truyền thông hai chiều (two-way communication) – dạng thức truyền thông mà cả hai bên có sự trao đổi thông tin qua lại với nhau và truyền thông liên văn hoá (intercultural communication) – dạng thức truyền thông diễn ra xuyên biên giới, kết nối giữa các quốc gia , các nền văn hoá khác nhau trên toàn cầu

- Dựa vào phương thức truyền thông: Với cách phân loại này, có 3 loại

truyền thông là truyền thông mệnh lệnh (command communication), tức truyền thông một chiều nhằm kiểm soát và dựng lên mối quan hệ bất bình đẳng giữa người phát tin

và người nhận tin; truyền thông dịch vụ (service communication), tức truyền thông mang lại sự giải trí cho người nhận tin trong mối quan hệ cân bằng giữa người nhận tin

và người phát tin; truyền thông liên kết (associational communication), tức phương thức truyền thông diễn ra trong những nhóm hoặc cộng đồng đặc biệt có sự đồng thuận giữa chủ thể phát tin và chủ thể nhận tin

Trong các phương thức nhỏ hơn của truyền thông, phạm vi nghiên cứu này nhắc đến nhiều nhất khái niệm truyền thông đại chúng Theo Trần Hữu Quang,

“truyền thông đại chúng là thuật ngữ được dùng để chỉ một quá trình xã hội: quá trình

truyền tải thông tin một cách rộng rãi ra công chúng”.18 Công chúng ở đây là số đông người vốn không thuần nhất, không có ràng buộc chặt chẽ về mặt tổ chức và gần như

17 Joseph Straubhaar-Robert Larose (2000), Media Now, Third Edition, Wasworth Thomson Learning, trang

20-21 được trích dẫn trong Nguyễn Văn Hà (2011), Sách đã dẫn, trang 18

18 Trần Hữu Quang (2001), Chân dung công chúng truyền thông (qua khảo sát xã hội học tại TPHCM), NXB Tổng

hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Trung tâm Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương, trang 4

Trang 17

không biết nhau Melvin L DeFleur và Everette E Dennis thì định nghĩa truyền thông

đại chúng là “quá trình mà nhà truyền thông chuyên nghiệp sử dụng các phương tiện

truyền thông để phổ biến những thông điệp rộng rãi, nhanh chóng, có tính định kỳ đến một lượng công chúng đông đảo, đa dạng nhằm cố gắng tác động và làm thay đổi cảm xúc, ý nghĩ, hành động của họ”.19

1.2 Cơ chế tác động của truyền thông đại chúng (2)

Theo Từ điển tiếng Việt (2002), cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình được

thực hiện”.20 Đó là một quá trình và cách thức diễn ra hay thực hiện của một hiện tượng

xã hội, quá trình và cách thức ấy bao gồm các công đoạn và mối quan hệ giữa chúng theo một trật tự logic nhằm hướng tới một mục tiêu nào đó Nhắc đến cơ chế tác động của truyền thông đại chúng, cần thiết phải nhắc đến các mô hình khái quát hoá hoạt động của truyền thông, tiêu biểu là mô hình truyền thông đơn giản, mô hình truyền thông của Harold D Lasswell, mô hình truyền thông của Roman Jakobson và mô hình truyền thông của Wilbur Schramm

Cụ thể, mô hình truyền thông của Harold D Lasswell thường được thường nhắc đến

với công thức: “Ai, nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai và nhằm mục đích gì?” (“Who says

what in which channel to whom with what effect?”).21 Theo đó, mô hình truyền thông theo Lasswell như một công thức rút gọn, nhưng vẫn liệt kê được những lĩnh vực cần nghiên cứu của truyền thông như : nghiên cứu về nguồn tin hay người phát tin (“ai nói”); phân tích về nội dung thông tin (“nói cái gì”); nghiên cứu các phương tiện thông tin (“nói qua kênh nào”); nghiên cứu công chúng độc giả hay khán giả (“nói cho ai”); và khảo sát các tác động truyền thông nơi công chúng (“có hiệu quả gì”) Song, giới hạn của công thức này

là tính chất tuyến tính một chiều từ người phát tin đến người nhận tin trong đó người nhận tin dễ được cảm nhận như là một đối tác thụ động Theo Roman Jakobson, truyền thông

21 Wilbur Schramm (1975), Mass Communication, Second Edition, University of Illinois Press, trang 117 được

trích dẫn trong Nguyễn Văn Hà (2011), Sách đã dẫn, trang 30

Trang 18

tác động theo cơ chế trình tự bốn giai đoạn chính như sau gồm phát tin, truyền tin, nhận tin và phản hồi Mối liên hệ giữa cá nhân với xã hội thể hiện qua quá trình truyền thông

Hình 1: Mô hình truyền thông của Roman Jakobson 22

Khác với hai mô hình truyền thông trên, mô hình truyền thông kinh điển SMCR mà Wilbur Schramm công bố năm 1948 được cho là mô hình toàn diện, đầy đủ, có thể áp dụng cho tất cả hình thức truyền thông của nhân loại, kể cả truyền thông trên một trang web Theo mô hình này, trong quá trình truyền thông còn xuất hiện hai khâu trung gian quan trọng là sự Mã hoá và sự Giải mã – hai yếu tố được hình thành vì truyền thông hiện đại phụ thuộc rất nhiều vào các thiết bị điện tử

22

Nguồn: Trần Hữu Quang, Giáo trình Xã hội học về truyền thông đại chúng, Đại học Mở TP.HCM, trang 15

Trang 19

Hình 2: Mô hình truyền thông của Wilbur Schramm công bố năm 1948 23

Nguồn (S) phát ra một thông điệp (M) Thông điệp trên được mã hoá (E) bằng những thiết bị thành một hệ thống ký hiệu ngôn ngữ nào đó (lời nói, âm thanh, hình ảnh…) Thông điệp này được chuyển theo một kênh truyền (C) để đến người nhận (R) Dựa vào các thiết bị và năng lực, kinh nghiệm cá nhân, người nhận giải mã (D) thông điệp (M) mà họ vừa nhận được Mỗi người nhận tiếp nhận thông điệp đó theo cùng một cách nhưng hiểu thông điệp đó khác nhau vì quá trình giải mã phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thiết bị mã hoá, môi trường tự nhiên và xã hội, năng lực chủ quan của người nhận, nội dung thông điệp và người cung cấp thông điệp…

23

Nguồn: Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, trang 26-27

Trang 20

Hình 3: Quá trình giải mã thông tin của công chúng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, tác động đến việc hiểu ý tưởng thông điệp của từng người cũng khác nhau 24

Sau khi nhận thông điệp (M), người nhận (R) thực hiện sự phản hồi – tức một quá trình thông tin mới theo chiều ngược lại để bày tỏ ý kiến, thái độ với người cung cấp thông điệp đó cho họ Đơn cử, nếu xem ti vi, khán giả sẽ phản hồi thông qua hộp thư điện tử, đường bưu điện, đường dây nóng… Vì có sự phản hồi từ phía người nhận (R) ngược lại cho nguồn (S) cung cấp thông điệp (M), hoạt động truyền thông đại chúng là một quá trình khép kín

Từ mô hình trên, có thể thấy truyền thông đại chúng tác động vào xã hội bằng thông tin qua cơ chế sau:

Chủ thể  Thông điệp  Ý thức  Hành vi xã hội  Hiệu quả xã hội

Chủ thể xây dựng thông điệp hàm chứa nội dung thông tin để thông qua các phương tiện truyền thông truyền tải đến công chúng xã hội rộng rãi Quá trình tạo dựng thông điệp bao giờ cũng mang tính khuynh hướng - tức mục đích, quan điểm của

24

Nguồn: Trần Hữu Quang, Giáo trình Xã hội học về truyền thông đại chúng, Đại học Mở TP.HCM, trang 22

Trang 21

chủ thể phát thông điệp luôn luôn ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung

thông tin Điều này, theo Tạ Ngọc Tấn trong quyển Truyền thông đại chúng (2001),

“được thể hiện thông qua cách lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu, trình độ nhận thức,

phương pháp phân tích đánh giá vấn đề và chính kiến phát biểu trực tiếp” Thông tin

sau khi được người nhận tiếp nhận sẽ tác động vào ý thức của họ - nói chung là tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay thay đổi nhận thức, thái độ

cũ Sự thay đổi về ý thức xã hội hình thành sự thay đổi hành vi xã hội, tạo ra hiệu quả

xã hội Vì thông tin họ tiếp nhận được là thông tin có khuynh hướng, hành vi xã hội họ thực hiện sau đó cũng có khuynh hướng Khuynh hướng của các hành vi xã hội bị quy định không chỉ bởi quy mô, tính chất mà còn bởi tính khuynh hướng của thông tin.25

Quyển Giáo trình cơ sở lý luận báo chí (2011) của Nguyễn Văn Hà có đề cập

thêm đến các yếu tố để cơ chế truyền thông đại chúng đạt hiệu quả cao nhất Đây là các yếu tố gắn liền với 5 giai đoạn trong cơ chế tác động của truyền thông đại chúng Thứ nhất, điều kiện tiên quyết để tiến hành hoạt động truyền thông là sự thống nhất về khung văn hoá, ngôn ngữ, chính trị, kinh tế, xã hội giữa người phát và người nhận Thứ hai, cả hai bên phát thông điệp và nhận thông điệp đều cần nỗ lực để tìm hiểu về nhau để nội dung thông điệp được phát hoặc nhận phù hợp với từng đối tượng Thứ

ba, các biện pháp hạn chế, ngăn chặn tạp nhiễu xen giữa quá trình truyền thông cần được lưu ý để sự thống nhất về nội dung thông điệp của người phát và người nhận được đảm bảo Cuối cùng, người làm công tác truyền thông, tức phát đi thông điệp, cần lưu ý thông tin những gì mà công chúng quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để công chúng phản hồi thông tin đó

1.3 Giáo dục ý thức thẩm mỹ nhƣ một chức năng của truyền thông đại chúng

1.3.1 Ý thức thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ và nghệ thuật

Theo trang Từ điển tiếng Việt online (từ-điển.com), thẩm mỹ là danh từ chỉ sự

cảm biết cái đẹp.26 Thị hiếu là sở thích trong mọi lĩnh vực đời sống của các nhân và

tập thể Sở thích của con người rất phong phú, nhiều lĩnh vực: đời sống, đạo đức, tâm

25 Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị Quốc gia, trang 26-27

26 Từ điển từ “thẩm mỹ”, http://www.xn t-in-1ua7276b5ha.com/th%E1%BA%A9m%20m%E1%BB%B9 , truy cập ngày 1.3.2015

Trang 22

hồn và gần như là thói quen của từng người trong sinh hoạt Do đó, thị hiếu thẩm

mỹ là sở thích của con người về phương diện thẩm mỹ Ðó là thái độ tình cảm trước

cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, cái thấp hèn, cái bi, cái hài

Giáo trình môn Mỹ học của Trường đại học Cần Thơ cho biết ý thức thẩm mỹ

là một hình thái ý thức xã hội, có 2 mức độ, cấp độ: tâm lý thẩm mỹ và tư tưởng thẩm

mỹ Tâm lý thẩm mỹ đó là các cảm xúc, tâm trạng, tình cảm thẩm mỹ Ở cấp độ hệ tư tưởng, ý thức thẩm mỹ bộc lộ trong dạng quan điểm, quan niệm, lý luận mỹ học Các

tư tưởng, quan điểm, quan niệm, lý luận mỹ học là một bộ phận hợp thành của thế giới quan (của một nhóm xã hội nào đó, của một giai tầng nào đó) Ý thức thẩm mỹ cũng giống như tất cả các hình thái ý thức xã hội khác mang tính thế giới quan, lịch sử phát triển của tư tuởng mỹ học bộc lộ trong cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật, xét cho cùng nó phản ánh cuộc đấu tranh của các lực lượng xã hội thù địch Ý thức thẩm mỹ luôn luôn được các nhà tư tưởng gắn với mục đích và nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội

Ngoài ra theo định nghĩa và phân loại của Tiến sĩ Phạm Quang Trung trong cuốn “Mỹ học”, ông chia ý thức thẩm mỹ ra làm hai loại: ý thức thông thường và ý thức lý luận Trong đó, ý thức thông thường là dạng biểu hiện phổ biến hơn của ý thức

thẩm mỹ Ông phát biểu: “Ý thức thẩm mỹ có thể xuất hiện trong mọi hành vi thẩm mỹ

tích cực của con người… Ý thức thẩm mỹ của thời đại được biểu hiện qua tính đa dạng của ý thức thẩm mỹ cá nhân, chi phối ở một mức độ nhất định đối với ý thức thẩm mỹ

cá nhân” 27Như vậy, khi đặt vấn đề ảnh hưởng của YouTube tới ý thức thẩm mỹ của nhóm đối tượng sinh viên, ta cần phải xem xét cả hai mặt vấn đề từ ý thức thẩm mỹ, hệ quan điểm cá nhân của mỗi người cho đến ý thức thẩm mỹ xã hội nơi mà họ sinh sống Qua đó để thấy được rằng, họ đã chịu những tác động nào từ hệ ý thức thẩm mỹ xã hội

và sự giao thoa giữa thẩm mỹ xã hội đó và ảnh hưởng của YouTube ra sao

Về khái niệm nghệ thuật, hiện nay được dùng với 3 nghĩa:

- Nghệ thuật được dùng để chỉ bất kì tài nghệ nào Chẳng hạn: tài nghệ của cầu thủ đá bóng, tài nghệ lái máy bay, tài nghệ phẫu thuật, tài nghệ chơi cờ, tài nghệû quân

sự (nghệ thuật quân sự của Ðảng ta, chẳng hạn).v.v

27

PSG.TS Phạm Quang Trung, Mỹ học, NXB Khoa học xã hội, Tr 41 & 42

Trang 23

- Nghệ thuật được dùng để chỉ hoạt động sáng tạo ra vật dụng, mà ở đấy đẹp nổi lên như một yêu cầu dứt khoát phải có, thậm chí nhiều khi là hàng đầu Ví dụ, hoạt động sáng tạo ra các đồ dùng thủ công mĩ nghệ, sản xuất cây cảnh, thiết kế trang phục.v.v

- Nghệ thuật được dùng để chỉ một hình thái ý thức xã hội đặc thù, một hình thái cao nhất, tập trung nhất của quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực Hình thái ấy có sự kết hợp hữu cơ, liên tục giữa tư duy bằng hình tượng và hoạt động sáng tạo thế giới theo quy luật của cái đẹp nhận thức Chẳng hạn, các tác phẩm âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, văn chương nghệ thuật.v.v

Theo đó, nghệ thuật có 3 chức năng: Chức năng nhận thức cuộc sống, chức

năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ Trong các hình thái con người đồng hóa tự

nhiên về mặt thẩm mỹ thì nghệ thuật là hình thái cao nhất, tập trung nhất, đầy đủ nhất của quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực Nói như thế có nghĩa là, con người, trong hoạt động thực tiễn của mình, bao giờ cũng sáng tạo thế giới theo quy luật của cái đẹp

Không chỉ nghệ thuật, mà bất kỳ hoạt động thực tiễn vật chất nào của con người cũng đều có ý nghĩa thẩm mỹ Tuy vậy, phải nhận rằng cái đẹp trong nghệ thuật là tập trung nhất, là mãnh liệt nhất, là biểu hiện cao nhất của quan hệ thẩm mỹcủa con người đối với hiện thực Trong đời sống tinh thần của con người thì nghệ thuật đảm đương trọng trách biểu hiện và truyền thụ cái đẹp Những hình thái ý thức khác của xã hội như triết học, khoa học, v.v đều có chức năng nhận thức và giáo dục của nó Nhưng chỉ có trong nghệ thuật, chức năng thẩm mỹ mới được đặt ra một cách bắt buộc Chức năng thẩm mỹ của nghệ thuật bộc lộ ở chỗ: làm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ, phát triển năng lực, thị hiếu thẩm mỹ của con người Cũng tức là, nghệ thuật làm thỏa mãn nhu cầu về lý tưởng, ước mơ, sự hoàn thiện hoàn mỹ của con người trước thế giới Ngược lại, nghệ thuật phát huy tác dụng chức năng thẩm mỹ đối với con người bằng cách rèn luyện năng lực thẩm mỹ cho con người trên rất nhiều bình diện Nghệ thuật làm cho cảm xúc thẩm mỹ của con người ngày một tinh tế Do tiếp xúc với nghệ thuật mà các giác quan của con người tinh tế, nhạy bén, đưa đến khả năng cảm thụ nhiều hơn, lớn hơn Ví dụ: giữa tai người không sành nhạc và sành nhạc, có tiếp xúc rèn luyện nhiều

Trang 24

trong môi trường âm nhạc Người sành nhạc có lỗ tai có khả năng thẩm âm tốt hơn người không sành nhạc

Ngoài ra, nghệ thuật còn đào luyện năng khiếu thẩm mỹ, tức là tạo ra năng lực sáng tạo, đánh giá các đẹp ở con người Năng lực thẩm mỹ là một sự trao truyền, học tập lẫn nhau qua nhiều thế hệ Không ai có thể sáng tạo hay thưởng thức được nghệ thuật nếu chưa hề biết đến nghệ thuật và chỉ có tôi luyện trong nghệ thuật thì năng lực nghệ thuật mới phát triển Nghệ thuật hun đúc cho con người khả năng cảm thụ tinh tế, đánh giá chính xác cái đẹp trong cuộc sống, đồng thời, hình thành cho con người một nhận thức sâu sắc về cái đẹp Nói cách khác, nghệ thuật xây dựng cho con người quan điểm thẩm mĩ, thái độ thẩm mĩ một cách sinh động và sâu sắc Tóm lại, thưởng thức

nghệ thuật đồng thời là sự tiếp nhận giáo dục về nghệ thuật

1.3.2 Các chức năng của truyền thông

Nguyễn Văn Hà trong Giáo trình Cơ sở lý luận báo chí (2011) thì cho rằng truyền thông đại chúng, mà cụ thể là báo chí có 5 chức năng chính: Chức năng thông tin – giao tiếp, chức năng tuyên truyền – giáo dục, chức năng giám sát – quản lý xã hội, chức năng chuyển giao, phát triển văn hoá, chức năng thư giãn – giải trí Theo

quyển Truyền thông đại chúng (2001) của Tạ Ngọc Tấn, truyền thông có 4 chức năng

chính: Chức năng tư tưởng, chức năng giám sát – quản lý xã hội, chức năng văn hoá

và các chức năng khác (như giải trí, dịch vụ, kinh doanh…)

Thứ nhất, chức năng tư tưởng của truyền thông đại chúng được thực hiện là nhờ

“sức mạnh và những khả năng to lớn để giải quyết các nhiệm vụ công tác tư tưởng

trên phạm vi toàn xã hội” Sức mạnh đó thể hiện ở chỗ các phương tiện truyền thông

đại chúng là công cụ duy nhất có thể tác động đồng thời, nhanh chóng đến từng thành viên xã hội, liên kết các thành viên xã hội thông qua việc truyền tải các giá trị văn hoá tích cực Tạ Ngọc Tấn so sánh truyền thông đại chúng như vừa đóng vai trò một môi trường sư phạm, người thầy, vừa đóng vai trò một người bạn, một môi trường văn hoá đối với mỗi người dân Nhờ chức năng tư tưởng, truyền thông đại chúng mạng đến cho công chúng những tri thức sâu sắc, vốn hiểu biết phong phú, cơ hội nghỉ ngơi, thư giãn hay trở thành cầu nối các mối quan hệ giữa những con người với nhau Truyền thông đại chúng thực hiện chức năng đầu tiên này theo các phương hướng sau: hướng dẫn và hình thành dư luận xã hội tích cực, đúng đắn trên cơ sở thông tin nhanh chóng, đầy đủ

Trang 25

và phong phú về các sự kiện thời sự, các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội; giáo dục chính trị - tư tưởng, trang bị những tri thức cần thiết làm cơ sở, điều kiện cho việc hình thành chất lượng nội tại về chính trị - tư tưởng, tạo lập cho công chúng một thế giới nhân sinh quan đúng đắn toàn diện

Thứ hai, chức năm giám sát và quản lý xã hội của truyền thông đại chúng là “sự

theo dõi, phát hiện, cảnh báo những vấn đề mới nảy sinh, giúp xã hội đề phòng hay xử

lý kịp thời, có hiệu quả” và “sự tác động, thúc đẩy làm cho mọi tiến trình, mọi yếu tố hợp thành của xã hội có thể vận động, phát triển phù hợp với mục đích, mang lại hiệu quả tốt đẹp” Giám sát và quản lý được coi như là hai mặt của một vấn đề cùng đảm

bảo sự phát triển hợp lý và tích cực của xã hội Nói cách khác, truyền thông đại chúng tác động vào đời sống xã hội, thúc đẩy nó vận động theo mục đích đã định Truyền thông đại chúng thực hiện chức năng này theo 3 bước Trước hết là giám sát sự vận hành của các tiến trình chính trị, kinh tế, xã hội để phát hiện, cảnh báo kịp thời những nguy cơ, khó khăn phức tạp ảnh hưởng đến sự phát triển chung Truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo in, phát thanh, truyền hình trong lúc này không chỉ có vai trò như người phản biện đối với việc thực thi nhiệm vụ của các cơ quan, cá nhân nắm giữ quyền lực trong xã hội, mà còn có vị trí như một toà án công luận, một thứ quyền lực dân chủ của nhân dân Sau đó, truyền thông đại chúng tham gia vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước trên phạm vi xã hội hay trong các lĩnh vực cố định Đây là quá trình tác động hợp lý vào các tiến trình xã hội nhằm đạt được hiệu quả phát triển tích cực Song, truyền thông đại chúng chỉ là một kênh tham gia sự quản lý này Nó có vai trò như một hệ thống xã hội cung cấp thông tin, dữ liệu cho chủ thể quản lý xã hội Cuối cùng, truyền thông đại chúng với chức năng giám sát, quản lý xã hội trở thành một diễn đàn dân chủ, động viên, tổ chức cho nhân dân tham gia quản lý xã hội Truyền thông đại chúng là phương tiện quan trọng, có sức mạnh trong việc tổ chức thực hiện mục tiêu dân chủ hoá, tạo ra các điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực sự tham gia vào các tiến trình chính trị - xã hội, góp sức lực và tài năng để giải quyết các vấn đề chung của quốc gia, của dân tộc

Thứ ba, truyền thông đại chúng có chức năng văn hoá vì là một phần của đời sống văn hoá xã hội hiện đại, có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển văn hoá xã hội Chức năng văn hoá của truyền thông đại chúng là việc nâng cao trình

Trang 26

độ hiểu biết chung của nhân dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp, hình thành và không ngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội Nội dung trước hết trong chức năng văn hoá của truyền thông đại chúng là các hoạt động nhằm nâng cao hiểu biết cho công chúng Trong chức năng văn hoá cũng bao hàm chức năng giáo dục của truyền thông khi nó cũng trang bị những kiến thức phổ thông, các kinh nghiệm sống, kiến thức luật phát, hiểu biết chính trị - xã hội cho người dân

Ngoài 3 chức năng trên, truyền thông đại chúng còn có những chức năng xã hội khác như kinh doanh, giải trí, dịch vụ Trong kinh doanh, sản phẩm truyền thông đại chúng được xem là hàng hoá, lưu thông trong xã hội thông qua cách bán trực tiếp, bán theo địa chỉ đặt hàng, bán theo quy ước tiêu thụ Đây là phương thức phát hành Sản phẩm truyền thông đại chúng trở thành phương tiện kinh doanh siêu lợi nhuận khi thực hiện quảng cáo bán hàng Trong giải trí, truyền thông đại chúng đáp ứng nhu cầu phong phú, sinh động và cấp thiết của công chúng Truyền thông đại chúng thực hiện chức năng này bằng nhiều hình thức, mức độ khác nhau và tuỳ theo đặc điểm của từng loại hình phương tiện Cuối cùng, truyền thông đại chúng tham gia giải quyết một số dịch vụ của xã hội hiện đại như giao tiếp, tư vấn, dịch vụ thương mại…

1.3.3 Chức năng giáo dục của truyền thông

Với độ bao phủ rộng, tiếp cận và tác động được đến một lượng lớn người dân hay công chúng, truyền thông đại chúng thực hiện chức năng giáo dục hiệu quả Đối tượng và phạm vi tuyên truyền – giáo dục của truyền thông đại chúng rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực, hướng đến nhiều loại công chúng khác nhau Chức năng giáo dục của truyền thông có thể được thực hiện một cách tinh vi, kín đáo, lâu dài hoặc thể hiện

rõ ràng, dễ nhận thấy Trong môi trường mạng xã hội, chức năng giáo dục của truyền thông có khả năng làm thay đổi nhận thức, chuyển biến thế giới quan, điều chỉnh hành

vi và lối sống của con người theo hướng có thể tích cực hoặc tiêu cực Lý do là vì chức năng giáo dục của truyền thông đại chúng trong môi trường mạng xã hội không bị kiểm soát gắt gao như trên báo chí như phát thanh, báo in hay truyền hình Trong các nội dung giáo dục của truyền thông, nhất thiết phải nhắc đến nội dung giáo dục thẩm

mỹ

Trang 27

1.4 Mạng xã hội - một kênh truyền thông đặc biệt

1.4.1 Khái niệm mạng xã hội

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “mạng xã hội hay mạng xã hội ảo

(social network trong tiếng Anh) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian Những người tham gia vào mạng xã hội được gọi là cư dân mạng”.28 Còn theo báo cáo của nghiên cứu của Danah M Boyd và Nicole B Ellison29 thì mạng xã hội là các trang web cho phép các cá nhân hay tổ chức kiến tạo một hồ sơ công khái hay bán công khai với một hệ thống trợ thông tin đầy đủ Đồng thời, các trang này cũng luân phiên tạo cơ hội cho các kết nối thứ cấp với những người khác trong mạng lưới người quen của chủ tài khoản bằng cách cho họ xem các thông tin cần thiết của những người bạn muốn kết nối Sự đa dạng và cách thức vận hành kết nối của từng trang phụ thuộc vào tính chất, tôn chỉ xây dựng kết nối của mỗi trang đó

Mạng xã hội có những tính năng như trò chuyện trực tuyến, gửi – nhận thư điện

tử, phim ảnh, trò chuyện trực tuyến bằng âm thanh, video, chia sẻ file, hình ảnh….30Các dịch vụ này có nhiều phương cách để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác: dựa theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ hộp thư điện tử hoặc tên hiển thị), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm: kinh doanh, mua bán Cuốn

Phân tích mạng xã hội dựa trên khoa học xã hội và hành vi (1994) của Wasserman,

Stanley; Faust, Katherine thì định nghĩa “mạng xã hội là một cấu trúc xã hội cấu

thành bởi các yếu tố xã hội (ví dụ như các cá nhân hoặc tổ chức) kết hợp cùng các mối quan hệ kết nối các yếu tố này với nhau”.31

Danah M.Boyd & Nicole B.Ellison (2007), Social Network Sites: Definition, History and Scholarship, University

of California Berkely & Michigan State University, pp 211

30 International Network for Social Network Analysis, http://www.insna.org , truy cập ngày 28.2.2015

31 Wasserman, Stanley; Faust, Katherine (1994), Social Network Analysis in the Social and Behavioral Sciences.,

Social Network Analysis: Methods and Applications, Cambridge University Press, trang 27

Trang 28

Cũng theo Wikipedia, hiện nay thế giới có hàng trăm mạng mạng xã hội khác nhau MySpace32, Twitter33, Facebook34, YouTube35 và Instagram36 nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu Orkut37 và Hi538 tại Nam Mỹ và Friendster39 tại Châu Á cùng các đảo quốc Thái Bình Dương Ngoài ra, còn nhiều mạng xã hội khác thành công ở vùng miền như Bebo40 tại Anh Quốc, CyWorld41 tại Hàn Quốc, Mixi42tại Nhật Bản và Zing Me43 tại Việt Nam

Thể theo sự ra đời của các trang mạng xã hội theo thời gian, biểu đồ dưới đây minh họa thứ tự xuất hiện của một số trang mạng xã hội phổ biến hiện nay trên cột thời gian trong gần hai thập kỷ trở lại đây

Trang 29

Hình 4: Biểu đồ thời gian ngày ra đời của một số trang mạng xã hội lớn và ngày xuất hiện phiên bản mạng xã hội của một số trang web, theo báo cáo của Danah M Boyd 44

1.4.2 Phân loại

Có nhiều ý kiến khác nhau về cách phân loại mạng xã hội: dựa trên trọng tâm của mạng xã hội hoặc dựa trên chức năng mà các mạng xã hội cung cấp cho người dùng Trong giới hạn nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến cách phân loại mạng xã hội dựa trên mục đích sử dụng của người dùng được nhà nghiên cứu Eric K Clemons thuộc đại học Pennsylvania (Mỹ) đưa ra năm 2009 Các phân loại này phát triển từ việc so sánh nét tương đồng giữa mạng xã hội trong thực tế cuộc sống và mạng xã hội

44 Danah M.Boyd & Nicole B.Ellison (2007), Social Network Sites: Definition, History and Scholarship, University

of California Berkely & Michigan State University, pp 212

Trang 30

trực tuyến (tức các mạng xã hội được đề cập ở mục 1.4.1)45 Theo đó, mạng xã hội có

6 loại căn bản:

- Mạng xã hội dùng để giải trí đơn thuần: Người sử dụng tìm đến các trang

mạng xã hội này chỉ để giải trí Điển hình cho loại này có trang Second Life (Mỹ)46, hoặc VinaGame (Việt Nam)47 và Garena (Singapore)48

- Mạng xã hội dùng để kết nối: Người dùng các mạng xã hội dạng này tìm

kiếm sự kết nối với người thân, đồng nghiệp, bạn bè Facebook, MySpace (Mỹ) hay YuMe, ZingMe (Việt Nam) là các ví dụ cho loại mạng xã hội này

- Mạng xã hội dùng để chia sẻ thông tin: Đây là những mạng xã hội liên kết

một cộng đồng có cùng mối quan tâm đến một vấn đề nào đó Ví dụ yelp.com (Mỹ)49hoặc thodia.vn (Việt Nam) là nơi cộng đồng chia sẻ thông tin đánh giá về những nôi

mà cư dân trong cộng đồng quan tâm và thương lui tới (nhà hàng, siêu thị…); Trip Advisor50 là cộng đồng dành cho những người thích du lịch

- Mạng xã hội dùng để chia sẻ thông tin dành cho giới chuyên gia: Người

dùng các trang mạng xã hội này thường tìm kiếm sự kết nối dựa trên các nội dung liên quan đến học thuật, nghề nghiệp, việc làm Điển hình cho loại này là LinkedIn (Mỹ)51, XING (Đức)52 và CyVee (Việt Nam)53

45

Eric K Clemons (2009), The complex problem of monetizing virtual electronic social networks, Elsevier B.V.,

được trích dẫn tại địa chỉ http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0167923609001298 , truy cập ngày 28.2.2015

46 Second Life, http://secondlife.com

47 Vina Game, http://vn.vinagames.com

Trang 31

- Mạng xã hội dùng để tìm sự hỗ trợ hoặc hỗ trợ cộng đồng: Các mạng xã

hội dạng này thường nhắm đến những nhóm đối tượng cụ thể hoặc đặc biệt Webtretho.com và otosaigon.com là hai trong số các mạng xã hội dạng này

- Mạng xã hội dùng để giải trí và tạo, quản lý nội dung: Các mạng xã hội

này cho phép người dùng tạo nội dung riêng, chia sẻ nội dung đó và kết nối với những người khác với mục đích giải trí YouTube, Flickr54, WordPress (Mỹ)55 hay VN Photo (Việt Nam)56 là các ví dụ cho dạng mạng xã hội này

1.4.3 Đặc trƣng (1)

Theo trang Easy Media, các trang mạng xã hội – nền tảng để cư dân mạng có thể kết nối theo từng mục đích khác nhau - có 8 đặc trưng cơ bản Thứ nhất, các trang mạng xã hội cung cấp cho từng tài khoản sử dụng một không gian mạng miễn phí để người dùng có thể đăng tải nội dung họ mong muốn Thứ hai, mỗi tài khoản mới được tạo đồng nghĩa với việc một đường link địa chỉ trang web mới sẽ được mở Như vậy,

dù là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức, mỗi tài khoản sử dụng đều có thể dùng trang web riêng của họ trên mạng xã hội đó để làm địa chỉ liên lạc hay kinh doanh Tiếp theo, người dùng mạng xã hội đều được yêu cầu tạo một tiểu sử cá nhân Dữ liệu từ người dùng sẽ được trang mạng xã hội dùng để kết nối họ với những người chia sẻ chung tình trạng Thứ tư, tất cả tài khoản đều có thể đăng tải thông điệp chữ viết, hình ảnh, âm thanh và đôi khi cả video đi kèm với phương thức trả phí hoặc không Các dữ liệu từ người dùng tải lên có thể được tuỳ chọn chia sẻ công khai hoặc không Thứ năm, các nội dung từ người dùng tải lên có thể được các thành viên khác có tham gia mạng xã hội đó theo dõi, nhận xét hoặc bình luận (nếu nhận được sự cho phép của chủ nhân nội dung) Nội dung được đăng tải lên mạng xã hội có thể được gắn thẻ bởi một bên thứ ba (ví dụ như một người dùng khác hoặc một nhóm thích nội dung đó) Hầu hết các mạng xã hội đều cung cấp chế độ trò chuyện trực tuyến, đó là đặc trưng tiếp theo Thứ bảy, với đường link trang web riêng biệt, các tài khoản đăng ký sử dụng một mạng xã hội có thể gửi thư điện tử đến nhau Mạng xã hội đó đôi khi cũng gửi thư điện

Trang 32

tử thông báo đến cho người dùng Cuối cùng, tất cả các mạng xã hội đều cho phép người dùng lập một trang riêng để kinh doanh có trả phí hoặc không.57

1.5 Mạng xã hội YouTube

1.5.1 Lịch sử hình thành

Tờ USD Today cho biết YouTube (YouTube.com) là một trang mạng xã hội nơi

người dùng có thể tải lên, xem hoặc chia sẻ video, do ba nhân viên cũ của PayPal là Chad Hurley, Steve Chen và Jawed Karim lập ra Ý tưởng về YouTube ra đời trong một bữa tiệc tối tại thành phố San Francisco (Mỹ) khoảng 1 năm trước ngày ra mắt chính thức 14.2.2005 của trang mạng xã hội này.58 Dịch vụ YouTube đặt trụ sở tại thành phố San Bruno, bang California (Mỹ) và sử dụng công nghệ Adobe Flash để hiển thị nhiều nội dung video khác nhau, bao gồm những đoạn phim, đoạn chương trình TV và video nhạc, cũng như những phim nghiệp dư như videoblogging (hay còn gọi là Vblog, một dạng blog làm bằng video) và những đoạn video gốc chưa qua xử lý Giống như nhiều công ty công nghệ mới thành lập, YouTube khởi đầu với một công ty đầu tư mạo hiểm từ một văn phòng tạm thời ở một ga-ra xe Vào tháng 11.2005, công

ty đầu tư Sequoia Capital đầu tư một lượng tiền khởi đầu là 3,5 triệu USD Sau đó, Roelof Botha - người cộng tác của công ty và là cựu CFO của PayPal - đã gia nhập ban giám đốc của YouTube Vào tháng 4.2006, Sequoia đặt thêm 8 triệu USD vào công ty này.59

Tháng 6.2006, kênh CNN đưa tin Google đạt được thỏa thuận để mua lại công

ty này với giá 1,65 tỷ USD bằng cổ phiếu Google.60 Thỏa thuận được ký kết vào ngày 13.11.2006, theo hãng tin Reuters.61 Trước khi được bán cho Google, YouTube đã

http://usatoday30.usatoday.com/tech/news/2006-10-11-59 Wikipedia, http://en.wikipedia.org/wiki/History_of_YouTube , truy cập ngày 28.2.2015

60 Google to buy YouTube for $1.65 billion,

http://money.cnn.com/2006/10/09/technology/googleYouTube_deal/index.htm?cnn=yes , truy cập ngày 28.2.2015

61 Google closes $A2b YouTube deal, deal/2006/11/14/1163266548827.html , truy cập ngày 28.2.2015

Trang 33

http://www.theage.com.au/news/Busness/Google-closes-A2b-YouTube-công khai mô hình kinh doanh là dựa trên quảng cáo, lợi nhuận 15 triệu USD một năm Sau khi thuộc về Google, YouTube bắt đầu kinh doanh tốt hơn và có nhiều quy tắc rõ ràng hơn đặt ra cho người sử dụng mạng xã hội này Người dùng không đăng ký vẫn có thể xem được hầu hết video ở trang, còn người dùng đăng ký được phép tải lên

số lượng video vô hạn Một số video chỉ dành cho người dùng trên 18 tuổi (ví dụ video

có chứa những nội dung có khả năng khiêu dâm, mang tính bạo lực hay xúc phạm) Việc tải nội dung khiêu dâm quá mức thì không được phép Những video có liên quan đến nhau, được xếp theo tựa đề và thẻ đánh dấu, xuất hiện ở phía bên phải video đang xem Trong năm 2006, mạng xã hội YouTube đã thêm vào những chức năng giúp tăng thêm những chức năng cho người dùng như tải lên những đoạn video “trả lời” và đăng

ký nhận nội dung vắn tắt.62

Vào ngày 19.6.2007, Eric E Schmidt cho ra mắt một hệ thống địa phương hóa mới tại Paris (Pháp) Toàn bộ giao diện của trang web hiện đã có những phiên bản địa phương hóa với ngôn ngữ riêng ở một số nước như http://jp.YouTube.com/ tại Nhật Bản, http://kr.YouTube.com/ ở Hàn Quốc, http://mx.YouTube.com/ ở Mexico, http://es.YouTube.com/ tại Tây Ban Nha, http://se.YouTube.com/ tại Thụy Điển, http://uk.YouTube.com/ ở Anh Quốc… Với việc địa phương hoá trang mạng xã hội, YouTube nhắm đến việc cạnh tranh với những trang web chia sẻ video địa phương sẵn

có ở những quốc gia trên Bằng nhiều nỗ lực gầy dựng thương hiệu mạng xã hội video lớn nhất thế giới trên, đến tháng 3 năm 2010 YouTube đã tiến gần danh hiệu đó với số liệu thống kê 24 giờ video được đăng tải lên trang web mỗi phút63 Con số này được

dự đoán sẽ còn tiếp tục tăng cao những năm sau

Bên cạnh đó, bằng các công nghệ khảo sát và đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng, YouTube nắm bắt rất nhanh lẹ những yêu cầu thay đổi của người dùng và liên tục chuyển hóa diện mạo, nội dung để nâng cấp các tiện ích và lôi kéo được nhiều người dùng hơn Đơn cử là sự thay đổi ở phương thức giao diện của YouTube Nếu năm 2010 khi YouTube vẫn còn trang giao diện chung ở một số nước và trang chủ vẫn

Trang 34

còn hiển thị khá ít video, thì đến năm hai năm gần đây quá trình địa phương hóa đã được cải thiện với phiên bản logo YouTube VN (YouTube Việt Nam) và trang chủ dành nhiều không gian hơn đề xuất các video đáng xem Sự chuyển hóa này đánh dấu mức độ chuyên nghiệp và khả năng thích ứng nhanh của trang mạng xã hội này

1.5.2 Đặc điểm và quy mô của kênh truyền thông YouTube

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, trước khi YouTube xuất hiện vào năm

2005, có rất ít phương pháp dễ dàng cho người dùng máy tính thông thường tải lên những đoạn video trực tuyến Bằng giao diện đơn giản, YouTube khiến cho bất cứ ai cũng có thể gửi lên một đoạn video mà mọi người trên thế giới có thể xem được trong vòng vài phút, chỉ với một kết nối Internet Các chủ đề với lĩnh vực đa dạng mà YouTube bao trùm đã khiến cho việc chia sẻ video trở thành một trong những phần quan trọng nhất của việc trao đổi trên Internet

Hình 5: Giao diện YouTube chụp vào năm 2010

Hình 6: Giao diện YouTube chụp vào năm 2015

Trang 35

YouTube đã có được một sự tăng trưởng về mặt đại chúng cực nhanh, chủ yếu nhờ vào sự truyền miệng trên mạng Trang web đạt được sự phổ biến từ ban đầu khi

nó lưu trữ chương trình truyền hình ngắn như Lazy Sunday của Saturday Night Live Trong mùa hè năm 2006, YouTube là một trong những trang web phát triển nhanh nhất trong cộng đồng Web, được xếp hạng thứ 5 trong những trang web phổ biến nhất trên Alexa với tốc độ tăng trưởng nhanh hơn MySpace.64 Theo cuộc điều tra vào ngày 16.7.2006, 100 triệu video được xem hàng ngày trên YouTube, cộng thêm 65.000 video mới được tải lên mỗi ngày.65 Trang web có trung bình 20 triệu lượt truy cập mỗi tháng, theo Nielsen/NetRatings Trong số đó, khoảng 44% là nữ giới, 56% là nam giới

và độ tuổi 12 đến 17 chiếm ưu thế.66

Năm 2008, YouTube được trao một giải thưởng Peabody Award và được biểu dương vì đã trở thành “một góc dư luận, góp phần cụ thể hóa và xúc tiến nền dân chủ” Tuy nhiên, chính sách chính thức của YouTube ngăn cấm việc truyền lên những tài liệu có bản quyền, nhiều kênh truyền hình khác cũng kêu gọi trang mạng xã hội thực thi điều này Vào tháng 2.2006, NBC đã yêu cầu loại bỏ một số nội dung có bản quyền của họ ra khỏi YouTube, trong đó có đoạn phim Lazy Sunday và Thế vận hội 2006 Mặc dù YouTube đã thỏa mãn yêu cầu của NBC, tình tiết này đã tạo nên một tin tức nóng hổi, khiến cho trang mạng xã hội ngày càng trở nên phổ biến Do sự phổ biến của YouTube, NBC vào tháng 6.2006 tuyên bố một sự hợp tác chiến lược với trang mạng

xã hội này.67 Theo thỏa thuận này, kênh NBC chính thức được cài đặt trên YouTube CBS, Universal Music Group, và Sony BMG Music Entertainment và một số kênh truyền hình, hãng giải trí khác sau đó cũng có động thái tương tự.68

64

YouTube Fastest Growing Website,

http://adage.com/article/digital/YouTube-fastest-growing-website/110632/ , truy cập ngày 28.2.2015

65

YouTube serves up 100 million videos a day online, YouTube-views_x.htm , truy cập ngày 28.2.2015

http://usatoday30.usatoday.com/tech/news/2006-07-16-66

Thông cáo báo chí: YouTube U.S Web Traffic Grows 17 Percent Week Over Week 2006, Nielsen//Netratings

Netratings, Inc., Nielsen Media Research

67 Thông cáo báo chí: NBC And YouTube Announce Strategic Partnership, YouTube (Press Room) 2006

68 YouTube aims to show music videos, http://news.bbc.co.uk/2/hi/entertainment/4798133.stm , truy cập ngày 28.2.2015

Trang 36

1.5.3 Nội dung truyền thông trên YouTube:

Có thể phân loại nội dung truyền thông trên YouTube theo ba cách: Phân loại theo chủ thể thực hiện video, phân loại theo hình thức thực hiện video và phân loại theo nội dung thực hiện video

1.5.3.1 Phân loại theo chủ thể thực hiện sản phẩm

Theo cách phân loại này, các video trên trang mạng xã hội YouTube được chia

ra làm 2 loại: các video được thực hiện bởi một nhóm, một tập thể hoặc một tổ chức, doanh nghiệp… và các video được thực hiện bởi một cá nhân Thông thường, các video được thực hiện bởi một nhóm, tổ chức, doanh nghiệp hay cộng đồng có tính chuyên nghiệp cao hơn, thời lượng dài hơn và thu hút được nhiều lượt xem hơn Song, các video được thực hiện bởi các cá nhân thường có tính sáng tạo, độc đáo và chân thật

1.5.3.2 Phân loại theo hình thức thực hiện

Theo cách phân loại này, các video trên trang mạng xã hội YouTube được chia

ra làm 4 loại: các video là một bộ phim hoặc MV ca nhạc mang tính chuyên nghiệp, các video là một chương trình được dàn dựng kỹ lưỡng theo nhiều chủ đề khác nhau, các video là một trang nhật ký cá nhân video, được quay dưới dạng có chuẩn bị trước

và các video vô tình ghi được, có nội dung đa dạng và không được dàn dựng kỹ lưỡng Cách phân loại này cho thấy mức độ phong phú của các video có sẵn trên trang mạng

xã hội chia sẻ video YouTube hiện nay

1.5.3.3 Phân loại theo nội dung thực hiện

Theo cách phân loại này, các video trên trang mạng xã hội YouTube được chia

ra làm 3 loại: các video có nội dung thông tin, truyền thông, các video có nội dung khoa học – giáo dục và các video có nội dung giải trí Cách phân loại này cho thấy các video trên YouTube hiện nay đa dạng về chủ đề, đề tài, nội dung, cách thể hiện và do

đó, cũng đáp ứng đầy đủ nhu cầu giải trí hoặc thông tin của người sử dụng trang mạng

xã hội này

Trang 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Cùng với sự phát triển của phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại, mạng xã hội dần trở nên đa dạng và phổ biến Sự xuất hiện của chúng thay đổi diện mạo chung của cuộc chơi giao tiếp và truyền thông, cung cấp cho người dùng các mạng lưới kết nối đa dạng và đồng thời ảnh hưởng đến xu hướng tiếp cận thông tin của công chúng

YouTube cũng không là trường hợp ngoại lệ, đặc sắc hơn nó còn là mạng xã hội video lớn nhất thế giới Mang những đặc tính riêng của một mạng xã hội kết nối và chia sẻ video, YouTube kiến tạo nhiều ảnh hưởng tới người dùng trong gần hai thập kỷ trở lại đây Nói cách khác, YouTube với vai trò là một trang mạng xã hội lớn đã góp phần thay đổi thói quen chia sẻ ý kiến, ý tưởng cá nhân của công chúng trên toàn thế giới trong suốt thời gian hiện hành Bằng chứng rõ nét nhất là YouTube dần trở thành một kênh truyền thông hiệu quả của các tổ chức, cá nhân Phương pháp truyền thông

cũ được trang mạng xã hội này vận dụng triệt để, không những còn phát huy thế mạnh tương tác đa chiều với người dùng Mối quan hệ giữa người dùng với người dùng, giữa YouTube với những người sử dụng triệt để hóa vai trò cần có của một phương tiện truyền thông kỷ nguyên mới

Mang hai vai trò lớn, vừa là mạng xã hội vừa là kênh truyền thông giao tiếp, với tầm cỡ của mình YouTube có thể tác động nhiều đến thói quen, thái độ, niềm tin khi tiếp cận thông tin, chia sẻ quan điểm của công chúng Cảm quan và đạo đức thẩm mỹ

vì thế cũng bị ảnh hưởng không nhỏ, nhất là khi ý thức thẩm mỹ cá nhân qua sự khuếch tán mạng lưới mối quan hệ của YouTube, trước đây vốn đã dễ chịu tác động bởi ý thức thẩm mỹ tập thể nay càng nhận nhiều ảnh hưởng hơn

Trang 38

Chương 2:

Quá trình tương tác giữa mạng xã hội YouTube với sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM 2.1 Quy trình chọn mẫu đại diện cho khảo sát

Nhằm mục tiêu có một kết quả khảo sát chính xác, làm nền tảng cho việc phân tích đánh giá về ảnh hưởng của YouTube tới sinh viên đang học tại các trường đại học trên địa bàn TP.HCM, chúng tôi đã tiến hành xây dựng quy trình chọn mẫu

Trước hết, theo cuốn Phương pháp nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa, tác giả có đưa ra hai định nghĩa quan trọng liên quan đến quy trình chọn mẫu như sau:

Mẫu (sample, échantillon): Mẫu là một tập hợp chọn lựa, được xem có tính

cách tiêu biểu và được rút ra từ toàn thể dân số mà người ta muốn nghiên cứu

Khung mẫu (sampling frame) là một danh sách đầy đủ tất cả các đơn vị từ

đó mẫu sẽ được rút ra

Đồng thời, có một số phương pháp chọn mẫu thông dụng như sau:69

 Lấy mẫu ngẫu nhiên (Random Sampling), là cách chọn mẫu sao cho mỗi đơn vị lấy mẫu có cơ hội hiện diện trong mẫu bằng nhau

 Lấy mẫu hệ thống (Systematic sampling) Một đối tượng gồm nhiều đơn vị được đánh số thứ tự Chọn một đơn vị ngẫu nhiên có số thứ tự bất kỳ Lấy một số bất kỳ làm khoảng cách mẫu, cộng vào số thứ tự của mẫu đầu tiên

 Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng (Stratified random sampling) Đối tượng điều tra gồm nhiều tập hợp không đồng nhất liên quan đến những thuộc tính cần nghiên cứu Trong trường hợp này, đối tượng được chia ra thành nhiều lớp, mỗi lớp có một đặc trưng đồng nhất Như vậy, từ mỗi lớp, người nghiên cứu có thể thực hiện theo kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên

69 Cristina P.Parel (1991), Sampling Design and Procedures, IDRC, Bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Trí Hùng, NXB Đại học Kinh tế TP.HCM

Trang 39

 Lấy mẫu hệ thống phân tầng (Stratified systematic sampling) Đối tượng điều tra gồm nhiều tập hợp không đồng nhất liên quan đến những thuộc tính cần nghiên cứu Lấy mẫu được thực hiện trên cơ sở phân chia đối tượng thành nhiều lớp, mỗi lớp có những đặc trưng đồng nhất Đối với mỗi lớp, người nghiên cứu thực hiện theo kỹ thuật lấy mẫu hệ thống

 Lấy mẫu từng cụm (Cluster Sampling) Đối tượng điều tra được chia thành nhiều cụm tương tự như chia lớp trong kỹ thuật lấy mẫu phân tầng, chỉ có điều khác là mỗi cụm không chứa đựng những đơn vị đồng nhất mà dị biệt Việc lấy mẫu trong từng cụm theo cách lấy mẫu ngẫu nhiên hoặc lấy mẫu

hệ thống

Như vậy, tóm lại có hai cách lấy mẫu cơ bản đó là lấy mẫu ngẫu nhiên hoặc hệ thống Cả hai kiểu lấy mẫu trên đều là các kiểu lấy mẫu xác suất, mà theo tác giả Nguyễn Xuân Nghĩa thì chọn mẫu xác xuất là sự chọn lựa hoàn toàn do sự ngẫu nhiên của việc rút thăm định đoạt và do đó không có sự thiên lệch do ý định chủ quan của con người.70 Ngẫu nhiên ở đây không có tính cách tình cờ Một mẫu xác suất là một mẫu trong đó có thể biết tính xác suất của việc chọn lựa từng trường hợp

Bên cạnh các cách lấy mẫu xác suất, ta cũng có những cách lấy mẫu phi xác suất

có các ưu điểm: ít phức tạp, ít tốn kém, tiện lợi, nhanh gọn và có thể lập lại, bổ sung cuộc nghiên cứu dễ dàng hơn phương pháp chọn mẫu xác suất.71Tuy nhiên điểm hạn chế của phương pháp này là người nghiên cứu không thể cho rằng đối tượng được chọn là thật sự tiêu biểu cho dân số, do đó không thể tổng quát hóa những kết luận nghiên cứu ra khỏi phạm vi đã chọn lựa Người nghiên cứu cũng không thể tính được chính xác độ sai lệch của mẫu

Tổng hợp các cách chọn mẫu từ nhiều nguồn tham khảo như trên kết hợp với các

đặc điểm đối tượng của đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của mạng xã hội YouTube

trong việc xây dựng ý thức thẩm mỹ cho sinh viên các trường đại học trên địa bàn

70

Nguyễn Xuân Nghĩa (1995) Phương pháp và kỹ thuật trong nghiên cứu xã hội, Bộ Giáo dục và đào

tạo Đại học Mở - Bán công TP HCM, trang 31

71

Nguyễn Xuân Nghĩa (1995) Sách đã dẫn, trang 35

Trang 40

TP.HCM”, chúng tôi chọn phương pháp chọn mẫu xác suất để tiến hành khảo sát Bên

cạnh đó, trong số các cách chọn mẫu, chúng tôi nhận thấy phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng là phù hợp với đề tài nghiên cứu nhất Theo đó, chúng tôi chia

nhóm khách thể sinh viên các trường đại học trên địa bàn TP.HCM thành các tập hợp mang chung một đặc điểm đồng nhất, mà đặc điểm này chúng tôi đặt giả thuyết là có liên quan đến chủ thể nghiên cứu là mạng xã hội Cụ thể, quy trình chọn mẫu của chúng tôi như sau:

72 Nhóm 1 là nhóm đào tạo ngành kinh tế - khoa học xã hội và nhân văn – sư phạm – ngoại ngữ - quân đội – công an Nhóm 2 là nhóm các trường đào tạo ngành khoa học kỹ thuật công nghệ - khoa học tự nhiên – nông lâm – y dược Nhóm 3 là trường đại học thuộc nhóm đào tạo đa ngành

CÁC TRƯỜNG ĐH VÀ HỌC

VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN

TP.HCM

NHÓM NGÀNH

6 Trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn (ĐHQG

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w