1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý thức thẩm mỹ với việc xậy dựng nền văn hóa mới ở việt nam hiện nay

144 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tri thức thẩm mỹ có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt - tình cảm và lý trí - đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự nảy sinh và phát triển các thuộc tính và phẩm chất thẩm mỹ của cá nhâ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN BỪNG

Ý THỨC THẨM MỸ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2013

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN BỪNG

Ý THỨC THẨM MỸ VỚI VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS TRẦN KỲ ĐỒNG

TP HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Ý thức thẩm mỹ với việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay” do chính tôi nghiên cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Trần Kỳ Đồng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những quan điểm, kết quả được trình bày trong luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …tháng …năm 2013

Người cam đoan

Nguyễn Văn Bừng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 Ý THỨC THẨM MỸ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ MỚI Ở VIỆT NAM 7

1.1 Ý thức thẩm mỹ theo quan điểm triết học mácxít 7

1.1.1 Khái niệm ý thức thẩm mỹ 7

1.1.2 Cấu trúc của ý thức thẩm mỹ 8

1.1.3 Bản chất của ý thức thẩm mỹ 16

1.2 Nội dung và mô thức của nền văn hoá mới ở Việt Nam 24

1.2.1 Nội dung nền văn hoá mới được quy định bởi nội dung cuộc cách mạng Việt Nam 24

1.2.2 Mô thức nền văn hoá mới ở Việt Nam 29

1.3 Vai trò của ý thức thẩm mỹ trong việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam 44

1.3.1 Ý thức thẩm mỹ định hướng hoạt động sáng tạo văn hoá 44

1.3.2 Ý thức thẩm mỹ góp phần xác lập tính thường trực thẩm mỹ trong hoạt động sống 47

1.3.3 Ý thức thẩm mỹ góp phần xác lập nội dung nền văn hoá mới 49

Kết luận chương 1 62

Chương 2 THỰC TRẠNG NỀN VĂN HOÁ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI Ý THỨC THẨM MỸ - PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 64

2.1 Thực trạng nền văn hoá Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra với ý thức thẩm mỹ 64

2.1.1 Thực trạng nền văn hoá Việt Nam hiện nay 64

2.1.2 Những vấn đề đặt ra với ý thức thẩm mỹ 86

2.2 Phương hướng và giải pháp nâng cao ý thức thẩm mỹ trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam hiện nay 103

2.2.1 Một số phương hướng cơ bản 103

2.2.2 Những giải pháp nâng cao ý thức thẩm mỹ trong việc xây dựng nền văn hoá Việt Nam hiện nay 115

Kết luận chương 2 128

Trang 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, theo Hồ Chí Minh là phải “thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc” [81, tr.493] Để cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ vai trò của văn hoá là “văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi” [77, tr.64]

Sau khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới, từ nền kinh tế quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xã hội Việt Nam đã có nhiều biến đổi Chính sự biến đổi của cơ cấu nền kinh tế đã dẫn đến hàng loạt các giá trị văn hoá cũ bị phá vỡ nhưng giá trị văn hoá mới của xã hội vẫn chưa được xác lập Đó là nguyên nhân làm cho xã hội Việt Nam thiếu sự định hướng rõ ràng của một hệ giá trị văn hoá mới Nó dẫn đến những hệ luỵ trong lối sống như Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương,

khóa VIII của Đảng đã nhận định: “Lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp Buôn lậu và tham nhũng phát triển Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến Nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội” [26, tr.46] Đến nay, nó cũng tạo

ra sự suy thoái đạo đức xã hội như chúng ta đã thấy qua nhiều biểu hiện mà báo chí đã đưa tin như: tham nhũng, bạo lực học đường, trộm cướp, giết người,

…Những hệ luỵ ấy lại tác động ngược trở lại, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đất nước làm ảnh hưởng đến sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam Vì vậy mà xây dựng nền văn hoá mới hiện nay là một yêu cầu cấp thiết của nước ta

Trang 7

Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5

khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn

mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”

[26, tr.54-55]

Sau sự định hướng của Đại hội X, các lĩnh vực của đời sống xã hội tiếp tục phát triển Năm 2008, khủng hoảng tài chính và kinh tế nổ ra đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống con người trên thế giới trong đó có Việt Nam Do thiếu hụt một hệ giá trị bền vững, cái đúng, cái thiện, cái đẹp bị thách thức Để vượt

qua thách thức đó, Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định: “Tiếp tục phát triển nền văn học nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch

sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm những phương thức thể hiện và phong cách nghệ thuật mới, đáp ứng nhu cầu tinh thần lành mạnh, đa dạng và bồi dưỡng lý tưởng, thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ” [29, tr.224]

Với nội dung nền văn hoá như trên, cho chúng ta thấy tầm quan trọng của

ý thức thẩm mỹ Ý thức thẩm mỹ là một hình thái đặc thù của ý thức xã hội, có vai trò quan trọng trong việc định hướng, tạo động lực cho sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển của nền văn hoá nói riêng Tri thức, thị hiếu và lý tưởng trong ý thức thẩm mỹ là những yếu tố cơ bản trực tiếp tạo động lực cho

Trang 8

con người tiến hành xây dựng nền văn hoá mới, thúc đẩy sự phát triển xã hội Không có những yếu tố ấy của ý thức thẩm mỹ thì không thể có được sự phát triển của văn hoá theo đúng nghĩa của nó

Hiểu được vai trò của ý thức thẩm mỹ với việc xây dựng nền văn hoá mới

sẽ giúp chúng ta có khả năng vạch ra những giải pháp đúng đắn nhằm nâng cao ý thức thẩm mỹ góp phần xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay, từ đó giúp nền văn hoá “soi đường” cho “quốc dân” giải quyết những vấn đề bức thiết

mà xã hội đang đặt ra

Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Ý thức thẩm mỹ với việc xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu văn hoá và xây dựng nền văn hoá mới ở nước ta, đã có

rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như: “Về sự phát triển của xã hội

ta hiện nay”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên; “Giao lưu văn hóa đối với sự phát triển văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, của Phạm Duy Đức (1996);

“Văn hóa mới Việt Nam – sự thống nhất và đa dạng”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 và “Tư tưởng văn hoá Hồ Chí Minh”, NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, của Giáo sư Đỗ Huy; “Nghiên cứu văn hoá – lý luận và ứng dụng”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999, của Nguyễn Văn Dân; “Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về con người và văn hoá”, NXB Văn hoá, Hà Nội, 2000 của Hoàng Chí Bảo; “Phác thảo chân dung văn hoá Việt Nam” (2000), NXB Chính trị

Quốc gia, Hà Nội của Trần Đình Nghiêm, Trần Hoàn, Nguyễn Phúc Khánh (Chủ

biên công trình); “Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 của Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên); “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, của Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (Đồng chủ biên); “Từ

Trang 9

văn hoá đến văn hoá học” Viện Văn Hoá, 2002, của Phạm Đức Dương; “Xây dựng đời sống tinh thần ở thành phố Hồ Chí Minh”, Luận án tiến sĩ Triết học,

Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh của Trần Chí Mỹ (2002),… Các công trình nghiên cứu này đã làm rõ lý luận về văn hoá và văn hoá Việt Nam cũng như lý luận về xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam

Các công trình nghiên cứu về văn hoá thẩm mỹ, trong đó có đề cập đến

vấn đề ý thức thẩm mỹ có thể kể đến như: ; “Sự chuyển đổi các giá trị trong văn hóa Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 của Đỗ Huy, Trường Lưu;

“Chân – Thiện – Mỹ, sự thống nhất và đa dạng trong văn hóa nghệ thuật”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, của Đỗ Huy, Nguyễn Văn Phúc; “Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999 của Vĩnh Quang Lê; “Tìm hiểu tư tưởng văn hóa thẩm mỹ và nghệ thuật của đảng trong thời kì đổi mới”, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 của Đỗ Huy, Nguyễn Chương Nhiếp; “Mỹ học – khoa học về các quan hệ thẩm mỹ”, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội (2001) của Đỗ Huy; “Đạo đức học – Mỹ học và đời sống văn hóa nghệ thuật”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, (2002) của Đỗ Huy; “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ mới”, Nxb Văn hóa,

Hà Nội của Nguyễn Văn Huyên; “Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển năng lực sáng tạo của con người”, Nxb Đại học quốc gia TP.HCM, TP.HCM, 2003, của

Nguyễn Ngọc Thu, …

Một số nhà nghiên cứu có những bài báo khoa học liên quan đến vấn đề

này có thể kể đến là: Hồng Mai (1983), “Giáo dục thẩm mỹ và việc định hướng nhu cầu thẩm mỹ”, Tạp chí Triết học, (3), tr.97 – 109; Nguyễn Văn Huyên (1988), “Văn hóa thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo của con người”, Tạp chí triết học, (2), tr.39 – 45.13; Nguyễn Trọng Chuẩn (1996), “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí triết học, 1/1996; Vĩnh Quang Lê (1996) “Quan điểm toàn diện của giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay”, Tạp chí văn hóa nghệ thuật (11), tr 23-25; Vũ

Trang 10

Thị Kim Dung (2000), “Giao lưu văn hóa và các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, (số 1), Hà Nội; Ngô Tự Lập, “Bản chất tương tác xã hội của giá trị”, Tạp chí triết học, số 7 (230), tháng 7 – 2010, trang 63-67; Lê Hường, “Sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật trong thời đại truyền thông”, Tạp chí Triết học, số 1 (236), tháng 1 – 2011, trang 51-58; Lê Hường, “Một số vấn đề

về nguồn gốc và bản chất của nhu cầu thẩm mỹ”, Tạp chí Triết học, số 3 (250),

tháng 3-2012, trang 62-70; Đặng Hữu Toàn, “Đề cương văn hoá Việt Nam” – Cương lĩnh văn hoá mang giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại”, Tạp chí Triết học,

số 4(263), tháng 4 – 2013, trang 3 – 11;…

Các công trình trên đã góp phần rất lớn vào việc làm sáng tỏ bản chất, cấu trúc và chức năng của ý thức thẩm mỹ nhưng chưa thực hiện sự kết hợp việc nghiên cứu ý thức thẩm mỹ với việc xây dựng nền văn hoá mới ở nước ta Kết quả nghiên cứu của những công trình ấy được học viên kế thừa và phát triển trong luận văn này

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chiều tác động của ý thức thẩm mỹ đối với nền văn hoá mới ở Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Lý luận chung về văn hoá và nền văn hoá mới; nội hàm, cấu trúc, chức

năng và bản chất của ý thức thẩm mỹ

3.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn: nhằm làm rõ những vấn đề lý luận chung về ý

thức thẩm mỹ theo quan điểm mácxít, làm rõ nội dung các mô thức của nền văn hóa mới ở Việt Nam và vai trò của ý thức thẩm mỹ đối với nền văn hoá Từ đó,

đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện có hiệu quả việc nâng cao ý thức thẩm mỹ góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 11

Nhiệm vụ của luận văn:

- Khảo sát sự vận động của văn hoá Việt Nam trong tiến trình hình thành nền văn hoá mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Phân tích tìm ra tính quy luật sự tác động của ý thức thẩm mỹ và xác lập vai trò của nó đối với nền văn hoá mới

- Nghiên cứu thực trạng biến động của các giá trị văn hoá trong xã hội Việt Nam hiện nay

- Đề ra được những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao ý thức thẩm mỹ góp phần phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng về lịch sử từ góc độ thực tiễn luận và giá trị luận

Nội dung của luận văn được triển khai bằng các phương pháp cụ thể như: lịch sử - lôgic, so sánh, phương pháp hệ thống - cấu trúc, vận dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, …

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Luận văn sau khi hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ vai trò ý thức thẩm mỹ với văn hoá

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy triết học và mỹ học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 02 chương, 05 tiết

Trang 12

Chương 1

Ý THỨC THẨM MỸ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ MỚI Ở VIỆT NAM

1.1 Ý thức thẩm mỹ theo quan điểm triết học mácxít

1.1.1 Khái niệm ý thức thẩm mỹ

Khi đứng trước cái đẹp, con người thường có ba nhu cầu: Nhận thức cái đẹp, tỏ thái độ đối với cái đẹp và chinh phục cái đẹp thông qua hoạt động thực tiễn Sự phản ánh của bộ óc con người trong quá trình con người thực hiện sự thoả mãn các nhu cầu này gọi là ý thức thẩm mỹ Quá trình con người thực hiện

sự thoả mãn các nhu cầu luôn là một quá trình sinh động, không ngừng biến đổi

do sự biến đổi của điều kiện và cùng với những biến đổi nội sinh trong tình cảm của con người Vì vậy ý thức thẩm mỹ là sự phản ánh sáng tạo quá trình con người thực hiện sự thoả mãn các nhu cầu trong mối quan hệ với cái đẹp

Ý thức thẩm mỹ không phải là sự phản ánh thuần tuý của lý trí mà còn là

sự phản ánh của xúc cảm Lý trí đòi hỏi một kết quả phản ánh cái đẹp phải mang tính trừu tượng, khái quát; còn xúc cảm đòi hỏi một kết quả phản ánh phải cụ thể, cảm tính Ý thức thẩm mỹ luôn là kết quả thống nhất sự phản ánh cái đẹp của cả lý trí và xúc cảm

Ý thức thẩm mỹ thể hiện sự tồn tại của nó thông qua hai phương thức cơ bản là khái niệm thẩm mỹ và hình tượng thẩm mỹ Khái niệm thẩm mỹ là sự khái quát những đặc điểm, thuộc tính chung, bản chất của cái đẹp còn hình tượng thẩm mỹ là sự phản ánh lại cái đẹp bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình có thể nhận thức trực tiếp bằng cảm tính Ý thức thẩm mỹ với tư cách là khái niệm, nó mang tính khái quát, trừu tượng Ý thức thẩm mỹ với tư cách là hình tượng, nó mang tính cụ thể, cảm tính Điều đó

có nghĩa là trong bản thân ý thức thẩm mỹ luân chứa đựng mâu thuẫn giữa cái khái quát với cái cụ thể, giữa cái trừu tượng với cái cảm tính Chính những mâu

Trang 13

thuẫn này là nguồn gốc, động lực của tính sáng tạo không ngừng của ý thức thẩm

Tri thức thẩm mỹ:

Tri thức thẩm mỹ là những hiểu biết, những quan niệm về các giá trị thẩm

mỹ được khái quát thành hệ thống những phạm trù cơ bản của mỹ học Do đó, xét ở khía cạnh nguồn gốc, tri thức thẩm mỹ của mỗi chủ thể có được không phải mang tính tiên thiên, không phải là bẩm sinh mà nó là kết quả của quá trình giáo dục hoặc thông qua sách báo, phim ảnh, internet và các phương tiện thông tin đại chúng khác

Tri thức thẩm mỹ có tác dụng giúp con người có khả năng xử lý, chọn lọc rất hiệu quả lượng thông tin thẩm mỹ phong phú và đa dạng trong quá trình tiếp nhận Hệ thống phạm trù và những nội dung của tri thức thẩm mỹ cung cấp cho chủ thể thẩm mỹ cơ sở khoa học để cảm thụ một cách tích cực những giá trị thẩm mỹ trong đời sống

Trang 14

Ngoài ra, tri thức thẩm mỹ còn góp phần tác động đến hoạt động thưởng thức, phê bình và sáng tạo thẩm mỹ, giúp con người có thể điều chỉnh được những hoạt động của mình trên phương diện thẩm mỹ Hay nói cách khác, sự hiểu biết về những giá trị thẩm mỹ giúp cho chủ thể làm chủ được quan hệ thẩm

mỹ của mình một cách tự giác và toàn vẹn

Dưới ánh sáng của tri thức thẩm mỹ, quan hệ thẩm mỹ mới sẽ được hình thành một cách đúng đắn, tạo nên sự phát triển phong phú cho mỗi năng lực thẩm mỹ Và qua đó, tri thức thẩm mỹ sẽ soi sáng con đường hình thành quan hệ thẩm mỹ và góp phần làm tâm hồn con người thêm phong phú và tốt đẹp hơn

Trong mỗi hoạt động sáng tạo trên lĩnh vực riêng của các nhà khoa học đều có mối liên hệ bản chất đối với tri thức thẩm mỹ, vì nó là tri thức mang tính toàn vẹn Tri thức thẩm mỹ có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt - tình cảm

và lý trí - đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự nảy sinh và phát triển các thuộc tính và phẩm chất thẩm mỹ của cá nhân, đem lại cho họ năng lực tổ chức, kết cấu và cải tạo thế giới theo ý muốn và hiện thực hóa ý tưởng thẩm mỹ trong hoạt động cải tạo thực tiễn của mình

Tri thức thẩm mỹ hướng hoạt động chủ thể đến việc nâng cao về chất các kết quả hoạt động cũng như toàn bộ các quá trình hoạt động Tri thức thẩm mỹ trở thành bệ phóng cho các khả năng sáng tạo còn bởi vì nó tham gia cấu thành mặt sinh lý và tâm lý quan trọng của các khả năng sáng tạo

Trình độ phát triển của tri thức thẩm mỹ ở mỗi cá nhân nâng cao thì nhu cầu tiêu thụ các loại hình nghệ thuật càng rộng, và từ đó, kết quả sáng tạo càng lớn Và qua đó cho thấy, tri thức thẩm mỹ có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả sáng tạo trong các hoạt động của đời sống xã hội

Tình cảm thẩm mỹ:

Trong thế giới bao la, chỉ con người mới có khả năng cảm thụ được về vẻ đẹp của thiên nhiên, xã hội và cuộc sống với tất cả tính phong phú và đa dạng vốn có Trong quá trình khám phá hiện thực cũng như đồng hóa nó trên phương

Trang 15

diện thẩm mỹ, con người có cảm xúc trước cái đẹp, cái cao cả, cái bi và cái hài Hay nói cách khác, con người biết rung động trước những hiện tượng đẹp, biết vui sướng hay buồn khổ, biết vinh quang hay tủi nhục trước cái hiện tượng và sự việc cụ thể trong đời sống Cảm xúc đó chính là tình cảm thẩm mỹ

Tình cảm thẩm mỹ có khả năng thanh lọc xúc cảm của con người, giúp con người có thể hoàn thiện hơn về nhân cách, tự tôi luyện cho mình về những phẩm chất tốt đẹp về khía cạnh đạo đức, lối sống, lập trường, lý tưởng và bản lĩnh

Đời sống hiện thực có đầy đủ tính phong phú và muôn hình muôn vẻ của

nó đòi hỏi chủ thể thẩm mỹ phải biết nắm bắt và ghi nhận lại những cảm xúc bằng nhiều hình thức khác nhau mà điển hình là nghệ thuật

Tình cảm thẩm mỹ như là một thứ "tín hiệu đặc biệt" mà chính những cảm nhận, thái độ đầu tiên bằng trực giác, xúc cảm của chủ thể, tạo nên ý tưởng làm

cơ sở sáng tạo ra các giá trị thẩm mỹ mới

Như vậy, có thể nói, tình cảm thẩm mỹ là trạng thái xúc động trực tiếp, nảy sinh khi con người tiếp xúc với những cái đẹp Khởi nguyên tình cảm thẩm

mỹ chính là một nguồn kích thích, mà hiện thực trực tiếp gây ra cho chủ thể từ

sự rung động thẩm mỹ, làm nảy sinh tình cảm thẩm mỹ và đồng thời nó cũng là động lực thúc đẩy sự sáng tao thẩm mỹ của chủ thể

Trong sự xuất hiện và phát triển của tình cảm thẩm mỹ ở con người, có sự tác động và xen quyện lẫn nhau giữa hai nhân tố

Một mặt, lao động là sự triển khai sức mạnh bản chất của con người liên quan đến lao động đã thúc đẩy sự hoàn thiện tiếp tục các giác quan của con người Ở đây, không đơn giản nói tới sự phát triển thuần túy sinh lý của các giác quan ở con người khác với ở con vật; chính điều này mang một tính chất mâu thuẫn: có những sắc thái nào đó của màu sắc, âm thanh, hình thức con người nhận biết sắc xảo hơn và phân biệt tinh tường hơn nhiều động vật khác Song con người lại có thể ganh tị với một số khả năng của các giác quan ở những con

Trang 16

thú, chim muông và sâu bọ trong việc phân biệt các khách thể của tự nhiên, tuy nhiên, chỉ có con người mới có thể cảm xúc được toàn bộ sự phân phối, đa dạng

và vẻ đẹp của hình thức đời sống

Một sự cảm thụ như vậy đối với hình thức đời sống chỉ được thực hiện bởi các giác quan của con người, vì bản thân các giác quan này đã không còn đơn hình chỉ là phương tiện thỏa mãn nhu cầu thực dụng thuần túy Chính ở đây, chúng ta đang hướng tới nhân tố thứ hai có liên quan đến sự hình thành cảm xúc thẩm mỹ của chủ thể

Tình cảm thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của ý thức thẩm mỹ và cũng là của chủ thể thẩm mỹ được xem là lĩnh vực tinh tế, nhuần nhuỵ của tâm hồn Khi con người hưởng thức cái đẹp, tỏ ra căm giận cái xấu, xót xa trước những cái bi thương hay khăm phục cái cao cả, tình cảm thẩm mỹ hướng đến sự hoàn thiện và hoàn mỹ hơn

Là một bộ phận của tình cảm nói chung, tình cảm thẩm mỹ phản ánh các hiện tượng thẩm mỹ khách quan từ các đặc điểm cho đến quá trình vận động của những hiện tượng đó Nếu không có các hiện tượng xấu, đẹp, cao cả, hay thấp hèn thì cũng sẽ không có tình cảm về chúng, tức là sẽ không xuất hiện và tồn tại tình cảm thẩm mỹ

Do đó, có thể nói rằng, tình cảm thẩm mỹ chính là hình ảnh – thái độ chủ quan của thế giới khách quan Nhờ có tình cảm thẩm mỹ, con người có năng lực thưởng thức, đánh giá, liên tưởng và sáng tạo những giá trị thẩm mỹ phong phú của cuộc sống và nghệ thuật

Là một bộ phận cấu thành của ý thức thẩm mỹ, mang đầy đủ những tính chất cơ bản của ý thức, tình cảm thẩm mỹ không phải nhất thành bất biến mà nó

là sản phẩm của thực tiễn lao động, chiến đấu, học tập, sinh hoạt và rèn luyện của con người Đồng thời, nó cũng có khả năng làm thay đổi thực tiễn thông qua những hoạt động của chủ thể

Trang 17

Tính phong phú của tình cảm thẩm mỹ là sự phản ánh tính phong phú của thế giới thẩm mỹ hiện thực, được biểu hiện ở quá trình chủ thể tìm cách nhận thức, tỏ thái độ và chinh phục cái đẹp Từ góc độ này thì tình cảm sáng tạo là biểu hiện tập trung và phong phú nhất

Giữa tình cảm thẩm mỹ trong đời sống hằng ngày và tình cảm thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ Trong số rất nhiều những hình tượng diễn ra và tác động đến chủ thể thẩm mỹ thì có rất ít hình tượng được chọn lọc để đưa vào tác phẩm nghệ thuật và chắc chắn số lượng hình tượng có giá trị thẩm mỹ cao càng ít hơn nữa Điều này trước hết phụ thuộc vào trình độ sâu sắc của tình cảm thẩm mỹ Một tình cảm thẩm mỹ tốt sẽ có tác dụng giúp cho con người biết gặng đục khơi trong, biết chọn lọc, gạt bỏ những hình tượng nhạt nhẽo, vô vị và biết tập trung vào phản ánh các hình tượng bản chất của thực tiễn cuộc sống

Thị hiếu thẩm mỹ:

Thị hiếu thẩm mỹ là tình cảm được xây dựng khi con người tiến sâu vào thế giới thẩm mỹ bằng những mẫn cảm đặc biệt và đạt được những thói quen trong thưởng thức cũng nhưng trong sáng tạo thẩm mỹ Có thể nói, thị hiếu thẩm

mỹ là thước đo về phương diện văn hóa thẩm mỹ của con người trong thưởng thức, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật, không có thị hiếu thẩm thẩm mỹ thì cũng không có cuộc sống đẹp

Thị hiếu thẩm mỹ chủ yếu biểu hiện ra như những hiện tượng tâm lý xã hội vì trước hết chúng được nảy sinh chủ yếu trong các quan hệ xã hội, và đầu tiên là những sự việc của ý thức thông thường hằng ngày

Thị hiếu thẩm mỹ của những cá nhân, những dân tộc và những giai cấp khác nhau thì không giống nhau; và trong từng thời kì lịch sử khác nhau thì thị hiếu thẩm mỹ của chủ thể cũng thay đổi, đôi khi có thể đối lập với nhau Xét về thực chất, thị hiếu thẩm mỹ có tư cách như một thứ điều khiển độc đáo hoạt động thẩm mỹ và cảm thụ thẩm mỹ của con người

Trang 18

Thị hiếu thẩm mỹ có tư cách như một phương tiện phản ánh độc đáo các phẩm chất thẩm mỹ của cái đẹp rất khác nhau, vừa như một sự thể hiện tình cảm trực tiếp lại vừa như tiêu chuẩn về tính hoàn thiện của cái đẹp

Các tiêu chuẩn của thị hiếu thẩm mỹ có chứa đựng những tần số đã được

mã hoá tương ứng với những thuộc tính thẩm mỹ nhất định Khi chủ thể tiếp xúc với những khách thể chứa đựng những thuộc tính thẩm mỹ tương ứng với những tần số đã được mã hoá, nó sẽ ngay lập tức tạo ra cảm giác dễ chịu, thích thú Đối tượng hiện ra như một cái đẹp thật sự trước mặt chủ thể

Trong trường hợp như vậy, thị hiếu thẩm mỹ là cả một hệ thống vững chắc những tần số của sự ưu ái và thiện cảm thẩm mỹ, cũng như ác cảm thẩm

mỹ, có cụ thể hóa và "giải mã" những nhu cầu thẩm mỹ, khi vấp phải các hiện tượng chưa quen biết từ trước, con người sử dụng những thị hiếu của mình như một tiêu chuẩn để đánh giá thẩm mỹ trong dạng thức của một sự phán đoán dường như đang trực tiếp nảy sinh "yêu - ghét", một sự phán đoán được thể hiện trong thái độ tình cảm trực tiếp

Trong khi tỏ thái độ thẩm mỹ với đối tượng, thị hiếu thẩm mỹ cũng thể hiện ra là một loại chuẩn mực: nó ghi nhận và xử lý các đánh giá thẩm mỹ về những hiện tượng mới, chưa được biết từ trước và vừa mới xuất hiện trong lĩnh vực đời sống cũng như trong lĩnh vực nghệ thuật Mỗi thế hệ mới trong buổi đầu phát triển tinh thần của mình đều tiếp nhận một hệ thống thị hiếu nhất định với

tư cách là di sản và được chỉ đạo bởi các thị hiếu đó trong việc đánh giá thẩm mỹ những hiện tượng của đời sống và nghệ thuật Ngay khi khắc phục những thị hiếu và chuẩn mực thẩm mỹ cũ, xã hội vẫn giữ lại những nguyên tắc khách quan

đã từng có ở chúng, đảm bảo tính kế thừa của sự phát triển thẩm mỹ

Trong ý thức thẩm mỹ của cá nhân và xã hội thì thị hiếu thẩm mỹ là trạng thái tồn tại ổn định của tình cảm thẩm mỹ, nó được bắt đầu từ nhu cầu thẩm mỹ

và hoàn chỉnh ở lý tưởng thẩm mỹ

Trang 19

Trong đời sống thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ được bộc lộ thành những nhu cầu thẩm mỹ cụ thể Về nguồn góc hình thành, cảm xúc thẩm mỹ làm nảy sinh những nhu cầu thẩm mỹ đa dạng Mầm móng vốn có trong cảm xúc thẩm mỹ chưa được cụ thể hóa trong nhu cầu thẩm mỹ Cũng giống như mọi nhu cầu khác

ở con người, nhu cầu thẩm mỹ cũng có cơ sở khách quan Chúng nảy sinh trên

cở sở hoạt động cụ thể của con người và đồng thời thúc đẩy sự hoạt động đó phát triển không ngừng: chúng là những nguyên nhân làm thức tỉnh sự hoạt động Nhưng với tư cách là một tất yếu xã hội và được quy định bởi bản chất xã hội, nhu cầu thẩm mỹ của mỗi con người bị chi phối bởi trình độ phát triển cá nhân của mình, bao gồm cả trình độ phát triển của tình cảm thẩm mỹ, bởi sự tham gia của tình cảm thẩm mỹ vào hoạt động nào đó Thế giới không thỏa mãn được con người, nên bằng hành động của mình, con người quyết định cải biến nó Thiếu cảm xúc thẩm mỹ thì không có nhu cầu thẩm mỹ, thiếu nhu cầu thẩm mỹ thì không có động lực để con người hướng về cái đẹp Thị hiếu thẩm mỹ được hiểu như là nhu cầu về một sự hưởng thụ thẩm mỹ, như là sự giác ngộ về tính tất yếu của những hành động nhất định trong một môi trường cụ thể nào đó của lao động, của sự tiếp xúc với thiên nhiên, của quan hệ qua lại với những người khác, của sự sáng tạo nghệ thuật nhầm có được niềm vui thẩm mỹ, thỏa mãn thẩm mỹ

Lý tưởng thẩm mỹ:

Lý tưởng thẩm mỹ là biểu hiện tập trung cao nhất của tình cảm thẩm mỹ, nhu cầu và thị hiếu thẩm mỹ Vì vậy, có thể nói, lý tưởng thẩm mỹ là giai đoạn cao của nhận thức về thẩm mỹ

Lý tưởng thẩm mỹ thuộc về cấp độ hệ tư tưởng của ý thức thẩm mỹ, là biểu hiện cao nhất của hình thái ý thức xã hội này Nó nói lên đặc trưng về sự hoàn thiện của các sự vật và hiện tượng của hiện thực Trong lý tưởng thẩm mỹ,

có chứa đựng cả sự khái quát về những thuộc tính thẩm mỹ thực tế đã tồn tại của hiện thực tự nhiên và xã hội và chứa đựng cả những tiêu chuẩn mà hoạt động thẩm mỹ của xã hội phải vươn tới Lý tưởng thẩm mỹ thể hiện các lợi ích xã hội

Trang 20

của con người, nên nó gắn bó chặt chẽ với các lý tưởng chính trị và đạo đức của những thời đại khác nhau

Lý tưởng thẩm mỹ chưa phải là cái có thực, mà thông thường nó chỉ là cái

mơ ước, song cái mơ ước ấy nằm ở tầng thế giới quan và là cái có khả năng nhận thức được và có thể biến thành hiện thực Lý tưởng thẩm mỹ gắn liền với hoạt động tưởng tượng, liên tưởng, là ước mơ về một tương lai, chưa có trong hiện thực nhưng không phải vì thế mà lý tưởng thẩm mỹ hoàn toàn xa rời hiện thực Ngược lại, lý tưởng thẩm mỹ là sự thống nhất cái chủ quan với hiện thực khách quan, là hình ảnh được khái quát từ hiện thực cuộc sống Vì lí do đó mà lý tưởng thẩm mỹ trở thành một nguồn động lực tinh thần mạnh mẽ đối với quá trình phát triển của cá nhân, dân tộc, giai cấp thể hiện sự khát khao vượt qua khỏi hiện thực, thể hiện sức mạnh hoài bão tiềm ẩn của con người vươn tới một thực tại cần phải có

Thế giới quan là nhân tố qui định tính khuynh hướng của lý tưởng thẩm

mỹ Chính vì vậy mà trên cơ sở thế giới quan của mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi giai cấp, lý tưởng thẩm mỹ thể hiện vai trò quyết định và cụ thể kết quả hoạt động của thẩm mỹ Là một bộ phận đặc thù cấu thành lý tưởng xã hội, lý tưởng thẩm mỹ phản ánh hoài bão chiều hướng và nội dung cơ bản của những giá trị thẩm mỹ trong đời sống và trong nghệ thuật Nói cách khác, nó là cảm quan về cuộc sống đang phát triển và khát vọng vươn tới cái đẹp của con người

Lý tưởng thẩm mỹ còn là sự biểu hiện tập trung của thực tiễn xã hội Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn mà mục đích của sự phát triển của cá nhân và xã hội được nhận thức và được hình dung như một tương lai hoàn thiện nhất, vì vậy, lý tưởng thẩm mỹ trở thành thước đo, trở thanh tiêu chẩn để xác định giá trị thẩm mỹ

Mọi hoạt động thẩm mỹ điều nhằm biến lý tưởng thẩm mỹ thành hiện thực, nghệ thuật đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện lý tưởng thẩm mỹ, bởi vì nghệ thuật tạo ra những kiểu mẫu hình tượng nghệ thuật về hiện

Trang 21

thực hoàn thiện và con người hoàn thiện Đồng thời lý tưởng thẩm mỹ cũng tồn tại như là tiêu chuẩn về cái đẹp ở những giai đoạn khác nhau của sự nghiệp sáng tạo thẩm mỹ của con người Ở mỗi giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, khi phản ánh những nội dung khác nhau về quyền lợi và mục đích của mỗi xã hội, lý tưởng thẩm mỹ vẫn giữ lại những mặt tiến bộ khách quan vốn có trong nội dung

ý thức thẩm mỹ của quá khứ Và đó là điều kiện đảm bảo sự kế thừa trong việc phát triển các lý tưởng thẩm mỹ của nhân loại

1.1.3.1 Ý thức thẩm mỹ là sự phản ánh đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Trong lịch sử mỹ học trước Mác từng tồn tại hai quan niệm đối lập nhau

về quá trình phản ánh thẩm mỹ Quan niệm thứ nhất cho rằng, nhận thức thẩm

mỹ giống như trò chơi dương cầm, mỗi yếu tố của đời sống xã hội gõ vào một phiếm của chủ thể; và toàn bộ phản ứng tình cảm, ý thức thẩm mỹ là những ấn tượng trỗi dậy để đáp ứng những cái gõ trên phiếm đàn Về thực chất, đây là sự diễn đạt một cách hình ảnh quan niệm trực quan trong nhận thức nói chung và nhận thức (sự tự phản ánh của chủ thể) thẩm mỹ nói riêng Quan niệm này hoàn toàn không biết đến tính tích cực của chủ thể thẩm mỹ, nó chỉ được xem là tâm trạng nảy sinh do những tác động riêng lẽ từ những thuộc tính thẩm mỹ của đời sống Quan niệm này không cho phép thấy được tính phức hợp cũng như sự tinh

tế, sự đa tầng, đa cấp độ của phản ánh thẩm mỹ Điều đó cũng có nghĩa là không thấy được tính đa dạng và phong phú trong tác động của sự phản ánh lên ý thức thẩm mỹ của con người

Khác với lý thuyết trên, quan điểm thứ hai cho rằng, ý thức thẩm mỹ không được đánh thức ở chủ thể bởi tác phẩm nghệ thuật hay các khách thể của đời sống xã hội Nói cách khác, cội nguồn và nội dung của ý thức thẩm mỹ không phải là cái vốn có từ đời sống xã hội Ngược lại, chính con người dung nhập vào các đối tượng của đời sống xã hội những tri thức và cảm xúc này từ đái

Trang 22

sâu tâm hồn mình Sự nhập cảm của tâm hồn vào các hình thức không hồn của các đối tượng trong cuộc sống chính là nguồn gốc của ý thức thẩm mỹ

Quan niệm mácxít thừa nhận những thuộc tính, những giá trị khách quan của ý thức thẩm mỹ xuất phát từ các khách thể trong đời sống Tuy nhiên những thuộc tính, những giá trị khách quan đó không phải là những thuộc tính tự nhiên,

dĩ nhiên thuộc về khách thể trong đời sống mà không liên quan gì tới ý muốn chủ quan của con người Nói khác đi tính khách quan của giá trị thẩm mỹ, theo quan niệm mácxít, là tính khách quan xã hội Đồng thời, quan niệm mácxít cũng thừa nhận tính tích cực chủ quan của chủ thể thẩm mỹ khi phản ánh đời sống thẩm mỹ của xã hội Ý thức thẩm mỹ, do vậy không thể hình thành được nếu không có sự phản ánh sáng tạo của chủ thể

Từ đó có thể thấy rằng đời sống xã hội có thể tác động lên sự hình thành

và phát triển ý thức thẩm mỹ của con người đồng thời từ hai bình diện, hai khía cạnh Khía cạnh thứ nhất là bản thân nội dung thẩm mỹ của các khách thể được

di chuyển vào ý thức thẩm mỹ chủ thể Khía cạnh thứ hai là bản thân sự tự nổ lực, tự nâng cao của ý thức thẩm mỹ để lĩnh hội được vẻ đẹp của khách thể thẩm

mỹ trong đời sống xã hội

Với chủ nghĩa nhận thức luận thẩm mỹ, sự khác biệt giữa nhận thức thẩm

mỹ, nhận thức nghệ thuật với nhận thức khoa học chỉ là sự khác biệt về hình thức Và nếu như không thấy được thực chất tính đặc thù của nhận thức thẩm mỹ thì không thể thấy được tính đặc thù trong sự tác động của đời sống xã hội, của nghệ thuật lên lý trí con người Trái với chủ nghĩa nhận thức luận thẩm mỹ, chủ nghĩa biệt lập thẩm mỹ lại tuyệt đối hóa tính đặc thù của nhận thức thẩm mỹ, nhận thức nghệ thuật Những nhà biệt lập thẩm mỹ cho rằng nhận thức thẩm mỹ thực chất chỉ là sự biểu hiện thế giới tâm linh cá biệt của nghệ sĩ Hơn thế, tâm linh nghệ sĩ là một thế giới khép kín không có quan hệ với đời sống xã hội, với các lĩnh vực nhận thức đạo đức, và các hoạt động thực tiễn… Vì vậy, đối với họ

Trang 23

tác động của đời sống xã hội lên lĩnh vực trí tuệ, lý trí của con người là điều không thể quan niệm được

Triết học mácxít nhìn nhận hoạt động thẩm mỹ như là một quá trình thống nhất hữu cơ giữa hai phương diện phản ánh và biểu hiện Ý thức thẩm mỹ là sự phản ánh một cách gián tiếp và ước lệ các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng không phải trong sự tồn tại tự nhiên của nó, không liên quan gì với các xúc cảm của con người với những định hướng giá trị của họ Nói cách khác, đối với ý thức thẩm mỹ, nét nổi bật của nó là sự kết hợp hữu cơ giữa xúc cảm với sự phản ánh toàn vẹn các phẩm chất khách quan của đời sống trong sự thống nhất với những giá trị tinh thần (đạo đức, thẩm mỹ, xã hội) của con người

Chính là sự thống nhất, sự kết hợp giữa xúc cảm với sự phản ánh toàn vẹn, nguyên khối đối tượng mà khó có thể phân chia rạch ròi tình cảm và lý trí trong sáng tạo thẩm mỹ cũng như trong các bước phát triển của ý thức thẩm mỹ Trong trường hợp này, tình cảm thẩm mỹ của ý thức thẩm mỹ là một loại tình cảm thông minh Bởi thế, trong sự tác động tình cảm của đời sống xã hội lên quá trình phản ánh của con người đã bao hàm nhân tố lý trí, trí tuệ

Không thể đồng nhất tri thức thẩm mỹ mà quá trình phản ánh thẩm mỹ đem lại cho con người với tri thức của khoa học Chính ở điểm này, quan niệm mácxít phân biệt với quan niệm nhận thức luận thẩm mỹ Nếu quan niệm nhận thức luận thẩm mỹ đồng nhất hai loại tri thức này một cách tuyệt đối, thì quan niệm mácxít một mặt thừa nhận sự thống nhất giữa hai loại tri thức này nhưng mặt khác lại thấy được tính đặc thù của chúng Tri thức khoa học cung cấp cho con người những tính quy luật xác định trong các phương diện khác nhau của con người Tri thức khoa học trừu tượng và khái quát Nhưng con người (khách thể) hiện ra trước con người (chủ thể) như một đối tượng toàn vẹn (vừa trừu tượng, khái quát lại vừa cụ thể, điển hình), khách thể này hiện ra như là một đối tượng bất cập đối với khoa học Chỉ có hoạt động nhận thức và sáng tạo thẩm mỹ mới có thể làm sáng tỏ những bí ẩn của khách thể người Hoạt động nhận thức

Trang 24

và sáng tạo thẩm mỹ là hoạt động có sự tham gia của cả lý trí và xúc cảm Và nhờ vậy, tri thức mà nó mang lại vừa mang tính khái quát, trừu tượng vừa mang tính cụ thể, điển hình

Ý thức thẩm mỹ là một bộ phận trong quá trình lịch sử tư tưởng nói chung

mà cơ sở vật chất là phương thức sản xuất của xã hội với hai yếu tố thống nhất trong nó là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Ý thức thẩm mỹ là một trong những hình thái ý thức xã hội cho nên cần phải tìm nguyên nhân tạo nên tất cả những sự biến đổi của ý thức thẩm mỹ ngay chính trong tồn tại xã hội của con người, trong cơ sở kinh tế của xã hội Chỉ cố đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử thì mới có thể lý giải được đúng đắn nguồn gốc của ý thức thẩm mỹ, cũng như tính quy luật và khuynh hướng phát triển của chúng, sự nảy nở và tàn lụi của chúng, cũng như vai trò của chúng trong đời sống xã hội

Phản ánh đời sống xã hội là chức năng quan trọng và cơ bản của ý thức thẩm mỹ Với tư cách là một hình thái ý thức đặc thù, nhờ những hình tượng đa dạng và phong phú, ý thức thẩm mỹ đã ghi dấu lại những cuộc đấu tranh của cái đẹp, cái tốt chống lại cái xấu, cái ác, cũng như mọi hiện tượng phong phú với đời sống con người và xã hội Ý thức thẩm mỹ đã mang lại cho con người những tri thức phong phú về các thời kỳ phát triển của lịch sử, cũng thông qua đó, người ta nhận thức rõ các tổ chức xã hội, các nền kỹ thuật, các quy luật của tình cảm và sức mạnh lý trí của con người

Ý thức thẩm mỹ phản ánh đời sống, nhận thức thế giới, đánh giá hiện thực thẩm mỹ khách quan, xét đoán mọi sự việc, hiện tượng, tạo ra cho con người những ấn tượng của ý thức Đó phải là tư liệu của hiện thực chính xác nhưng nó lại giúp cho nhận thức đi sâu vào bản chất của đời sống, điều đó có thể làm cho nhiều người có cùng ý thức thẩm mỹ và cùng đổi chiều với kinh nghiệm, với hiểu biết tức tri thức của mình về hiện thực, vì thế, ý thức thẩm mỹ còn thực hiện được chức năng giáo dục của nó

Trang 25

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, trong khi phản ánh hiện thực, tái hiện cuộc sống, ý thức thẩm mỹ đã góp phần cải tạo cuộc sống Chức năng giáo dục và cải tạo xã hội của ý thức thẩm mỹ bắt nguồn sâu xa từ bản chất của

nó Những học thuyết tiến bộ có khả năng nhân rộng và phổ biến các lối sống phù hợp, xã hội hóa cá nhân, hình thành nên các ý thức mới cho con người trong cuộc sống Ý thức thẩm mỹ tiến bộ luôn hướng về cái chân – cái thiện – cái mỹ

mà giáo dục con người Dưới ánh sáng tích cực của nó, đời sống xã hội sẽ được biến đổi theo một hình thức tiến bộ nhất định nào đó

1.1.3.2 Tính độc lập tương đối của ý thức thẩm mỹ

Với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức thẩm mỹ mặc dù chịu

sự quy định của đời sống nhưng đồng thời ý thức thẩm mỹ cũng có tính độc lập tương đối so với đời sống xã hội

Cách tiếp cận hệ thống – cấu trúc cho thấy sự tồn tại và phát triển của ý thức thẩm mỹ là một quá trình tâm lý hết sức phức tạp Quá trình hình thành tri thức thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ diễn biến ngay trong chính bản thân của chủ thể thẩm mỹ Vì thế, sự tương tác giữa đời sống thẩm mỹ với các yếu tố cấu thành ý thức thẩm mỹ thường phải có những bước gián tiếp, quá độ thông qua tính chủ quan của con người trong quá trình tiếp nhận và phản ánh

Có rất nhiều yếu tố tác động tạo ra khả năng tồn tại độc lập của ý thức thẩm mỹ đối với đời sống xã hội Đó là: phương thức phản ánh đa dạng của chủ thể, tình trạng ổn định hay không ổn định về mặt tâm – sinh lý của chủ thể, những tri thức và kinh nghiệm thẩm mỹ đã tích lũy được của các chủ thể không giống nhau Ngoài ra, vấn đề giai tầng xã hội, năng lực thẩm mỹ và góc nhìn thẩm mỹ khác nhau cũng giữ một vai trò rất quan trọng tạo ra tính độc lập tương đối của ý thức thẩm mỹ

Thể hiện rõ nét tính độc lập tương đối của mình, ý thức thẩm mỹ thường vượt trước đời sống xã hội mà nó phản ánh Ý thức thẩm mỹ không chỉ phán ánh

Trang 26

trung thực hiện thực khách quan mà còn giúp cho con người có khả năng tưởng tượng, hư cấu nhằm biểu hiện mong muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn

Trong ý thức thẩm mỹ, chân lý của nó không chỉ gồm những dữ liệu chân thực của đời sống xã hội mà còn gồm cả những giá trị mỹ cảm và cả sự tưởng tượng, thăng hoa, bay bổng, thậm chí còn đòi hỏi đầy đủ chất mộng tưởng

1.1.3.3 Tính giai cấp và tính dân tộc của ý thức thẩm mỹ

Trong xã hội có giai cấp, ý thức thẩm mỹ đề cập tới mặt này hay mặt khác, khía cạnh này hay khía cạnh khác, nông hay sâu, trực tiếp hay gián tiếp cuộc đấu tranh giai cấp của xã hội trên cơ sở lợi ích của một giai tầng nhất định

mà chủ thể đại diện Tính giai cấp là thuộc tính tất yếu của ý thức thẩm mỹ trong

xã hội có giai cấp và nảy sinh đấu tranh gai cấp

Dù chủ thể cố ý hay không cố ý, muốn hay không muốn, bao giờ cũng phản ánh đời sống theo quan điểm của một giai tầng nhất định Thông qua nghệ thuật, tính giai cấp của ý thức thẩm mỹ được biểu hiện trong tác phẩm rất đa dạng, nhiều màu sắc, cung bậc, đậm nhạt khác nhau

Vì sao trong xã hội có giai cấp và nảy sinh đấu tranh giai cấp ý thức thẩm

mỹ lại mang tính giai cấp? Ý thức thẩm mỹ là một hình thái ý thức xã hội thuộc thượng tầng kiến trúc, chịu sự qui định của hạ tầng cơ sở, khi bản chất cơ sở là bản chất giai cấp thì ý thức thẩm mỹ nảy sinh trên cơ sở ấy tất yếu mang tính giai cấp

Trong cơ cấu đời sống xã hội, ý thức thẩm mỹ là một hình thái ý thức xã hội, do cơ sở đời sống sinh ra và chịu sự qui định của nó Trên một cơ sở kinh tế nhất định, nảy sinh một hệ ý thức thẩm mỹ nhất định Cơ sở kinh tế chẳng những quyết định sự nảy sinh và phát triển của ý thức thẩm mỹ mà còn quyết định nội dung và tính chất của ý thức thẩm mỹ Trong xã hội có giai cấp, cơ sở hạ tầng - toàn bộ những quan hệ sản xuất - là quan hệ giữa các giai cấp về địa vị đối với

hệ thống sản xuất xã hội, đối với hình thức chiếm hữu tư liệu sản xuất, về phương thức phân phối của cải Nói cách khác, là quan hệ giữa các giai cấp và

Trang 27

đấu tranh giai cấp Ý thức thẩm mỹ nảy sinh trên cơ sở hạ tầng mang bản chất giai cấp đó tất yếu mang bản chất giai cấp - bản chất của cái đã sinh ra nó

Mặt khác, ý thức thẩm mỹ là một hình thái ý thức xã hội, như các hình thái ý thức xã hội khác, có tác dụng phục vụ, duy trì, bảo vệ hạ tầng cơ sở; khi cơ

sở mà nội dung trọng yếu của nó là đấu tranh giai cấp thì ý thức thẩm mỹ có nhiệm vụ phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp đó Các giai cấp cầm quyền luôn luôn có ý thức sử dụng thượng tầng kiến trúc để duy trì lợi ích giai cấp mình Vì vậy mà thông qua nghệ thuật, ý thức thẩm mỹ là vũ khí đấu tranh giai cấp

Ðứng ở góc độ nhận thức luận, phản ánh luận, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội, ý thức thẩm mỹ là một hình thái ý thức nên nó phản ánh tồn tại xã hội Dù muốn hay không, khi sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ bao giờ cũng phản ánh vào trong tác phẩm của mình thế này hay thế khác tồn tại xã hội, đời sống xã hội Khi tồn tại xã hội là tồn tại mang bản chất giai cấp, ý thức thẩm mỹ phản ánh nó, tất yếu phản ánh các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp

Tính giai cấp của ý thức thẩm mỹ còn được biểu lộ trong tính chất của đánh giá tư tưởng- thẩm mỹ về hiện thực trên lập trường của nột lý tưởng xã hội nhất định Lập trường hưởng thụ và đánh giá thẩm mỹ của một chủ thể, xét đến cùng, luôn chịu sự chi phối và được quyết định bởi các tình cảm giai cấp, thế giới quan, các quan điểm chính trị và xã hội của chủ thể đó

Và cuối cùng, tính giai cấp của ý thức thẩm mỹ trong điều kiện xã hội có giai cấp cũng thể hiện cả trong việc các giai cấp khác đều sử dụng nghệ thuật theo các lợi ích của mình Điều này đã được minh chứng một cách xác đáng trong lịch sử phát triển của nghệ thuật qua các thời kỳ phát triển

Theo quan điểm của triết học mác xít, trong ý thức thẩm mỹ, tính giai cấp

có mỗi quan hệ gắn bó với tính dân tộc Vì bất kỳ chủ thể thẩm mỹ nào cũng sinh ra và trưởng thành trong cộng đồng dân tộc nên bản chất xã hội của ý thức thẫm mỹ mang tính dân tộc thể hiện ở chổ chủ thể thẩm mỹ mang tâm hồn, tình cảm và tiếng nói của dân tộc

Trang 28

Tính dân tộc có thể được hiểu là những đặc điểm nổi bật của cộng đồng người có chung lãnh thổ, ngôn ngữ, phương thức và chế độ chính trị trải qua một thời kì lịch sử lâu dài Tính dân tộc không bộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể thành yếu tố hữu hình mà nó thấm vào trong cảm xúc, trong cách nhìn và phương thức thể hiện của chủ thể

Tính dân tộc còn thể hiện ở cái nhìn dân tộc đối với thế giới xung quanh,

là biểu hiện đầy đủ nhất những cảm nhận của chủ thể trước không gian, thời gian

và các mối quan hệ giữa con người với con người Rõ ràng sự cảm nhận, cái nhìn đối với thế giới xung quanh của các nhà thơ trung đại là biểu hiện đặc trưng cho tính dân tộc của những con người sinh sống ở một nước nông nghiệp trong một chế độ phong kiến kéo dài hàng thế kỉ Các nhà thơ trung đại suy nghĩ, cảm nhận và chiêm nghiệm về cuộc đời, con người qua cảnh sắc thiên nhiên xung quanh và thiên nhiên là nơi gửi gắm tâm tình, tình cảm, thậm chí thiên nhiên còn trở thành thước đo cho vẻ đẹp của con người

Các phong tục, tập quán, nếp sống lao động lâu đời của dân tộc đã được truyền vào ý thức thẩm mỹ của con người Vì thế, không thể tách tính dân tộc khỏi các hoạt động sáng tạo của con người được Đối tượng phán ánh của ý thức thẩm mỹ chính là hiện thực thẩm mỹ của mỗi dân tộc

Tính dân tộc của ý thức thẩm mỹ được biểu hiện tập trung nhất trong hình tượng nghệ thuật của chủ thể sáng tạo cũng như cách tiếp nhận của chủ thể thưởng thức Sở dĩ như vậy là hình tượng nghệ thuật là hiện thực được phán ánh thông qua thế giới quan, tâm tư, tình cảm, nguyên vọng của chủ thể nên nhưng nét độc đảo của hiện thực được biểu hiện đều tập trung ở đó Vì thế, trong sự phong phú và đa dạng của hình tượng nghệ thuật, tính dân tộc của ý thức thẩm

mỹ được thể hiện một cách rõ rệt, đậm đà

Trang 29

1.2 Nội dung và mô thức của nền văn hoá mới ở Việt Nam

1.2.1 Nội dung nền văn hoá mới được quy định bởi nội dung cuộc cách mạng Việt Nam

Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:

Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa) Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm lược của các nước đế quốc đối với các quốc gia phong kiến phương Đông

Trong trào lưu xâm lược thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây, từ năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu tiến công quân sự để chiếm Việt Nam Sau khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa

Từ năm 1897, thực dân Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất và sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), chúng tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương với số vốn đầu tư trên quy mô lớn, tốc độ nhanh

Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam, tạo ra những mâu thuẫn ngày càng gay gắt đó là:

-Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc, thực dân Pháp xâm lược -Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động Việt Nam (chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ phong kiến

Để giải quyết những mâu thuẫn đó, yêu cầu đặt ra là phải có một cuộc cách mạng đem lại độc lập, dân sinh và dân chủ cho dân tộc Việt Nam Mặc dù

có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra theo khuynh hướng phong kiến chống lại thực dân Pháp nhưng đều bị thất bại Các phong trào của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và Việt Nam Quốc Dân Đảng đã thể hiện sự nổ lực, cố gắng vươn đến sự

Trang 30

hoà nhập vào xu thế chung của thời đại, tiếp cận vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc trên bình diện mới là vừa phát động tinh thần giáo dân, tân dân, vừa tiến hành bạo lực, thực hiện khởi nghĩa vũ trang Nhưng các phong trào này cũng không thể mang lại sự thắng lợi vì những nhà lãnh đạo phong trào vẫn chưa thể vượt qua được những hạn chế của hệ tư tưởng dân chủ tư sản, vốn đã lỗi thời trước những yêu cầu phát triển mới của thời đại và của dân tộc, nên đã vấp phải

sự hụt hẫng trong tư duy lý luận về khoa học cách mạng ở Việt Nam Phong trào kêu gọi sự đồng tâm nhưng không tiến hành được sự hợp lực, dẫn đến sự dao động trong mục tiêu đấu tranh và dần bị cô lập trong hành động Do đó, mọi sự chuyển biến về chất của các phong trào đấu tranh cách mạng chỉ là sự phát triển tận cùng của sự bế tắc và luôn ở trong vòng vây của sự khủng hoảng về đường lối cứu nước

Những phong trào trên đây dù thất bại nhưng nó cũng đem lại sự trưởng thành trong nhận thức của nhân dân ta về con đường cách mạng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới, nghiên cứu các hệ thống lý luận cách mạng tiến bộ để lựa chọn cho dân tộc một con đường đúng đắn

Hồ Chí Minh nhận thấy, giai cấp quý tộc địa chủ và hệ tư tưởng phong kiến của nó đã không còn sức lôi cuốn đối với dân chúng Sự lạc hậu của nó so với xu thế thời đại làm cho nó không còn khả năng cứu dân tộc thoát khỏi xiềng xích Thực tiễn các cuộc khởi nghĩa theo khuynh hướng phong kiến đều bị thất bại đã chứng minh điều đó Người ra đi tìm đường cứu nước

Hồ Chí Minh đến Pháp để thể nghiệm lời kêu gọi của cách mạng tư sản Pháp là Tự do, Bình đẳng, Bác ái nhưng Người thấy sự bần cùng vẫn dành riêng cho nhân dân lao động dưới sự cai trị của những người đưa ra lời kêu gọi ấy – giai cấp tư sản Hồ Chí Minh đến Mỹ để thể nghiệm giá trị của độc lập, tự do nhưng cái Người tận mắt thấy là dưới tượng đài của Nữ thần tự do là kiếp sống

Trang 31

của những người làm thuê bị đoạ đày bởi những nhà tư bản Hồ Chí Minh viết:

“Tư bản nó dùng chữ Tự do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến Khi dân đánh đổ phong kiến rồi, thì nó lại thay phong kiến mà áp bức dân”[79, tr.274] Dân tộc Việt Nam không thể theo con đường tư bản để

thay thế sự áp bức này bằng một sự áp bức khác

Trong sự ảnh hưởng ngày càng lan rộng của cách mạng Tháng Mười Nga

1917, Hồ Chí Minh đi tìm hiểu một cách sâu sắc lý luận và thực tiễn của cách mạng vô sản thông qua việc tham gia vào phong trào đấu tranh của Quốc tế

Cộng sản Sau khi tiếp nhận tư tưởng của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”, Hồ Chí Minh xác định con đường cách mạng giải phóng dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản Người viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết,

ấp no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hoà thế giới chân chính, xoá bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động trên thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”[78, tr.46]

Hồ Chí Minh cũng nhận thức cuộc cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa

và phụ thuộc cần phải được tiến hành hoàn toàn khác với cuộc cách mạng vô sản

ở các nước tư bản chính quốc Vì các nước này chưa trải qua sự phát triển tư bản

chủ nghĩa, lại bị đế quốc thực dân xâm lược thì “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây” Và “dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung

“cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu

mà Mác ở thời mình không thể có được” Người đi đến kết luận: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” [78, tr.464,465]

Bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xác lập nội dung mới về cách mạng vô sản ở

nước ta đó là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Trang 32

Xuất phát từ những yêu cầu của cách mạng Việt Nam, hướng đến yêu cầu phát triển chung của thời đại, Hồ Chí Minh xác định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hai mục tiêu thống nhất với nhau trong suốt quá trình hành động cách mạng Điều đó có nghĩa là con đường cách mạng Việt Nam phải là con đường của sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của dân tộc với lợi ích của giai cấp, giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản Muốn tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc

Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản năm 1925, Người đưa ra hình tượng “con đỉa hai vòi” để nói về chủ nghĩa đế quốc, qua đó, Người làm rõ mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở các nước chính quốc và ở các nước thuộc địa Cách mạng ở các nước thuộc địa thành công sẽ góp phần giúp cho cách mạng vô sản ở chính quốc giành thắng lợi, cách mạng vô sản ở các nước chính quốc giành thắng lợi cũng đồng thời giải phóng được các dân tộc thuộc địa

Ở tác phẩm “Đường kách mệnh” xuất bản năm 1927, Người cũng khẳng định mối quan hệ khăng khích giữa “dân tộc cách mệnh” và “thế giới cách

mệnh” Người viết: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ Và nếu công nông Pháp làm cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do” [79, tr.266]

Cách mạng giải phóng dân tộc đem lại độc lập, chủ quyền cho dân tộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự tiếp nối làm cho nhân dân vĩnh viễn được giải phóng ra khỏi áp bức, bóc lột, con người được tạo điều kiện để phát triển toàn diện Độc lập dân tộc phải gắn liền chủ nghĩa xã hội là một nội dung cơ bản của

cách mạng Việt Nam Nội dung cách mạng này quy định nội dung của nền văn hoá mới ở Việt Nam

Trang 33

Hồ Chí Minh đã đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát về “ý nghĩa của

văn hóa”: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của loài người đã sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [80, tr.431]

Từ ý nghĩa trên đây đã bao chứa trong đó nhiều nội dung: văn hóa là sự phát triển tự thân và tất yếu, mang tính xã hội cao, do nhu cầu tồn tại của con người; văn hóa là phương thức hoạt động và không ngừng nâng cao phương thức theo tiến triển xã hội; trong cái chung về phương thức có cái riêng về công cụ sinh hoạt hằng ngày Từ các mặt đó, vai trò sáng tạo và giá trị nhân văn đã trở thành cốt lõi của văn hóa

Từ nội hàm của văn hoá và nội dung của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí

Minh đã xác lập tư tưởng của Người về nội dung của nền văn hoá mới là nền văn hoá vô sản

Hồ Chí Minh đã phác họa con đường phát triển nền văn hoá vô sản Xây dựng văn hóa là:

1 - Xây dựng tâm lý: lý cách, tinh thần độc lập tự cường

2 - Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng

3 - Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội

4 - Xây dựng chính trị: dân quyền

5 - Xây dựng kinh tế” [80, tr.431]

Điều đó có nghĩa là xây dựng nhân tố văn hóa chi phối mọi lĩnh vực của đời sống; hay nói cách khác, bất cứ lĩnh vực nào của đời sống cũng chịu sự chi phối của tinh thần văn hóa cách mạng Đây là phác thảo đầu trong điều kiện cách mạng giải phóng dân tộc chưa thành công

Trang 34

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ một định hướng chung là xây dựng nền văn hóa Việt Nam chỉ có thể do Đảng tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo, Hồ Chí Minh đã chỉ ra:

-Văn hóa phải đứng trong kinh tế và chính trị, phải liên lạc mật thiết với

chính trị; phải lấy hạnh phúc của đồng bào làm cơ sở hoạt động Văn hóa thực hiện đường lối chính trị theo đặc thù của mỗi lĩnh vực và tác động vào đời sống kinh tế, vì lợi ích của nhân dân: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người

-Văn hóa phải soi đường cho quốc dân, phải đi sâu vào tâm lý quốc dân

và gắn bó với thực tiễn cuộc sống nhân dân Tùy theo mỗi đối tượng, văn hóa hướng con người đến ý thức, hoài bảo về con đường đi tới tương lai của dân tộc

do Đảng lãnh đạo

-Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận có nhiều đặc thù mà các lĩnh vực

khác không có Người nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy, tham gia vào sự nghiệp đấu tranh và xây dựng xã hội mới

-Văn hóa phải có ý thức khoan dung và theo phương châm “trồng người”

Mỗi người đều có phần tốt bên trong, nếu biết khơi dậy và hướng đường đúng đắn, sẽ làm cho cái đẹp, cái thiện nãy nở và đẩy lùi cái xấu, cái ác

-Văn hóa phải mang bản sắc của dân tộc Việt Nam tiến bộ, là phát triển

văn hoá phải hết sức coi trọng truyền thống và có ý thức giao lưu với văn hóa thế giới Truyền thống là tinh hoa đã được thử thách qua thời gian và trở thành di sản Giao lưu từ vị thế, bản lĩnh và đặc điểm văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu vừa góp phần vào kho tàng giá trị của loài người

Sự xuất hiện các mô thức của nền văn hoá mới:

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra nội dung cơ bản của nền văn hoá mới ở Việt Nam đó là nền văn hoá vô sản của dân tộc Việt Nam Với sự định hướng

Trang 35

đó, qua từng giai đoạn của lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra các mô thức văn hoá trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới

- Mô thức văn hoá I: Mô thức văn hoá trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, năm

1943, Đảng Cộng Sản Đông Dương đưa ra Đề cương về văn hoá Việt Nam Đây

là một tuyên ngôn đổi mới đầu tiên về văn hóa trong suốt thời kỳ phát triển lịch

sử lâu dài của nền văn hóa dân tộc Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 là sản phẩm tất yếu và chín muồi của khát vọng đổi mới và chứa chấp trong lòng văn hóa dân tộc hàng mấy thế kỷ trước Nội dung của đề cương được xem là mô thức đầu tiên của nền văn hoá mới ở Việt Nam

Mở đầu đề cương, trong “Cách đặt vấn đề”, với việc xác định phạm vi của văn hoá bao gồm tư tưởng, học thuật và nghệ thuật, Đảng Cộng sản Đông Dương khẳng định văn hoá bị quyết định bởi chế độ kinh tế của xã hội Văn hoá là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hoá) của cách mạng vô sản

Đề cương cũng xác định tính chất vǎn hoá Việt Nam lúc bấy giờ, về hình thức là thuộc địa, về nội dung là tiền tư bản

Chiến tranh và xu trào vǎn hoá lúc bấy giờ chịu ảnh hưởng của vǎn hoá phát xít làm cho tính chất phong kiến, nô dịch trong vǎn hoá Việt Nam mạnh lên, nhưng đồng thời chịu ảnh hưởng của vǎn hoá tân dân chủ, xu trào vǎn hoá mới của Việt Nam đang cố vượt hết mọi trở lực để nảy nở Xu trào văn hoá mới ấy bị coi là bất hợp pháp

Đảng chỉ ra những chính sách văn hoá của Pháp và Nhật và nêu ra hai “ức

thuyết”: Một là, “nền vǎn hoá phát xít (vǎn hoá trung cổ và nô dịch hoá) thắng thì vǎn hoá dân tộc Việt Nam nghèo nàn thấp kém”; Hai là, “cách mạng dân chủ giải phóng thắng lợi” thì vǎn hoá dân tộc Việt Nam “được cởi mở xiềng xích và

sẽ đuổi kịp vǎn hoá tân dân chủ thế giới” Đảng cũng tin tưởng rằng “cách mạng

Trang 36

dân tộc Việt Nam nhất quyết sẽ làm cho ức thuyết thứ hai trở nên sự thực”[28,

tr.316-321]

Về vấn đề cách mạng văn hoá Việt Nam, Đảng xác định:

- Cách mạng văn hoá phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo, có thể hoàn thành sau khi cách mạng chính trị thành công Và chỉ có hoàn thành cách mạng văn hoá thì mới có thể hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội

- Nền văn hoá mà cuộc cách mạng hướng đến xây dựng phải là nền văn hoá xã hội chủ nghĩa

- Cách mạng văn hoá ở Việt Nam phải dựa vào cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện phát triển

- Cách mạng văn hoá Việt Nam muốn thắng lợi, văn hoá phải vận động

theo ba nguyên tắc: Dân tộc hoá (chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho vǎn hoá Việt Nam phát triển độc lập), Đại chúng hoá (chống mọi chủ

trương hành động làm cho vǎn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông

đảo quần chúng) và Khoa học hoá (chống lại tất cả những cái gì làm cho vǎn hoá

trái khoa học, phản tiến bộ)

- Tính chất của nền văn hoá mới ở Việt Nam phải là có tính dân tộc về hình thức và tân dân chủ về nội dung

Đó là nội dung mô thức thứ nhất của nền văn hoá mới mà Đảng Cộng sản Việt Nam (lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã đưa ra Các phác thảo

mà đề cương nêu lên phản ánh những tư tưởng rất sâu sắc về một sự nghiệp đổi mới nền văn hóa dân tộc mà trước đó chưa từng xuất hiện Đặc biệt, việc xây dựng nền văn hóa mang tính khoa học là một bước tiến trong quá trình giải phóng cá nhân Chính ở phương Tây vào thế kỷ XVIII, các định chuẩn tự do, bình đẳng, bác ái được thiết lập trong đời sống văn hóa là do khoa học đã phát triển và chế độ tam quyền phân lập đã ra đời Định chuẩn khoa học hóa do đề cương về văn hóa 1943 nêu lên là thành quả phát triển chín muồi của nền dân

Trang 37

chủ quốc tế và các thành tựu của khoa học kỹ thuật của thời đại Nguyên tắc vận động văn hóa này thật sự có tính chất cách mạng triệt để về nội dung

Có thể nói dựa trên các tư tưởng triết học chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã định hướng nền văn hóa và nghệ thuật Việt Nam theo một mô thức rất sáng tạo Mô thức này phản ánh một phong trào sáng tạo văn hóa nghệ thuật sôi động Nó hướng đến giải phóng năng lực sáng tạo cá nhân và sự phát triển mới của cộng đồng Vì lẽ đó, khả năng giải phóng của mô thức văn hoá của Đảng chứa chất một năng lượng cách mạng tiềm ẩn Ánh sáng của nó mở đường, tạo ra một sự phát triển hài hòa mới giữa cá nhân và cộng đồng, giữa dân tộc và quốc tế, mà nền văn hóa truyền thống chưa hề có Tích chất mở đường của nó thật là vĩ đại và cách mạng, nó đặt nền móng cho toàn bộ

sự lãnh đạo văn hóa của Đảng cộng sản Việt Nam về sau Sau 70 năm lịch sử,

“Đề cương về văn hoá Việt Nam là Cương lĩnh đầu tiên mang giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam”[105, tr.4]

- Mô thức văn hoá II: mô thức văn hoá trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam

Ý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn

đề xây dựng nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng phải dựa trên sự phát triển của truyền thống tốt đẹp của dân tộc, và hấp thu những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, là cơ sở tư tưởng quan trọng, cùng với cơ sở lý luận là Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943 đã góp phần lớn lao vào quá trình xây dựng nền văn hoá mới của nhân dân ta trong thời kỳ mới

Sau năm 1954, nước ta bước vào một giai đoạn cách mạng mới, chúng ta

xây dựng một mô thức phát triển của nền văn hóa mới có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc Mô thức văn hóa này tồn tại trong cách mạng xã hội

chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất tổ quốc

Nội dung xã hội chủ nghĩa của nền văn hoá mới bao chứa những đặc điểm

sau:

Trang 38

- Chủ nghĩa Mác-Lênin với tư cách là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân,

là nền tảng tư tưởng và giữ vai trò chủ đạo quyết định phương hướng phát triển nội dung của nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với nền văn hoá xã hội chủ nghĩa là điều kiện quyết định đưa nhân dân lao động thực sự trở thành chủ thể tự giác và hưởng thụ văn hoá của xã hội mới

- Nền văn hoá xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc Trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, hoạt động sáng tạo và hưởng thụ văn hoá không còn là đặc quyền, đặc lợi của thiểu số giai cấp bóc lột Công cuộc cải biến cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội từng bước tạo ra tiền đề vật chất và tinh thần để đông đảo nhân dân tham gia xây dựng nền văn hoá mới và hưởng thụ những giá trị của nền văn hoá đó

-Nền văn hoá xã hội chủ nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua tổ chức Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là nhân tố quyết định trước tiên đối với việc xây dựng nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Nền văn hoá xã hội chủ nghĩa không hình thành và phát triển một cách tự phát, trái lại, nó phải được hình thành

và xây dựng một cách tự giác, có sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Mọi sự coi nhẹ hoặc phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và vai trò quản lý của Nhà nước đối với đời sống tinh thần của xã hội, đối với nền văn hoá xã hội chủ nghĩa sẽ dẫn đến làm mất phương hướng chính trị của nền văn hoá- nền tảng tinh thần của xã hội

Tính chất dân tộc của nền văn hoá thể hiện ở chỗ:

- Nhấn mạnh đến chiều sâu, bản chất rất đặc trưng của văn hóa dân tộc, giúp phân biệt, không nhầm lẫn với văn hóa của các dân tộc khác Đó là chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết, khát vọng độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc

Trang 39

- Tính dân tộc của nền văn hóa không chỉ thể hiện ở chỗ biết giữ gìn, kế thừa, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn phải phát huy những truyền thống tốt đẹp ấy cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới của dân tộc

Mô thức văn hoá II đã phát huy được giá trị của nó khi nó định hướng đúng đắn cho cách mạng văn hoá Việt Nam Với sự định hướng đúng đắn ấy, nó góp phần làm cho cách mạng Việt Nam hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

ở miền Nam Sự thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc đem lại độc lập, thống nhất đất nước Bối cảnh xã hội thay đổi, để cuộc cách mạng văn hoá Việt Nam hoàn thành đòi hỏi phải có mô thức văn hoá thứ III

Mô thức văn hoá III: mô thức văn hoá của thời kỳ đổi mới

Sau năm 1986, nước ta đổi mới, trên cơ sở lý luận mác - xít và tư tưởng

Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa những mô thức văn hoá trước đó, Đảng ta đi đến tạo dựng một mô thức xây dựng nền văn hóa và nghệ thuật mới: Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà đặt trưng cơ bản là dân tộc, hiện đại, nhân văn

- Tính chất tiên tiến của nền văn hóa thể hiện ở 5 đặc trưng:

+ Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; gắn yêu nước (độc lập dân tộc) với chủ nghĩa xã hội

+ Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa thể hiện tinh thần nhân văn cách mạng: vì con người, vì sự phát triển toàn diện con người (cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức)

+ Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa thể hiện được tinh thần dân chủ: phát huy quyền làm chủ của nhân dân - tạo điều kiện cho đông đảo nhân dân tham gia vào quá trình sáng tạo, hưởng thụ và biểu hiện văn hóa; tôn trọng, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc; tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa

Trang 40

của các dân tộc, vùng, miền, làng xã, gia đình một cách bình đẳng; tôn trọng sự sáng tạo của cá nhân

+ Nền văn hóa tiên tiến là nền văn hóa mang tính hiện đại: tiếp thu, tiếp biến các thành tựu văn hóa, tri thức, khoa học, công nghệ hiện đại của nhân loại

Sử dụng các thành quả văn hóa, văn minh của thời đại vào giải quyết các vấn đề của dân tộc (hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước) Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng tiến bộ vào sự nghiệp xây dựng đất nước, con người và xã hội

+ Nền văn hóa tiên tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện và các phương tiện hiện đại để chuyển tải nội dung Tức là phải sử dụng các cách thức sáng tạo mới và các trang bị vật chất, kỹ thuật, công nghệ mới vào quá trình sáng tạo, phổ biến, bảo tồn và hưởng thụ các giá trị văn hóa mới

- Đậm đà bản sắc dân tộc là tính chất của nền văn hoá mới thể hiện ở

những điểm sau:

+ Văn hóa là một yếu tố hình thành dân tộc Văn hóa là bộ mặt tinh thần,

là linh hồn, là sức sống của một dân tộc

+ Bản sắc của dân tộc thể hiện trong văn hóa là những yếu tố "độc đáo",

"đặc sắc" của nền văn hóa dân tộc, là "cốt cách dân tộc", "đặc tính dân tộc"

+ Bản sắc văn hóa Việt Nam là "tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam", là giá trị bền vững của văn hóa Việt Nam biểu hiện ở 5 giá trị cơ bản:

1 Tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc;

2 Tinh thần đoàn kết cộng đồng, gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc;

3 Tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động;

4 Lòng nhân ái khoan dung trọng nghĩa tình đạo lý;

5 Tính giản dị trong lối sống, sự tinh tế trong ứng xử

Ngày đăng: 07/05/2021, 17:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo (1993), “Ảnh hưởng của văn hoá đối với phát huy nguồn lực con người”, Tạp chí triết học, (1). Tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của văn hoá đối với phát huy nguồn lực con người”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1993
2. Hoàng Chí Bảo (2000), Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về con người và văn hoá - Văn hoá Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb. Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về con người và văn hoá - Văn hoá Việt Nam truyền thống và hiện đại
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
Năm: 2000
3. Trần Văn Bính (1999) , Văn hóa xã hội chủ nghĩa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa xã hội chủ nghĩa
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
4. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu nghiên cứu Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hàng Trung ương Đảng khóa IX, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hàng Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
6. Trường Chinh(1976), Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Việt Nam, t.2, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1976
7. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
8. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên) (2001), Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thố ng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
9. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (Đồng chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
10. Nguyễn Trọng Chuẩn (1991), Về sự phát triển của xã hội ta hiện nay, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự phát triển của xã hội ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1991
11. Nguyễn Trọng Chuẩn (1996), “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí triết học, 1/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 1996
12. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề về Triết học – Con người- Xã hội, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Triết học – Con người- Xã hội
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
13. Nguyễn Trọng Chuẩn (2003), “Những thách thức của toàn cầu hóa”, Tạp chí Triết học, 5/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thách thức của toàn cầu hóa”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2003
14. Lê Duẩn(1977), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1977
15. Vũ Thị Kim Dung (2000), “Giao lưu văn hóa và các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao lưu văn hóa và các chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ”, "Tạp chí nghiên cứu lý luận
Tác giả: Vũ Thị Kim Dung
Năm: 2000
16. Vũ Thị Kim Dung (2003), Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kì đổi mới ở Việ Nam hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kì đổi mới ở Việ Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Kim Dung
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
17. Phạm Đức Dương (2002), Từ văn hoá đến văn hoá học, Nxb. Văn hoá-thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn hoá đến văn hoá học
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb. Văn hoá-thông tin
Năm: 2002
18. Lê Văn Dương – Lê Đình Lục – Lê Hồng Văn (2003), Mỹ học đại cương, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học đại cương
Tác giả: Lê Văn Dương – Lê Đình Lục – Lê Hồng Văn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2003
19. Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1977
20. Đảng cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1986
21. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w