1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm thức cô tịch trong thơ haiku thời edo (nhật bản) và thơ thiền thời trần (việt nam)

128 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Với đề tài này, chúng tôi sẽ tìm hiểu “Sabi” – một trong những cảm thức thẩm mĩ đặc trưng của văn học Nhật Bản và niềm cô tịch – một đặc điểm quan trọng trong thơ T

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2



NGUYỄN THỊ LỆ MY

CẢM THỨC CÔ TỊCH TRONG THƠ

HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ

THƠ THIỀN THỜI TRẦN (VIỆT NAM)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS LÊ THỊ THANH TÂM Thành phố Hồ Chí Minh – 2017

Trang 3

Edo (Nhật Bản) và thơ Thiền thời Trần (Việt Nam)” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa công bố nội dung này ở bất kỳ đâu Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực, nguồn trích dẫn có chú thích rõ ràng, minh bạch, có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các website

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ LỆ MY

Trang 4

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả thầy cô trong Khoa Văn học và Ngôn ngữ, chuyên ngành Văn học Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Lê Thị Thanh Tâm - người đã tận tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

TP.HCM, tháng 7 năm 2017

Nguyễn Thị Lệ My

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DẪN NHẬP 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

2.1 Đối tượng nghiên cứu 4

2.2 Phạm vi nghiên cứu 4

3 Lịch sử vấn đề 4

3.1 Những công trình nghiên cứu về Sabi, tinh thần cô tịch trong thơ Haiku và thơ Thiền Việt Nam 4

3.2 Những tư liệu đối sánh Haiku và thơ Thiền Việt Nam 7

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 10

4.1 Ý nghĩa khoa học 10

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Kết cấu luận văn 11

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁI NIỆM SABI VÀ CÔ TỊCH TRONG THƠ HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ THƠ THIỀN THỜI TRẦN (VIỆT NAM) 12

1.1 Sabi – cảm thức thẩm mĩ đặc trưng trong thơ Haiku Nhật Bản thời Edo 12

1.1.1 Cội nguồn Sabi trong đời sống tinh thần, thẩm mỹ Nhật Bản 12

1.1.2 Haiku thời Edo và mối quan hệ với cảm thức Sabi 18

1.2 Cô tịch – một đặc tính nghệ thuật và tư tưởng của thơ thiền thời Trần 25

1.2.1 Cô tịch trong quan niệm Thiền tông Việt Nam giai đoạn Lý - Trần 25

1.2.2 Thơ thiền thời Trần và những yếu tố thể hiện niềm cô tịch 29

Trang 6

Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VÀ THẨM MỸ CỦA CẢM THỨC SABI TRONG THƠ HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ NIỀM CÔ TỊCH TRONG

THƠ THIỀN THỜI TRẦN (VIỆT NAM) 37

2.1 Chất liệu thẩm mỹ (được vận dụng để) thể hiện cảm thức cô tịch 37

2.1.1 Hoa 37

2.1.2 Trăng 45

2.1.3 Gió 52

2.2 Không gian và thời gian cô tịch 56

2.2.1 Không gian cô tịch 56

2.2.2 Thời gian cô tịch 65

2.3 Sabi và niềm cô tịch – Vẻ đẹp thấu thị của triết lí Thiền tông 69

2.3.1 Triết lý về sự vận động của vũ trụ 69

2.3.2 Triết lý về vĩnh cửu – khoảnh khắc 77

Chương 3: SO SÁNH MỘT SỐ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TIÊU BIỂU 82

3.1 Basho và Tuệ Trung thượng sĩ 82

3.1.1 Hành trình tìm về với thiên nhiên 82

3.1.2 Tâm sự lánh đời và ước muốn nhập thế 89

3.2 Issa và Huyền Quang 93

3.2.1 Cảm thức thiên nhiên trong hai tâm hồn thi sĩ 94

3.2.2 Tâm hồn hư không trong cuộc đời vô thường 100

3.2.3 Nỗi cô đơn trước vạn vật và con người 105

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 118

Trang 7

DẪN NHẬP

1 Lí do chọn đề tài

Haiku là loại thơ độc đáo, là loại thơ ngắn nhất thế giới, được xem là tinh hoa văn hóa dân tộc Nhật Bản Dưới góc nhìn Thiền Tông, Haiku là thể thơ đặc biệt có thể chứa đựng được thực tại trong vỏn vẹn 17 âm tiết, vừa sâu lắng, uyên thâm, lại vừa đơn

sơ, giản dị Trong khi đó, thơ Thiền là một bộ phận quan trọng, có giá trị và đóng góp không nhỏ cho văn học trung đại Việt Nam nói riêng và nền văn học dân tộc nói chung Tuy thơ Haiku và thơ Thiền không ra đời trong cùng một giai đoạn, một thời kì, nhưng giữa hai nền thơ ca này có rất nhiều điểm gặp gỡ, tương đồng Và khi đối chiếu với nhau, giá trị của cả hai sẽ được tôn vinh hơn đồng thời những nét đặc sắc riêng của hai nền văn học cũng sẽ thể hiện rõ nét hơn

“Sabi” (cô tịch) là một trong các phạm trù thẩm mĩ đặc trưng của văn học Nhật Bản Tìm hiểu sâu hơn về cảm thức “Sabi”, soi chiếu nó vào trong các tác phẩm văn học cùng chung cội nguồn văn hóa phương Đông là một hướng đi cụ thể, khai thác vấn đề ở chiều sâu của nó

Thơ Haiku và thơ Thiền thời Trần là hai nội dung quan trọng trong chương trình giảng dạy Ngữ Văn ở các trường Trung học, Cao đẳng và Đại học Vì vậy, đề tài nghiên cứu cũng phần nào đóng góp thêm tư liệu, giúp ích cho việc dạy và học Văn ở trường phổ thông, Cao đẳng và Đại học

Nghiên cứu thơ Haiku và thơ Thiền thời Trần nhằm giúp người đọc hiểu thêm

về hai nền văn hóa cùng chung cội nguồn tâm linh phương Đông - một trong những cội nguồn của văn hóa nhân loại Qua đó, góp phần hỗ trợ cho công cuộc giao lưu và hội nhập văn hóa quốc tế

Kế thừa thành quả của các học giả đi trước, chúng tôi muốn tập trung vào trường hợp nghiên cứu cụ thể một yếu tố cơ bản trong thơ Haiku và thơ Thiền thời Trần, đó là: “Sabi” và “niềm cô tịch” Hai yếu tố này thực chất cũng là hai yếu tố mang đậm phong cách văn học Phật giáo Đông Á

Trang 8

Vì những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu Cảm thức cô tịch

trong thơ Haiku thời Edo (Nhật Bản) thơ Thiền thời Trần (Việt Nam)

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sẽ tìm hiểu “Sabi” – một trong những cảm thức thẩm

mĩ đặc trưng của văn học Nhật Bản và niềm cô tịch – một đặc điểm quan trọng trong thơ Thiền Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu giữa thơ Haiku thời Edo (Nhật Bản)

và thơ Thiền thời Trần (Việt Nam)

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Ở phần thơ Thiền đời Trần, chúng tôi chọn các văn bản in trong Thơ văn Lý – Trần [88], [89], [90] do Viện văn học tuyển chọn Đối với thơ Haiku, chỉ riêng những

tác giả tiêu biểu như Basho, Buson, Issa, Shiki, mỗi tác giả đã có khối lượng tác phẩm

ở vào con số hàng ngàn Tuy nhiên, số lượng tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Việt chỉ mới chiếm một phần nhỏ trong số ấy Mặc dù vậy, để thực hiện đề tài này, hiện tại, người viết cũng đã thu thập được trên 400 bài Haiku dùng làm tư liệu khảo sát,

so sánh Về phần dịch giả, chúng tôi trích dẫn và phân tích trên các bản dịch của Nhật

Chiêu được tuyển chọn trong Thơ ca Nhật Bản [9], Ba nghìn thế giới thơm [11] và các bản dịch của Đoàn Lê Giang in trong Quan niệm văn học cổ điển Nhật Bản trong cái nhìn so sánh [22], nếu sử dụng những bản dịch của các tác giả khác chúng tôi đều ghi

tên dịch giả bên dưới

Trang 9

nhau… và ngay trong bản thân cuộc sống được gọi là Sabi Sabi đòi hỏi sự dung dị, tự nhiên, sự khống chế ước, sự tinh tế, sự tự do” (dẫn theo [23, tr.62]) V.V Ôtrinnicốp trong bài viết Những quan niệm thẩm mĩ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật thì cho rằng “Sabi là sự không hoàn thiện mang tính chất cổ sơ, là vẻ đẹp của cái cổ, là dấu ấn

của thời gian” [55, tr.60] Trong công trình Zen và văn hóa Nhật Bản, D.Suzuki nhấn

mạnh đến tính trực quan của Haiku: “Haiku không bao giờ diễn đạt tư tưởng, mà đưa

ra những biểu tượng để phản ánh những điều trực quan như nó vốn có” (dẫn theo [34, tr.7]), đến tinh thần vô ngôn của Haiku: “Một khi cảm giác đạt tới độ cao của nó, chúng ta chỉ còn biết im lặng bởi không có từ ngữ nào diễn tả được hết Mười bảy âm

tiết có thể là quá nhiều” (dẫn theo [34, tr.7]) Công trình Hài cú nhập môn [25] của H

Henderson đề cập đến đặc điểm của hài cú gồm sự ngắn gọn, hàm súc: “Do tính chất ngắn gọn, hài cú ít khi có thể biện bày bức tranh chi tiết, chỉ những đặc điểm chính hoặc những phần quan trọng được chấm phá, phần còn lại tự người đọc phải bổ khuyết” [25, tr.12]; nghệ thuật “rensò– liên tưởng”; nguyên tắc “sử dụng ki” và

“nguyên lí đối chiếu nội tại” trong một bài Haiku: “Để gây ấn tượng, các tác giả hài cú

sử dụng thông thạo cái mà họ gọi là rensò – liên tưởng Rensò được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau Các bậc thầy hài cú đã đi tới kết luận có một kinh nghiệm chung cho mọi người về sự thay đổi thời tiết với bốn mùa luân chuyển Điều được biết đến như là ki, hay mùa, được đưa vào hầu hết thi phẩm của họ” [25, tr.14]

Ở Việt Nam, phải kể đến các học giả như Nhật Chiêu, Lưu Đức Trung, Lê Từ

Hiển Nhật Chiêu định nghĩa “Sabi là linh hồn của tịch liêu và xa xưa” [13, tr.273] Lê

Từ Hiển, Lưu Đức Trung cũng có chung quan điểm như vậy: “Cái đẹp cô đơn được gọi

là Sabi” [27, tr.42] Trong luận văn Đạm trong tuyệt cú của Vương Duy và Wabi

trong Haiku của Basho [56], Nguyễn Diệu Minh Chân Như đề cập đến bốn yếu tố

thẩm mĩ nổi bật của văn học nghệ thuật Nhật Bản là Aware, Yugen, Sabi và Wabi

Trong đó, “Sabi là cảm thức về cái đẹp trong trạng thái tĩnh lặng và cô độc […] Sự cô độc được hình thành trong quá trình chia cắt của cái một đứng trước cái toàn thể Ở

Trang 10

đây, Sabi là cô độc, nhưng nó là sự cô độc của cái một trong sự soi chiếu với tất cả

Đó cũng chính là sự vắng bóng của tự ngã” [56; tr.13]

Luận văn Ý thức thẩm mỹ trong thơ Haiku [2] của Nguyễn Thị Lam Anh đã

chỉ ra “Khái niệm Sabi không chỉ mang ý nghĩa về tuổi tác – với cách hiểu là sự trưởng thành với kinh nghiệm và thấu hiểu hay vẻ hoen rỉ, bóng loáng trên bề mặt tạo ra vẻ đẹp có chiều sâu, mà còn có nghĩa là vắng lặng, tĩnh mịch hay nỗi cô độc sâu sắc” [2;

tr.52]

Một trong những nhà nghiên cứu có nhiều công sức trong việc đưa thơ Haiku Nhật Bản đến với độc giả Việt Nam là nhà nghiên cứu văn học Nhật Chiêu Trong

những công trình như Thơ ca Nhật Bản [9], Nhật Bản trong chiếc gương soi [10],

Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1886 [13], tác giả đã dành một phần để giới thiệu

về thơ Haiku từ nguồn gốc, sự phát triển đến những đặc điểm cơ bản về nội dung và

nghệ thuật Đặc biệt, trong công trình Ba nghìn thế giới thơm [11], Nhật Chiêu đã sắp

xếp những bài Haiku theo những chủ đề nhất định (tất cả gồm 17 chủ đề) Đây là những trang viết vừa sắc sảo vừa bay bổng, mượt mà và thấm đẫm một tinh thần Thiền

Một số chuyên luận về thơ Haiku của các nhà nghiên cứu khác như Cấu trúc

nghệ thuật thơ Haiku [39] của Nguyễn Tuấn Khanh hay Haiku – Tinh túy hồn thơ Nhật Bản [28] của Lê Từ Hiển Với tiểu luận Haiku – Tinh túy hồn thơ Nhật Bản, Lê

Từ Hiển đã đề cập đến “tính chất cô đọng, dồn nén đến tối đa, hầu như lược bỏ mọi trang sức”, đến “tính khoảnh khắc” của nghệ thuật Haiku và đặc biệt là “tinh thần mĩ

học Thiền thấm đẫm thơ Haiku”; tiểu luận Cấu trúc nghệ thuật thơ Haiku, Nguyễn

Tuấn Khanh cũng đã đề cập đến tính ngắn gọn, cô đúc, đến nguyên tắc khơi gợi,

nguyên tắc sử dụng kigo (quý ngữ) của thơ Haiku Gần đây, luận án Tiến sĩ Thơ Haiku

Nhật Bản: lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại [58] của Nguyễn Vũ Quỳnh Như,

ngoài việc nghiên cứu thơ Haiku trên phương diện lịch sử hình thành và đặc trưng thể loại từ chiều sâu của đặc điểm ngôn ngữ văn hóa Nhật Bản, ở mục 3.3 Một số phạm trù

mĩ học trong thơ Haiku, tác giả đã đưa ra một cách nhìn khái quát về các khái niệm:

Trang 11

Aware (Bi ai), Wabi (Giản đạm), Sabi (Tịch tĩnh), Karumi (Nhẹ nhàng), Shiori (Man mác)

Trong những công trình nghiên cứu về thơ Thiền Việt Nam, có thể kể đến

công trình Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ X – thế kỉ

XIV [83] của Đoàn Thị Thu Vân, chuyên luận Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền thời Lý [33] của Nguyễn Phạm Hùng và công trình khoa học của PGS.TS Nguyễn

Công Lý Văn học Phật giáo thời Lý – Trần diện mạo và đặc điểm [47] Luận án Khảo

sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỉ X – thế kỉ XIV đã đi sâu khai

thác phần nghệ thuật của thơ Thiền Lý Trần Trên cơ sở những đặc điểm về nghệ thuật như ngôn ngữ, thể loại, thế giới hình tượng, không gian và thời gian nghệ thuật, công trình đã nêu bật những giá trị nội dung đặc sắc của thơ Thiền Lý Trần Có thể nói đây

là một công trình nghiên cứu vừa bao quát vừa chuyên sâu về thơ Thiền Lý – Trần

Mặc dù chuyên luận Thơ Thiền và việc lĩnh hội thơ Thiền thời Lý chỉ giới hạn nghiên

cứu thơ Thiền thời Lý nhưng đã đưa ra những khái quát về đặc điểm của thơ Thiền nói chung như “thơ Thiền rất chú trọng tính trực giác”, “con người trong thơ Thiền còn là con người có lí trí, có bản lĩnh và nghị lực”, “những con người ham sống chứ không

phải con người “khắc kỉ”, Trong luận án Tiến sĩ Văn học Phật giáo thời Lý – Trần

diện mạo và đặc điểm, tác giả Nguyễn Công Lý đã trình bày các đặc điểm của văn học

Phật giáo thời Lý – Trần, tác giả cũng đề cập đến “kiểu tư duy trực cảm tâm linh”, đến nội dung thể hiện giáo lí nhà Phật, đến quan niệm về con người, đến cảm hứng thiên nhiên,… Cũng trong công trình này, tác giả đã có những con số thống kê như: trong tổng số 11 thể loại có mặt trong văn học Phật giáo thời Lý – Trần, thể loại kệ và thơ Thiền đã chiếm 405 trên tổng số 471 đơn vị tác phẩm, chiếm 86%

3.2 Những tư liệu đối sánh Haiku và thơ Thiền Việt Nam

Trong những công trình nghiên cứu so sánh thơ Thiền Việt Nam và thơ Thiền Nhật Bản, chúng tôi nhận thấy có các công trình sau:

Trang 12

Công trình nghiên cứu Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam

thế kỉ X-XIV [83], để làm rõ đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thời Lý

Trần, tác giả Đoàn Thị Thu Vân đã dành một phần để so sánh nghệ thuật thơ thiền Lý Trần và thơ Thiền Nhật Bản, chỉ ra những nét tương đồng như hàm súc và khơi gợi trực cảm, những nét khác biệt như quan điểm thể hiện “nếu ở thơ thiền Việt Nam và cả thơ thiền Trung Quốc, chân, thiện và mỹ đều được xem trọng thì ở thơ thiền Nhật Bản, chân là yếu tố quyết định” [83, tr.176]; cách sử dụng các thủ pháp nghệ thuật “cùng tràn đầy hình ảnh thiên nhiên, nhưng thiên nhiên trong thơ Lý Trần có khi là thiên nhiên đích thực cũng có khi là thiên nhiên công cụ (dùng để biểu tượng), còn ở Haiku luôn là thiên nhiên đích thực Cùng là một tư tưởng vô thường, nhưng ở thơ thiền Lý Trần, nó được thể hiện qua những ẩn dụ quen thuộc,… ở Haiku, nó được cảm nhận qua những sự vật, sự việc bình thường diễn ra hàng ngày được tác giả ghi lại khi bất chợt nhìn thấy” [83, tr.177]; và thứ ba là sự khác biệt về thể loại “thơ thiền Lý Trần đa số là những bài tứ tuyệt Đường luật… Còn thơ Haiku với 17 âm tiết chia làm ba dòng dài ngắn khác nhau”

Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu so sánh thơ Thiền Lý - Trần (Việt Nam) và thơ

Thiền Đường - Tống (Trung Quốc) [64] của Lê Thị Thanh Tâm đã tìm ra những nét

tương đồng và khác biệt giữa thơ Thiền Lý – Trần (Việt Nam) và thơ Thiền Đường - Tống (Trung Quốc) thông qua lăng kính Mỹ học Phật giáo Thiền tông Qua việc nghiên cứu thơ Thiền Lý – Trần (Việt Nam) và thơ Thiền Đường - Tống (Trung Quốc) trên các phương diện: hình tượng thiên nhiên, điểm nhìn bản thể luận, hình tượng con người và nhân sinh quan Phật giáo Thiền tông, tác giả đã chỉ ra thơ Thiền Lý – Trần và thơ Thiền Đường - Tống có những nét tương đồng về ngôn ngữ - văn hóa, về quan niệm bản thể thông qua ẩn dụ hình ảnh thiên nhiên (hoa, núi non, sông suối, mây trắng, ánh trăng,…), về hình tượng con người (con người hành hương, con người giải thoát và con người mộng huyễn) và những nét dị biệt như: chữ Nôm và khuynh hướng “dân tộc hóa” cảm thức Phật giáo của người Việt, hình tượng bản lai diện mục với biến thể

Trang 13

“nương sinh diện”, quan niệm cư trần lạc đạo của người Việt,… Có thể nói công trình trên là nguồn tư liệu quý giá giúp chúng tôi khai thác đề tài của mình dưới góc nhìn Mỹ học Thiền

Luận văn Thơ Thiền Việt Nam thời Lý Trần trong so sánh với thơ Thiền Nhật

Bản [34] của Tăng Kim Huệ đã phân tích những điểm tương đồng và dị biệt trên

phương diện đề tài, nội dung, nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam và thơ Thiền Nhật Bản Về đề tài, cả hai đều có đề tài về thiên nhiên, con người và cuộc sống trần thế nhưng lại khác nhau ở chỗ: đề tài tôn giáo chiếm phần lớn trong thơ Thiền Lý Trần Việt Nam mà hầu như không có trong thơ Thiền Nhật Bản, đề tài tình mẫu tử lại chỉ thấy trong thơ Thiền Nhật Bản mà không có trong thơ Thiền Lý Trần Việt Nam Về nội dung và nghệ thuật, luận văn đã chỉ ra những điểm tương đồng về tinh thần Thiền và tính ngắn gọn, cô đọng, hàm súc và những điểm khác biệt về hình tượng thiên nhiên, hình tượng con người, về thời gian và không gian nghệ thuật, về ngôn ngữ,… Tác giả cũng nêu ra những nguyên nhân để lí giải sự khác nhau đó như “do mục đích sáng tác khác nhau”, “do quan điểm thể hiện khác nhau”, “do quan điểm thẩm mĩ khác nhau”,

“do sự khác nhau về ngôn ngữ”

Ngoài ra, cũng cần phải kể đến các bài viết nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm

cụ thể thuộc bộ phận thơ Thiền Lý – Trần như:

- Thích Phước An, Huyền Quang và con đường trầm lặng mùa thu [1]

- Nguyễn Huệ Chi, Trần Tung – một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền [4]

- Nguyễn Huệ Chi, Mãn Giác và bài thơ nổi tiếng của ông [5]

- Nguyễn Phương Chi, Huyền Quang – nhà sư thi sĩ [6]

- Đỗ Văn Hỷ, Câu chuyện Huyền Quang và cách đọc thơ Thiền [37]

- Phạm Ngọc Lan, Chất trữ tình trong thơ Thiền đời Lý [44]

- …

Từ thực tế tư liệu trên, có thể thấy rằng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu

về thơ Haiku Nhật Bản cũng như thơ Thiền Việt Nam Trên nền nghiên cứu rộng rãi

Trang 14

đó, nghiên cứu so sánh một yếu tố mỹ học Thiền giữa của hai nền thơ ca tương đồng về tính chất tôn giáo là cần thiết

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Luận văn góp thêm một cách nhìn, cách khai thác, khám phá thế giới nghệ thuật độc đáo của thơ Haiku thời Edo (Nhật Bản) và thơ Thiền thời Trần (Việt Nam) bằng cách đi sâu vào tìm hiểu các bình diện tư tưởng và bình diện nghệ thuật của cảm thức Sabi cũng như niềm cô tịch trên cả chiều rộng lẫn chiều sâu Từ đó, luận văn chỉ

ra những điểm tương đồng và dị biệt cũng như làm nổi rõ những nét riêng biệt, độc đáo của thơ Thiền thời Trần và thơ Haiku thời Edo Nhật Bản Đồng thời, luận văn còn đi vào so sánh hai cặp tác giả tiêu biểu: Basho và Tuệ Trung thượng sĩ, Issa và Huyền Quang

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thơ Thiền thời Trần cũng như thơ Haiku từ lâu đã được đưa vào giảng dạy ở các trường phổ thông và khoa Ngữ Văn ở các trường Đại học Đề tài nghiên cứu góp phần cung cấp thêm tư liệu, giúp cho việc dạy và học Văn ở các trường phổ thông, trường Đại học đạt hiệu quả hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành thực hiện đề tài, người viết đã vận dụng phương pháp cơ bản là phương pháp so sánh Phương pháp này giúp tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt của cảm thức Sabi trong thơ Haiku Nhật Bản và niềm cô tịch trong thơ Thiền thời Trần Việt Nam Phương pháp này đồng thời giúp tìm ra nguyên nhân của những tương đồng

và dị biệt trên bằng cách so sánh, đối chiếu những đặc điểm về mặt văn hóa, tư tưởng, tập quán tư duy, quan niệm thẩm mĩ, của hai dân tộc

Bên cạnh phương pháp chính trên, chúng tôi còn vận dụng cách tiếp cận thi pháp học đối với một số trường hợp phân tích tác phẩm Luận văn còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê

Trang 15

6 Kết cấu luận văn

Nội dung luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁI NIỆM SABI VÀ CÔ TỊCH TRONG THƠ HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ THƠ THIỀN THỜI

TRẦN (VIỆT NAM)

+ Phần 1: Sabi – cảm thức thẩm mĩ đặc trưng trong thơ Haiku Nhật Bản thời Edo: Cội nguồn Sabi trong đời sống tinh thần, thẩm mỹ Nhật Bản; Haiku thời Edo và

mối quan hệ với cảm thức Sabi

+ Phần 2: Cô tịch – một đặc tính nghệ thuật và tư tưởng của thơ thiền thời Trần: Cô tịch trong quan niệm Thiền tông Việt Nam giai đoạn Lý Trần; Thơ thiền thời

Trần và những yếu tố thể hiện niềm cô tịch

Chương 2: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VÀ THẨM MỸ CỦA CẢM THỨC SABI TRONG THƠ HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ NIỀM CÔ TỊCH TRONG THƠ THIỀN THỜI TRẦN (VIỆT NAM)

+ Phần 1: Chất liệu thẩm mĩ mang đậm niềm cô tịch: Trên cơ sở phân tích các thi liệu “hoa”, “trăng”, “gió”, bài viết khẳng định cái đẹp cô tịch ẩn chứa trong mỗi vần thơ của các thi nhân

+ Phần 2: Không gian và thời gian cô tịch: trong mục này, chúng tôi chỉ ra những nét khác biệt về cảm thức Sabi trong thơ Haiku thời Edo (Nhật Bản) và niềm cô tịch trong thơ Thiền thời Trần (Việt Nam) trên hai khía cạnh: không gian và thời gian

+ Phần 3: Sabi và niềm cô tịch – Vẻ đẹp thấu thị của triết lí Thiền tông: gồm hai luận điểm: triết lí về sự vận động của vũ trụ, triết lí về vĩnh cửu – khoảnh khắc

Chương 3: SO SÁNH MỘT SỐ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TIÊU BIỂU

+ Phần 1: Basho và Tuệ Trung thượng sĩ

+ Phần 2: Issa và Huyền Quang

Trang 16

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁI NIỆM SABI VÀ CÔ TỊCH TRONG THƠ HAIKU THỜI EDO (NHẬT BẢN) VÀ THƠ THIỀN

THỜI TRẦN (VIỆT NAM)

1.1 Sabi – cảm thức thẩm mĩ đặc trưng trong thơ Haiku Nhật Bản thời Edo

1.1.1 Cội nguồn Sabi trong đời sống tinh thần, thẩm mỹ Nhật Bản

Nhật Bản là một dân tộc mà bản sắc văn hóa được cấu thành chủ yếu bởi hai yếu tố: bản sắc dân tộc và sự học tập, chịu ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai Đời sống văn hóa Nhật Bản thấm đậm tính chất Thiền tông Điều này không chỉ thể hiện trong văn học nghệ thuật (đặc biệt trong thơ Haiku) mà cả trong đời sống văn hóa tinh thần của người Nhật từ xưa đến nay Đặc điểm này góp phần tạo nên nét bản sắc của văn hoá Nhật Bản trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Nhưng cho dù chịu ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai đi nữa, dân tộc Nhật Bản vẫn học tập trên tinh thần sáng tạo, chịu ảnh hưởng nhưng vẫn khẳng định bản sắc riêng mà V.V.Ôtrinicốp đã so sánh rất hình

tượng: “Nghệ thuật Nhật Bản giống như đồ uống được nhân dân từ lâu chế ra theo những công thức riêng Nghệ thuật xưa kia bắt nguồn từ nước láng giềng Trung Hoa

dù có hoàn thiện đến thế nào đi nữa thì người Nhật cũng chỉ vay mượn nó như vay mượn cái bình” [55, tr.61] Yếu tố Sabi được hình thành vào thời Muromachi (1333-

1600) cũng ra đời trên sự gặp gỡ nhiều “con đường” như thế Chính yếu tố đơn sơ, mộc mạc thời Muromachi đã đưa cảm thức thẩm mĩ của văn chương dân tộc Nhật Bản từ cái dạt dào của tình đi vào cõi sâu thẳm của tâm, từ cái đẹp trong nỗi buồn tàn phai đến cái đẹp thuần khiết Trong sự chuyển biến đó, nó tạo ra cuộc hội ngộ giữa cái đẹp và tính giản dị, tự nhiên, cái chất phác, mộc mạc và cái sâu thẳm, kì diệu

Về nguồn gốc, Sabi bắt nguồn từ văn hóa truyền thống của người Nhật, thực chất là yếu tố Thiền tông trong Thiền học Năm 552, vua Paekche của Triều Tiên cử một phái đoàn truyền giáo đến Nhật Bản, đánh dấu sự hình thành Phật giáo Thiền tông

ở Nhật Thánh Đức thái tử Shotoku (574-622) – người được xem là sơ tổ của Phật giáo Nhật Bản – đã ban hành một chiếu chỉ rằng toàn dân Nhật Bản phải kính ngưỡng và

Trang 17

thọ trì Phật pháp Ông cũng biên soạn ba bộ kinh rất có giá trị: kinh Pháp Hoa, kinh Thắng Man, kinh Duy Ma Cật Trải qua các triều đại Nara, Heian, Kamakura, Thiền tông Nhật Bản phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa

Nhật Bản “Thiền đã ảnh hưởng đến mọi hình thức văn hóa Nhật Bản từ hội họa, kiến trúc, viên nghệ, âm nhạc, diễn kịch Dưới thời Muromachi, nghệ thuật uống trà, cắm hoa, cơm chay… đã ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của người Nhật Đó là

“văn hóa thiền lâm” mà “văn học thiền lâm” là một bộ phận của nó Học giả Suzuki Daisetsu là người đã dày công nghiên cứu về ảnh hưởng của Thiền trong sinh hoạt tinh thần và tu dưỡng của người Nhật Hai người ngoại quốc (mà Suzuki Daisetsu nhắc đến) cũng đã nhận ra rất sớm điều đó là Sir Charles Elliot, một người có thẩm quyền

về lịch sử Phật Giáo Nhật Bản và Sir George Sansom, chuyên gia về lịch sử và văn hóa sử Nhật Bản” [78] Đến thời Edo (1600-1868), phong trào “phổ biến Thiền” do

các Thiền sư Shido Buman, Bankei Yotaku và Hakuin chủ xướng được phổ biến rộng

rãi Theo nhà nghiên cứu Nhật Chiêu thì “Thiền đã trở thành sinh mệnh và cốt tủy của văn hóa Nhật” [10; tr.62]

Tuy nhiên, với sự chuyển biến của xã hội, đặc biệt là thời Kamakura, tầng lớp

võ sĩ samurai dần khẳng định vị trí của mình trong xã hội Con người nhận thức được

sự mong manh giữa sống và chết, cả cuộc đời chỉ quyết định trong một nhát kiếm, nên

họ cảm nhận sâu sắc nỗi tịch liêu, hoang vắng Họ đối diện với sự sống và cái chết, nhưng bên trong họ luôn ẩn tàng một sức sống, một tư tưởng vượt thoát Họ gặp gỡ

chính mình trong cảm thức Sabi: “Lột hết mọi lớp vỏ bên ngoài mà tri thức đã khoác lên bao phủ tâm hồn, và cốt nhìn thẳng vào bản chất sâu thẳm của tự thể chúng ta”

[69, tr.395]

Thiền đòi hỏi sự tập trung cao độ đưa tâm tưởng con người vào cái tịch lặng vô biên, chốn hư không, không bị ức chế bởi một điều gì trong tâm trí để giải thoát tâm linh, chất Sabi trong thơ Haiku là sự biểu hiện cái tĩnh lặng trầm lắng, đơn sơ, cô

liêu,… “Tịch lặng, trống vắng,… trở thành không gian lí tưởng để trầm tư, tìm đến sự

Trang 18

thống nhất – hòa hợp giữa tiểu ngã và đại ngã Cô đơn là điều kiện để tìm về chân như, cõi tâm trong suốt, hư không; mặt khác, khi đạt đến trạng thái tâm vật hòa làm một, thì con người không còn cảm thấy cô đơn mà chỉ còn một niềm an lạc vô hạn” [27, tr.43] “Trước khi trở thành một cảm thức thẩm mĩ – cảm thức thơ ca, Sabi có nguồn gốc từ Thiền: thiền cần tập trung tư tưởng cao độ, đưa tâm tưởng của bản ngã (cái tôi) hòa nhập vào cái tịch lặng vô biên, trống vắng vô hạn […] để giải thoát tâm linh” [27, tr.42] Không gian tịch lặng, trống vắng là không gian lí tưởng để con người

tìm về với chính mình, lắng nghe tiếng vọng từ chính trái tim mình Cô đơn là điều kiện để tìm về chân như, cõi tâm trong suốt, hư không Đến với Sabi, ta có thể tìm thấy một trạng thái lắng đọng đến mức tâm hồn trở thành một tấm gương soi chiếu vạn vật,

để thế giới bên trong và thế giới bên ngoài là một, vũ trụ và hạt cát là một Trong sự hòa điệu đó, bản ngã vắng mặt để rồi lại được tái sinh qua từng nhánh cây, ngọn cỏ, trong giọt sương mai đọng trên cánh triêu nhan, trong bóng trăng mờ ảo soi mình nơi đáy nước Khi đó, tâm – vật sẽ hòa làm một và con người không còn cảm thấy cô đơn nữa mà chỉ có một niềm an lạc vô hạn

Hơn nữa, tư tưởng Thần đạo cũng đã ảnh hưởng đến lối sống, nếp sinh hoạt và

quan niệm thẩm mĩ, văn hóa của người Nhật Trong “Tư tưởng thần đạo và xã hội

Nhật Bản cận – hiện đại”, Phạm Hồng Thái viết: “Wabi và Sabi là những quan niệm

từ lâu đã trở thành tiêu chí thẩm mĩ cho việc thưởng ngoạn cái đẹp trong cuộc sống và trong nghệ thuật, thể hiện rõ nét nhất là trong thơ Haiku, nghệ thuật cắm hoa và trà đạo Wabi và Sabi là quan niệm tôn trọng sự giản dị, thanh cao, vượt qua những lạc thú vật chất để vươn đến sự cảm thụ vẻ đẹp tinh thần về sự đơn sơ, thuần khiết Nét thẩm mĩ này có thể mang ảnh hưởng của phong cách Thiền Phật giáo nhưng trong đó không thể phủ nhận được những dấu ấn của quan niệm về sự thuần khiết của Thần đạo” [75; tr.180] Thần đạo mang trong mình những nét đặc sắc, mang đậm tính truyền

thống và do vậy, nó chính là một yếu tố cấu thành nền văn hoá Nhật Bản Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, có lúc tưởng chừng như không đứng dậy được song Thần đạo

Trang 19

vẫn luôn đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Nhật Bản Bên cạnh guồng quay của cuộc sống thường nhật, những toan tính về đời sống vật chất, người Nhật vẫn không quên quay về với tôn giáo truyền thống của mình Những

lễ hội truyền thống quan trọng hay hình thức tổ chức đám cưới, theo nghi thức đạo Shinto được duy trì cho đến nay là một minh chứng cho điều ấy Mặc dù cũng như nhiều tôn giáo khác, Thần đạo vẫn có những hạn chế không tránh khỏi, nhưng nó thực

sự ăn sâu, bén rễ trong nền văn hoá của người Nhật Bản, đi vào cõi sâu thẳm trong tâm hồn của người dân xứ hoa anh đào với những điều răn dạy, những giáo lý cao đẹp

Sabi ẩn chứa trong hầu hết các bộ môn nghệ thuật khác nhau của Nhật Bản

“Sabi xuất hiện trong công tác làm vườn cảnh và trà đạo cũng như trong văn chương” [69, tr 371] D.Suzuki cho rằng “Tinh thần này bao gồm những yếu tố như: giản dị, tự nhiên, không câu nệ, tế nhị, tự do, thân thiện nhưng tỏ ra hững hờ kì lạ” Một họa

phẩm theo lối mặc hội, một lò hương tỏa khói thơm, một bình hoa cắm duy nhất một nhánh hoa hay tiếng nước đang sôi trong ấm, cơn gió nhẹ thổi qua ngọn tùng, những chiếc lá va vào nhau xào xạc, tất cả đều chứa đựng hơi thở của Sabi Bởi, khi hòa mình

vào bầu không khí đó, người ta cảm tưởng như mình đang ngồi đơn độc trong một thảo

am sơn dã mà những người bạn tri âm chỉ là một đám mây trắng và tiếng nhạc của ngọn tùng [69, tr 383] Có lẽ vì thế mà chân dung Basho trên bước đường lãng du luôn được người ta nhớ tới với chiếc áo vân du, hoàn toàn đơn độc, đang ngắm nhìn ngọn Phú sĩ sơn [69, tr 373]

Một lữ khách Xin gọi tên tôi là thế Cơn mưa thu này

Đó không phải là cảm giác bị bỏ rơi, không phải là tâm linh nặng trĩu tịch liêu nhưng nó gợi nỗi cô liêu huyền bí của đời sống con người – một lữ khách đơn côi đang

đăm chiêu về số phận của đời người: “Tôi cảm thấy cô đơn mỗi khi ngắm trăng, mỗi

Trang 20

khi nghĩ về mình và càng thấy cô đơn khi trầm tư về cuộc đời bất hạnh của mình Tôi muốn khóc lên về nỗi cô đơn nhưng không ai hỏi tôi vì sao” [58, tr.192]

Về định nghĩa Sabi, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều

định nghĩa về Sabi Suzuki gọi Sabi là cảm giác “tịch mịch”: “Tinh thần tịch mịch cũng chính là tinh thần Thiền, nó được thể hiện trong các loại hình nghệ thuật khác nhau…

và ngay trong bản thân cuộc sống được gọi là Sabi Sabi đòi hỏi sự dung dị, tự nhiên,

sự khống chế ước, sự tinh tế, sự tự do” (dẫn theo [23, tr.62]) Còn V.V Ôtrinnicốp trong bài viết Những quan niệm thẩm mĩ độc đáo về nghệ thuật của người Nhật thì cho rằng “Sabi là sự không hoàn thiện mang tính chất cổ sơ, là vẻ đẹp của cái cổ, là dấu ấn của thời gian” [55, tr.60] Thời gian chính là thước đo có giá trị nhất về bản chất của sự

vật Quan niệm của người Nhật cũng không nằm ngoài quỹ đạo chung đó Họ nhìn thấy

vẻ hấp dẫn đặc biệt trong dấu vết của tuổi tác Họ yêu cái màu xanh xẫm của tán cây cổ thụ, yêu loại đá nhuốm màu rêu phong, yêu cả sự sờn mòn – dấu vết của nhiều bàn tay chạm vào mép bức tranh Nên “sự không hoàn thiện” đó chính là sự trống vắng của những thực thể trong hiện tại, làm cho người ta phải đối diện với nỗi cô đơn vô biên

của tâm hồn Vậy nên, có thể định nghĩa “Sabi là linh hồn của tịch liêu và xa xưa” [9,

tr.273] Một số tác giả như Lê Từ Hiển, Lưu Đức Trung cũng có chung quan điểm như

vậy: “Cái đẹp cô đơn được gọi là Sabi” [27, tr.42]; “Sabi là cảm thức về cái đẹp trong trạng thái tĩnh lặng và cô độc” [56, tr.13] Cũng trong công trình này, tác giả nhận định: “Sabi là nguyên tắc mĩ học của văn học nghệ thuật Nhật Bản được nhà thơ Basho vận dụng vào thơ Haiku và biến thành một đặc trưng thẩm mĩ độc đáo trong thơ Sabi mang tính chất đơn sơ, tao nhã, trầm lắng, u buồn, tịch liêu nhưng không đưa đến sự chán chường, bi lụy, oán đời Đó là vẻ đẹp nâng tâm hồn con người hòa nhập vào chốn thanh cao, tịch lặng, hư không của thế giới” [27, tr 9] Có thể hiểu Sabi là vẻ cô tịch,

trong sự soi chiếu giữa một cá thể và toàn thể, giữa một và tất cả Nhưng nó không phải

là niềm bi thương câm lặng, tịnh thức của bản ngã mà là cảm thức của sự tĩnh mịch tuyệt đối, khi lòng người lắng xuống tận đáy kí ức tâm hồn, hiện tại đã hóa hư vô, sự

Trang 21

vật nhìn thấy trước mắt mà cứ ngỡ đã trôi về một miền vô định Điều này gợi nhớ đến thi sĩ Basho – người đã chọn cho mình cuộc đời của một lữ khách phiêu bạt khắp nơi trên đất nước Nhật Bản Trong những năm tháng độc hành ngao du sơn thủy, là một người mang tâm sự hoài cổ, chắc hẳn đã nhiều lần ông nhìn thấy những hình ảnh thiên nhiên bình dị trong chiều hôm hay nghe một tiếng cuốc, một tiếng dế mà nhớ quê da diết

Trải qua thời gian, quan niệm về Sabi cũng có những chuyển biến nhất định

“Chữ Sabi nguyên ủy đến tính từ sabishii, có nghĩa là cô đơn quạnh quẽ, thường dùng trong trường hợp một người đang trông chờ ai” [49, tr.85] Theo Basho và các môn đệ thì “Dù khái niệm Sabi này hướng đến ý thức mỹ học thời trung đại được kết hợp bởi các thành tố như tuổi già, sự cô độc, sự cam chịu, lặng lẽ nhưng đồng thời nó cũng bao hàm văn hóa thứ dân đa sắc thái thời Edo Fujiwara no Toshinari, một thi nhân nổi tiếng lần đầu tiên sử dụng từ “sabu”, một từ ngữ liên quan đến khái niệm “sabi” trong khi miêu tả cảnh đám sậy ven bờ biển lụi tàn vì sương gió, nhấn mạnh đến ý nghĩa hoang lương và cô độc Sau đó các nghệ thuật gia thời trung đại như Zeami và Shinkei

đã đặt nặng ý nghĩa của “sabi” vào nỗi hoang lương, và cái đẹp lạnh lùng sinh ra từ

đó Căn cốt của khái niệm này là một vũ trụ quan điển hình của những tín đồ Phật giáo trung đại, những người đã nhận ra sự cô độc hiện hữu của con người, phó mặc thân mình cho nó và cố gắng tìm kiếm cái đẹp ngay trong sự cô độc” [47] Còn Basho thì đã

thay đổi ý nghĩa của từ “Sabi” thời trung đại Trong bài Haiku sau đây của người đệ tử Mukai Kyorai, Basho đã tìm thấy Sabi:

Dưới tán hoa đào Hai mái đầu bạc Chụm vào nhau

Cái đẹp của những đóa anh đào được đặt đối lập với cái đẹp vô sắc của mái đầu bạc Nhờ sự kết hợp mang giá trị đối lập về mỹ học này mà ý nghĩa của sự cô độc được nâng lên một tầm mức cao hơn Những người ý thức được về sự vô thường của

Trang 22

kiếp người thì sẽ chẳng hề sợ hãi sự cô độc và sự suy tàn thể xác Hơn thế, họ chấp nhận sự thực ấy trong một nỗi cam chịu lẳng lặng và thậm chí tìm thấy trong đó suối nguồn của niềm vui Cái cô độc giờ đây đã hóa thành niềm an vui

Hơn nữa, trong cách dùng chữ của Basho, cô quạnh không có nghĩa là tình cảnh cô đơn của một người đang ngóng đợi ai Yếu tố này luôn được đặt trong một bầu không khí đặc biệt được khơi dậy từ một khung cảnh hay thời điểm mà sự hiện diện của con người tỏ ra không cần thiết Đó là tiếng kêu yếu ớt của chú dế nhỏ chìm dần trong bóng đen của đêm thu, là tiếng ve sầu than như thấm dần qua từng phiến đá Hoàn toàn không có sự xuất hiện của hình bóng con người Cái không khí cô quạnh, tịch liêu được tạo ra khi các sinh vật bé nhỏ ấy soi rọi bản thể của mình trong cái bao la của vũ trụ Còn gì buồn hơn khi chúng ta cảm nghiệm được sự phù du, bèo bọt của vạn vật? Nhân sinh như mộng, nhân thế vô thường là vậy Thế nhưng, khi thấu cảm được quy luật rằng những con vật bé nhỏ kia hiển nhiên phải chịu đựng sự mong manh của

số phận và cũng phải đi cho hết đoạn đường số phận của mình, con người ta sẽ cảm thấy thăng hoa, siêu thoát Đó phải chăng là bản chất của Sabi – luôn tìm kiếm cái đẹp

và khoảnh khắc bừng ngộ trong sự cô đơn và khắc khổ?

Sabi là linh hồn của tịch liêu, là cảm thức về sự tĩnh mịch sâu xa của sự vật,

nhìn thấy chúng tự bộc lộ những điều kỳ diệu “Sabi là cô đơn nhưng là “niềm cô đơn huy hoàng”, là “cảm thức hùng tráng chứ không phải là cô đơn cá nhân, không mang tính bi lụy” [47] Nó là sự tĩnh mịch không có giới hạn Khi con người và sự vật ở

trong cảnh cô liêu, tĩnh lặng sâu xa chính là lúc tất cả đã chìm vào hư vô, thoát khỏi bản ngã để tiến vào trạng thái vô ngã

1.1.2 Haiku thời Edo và mối quan hệ với cảm thức Sabi

Thời kỳ Edo (hay còn gọi là thời kỳ Tokugawa) là một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản, kéo dài từ năm 1603 đến 1868 Thời kỳ này được đánh dấu bằng sự thống trị của Mạc phủ Tokugawa, do Tokugawa Ieyasu (1543-1616) thành lập sau khi chiến thắng các thế lực quân sự đối lập Đây cũng là lúc kết thúc thời kỳ nội chiến ở Nhật

Trang 23

Bản, mở đầu cho một giai đoạn hòa bình kéo dài hơn 250 năm Tokugawa Ieyasu chọn thành phố Edo làm trung tâm chính trị của đất nước nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ Edo

Trong tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản, Edo được xem là thời kỳ đỉnh điểm của xã hội phong kiến Nhật Bản Về tôn giáo, Nho giáo, Phật giáo, Thần đạo đều

có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa thời kỳ này Nho giáo truyền bá từ Trung Quốc sang Nhật Bản đến thời Edo đã gặp được một thể chế chính trị phù hợp Nho giáo vốn coi trọng đạo lý, đạo nghĩa nên được tầng lớp võ sĩ tôn sùng Việc cai trị đất nước gắn liền với sự đề cao Nho học Giáo dục phát triển mạnh, các trường học ý thức được sự phát triển kinh tế và văn hóa của phương Tây và đến cuối thời kỳ đã có sự khuyến khích tiếp cận văn hóa phương Tây Phật giáo, kết hợp với Nho giáo, đưa ra tiêu chuẩn cho lối ứng xử trong xã hội Mặc dù không có quyền lực chính trị hùng mạnh như trong các thời kỳ trước, Phật giáo vẫn được tầng lớp trên tin theo Sự phân chia xã hội thành các làng, phường, hộ gia đình đã giúp tái lập lại sự gắn bó với Thần đạo ở các địa phương Thần đạo đưa ra chỗ dựa tinh thần cho những mệnh lệnh chính trị và là sợi dây buộc chặt cá nhân với cộng đồng Thần đạo cũng giúp bảo tồn văn hóa dân tộc Vào thời kỳ Edo, tầng lớp bình dân đã tham gia đóng góp cho nền văn hóa Nhật Bản những yếu tố mới, văn hóa này được gọi là “văn hóa thị dân” “Văn hóa thị dân” là văn hóa của các tầng lớp thị dân, nghệ sĩ, kỹ nữ Linh hồn của văn hóa này nằm trong một triết lý sống gọi là Ukiyo (Phù thế), nghĩa là phù sinh, vô thường, trôi nổi theo thời gian Triết lý sống Ukiyo thể hiện tính phù du của cuộc đời phiêu dạt, được tầng lớp bình dân, và cả giới võ sĩ tiếp nhận Đấu vật (sumo), kỹ nữ (geisha), âm nhạc, kịch nghệ (kabuki), múa rối (bunraku), thi ca, văn học, tranh “xuân họa” (shunga), những bản khắc gỗ (ukiyo-e) là những sản phẩm tiêu biểu cho nền văn hóa thị dân

Chính nhu cầu văn hóa của người dân đã tạo nên diện mạo tinh thần của thời đại

Từ đây, nghệ sĩ bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến những điều nhỏ bé, quen thuộc của đời sống thường ngày Nói về sự chuyển mình của văn chương thời đại này, nhà nghiên

Trang 24

cứu Nhật Chiêu viết: “Khái niệm phù thế (Ukiyo) thuở nào mang đầy tính bi quan về lẽ

vô thường phù ảo của sự vật thì nay được xem là niềm hoan lạc của mỗi ngày đời, là

sự tận hưởng từng khoảnh khắc của trò chơi dâu bể Do đó mà phát sinh hội họa phù thế (Ukiyo-e) với màu sắc rực rỡ và văn chương phù thế (Ukiyo-zoochi) mênh mông sắc tình” [12, tr.203] Bên cạnh tiểu thuyết của Saikaku, sân khấu của Chikamatsu, thơ

Haiku của Basho được xem là thể loại nổi bật hơn cả trong bức tranh rộng lớn của “văn

chương phù thế” thời Edo

Thơ Haiku bắt đầu từ thể thơ tanka (đoản ca), xuất hiện ở thế kỉ XIII Đến thế

kỉ XVII, Matsuo Basho đã cách tân nội dung và hình thức của thể thơ này Ông tách vế đầu 17 âm tiết xây dựng thành một bài thơ độc lập Buổi đầu, Basho gọi đó là hokku hoặc haikai, về sau ghép lại thành Haiku Dưới góc nhìn Thiền tông, Haiku là thể thơ đặc biệt có thể chứa đựng được thực tại nhiệm màu trong vỏn vẹn 17 âm tiết, vừa sâu

lắng, uyên thâm, lại vừa đơn sơ, giản dị Vậy nên Roland Barthes đã nhận xét: “sự ngắn gọn của thơ Haiku không phải là một tư tưởng phong phú rút vào một hình thức ngắn, mà là một sự tình vắn tắt đã tìm ra được hình thức vừa vặn của mình” [dẫn theo

Trang 25

- Mùa xuân: hoa anh đào, chim én, chim sẻ, dòng suối,…

- Mùa hạ: chim cu, đom đóm, con ve, mưa,…

- Mùa thu: hoa tử đinh hương, hoa triêu nhan, lá phong, trăng,…

- Mùa đông: tuyết, lá mục, hoa thủy tiên, cây tùng, sương mù,…

Thế giới đề tài trong thơ Haiku phong phú, giản dị và mộc mạc nhưng giàu sức gợi mở vô cùng Trên nền bức tranh đề tài rộng lớn đó, các thi nhân tự do bộc lộ thế giới quan của mình Sabi cũng từ đó mà cất cánh trong cõi mênh mông sâu thẳm vườn

như linh hồn của bức tranh thủy mặc nằm ở những khoảng không, nghĩa là ở khoảng trống không có nét vẽ thì thơ Haiku cũng vậy: giản ước, trống vắng với những nét chấm phá đơn sơ đủ để người đọc khám phá ra một chuỗi liên tưởng thâm sâu Cũng chính từ những khoảng trống đó mà độc giả cảm nghiệm được nỗi cô đơn tịch liêu của các thi nhân Cảm thức Sabi hiện lên qua những khoảng chân không ấy không gò bó hình thức, không khuôn sáo lối mòn Vì vậy, nó càng thôi thúc người đọc đi tìm và khám phá thế giới của Sabi – thế giới mà dường như chứa đựng cả một biển Thiền thâm sâu, gợi lên trong lòng người trường liên tưởng, dư âm không dứt

Về ngôn ngữ, thơ Haiku giản lược tối đa chữ nghĩa trong thơ để vận dụng trí tưởng tượng nơi người đọc Do kết cấu chân không đòi hỏi sự lắng đọng như trên nên người làm thơ Haiku luôn biết chọn lọc ngôn từ, các thi sĩ luôn tuân theo nguyên tắc

“kiệm từ”, cô đọng, mỗi ý thơ luôn ẩn chứa nhiều tầng ý nghĩa Từ ngữ mà thi nhân

Trang 26

dùng phải thật đắt, tinh tế và sâu sắc Họ quan niệm, ngôn ngữ là linh thiêng nên ý nghĩa của nó không nằm bên ngoài con chữ mà nằm ở chiều sâu suy tưởng, ở tình cảm bên trong Đây cũng chính là nguyên tắc mà người đọc cần nắm để khám phá chiều sâu trong thế giới Haiku nói chung và cảm thức Sabi nói riêng Sabi không nằm trên câu chữ, Sabi nằm ở sự cảm nghiệm các lớp vỏ ngôn từ nơi người đọc Bước vào thế giới

ấy, ranh giới giữa người làm thơ và kẻ đọc thơ rất mong manh, cả hai dường như hòa nhập làm một, đồng âm cộng hưởng trong niềm rung cảm tinh tế, diệu vợi của ngôn từ Chính sự tinh tế, cô đọng và thâm trầm là linh hồn của thơ Haiku Những dòng thơ ấy

ít lời nhưng vượt qua lời, mở ra thế giới, mở ra con đường sâu thẳm

Thơ Haiku để lại nhiều ấn tượng trong lòng người đọc còn bởi sự lắng đọng của các cảm thức thẩm mỹ Ở đây, chúng tôi chỉ xin đưa ra cách hiểu về bốn cảm thức thẩm mỹ chính trong thơ Haiku: Sabi, Wabi, Aware, Karumi

Cảm thức Sabi: tịch (vắng lặng)

Chữ Sabi nguyên thủy đến từ tính từ Sabishii, có nghĩa là cô đơn quạnh quẽ, thường dùng trong trường hợp một người đang trông chờ ai Đến với Haiku, Sabi có thêm một sắc thái khác Sabi là linh hồn của tịch liêu, là cảm thức về sự tĩnh mịch sâu

xa của sự vật, song cái cô tịch trong Sabi không phải là sự cô tịch của việc chia rẽ, tách biệt, phân li Sabi là cảm thức của sự tĩnh mịch tuyệt đối, khi lòng người lắng xuống tận đáy của tâm hồn, hiện tại hóa hư vô, sự vật nhìn thấy trước mắt mà cứ ngỡ trôi về miền vô định

Vắng lặng u trầm Thấm sâu vào đá Tiếng ve ngân

(Basho) Trong tiếng ve, Basho bước vào cõi âm u, nơi mọi vật dung chứa lẫn nhau Vẫn

là tiếng ve ấy, vẫn là tảng đá ấy và trái tim con người vẫn đập những nhịp hằng ngày

Trang 27

của nó, nhưng không phải ở chốn ồn ào mà chính là ở trong tâm thức, trong cõi tịch liêu Dù cho cuộc đời có “động” đến đâu thì tâm vẫn “tĩnh”, ấy là Thiền, ấy là Sabi

Cảm thức Wabi: đạm (giản dị)

Wabi là một khái niệm của Phật giáo Thiền Tông, nói đến cái cảm nghiệm về sự thanh bần an lạc, sự dung dị nhưng thanh cao của cuộc sống con người và vạn vật Theo quan niệm “vạn vật hữu linh” thì mọi thứ bao quanh con người dù to lớn hay bé nhỏ, vô tri hay có ý thức đều là biểu hiện của đời sống Wabi chính là cuộc hội ngộ giữa cái đẹp và tính giản dị, tâm hồn và thiên nhiên, tính chất phác, mộc mạc và sự sâu thẳm, tuyệt diệu

Vườn cỏ Chọn hoa nào Làm gối

(Basho) Con đường dẫn tới cái đẹp không tự nhiên hiện ra trước mắt và thi nhân cũng không cố ý kiếm tìm nó Nó chỉ hiện hữu trong sự tình cờ, bất chợt, trong vạn vật hữu linh, vừa xa xôi vừa thân thuộc, vừa vĩ đại vừa bình thường

Cảm thức Aware: bi (u buồn)

Aware xuất phát ban đầu từ tiếng kêu có tính cảm thán “a-hare”, dịch là “ôi chao” Chữ Aware được dùng để gợi tả vẻ đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng, pha lẫn cảm thức “vô thường” của Phật giáo

Bên dòng Sumida Chú chuột kia uống nước Mưa mùa xuân pha

(Issa) Một thực thể bé nhỏ - chú chuột - bị xóa nhòa bên dòng sông mênh mông rộng lớn Nếu là một người không mang tình yêu với những kiếp đời nhỏ bé thì sẽ không

Trang 28

thấy được chú chuột như Issa Chú chuột nhỏ bé như ngậm cả mùa xuân vào miệng mình, như thể đang tiến về cõi Niết Bàn

Cảm thức Karumi: khinh (thanh thoát)

Karumi bắt nguồn từ chữ Karushi, nghĩa là nhẹ nhàng, thánh thoát, tìm thấy ngay trong cuộc đời ô trọc như một niềm khinh thanh êm đềm bay giữa tro than và cát bụi trần gian Nó dung hợp giữa tính chân phương trong phong cách và sự tinh tế trong nội dung

Đau yếu giữa hành trình Chỉ còn hồn tôi phiêu lãng Trên những cánh đồng hoang

(Basho) Đối với Basho, được ra đi trên con đường du lạc là một niềm hạnh phúc lớn Cuộc hành trình dang dở, thi sĩ không còn trải bước trên đường mòn mà giờ linh hồn ông đang phiêu lãng, tiếp tục cuộc hành trình ấy trên những cánh đồng hoang Đấy là cái khinh thanh của cuộc đời, tuy mất mát, đau khổ nhưng lại tìm được sự nhẹ nhàng, thánh thoát của niềm vui

Thơ Haiku là thế, thoạt nhìn chúng ta ngạc nhiên, nghi hoặc về khả năng biểu đạt của nó Nhưng một khi đã đi vào thế giới Haiku, ta sẽ cảm nhận được rằng: thoạt nhìn chỉ là một bài thơ ngắn gọn, vậy mà thi nhân đã dẫn dắt chúng ta đi qua một vườn chữ nghĩa nhỏ hẹp để thênh thang bước vào một cõi tư duy vô cùng bát ngát, một chân trời sáng tạo rộng mở mà người đọc cần có một sự tưởng tượng dồi dào, phong phú Chính nhờ những nét đặc trưng này mà trải qua bao thời gian, Haiku vẫn mang dấu ấn đặc sắc trong lòng người đọc

Trên đây, người viết đã khái lược lại cội nguồn của cảm thức Sabi trong đời sống tinh thần, văn hóa Nhật Bản cũng như mô tả lại Haiku trong dòng chảy của văn học thời Edo Nhật Bản Có thể thấy rằng, các đặc trưng của Haiku và cảm thức Sabi có mối liên hệ mật thiết với nhau Sự giản dị, tinh tế trong đề tài, sự ngắn gọn, độc đáo

Trang 29

trong kết cấu, sự khúc chiết, chặt chẽ của ngôn từ là bệ phóng cho cảm thức Sabi cất cánh Sabi với vẻ trầm lắng, u buồn, tịch liêu mang lại cho thơ Haiku cái đẹp đơn sơ

mà thâm sâu Để rồi, khi hòa tan nỗi buồn vào thiên nhiên, tâm hồn con người sẽ được giải thoát, nhẹ nhàng, thanh thản Ngay lúc cô đơn nhất, ta vẫn tìm được sự bình an trong thế giới tự nhiên, trong vũ trụ mênh mang, rộng lớn

1.2 Cô tịch – một đặc tính nghệ thuật và tư tưởng của thơ thiền thời Trần

1.2.1 Cô tịch trong quan niệm Thiền tông Việt Nam giai đoạn Lý - Trần

Thời nhà Trần, Phật giáo khá thịnh hành, có vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, văn hóa Các Thiền sư lại có đóng góp đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển triều đại Phật giáo Đại thừa, trong đó có Thiền tông du nhập vào nước ta từ khá sớm Nếu ở thời Lý, Phật giáo được tiếp thu và từng bước phát triển thì đến thời Trần, Phật giáo là nền tảng hạt nhân cho tư tưởng, lối sống và nó đã vẽ nên cả một bức tranh lịch sử Thiền tông được đặt trên cơ sở tư tưởng “không”, cái “không” ở đây không phải là hư vô mà là “chân không diệu hữu” Ta thấy rõ chính Thiền tông đã có ảnh hưởng khá lớn đến toàn bộ tư tưởng thời Trần, tiêu biểu là Phật hoàng Trần Nhân

Tông đã “nhường ngôi cho con rồi chống gậy đi hóa đạo, thuyết pháp trong nhân dân, truyền bá giáo lý từ bi của đức Phật, khuyên nhân dân xóa bỏ những tập tục hủ lậu, mê tín dị đoan” [48, tr.68] Thiền tông đã đi sâu vào cả đời sống, tâm thức con người thời

đại này Ở đây, Thiền tông không đưa ra những triết lý trừu tượng, không khuyến khích con người phải xuất thế, tìm về cõi hư vô, Niết Bàn nào cả, mà Thiền tông lại chủ trương đi tìm một chân lý ngay trong chính cái bản thân cuộc sống của mỗi con người Như vậy, những tư tưởng Thiền tông này bắt đầu trở thành những giáo điều phù hợp với thời đại và nó dường như đang quy định sự phát triển của thời đại này Từ đó, trong thời nhà Trần, nhiều chùa chiền được xây dựng, một phần vì tín ngưỡng, một phần vì

sự ngưỡng mộ và đạt đạo của Thiền tông Thiền phái Trúc Lâm ra đời, do Phật hoàng Trần Nhân Tông khai sáng, rồi sau đó dưới thời các giáo chủ như Pháp Loa, Huyền Quang cũng phát triển rực rỡ Không chỉ vậy, các tôn chỉ của Thiền tông còn vực dậy

Trang 30

cả tinh thần yêu nước quật cường, giúp đất nước đứng lên anh dũng trong các trận chiến oai hùng chống giặc Mông Nguyên, Tinh thần dân chủ, truyền thống quật cường của Đại Việt trong môi trường thời đại như vậy đã bắt được mảnh đất lý tưởng màu mỡ mà Thiền tông tạo nên để nảy nở và phát triển

Trên cơ sở về độc lập, tự chủ và thống nhất ấy, những trang sử thời đại nhà Trần cũng ghi lại dấu ấn mà Thiền tông đã đóng góp để tạo nên một thời đại hào hùng Thiền được đưa vào cuộc sống, phục vụ đất nước và nhân dân, tu dưỡng nhân cách con người Ngoài ra Thiền tông còn dung hợp các mặt tích cực của Nho giáo và Lão giáo

để giúp con người phát triển toàn diện, phù hợp với con đường phát triển của đất nước, phù hợp với thực tiễn và mang tính đại chúng Nói đến thời đại nhà Trần, không thể

không nói đến những con người với “nhân cách cao đẹp đáng kính, phản ánh đúng đặc trưng tinh thần của thời đại: nhân thứ, khoan dung, rộng mở, dân chủ mà mãnh liệt”

[48, tr.68] Chính những tư tưởng của Thiền tông đã tạo nên những con người như vậy

Tóm lại, Thiền tông Phật giáo là cái nôi nuôi dưỡng những tinh thần dân tộc, nuôi dưỡng chính cái hào khí Đông A của thời đại, là cơn mưa mang lại sự tươi mát và phát triển cho tư tưởng thời nhà Trần Như một hạt nhân, Thiền tông là nhân tố quan trọng quyết định nên những bước phát triển về mặt văn hóa, tư tưởng và xã hội của triều Trần

Phật giáo du nhập vào nước ta từ rất sớm Lịch sử Phật giáo Việt Nam ghi nhận:

“Các nhà buôn người Ấn Độ và Trung Á đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là các nhà sư đến hành đạo và truyền đạo (…) Ở đây, lại xuất hiện một trong những tác phẩm Phật giáo sớm nhất viết bằng Hán văn, đó là “Lí hoặc Luận” của Mâu Tử viết vào thế kỷ thứ hai, xuất hiện những người trưởng thành về tu luyện rồi sang Trung Quốc truyền đạo như Mâu Tử, Khương Tăng Hội” [dẫn theo 83, tr.11] Khoảng thế kỷ

thứ III, với việc dịch các bộ kinh cơ bản của Phật giáo đại thừa có khuynh hướng Thiền

học như “Bát thiên tụng bát nhã”, “Pháp hoa tam muội”,… đạo Thiền đã được truyền

vào Giao Châu (tên nước ta thời bấy giờ) Cột mốc tiếp theo trong tiến trình lịch sử

Trang 31

Phật giáo Thiền tông Việt Nam là sự kiện Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi người Nam Thiên Trúc sang Giao Châu truyền bá đạo Thiền vào thế kỷ thứ VI Dòng Thiền này tuy từ Trung Quốc sang nhưng cơ bản vẫn mang sắc thái Thiền học Ấn Độ của sơ tổ Bồ đề đạt ma, chú trọng việc tu tập mang tính Phật giáo như tu định, tham thiền, các thiền sư

có phép thuật thần thông biến hóa, có thể đọc thần chú để chữa bệnh, trừ tà, cầu mưa,… Đến thế kỷ thứ IX, Thiền sư người Trung Quốc là Vô Ngôn Thông sang nước

ta truyền đạo “Dòng thiền này mang đậm dấu ấn của Thiền tông Trung Hoa với tư tưởng chân lý không phải ở đâu xa mà ở ngay hiện tiền, ở ngay trong bản thân mỗi người, nhưng chân lý đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp, chứ không thể nào nắm bắt được qua ngôn ngữ, văn tự, sách vở,… đó là “đốn ngộ”, cũng là tinh thần câu nói rất tiêu biểu cho dòng thiền Nam Tông Trung Quốc của Thiền sư Bách Trượng: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu” (Nếu đất tâm trống không, mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu sáng)” [83, tr.15] Như vậy, trước thời đại Lý - Trần, ở nước ta, Phật giáo Thiền tông

đã phát triển khá mạnh mẽ với hai dòng Thiền là Tì-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông

Trong kỉ nguyên độc lập, tự chủ của dân tộc thời đại Lý - Trần, bên cạnh hai dòng Thiền trước đó là Tì-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông, thời này có thêm hai dòng Thiền mới là Thiền phái Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm Cốt tủy của Thiền tông

Việt Nam cũng là “kiến tính”, là “trực chỉ nhân tâm” nhưng “vua Lý Thánh Tông cũng

đã kết hợp ngành tín ngưỡng sùng bái của nông dân với ngành tín ngưỡng của trí thức lãnh đạo thành một tôn giáo Thảo Đường, tin thờ Phật Quan Âm” [64, tr.48] Những

vị tổ của Thiền phái này đã dám từ bỏ ngôi cao tìm về với đạo Chẳng phải là họ muốn được yên ổn cho bản thân, tìm quên hay trốn đời, lánh tục mà họ muốn tìm con đường giải thoát cho chúng sinh Bên cạnh đó, Phật giáo thời Trần cũng khác hẳn Phật giáo các thời khác ở chỗ các vị vua cũng chính là các Phật tử, thậm chí tự đứng ra thành lập giáo hội Phật giáo thống nhất trong cả nước Điều đó có nghĩa là các vị vua đã rất có ý thức chọn Phật giáo làm quốc giáo cho dân tộc mình Điều này cho thấy Phật giáo Thiền tông Việt Nam tuy vẫn nằm trong dòng chảy Thiền tông Á Đông nhưng vẫn có

Trang 32

những đặc trưng riêng, phù hợp với tín ngưỡng của dân tộc ta Hơn nữa, Phật giáo Thiền tông thời này còn có sự dung hòa ba hệ tư tưởng Nho – Phật – Lão với quan điểm “hòa quang đồng trần”

Tóm lại, Thiền tông Việt Nam thời Lý Trần là sự dung hợp giữa Thiền tông

Ấn Độ có pha lẫn ảnh hưởng Mật tông, Tịnh độ tông cùng những tín ngưỡng dân gian bản địa với Thiền tông Trung Hoa trong đó có ảnh hưởng của Nho và Lão Trang để phù hợp thực tiễn và mang tính đại chúng Mặt khác, nó vẫn mang những tư tưởng chỉ

có ở Việt Nam trong những điều kiện sống của riêng mình như vừa nhập thế chống xâm lăng vừa tu tập thiền, chủ trương tam giáo đồng nguyên để vận dụng hết được những tinh hoa của mỗi hệ tư tưởng phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đại chúng hóa Thiền tông để mọi người có thể tiếp thu được lối sống nhân văn cao đẹp

Chính nhờ sự gắn bó với tinh thần cội nguồn và hào khí Đông A đậm bản sắc dân tộc mà nền Phật giáo Thiền tông thời Lý - Trần có ảnh hưởng tích cực đến tinh thần dân tộc, đặc biệt là chi phối sâu sắc đến cảm hứng thiền của các thi sĩ

Thơ Thiền Lý – Trần có thể nói là một mảng văn chương rất đặc sắc đạt đến đỉnh cao nghệ thuật, gắn liền cuộc sống đạo và đời, thể hiện triết lý thực tại của Phật giáo thông qua các Thiền sư, danh tăng, cư sĩ, vua, quan và cả những trí thức nho sĩ Trong suốt dòng chảy văn học Thiền thời Trần, từ nhà thơ – hoàng đế Trần Nhân Tông đến Huyền Quang tôn giả - một thi sĩ với huyền thoại đầy tính thế tục, chúng tôi nhận thấy tinh thần cô tịch luôn phảng phất trên mỗi vần thơ Thế giới thơ của các Thiền sư luôn ngập tràn thi cảm trước rừng sâu, biển rộng, góc bể chân trời,… Chính không gian

vô tận đó đã xoáy sâu vào nỗi tịch liêu của người nghệ sĩ Hay đôi khi, nhà thơ phát hiện ra cái đẹp cô liêu trong những cánh hoa mai vương trên núi tuyết, những đóa cúc cuối năm ẩn trong vách núi, chiếc thuyền nhỏ giữa mênh mông sóng nước, vài cánh

nhạn cô lẻ trong nắng tà,… Đó còn là cái cảm giác ngự trị trên chúng ta “khi một thế giới thiên sai vạn biệt vận hành dưới những điều kiện không gian, thời gian và nhân

Trang 33

quả bị bỏ lại đằng sau, khi tâm linh lượn cao trong bầu trời và trôi nổi tự do theo ý muốn như một cụm mây lang bạt” [69, tr 364] Yếu tố cô tịch không đơn thuần là cảm

thức cô đơn mà là sự giải thoát, sự thăng hoa của cái đẹp Thơ Thiền Việt Nam với lời thơ mộc mạc, chan hòa với thiên nhiên, tâm thế thi nhân luôn tĩnh thức trước luật vô thường, để rồi từ đó họ giác ngộ và trở về với thế tục Với các Thiền sư Việt Nam, Thiền là trạng thái cần tập trung cao độ, đưa tâm tưởng của bản ngã vào cái “tịch lặng”,

vô biên trống vắng vô hạn để giải thoát tâm linh Nơi đó là không gian lý tưởng để trầm tư Khi giác ngộ Thiền cũng là lúc không còn cảm thấy cô đơn mà chỉ còn một niềm an lạc vô hạn

1.2.2 Thơ thiền thời Trần và những yếu tố thể hiện niềm cô tịch

Về thuật ngữ “thiền”, trước nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập, giới

thuyết Nguyễn Phạm Hùng trong luận án Vận dụng quan điểm thể loại vào việc

nghiên cứu văn học Việt Nam thời Lý – Trần đã chia thơ Thiền làm hai loại:

- Thơ Thiền thiên về triết lí: nòng cốt của nó là kệ và cả những bài thơ trực tiếp phát biểu về các triết lí và quan niệm Thiền

- Thơ Thiền thiên về trữ tình: đó là những bài thơ mang yếu tố Thiền về tư tưởng, cảm xúc, tâm trạng

Đoàn Thị Thu Vân trong công trình Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ

Thiền Việt Nam thế kỉ X – XIV đã giới thuyết: Thiền là những bài thơ của các tác giả

là Thiền sư hoặc không phải Thiền sư nhưng hâm mộ Thiền, có nghiên cứu và hiểu biết Thiền, sáng tác theo những nội dung:

- Trực tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông – đó là những bài kệ

- Gián tiếp thuyết giảng về yếu chỉ Thiền tông

- Bày tỏ cảm xúc mang ý vị Thiền trước cái đẹp thiên nhiên, con người, cuộc sống; hoặc bày tỏ trạng thái tâm tư đã giác ngộ chân lí, miêu tả cái đẹp vi diệu bên trong con người

Trang 34

Luận văn Thơ Thiền Việt Nam thời Lý – Trần trong so sánh với thơ Thiền

Nhật Bản của Tăng Kim Huệ đã tổng hợp và nêu ra ba tiêu chí cơ bản để xác định thơ

Thiền như sau:

- Thứ nhất, đó là những bài kệ, bài thơ nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp trình bày, thuyết giảng về giáo lý, tư tưởng nhà Phật, những yếu chỉ Thiền tông

- Thứ hai, đó là những bài thơ mang cảm hứng Thiền học, tức những bài thơ được gợi cảm hứng từ những vấn đề có liên quan đến Phật, đến Thiền nhưng không nhằm thuyết giảng mà chỉ để bày tỏ một quan điểm, một tâm trạng, một cảm xúc

- Thứ ba, đó là những bài thơ miêu tả ngoại cảnh, bày tỏ cảm xúc, tâm trạng thông qua cảm quan Thiền học

Trong luận án Nghiên cứu so sánh thơ Thiền Lý – Trần (Việt Nam) và thơ

Thiền Đường Tống (Trung Quốc), Lê Thị Thanh Tâm đã xác định khái niệm Thiền từ

ba góc độ: Thiền như một phương pháp luyện tâm; Thiền như một cái nhìn về hiện hữu

từ thực tiễn tu chứng; Thiền như một tông phái có hệ tôn chỉ và triết học riêng và chọn góc độ Thiền như một tông phái có hệ tôn chỉ và triết học riêng (nghĩa là có tính thời đại và đặc thù thể loại) để khai thác Luận án chứng minh “kệ là cội nguồn thơ thiền” [64, tr.29] và chỉ ra các đặc điểm của thơ Thiền như sau:

- Do các Thiền sư, cư sĩ hoặc các nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền Phật giáo viết ra kể từ thời Thiền tông hình thành ở Trung Quốc

- Nội dung thơ Thiền chủ yếu bàn về giáo lý Thiền, quan niệm tu chứng – giác ngộ - giải thoát, vẻ đẹp hiện hữu thông qua cảm quan Thiền

- Về nghệ thuật, thơ Thiền “dửng dưng” với thi luật nhưng tha thiết với nguồn thi liệu mới và toát lên kiểu thi pháp hết sức đặc biệt và gần như không lặp lại trong các thể loại thơ ca hiện đại như: không gian thơ trở thành không gian triết lý và bày tỏ giáo pháp, ấn tượng chân không trong

Trang 35

sự ảo hóa của cảnh sắc, độ mờ nhạt của hình tượng, sự tiết chế của cảm xúc và kiệm lời tối đa,…

Mỗi tác phẩm Thiền đều được chi phối bởi hơi thở của thời đại và đặc trưng

thể loại Do đó, trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với cách lựa chọn góc độ thơ Thiền như một tông phái có hệ tôn chỉ và triết học riêng (nghĩa là có tính thời đại và đặc thù thể loại) của Tiến sĩ Lê Thị Thanh Tâm

Trong Thiền luận, Suzuki có bàn rằng:“Trong một nghĩa nào đó, Thiền là lối

giải thích của Trung Hoa về tông chỉ giác ngộ” [69, tr 360] Người ta chỉ giác ngộ khi

họ dẹp bỏ cái trung gian của hình thức để tâm linh này gặp gỡ tâm linh kia “Khi hình thức toàn hảo, các giác quan của chúng ta no đủ quá độ và tâm có thể xao lãng bổn phận sâu kín hơn của nó, ít nhất là tạm thời” [69, tr 362] Như vậy, theo Suzuki,

Thiền không chú trọng phần hình thức mà hướng đến sự đồng điệu trong tâm linh

Từ những phân tích ở trên, chúng tôi xác lập khái niệm thơ Thiền như sau:

Thơ Thiền là các sáng tác của các Thiền sư, cư sĩ hoặc các nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền Phật giáo; viết về giáo lý Thiền hoặc cảm quan Thiền; bỏ qua sự

nặng nề của hình thức thể hiện để hướng đến các giá trị tư tưởng và nghệ thuật

Về nội dung tư tưởng và nghệ thuật, qua khảo sát 257 đơn vị tác phẩm thơ

Thiền thời Trần in trong Thơ văn Lý – Trần (gồm 182 tác phẩm thơ Thiền thiên về triết

lý và 75 tác phẩm thơ Thiền thiên về trữ tình – theo thống kê của Nguyễn Công Lý [48; tr.124]), chúng tôi nhận thấy thơ Thiền thời Trần chứa đựng những nội dung như sau:

Trước hết, nội dung nổi bật trong thơ Thiền là hình tượng con người Theo các nhà thơ thì con người sống trên cõi trần là tạm bợ, là cát bụi rồi cũng sẽ trở về cùng cát bụi Từ đó, nhà thơ thương cho số kiếp con người, khuyên con người đừng vì sự hữu hạn của đời người mà sống hoài, sống phí Đồng thời, con người cần ý thức được thế giới thực tại là vô thường, đầy biến động và không ngừng thay đổi, hiểu được quy luật

tự nhiên của trời đất Tuệ Trung thượng sĩ đã lấy biểu tượng đóa sen để ẩn chứa cái tâm bất biến “hành diệc thiền, tọa diệc thiền” (đi cũng thiền, ngồi cũng thiền), cái tâm vượt

Trang 36

lên trên quy luật sinh diệt của cõi trần Khi ấy, con người thật an nhiên, tự do đạt đạo, không còn lo âu hay vướng bận điều gì Trần Nhân Tông sau những thăng trầm, biến cải của cuộc đời đã nhận thức được lẽ “sắc - không” của đời người, chấp nhận nó một cách tự nhiên như là quy luật tất yếu Từ đó, có thể giữ cho tâm hồn thanh thản mà vui sống hết mình trong thời khắc hiện tại, không cần phải đi tìm giải thoát ở nơi chốn thần tiên: “Y cựu vân trang nhất tháp thiền” (Một chiếc giường thiền ở nơi am mây vẫn như xưa) Có thể nói, đề tài con người là đề tài lớn, xuyên suốt nội dung thơ Thiền thời Trần Điều này cũng được nhiều nhà nghiên cứu thống nhất: Nguyễn Phạm Hùng trong

chuyên luận Thơ thiền Việt Nam – Những vấn đề nghệ thuật và tư tưởng chia hình

ảnh con người trong thơ thiền ra làm hai loại lớn: Con người Phật giáo và con người cá nhân Trong con người Phật giáo có bốn tiểu loại: Con người tự do, Con người vô ngã,

Con người vô ngôn, Con người vũ trụ Còn Đoàn Thị Thu Vân trong Khảo sát một số

đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam thế kỷ XI – XIV đã phân loại bốn biểu

hiện của con người nghệ thuật trong thơ Thiền Lý - Trần là: Con người tự do, Con

người vô ngã, Con người vô ý, Con người vô ngôn Trong luận án Nghiên cứu so sánh

thơ thiền Lý – Trần (Việt Nam) và thơ thiền Đường – Tống (Trung Quốc), Lê Thị

Thanh Tâm đã đề cập đến ba hình tượng con người tiêu biểu: Con người hành hương, Con người giải thoát, Con người mộng huyễn Ở đây, tác giả trình bày quan niệm con

người trong thơ thiền như sau: “Con người thiền là con người không bị trói buộc, kể cả

bị trói buộc bằng chính lời thuyết giáo của đức Như Lai”, “Con người thiền nhất thiết phải là con người tự do – tự do buông xả và tự do dấn thân” [64; tr.162] Như vậy, đề

tài con người là đề tài quan trọng của thơ Thiền thời Lý - Trần Đặc biệt, ở thời Trần - thời đại hưng thịnh nhất với những con người tiêu biểu nhất trong lịch sử dân tộc - con người thời Trần đã từng bước kế thừa toàn bộ sự nghiệp tư tưởng thời Lý và phát triển lên một bước mới Trong khí thế hào hùng của thời đại Đông A, hình ảnh con người đầy tự tin, hào hùng, phóng khoáng, tự do tự tại với cái tâm đạt đạo được xem như là một nét đẹp của thời đại

Trang 37

Thơ Thiền thời Trần còn ăm ắp những rung động, xúc cảm của các thi nhân trước cảnh sắc thiên nhiên: có khi thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp sinh động, tươi mát như hiện thực nó vốn có; có khi thiên nhiên mang tính chất biểu tượng để thiền nhân trực tiếp hay gián tiếp bày tỏ triết lý Phật giáo Thiền Đặc biệt, thiên nhiên không chỉ là khách thể mà còn là hình bóng tâm hồn của con người Cái tâm con người tan hòa vào vạn vật, không còn phân biệt nội tâm và ngoại giới, do đó có thể cảm nhận được những biến chuyển tinh tế của vũ trụ Cái tâm con người đã gạt bỏ lớp bụi trần trở về với cái

“tự tính”, bản thể và hòa nhập với thiên nhiên, trở về cái hồn nhiên, trong trẻo ban đầu Cái tâm đã được giải thoát khỏi thế giới xung quanh nhộn nhịp, bận rộn thường ngày Hình tượng thiên nhiên xuất hiện trong thơ Thiền thời Trần luôn có sự quyện hòa giữa

cảm hứng thơ và cảm hứng Thiền “Ở phương diện cảm hứng Thiền, chúng gợi sự liên tưởng vừa về cái vĩnh hằng của bản thể, của quy luật, vừa về cái hữu hạn trong cái vô hạn của thế giới hiện tượng Mỗi hình ảnh thiên nhiên có thể trở thành nhiều hình ảnh nghệ thuật mang ý nghĩa biểu tượng khác nhau, trạng thái cảm xúc khác nhau Nó tạo thành một thế giới hình tượng đa thanh với nhiều giao thoa của các âm hưởng, các phương tiện cảm xúc, nhưng đều nhất quán thể hiện một triết lý thiền tông lấy cái

“không” làm nền tảng” [83; tr.91] Chính nhờ sự nâng đỡ của triết lý thiền mà con

người hòa điệu với bản thể vũ trụ, đạt được cái vui vĩnh hằng ở thế giới đời thường và luôn luôn tìm về với tự tính, bản thể của chính mình

Trên bức tranh thơ Thiền đầy sắc màu của thời đại nhà Trần, dù viết về hình tượng con người hay hình tượng thiên nhiên, chúng tôi nhận thấy thơ của các Thiền sư luôn phảng phất màu sắc cô tịch “Cô tịch” ở đây không đồng nhất với khái niệm “cô đơn”, “cô độc” như từ điển tiếng Việt mô tả: “cô đơn: chỉ một mình, không nơi nương tựa, không ai gần gũi, thân thiết”, “cô độc: lẻ loi, một mình, tách biệt với thế giới xung quanh” Cô đơn hay cô độc đơn thuần là trạng thái lạc lõng khi không có ai ở bên mình, cái lõi của nó là nỗi sợ bị bỏ rơi, nỗi sợ cuộc sống dường như đã lãng quên mình, cùng với đó là cảm giác không được thấu hiểu và đồng cảm Nếu sự cô đơn đem đến

Trang 38

những cảm xúc bi ai, sầu não cho con người phàm trần thì tinh thần cô tịch mang đến cho nghệ sĩ niềm xúc cảm trước cái đẹp Trong cô liêu, tịch tĩnh, người nghệ sĩ thăng hoa và sáng tạo ra cái đẹp Với các Thiền nhân – thi sĩ, cô tịch được là một niềm an lạc, được cô đơn trong sự an nhiên tự tại là một niềm hạnh phúc

Cho đến nay, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào xác lập khái niệm

“cô tịch” như một thuật ngữ mỹ học trong thơ Thiền Việt Nam Theo chúng tôi, cô tịch

là một tính từ phản ánh một nét đặc trưng trong nội dung tư tưởng, thẩm mỹ của thơ Thiền và tinh thần cô tịch được biểu hiện qua những yếu tố sau:

- Chất liệu thẩm mỹ: Chất liệu thẩm mỹ hay chất liệu nghệ thuật là yếu tố

làm nên một tác phẩm nghệ thuật Thông qua chất liệu thẩm mỹ, người nghệ sĩ thể

hiện ý đồ sáng tác của mình “Nhờ chất liệu nghệ thuật, nghệ sĩ mới khách thể hóa được các hình tượng đã hình thành trong tưởng tượng của mình, tạo cho chúng một cái vỏ ngôn ngữ (ngôn ngữ nghệ thuật)” [24; tr.57] Trăng, hoa hay gió đều là những

chất liệu quen thuộc của thơ ca từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây Trong thơ Haiku và thơ Thiền, chúng vẫn là những thi liệu cũ, nhưng đã được thi nhân thổi vào trong nó hồn xúc cảm mới – một niềm cô đơn trong cái đẹp rất riêng Các nhà thơ đã phóng

vút vào cõi u huyền cái cô tịch của tâm hồn, của bản ngã chơi vơi giữa vũ trụ “Sự đơn lẻ của một vầng trăng sáng trên núi cao hay giữa bầu không càng tạo cảm giác

về sự trống không và tịch tĩnh vô biên của thế giới” [83; tr.87] Tinh thần cô tịch được

gợi lên từ những vật cổ xưa tạo nên vẻ đẹp trầm lắng như thế Bản chất của người nghệ sĩ là cô đơn Tâm hồn nghệ sĩ vốn nhạy cảm với cái đẹp Nhưng niềm xúc cảm trước cái đẹp của mỗi người là khác nhau Vì thế, ở một góc độ nào đó, có thể nói người nghệ sĩ cô đơn với niềm xúc động trước vẻ đẹp thiên nhiên và cô đơn trong cả quá trình sáng tạo để đưa vẻ đẹp ấy thăng hoa trong thế giới nghệ thuật Trong cô liêu, người nghệ sĩ đồng điệu với cái đẹp Trong cô liêu, người nghệ sĩ sáng tạo ra cái đẹp

Trang 39

- Không gian và thời gian nghệ thuật: Thơ ca được xem là sự cảm nhận

thế giới và con người, trong đó thời gian, không gian chính là hình thức để ta cảm nhận thế giới và con người Mọi sự vật, hiện tượng đều được gắn với hệ tọa độ không

- thời gian xác định, nên những cảm nhận của con người về thế giới đều bắt đầu từ sự đổi thay của không gian, thời gian Và từ sự đổi thay của không gian - thời gian, con người nhận ra sự đổi thay trong chính mình Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong

Thi pháp ca dao [41; tr.287] thì: “Thời gian và không gian là những mặt của hiện

thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” Một điều đặc biệt trong thơ Haiku và thơ

Thiền là không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ các thi nhân đều mang màu sắc Sabi – một không-thời gian cô liêu, tịch lặng và đậm chất Thiền Khi hòa mình trong bức tranh không gian và dòng chảy thời gian đó, con người cảm nhận được sự tan chảy của thơ ca vào đất trời và tâm hồn con người, giữa thực tại và thiên nhiên vũ trụ

- Tư tưởng triết lý Thiền tông: “Tư tưởng là linh hồn, là kết tinh của

những cảm nhận, suy nghĩ về cuộc đời Tư tưởng thấm nhuần trong tác phẩm như máu chảy trong huyết quản thấm đến từng tế bào cơ thể” [24; tr.383] Vì vậy, soi

sáng cảm thức cô tịch dưới ánh sáng của triết lý Thiền tông giúp ta có thể tìm thấy

một trạng thái lắng đọng để tâm hồn trở thành một tấm gương soi chiếu vạn vật, để thế giới bên trong và bên ngoài là một, vũ trụ và hạt cát là một Bản ngã vắng mặt

để rồi lại được tái sinh trong từng nhánh cây, ngọn cỏ, trong giọt sương mai đọng lại trên cánh hoa anh đào hay trong bóng trăng soi mình nơi đáy nước Và từ sự tái sinh đó mà nó trở thành vô tận Đó chính là vẻ đẹp thấu thị của tư tưởng Thiền, đòi hỏi con người phải cảm nghiệm chúng bằng cả trái tim và tâm hồn mình

Những biểu hiện này sẽ được chúng tôi phân tích cụ thể ở chương 2

Trang 40

Như vậy, qua sự khảo sát bên trên, trong cái nhìn so sánh cảm thức cô tịch trong thơ Thiền Việt Nam thời Trần với cảm thức Sabi trong thơ Haiku thời Edo Nhật Bản, chúng tôi nhận thấy Sabi là cảm thức thẩm mỹ đã trở thành thuật ngữ và có sức chi phối văn hoá nghệ thuật Nhật Bản, trong khi “cô tịch” chỉ là một tính từ, chưa được xem là thuật ngữ mỹ học của Việt Nam Nó tương đương nhau về khái niệm nhưng không tương đương về tầm ảnh hưởng, giá trị cốt lõi về thẩm mỹ

Ngày đăng: 21/04/2021, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w