Nhật Bản trở thành một thương hiệu được thế giới biết đến như một quốc gia có lực lượng lao động chất lượng cao, một chuẩn mực để đánh giá về mức độ tin cậy, buộc các nhà khoa học trên t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LỚP CAO HỌC NGÀNH CHÂU Á HỌC
ĐỀ TÀI TRIẾT LÝ GIÁO DỤC NHẬT BẢN
THỜI HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60310601 TRẦN THỊ THÙY TRANG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
LỚP CAO HỌC NGÀNH CHÂU Á HỌC
ĐỀ TÀI TRIẾT LÝ GIÁO DỤC NHẬT BẢN
THỜI HIỆN ĐẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHÂU Á HỌC
MÃ SỐ: 60310601 TRẦN THỊ THÙY TRANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TSKH TRẦN NGỌC THÊM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm Các số liệu, tài liệu nêu trong Luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tác giả Luận văn
Trang 4LỜI TRI ÂN
Đối với tôi, luận văn này như cột mốc đầu tiên của tôi trên con đường tập sự nghiên cứu Tôi bắt đầu trở lại làm việc, học tập và nghiên cứu tại trường sau hơn mười năm tốt nghiệp và đi làm, vì thế trong quá trình theo học chương trình Thạc sĩ, viết luận văn tôi gặp rất nhiều khó khăn và bỡ ngỡ về mặt học thuật Tôi rất biết ơn sự tận tâm và nhiệt huyết của Thầy Trần Ngọc Thêm trong suốt hơn một năm hướng dẫn tôi, từ cách tìm tài liệu, cách tra cứu, chắt lọc thông tin cho đến cách nghiên cứu, cách lập luận Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự hỗ trợ tích cực về tư liệu của đề tài cấp Nhà nước “Triết lý giáo dục Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại” (mã
số KHGD/16-20.ĐT.011) do Thầy Trần Ngọc Thêm làm chủ nhiệm Tôi xin phép được gởi lời cảm ơn sâu sắc tận đáy lòng mình đến Thầy
Bên cạnh đó tôi cũng xin chân thành cảm ơn Trường Đại học KHXH &
NV, Khoa Đông Phương học, Phòng Sau Đại học, Thư viện Trường ĐH KHXH & NV, Khoa Nhật Bản học đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt là các thầy cô, đồng nghiệp thân thương
ở Khoa Nhật Bản học đã chỉ bảo và cho tôi nhiều lời khuyên bổ ích, cũng như chia sẻ, cáng đáng công việc thay tôi để tôi sớm hoàn thành luận văn
Tp.HCM, tháng 1, năm 2020 Tác giả Luận văn
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC HÌNH ẢNH 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 7
DANH MỤC BẢNG 7
DẪN NHẬP 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Lịch sử vấn đề 9
3.1 Nhóm tài liệu về tư tưởng triết lý giáo dục 10
3.2 Nhóm tài liệu tổng quan về giáo dục Nhật Bản 11
3.3 Nhóm tài liệu về tư tưởng triết lý giáo dục Nhật Bản 14
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 17
6 Phương pháp nghiên cứu 17
7 Bố cục luận văn 17
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 19
1.1 Khái niệm, cấu trúc và vai trò của triết lý giáo dục 19
1.1.1 Khái niệm triết lý giáo dục 19
1.1.2 Cấu trúc bên trong và bên ngoài của triết lý giáo dục 27
1.1.3 Vai trò của triết lý giáo dục 29
1.2 Triết lý giáo dục Nhật Bản thời cận đại 32
1.2.1 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa cá nhân 33
Trang 61.2.2 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa Nho giáo 36
1.2.3 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa quốc gia 37
1.2.4 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa quốc thể 39
1.2.5 Triết lý giáo dục theo trào lưu giáo dục thông tục 41
1.2.6 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa quốc thể (1912-1926) 44
1.2.7 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa quân quốc 45
CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC NHẬT BẢN THỜI HIỆN ĐẠI 49 2.1 Tư tưởng triết lý giáo dục trong sứ mệnh giáo dục 49
2.1.1 Tư tưởng triết lý giáo dục trong sứ mệnh của giáo dục đối với xã hội 49
2.1.2 Tư tưởng triết lý giáo dục trong sứ mệnh của giáo dục đối với con người 54
2.2 Tư tưởng triết lý giáo dục trong các thành tố còn lại của triết lý giáo dục 55 2.2.1 Tư tưởng triết lý giáo dục trong Mục tiêu giáo dục 55
2.2.2 Tư tưởng triết lý giáo dục trong Nguyên lý giáo dục 57
2.2.3 Tư tưởng triết lý giáo dục trong Nội dung giáo dục 59
2.2.4 Tư tưởng triết lý giáo dục trong Phương pháp giáo dục 61
2.3 Tiểu kết 65
CHƯƠNG 3 SỰ HIỆN THỰC HÓA VÀ HOÀN THIỆN TRIẾT LÝ GIÁO DỤC 67 3.1 Các giải pháp hiện thực hóa triết lý giáo dục ở Nhật Bản 67
3.1.1 Sự hiện thực hóa triết lý giáo dục qua Văn hóa giáo dục 67
3.1.2 Sự hiện thực hóa triết lý giáo dục qua Chính sách giáo dục 69
3.1.3 Sự hiện thực hóa triết lý giáo dục qua Tổ chức giáo dục 74
3.1.4 Sự hiện thực hóa triết lý giáo dục qua Hạ tầng giáo dục 77
3.2 Sự hoàn thiện triết lý giáo dục Nhật Bản trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 80
Trang 73.2.1 Sự phục hồi vai trò của truyền thống và mối liên kết gia đình – xã hội – nhà trường
80
3.2.2 Sự bổ sung vai trò của việc học tập suốt đời 83
3.3 Tiểu kết 88
KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
I Tài liệu chữ Latin 94
II Tài liệu chữ Nhật 98
III Tài liệu website 101
PHỤ LỤC 104
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Mối quan hệ của các cặp thuật ngữ và khái niệm, thực hành và lý luận
20
Hình 2: Mối tương quan giữa Lý niệm – Nguyên lý – Nguyên tắc 24
Hình 3: Triết lý giáo dục theo nghĩa trung gian trong quan hệ với Luật Giáo dục [Trần Ngọc Thêm 2019] 27
Hình 4: Cấu trúc của Triết lý giáo dục 28
Hình 5: Triết lý giáo dục và mối quan hệ với các nhân tố khác 29
Hình 6: Hệ thống trường học Nhật Bản năm 1873 35
Hình 7: Hệ thống trường học chính ở Nhật Bản năm 1892 39
Hình 8: Hệ thống trường học chính ở Nhật Bản năm 1908 44
Hình 9: Một lớp học ngoài trời sau chiến tranh, năm 1945 [Kyodonews 2009] 51
Hình 10: Vị trí của nội dung giáo dục trong mối quan hệ với các văn bản pháp quy cốt lõi về giáo dục Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai 60
Hình 11: Mức độ cụ thể hóa của các văn bản pháp quy 61
Hình 12: Mối liên hệ giữa các thành tố chịu ảnh hưởng bởi giáo dục 62
Hình 13: Phương pháp giáo dục theo hai hình thức: Hoạt động giáo dục theo SGK và Hoạt động giáo dục ngoài SGK [Ito Ushio 2013] 63
Hình 14: Tam giác biểu diễn phương pháp giáo dục trong nhà trường trong mối quan hệ giữa giáo viên, học sinh và tài liệu học tập 63
Hình 15: Quy trình kiểm định sách giáo khoa [Hội nghiên cứu pháp lệnh Nhật Bản, 2015: 124] 73
Hình 16: Mối quan hệ các cấp của cơ quan hành chính giáo dục địa phương 76 Hình 17: Sơ đồ hệ thống trường học chính ở Nhật Bản năm 1950 78
Hình 18: Hệ hống trường học chính của Nhật Bản năm 1976 80
Hình 19: Năm nhóm cơ sở đào tạo hỗ trợ việc học tập suốt đời 87
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Dân số các nước Châu Âu 30
DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Các cách hiểu về triết lý giáo dục 21
Bảng 2: Tỷ lệ nhập học ở Nhật Bản[Sumi Tomoyuki 2014] 43
Bảng 3: Tổng quan triết lý giáo dục Nhật Bản thời cận đại 47
Bảng 4: Mối quan hệ giữa trung ương và địa phương 77
Bảng 5: So sánh hiện trạng xã hội trong năm ban hành Luật Giáo dục cơ bản 1947 và năm chỉnh sửa 2006[Bộ Giáo dục Nhật Bản 2006] 81
Trang 10DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Nhìn lại quá khứ, nền giáo dục Nhật Bản truyền thống – cũng như một số quốc gia ở phương Đông, đã chịu ảnh hưởng mạnh của Nho giáo trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa với Trung Quốc Trải qua hai biến cố lớn trong lịch sử dân tộc là cải cách Minh Trị (明治維新 – Minh Trị Duy tân) năm 1868 và thất bại trong chiến tranh thế giới thứ hai năm 1945, Nhật Bản đã chuyển đổi hoàn toàn bản chất nội tại của quốc gia bằng các cuộc cải cách thực hiện trên diện rộng, từ chính trị đến kinh tế, giáo dục, cấu trúc xã hội Trong đó, các bước cải tổ liên quan đến giáo dục được xem
là một trong những yếu tố quan trọng góp phần đưa Nhật Bản vươn lên vị trí thứ hai thế giới chỉ trong vòng 30 năm sau khi chiến tranh kết thúc
Nhật Bản trở thành một thương hiệu được thế giới biết đến như một quốc gia có lực lượng lao động chất lượng cao, một chuẩn mực để đánh giá về mức độ tin cậy, buộc các nhà khoa học trên thế giới phải nghiên cứu, tìm ra nguyên nhân, cũng như đúc kết các bài học kinh nghiệm từ sự phát triển vượt trội của nền giáo dục Nhật Bản
Lẽ đương nhiên, không có nền giáo dục nào trên thế giới là hoàn hảo, nói cách khác, bất kỳ nền giáo dục nào, cho dù là của quốc gia phát triển, cũng chứa đựng bên trong
nó những mâu thuẫn, bất cập cần phải điều chỉnh, cải tổ Chính vì thế, nhân tố đóng vai trò đặc biệt trong việc soi sáng, là kim chỉ nam cho nhà hoạch địch chính sách giáo dục của một quốc gia có thể nhìn ra những bất cập nội tại, sai lầm tiềm ẩn và tìm
ra hướng đi đúng cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà chính là triết lý giáo dục Nhật Bản, khi phải đối đầu với những khó khăn của dân tộc, bắt buộc phải cải
tổ hoặc là đất nước bị tụt hậu, đã “biến thế giới thành một nhà trường rộng lớn và
học tập từ đó những gì họ lựa chọn, luôn luôn sử dụng các tiêu chuẩn về chất lượng
và hiệu quả Họ nghiên cứu ở Mỹ các phương pháp kinh doanh và giáo dục, nghiên cứu ở Pháp luật học và giáo dục, nghiên cứu ở Đức quân sự, y học và giáo dục và nghiên cứu ở Anh thương mại, hàng hải và giáo dục” [Nguyễn Tiến Đạt, 2013: 218]
Theo làn sóng chung của tiến trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa của thế giới, Việt Nam, cũng như tất cả các quốc gia khác trên thế giới, cần phải hoạch định cho dân
Trang 11tộc mình một lối đi ưu việt, để có thể vừa hòa nhập, phát triển nhưng vẫn có thể giữ
vững bản sắc dân tộc Để giải bài toán: làm sao để có thể đào tạo, sở hữu một thế hệ
người Việt Nam có nhân cách và tri thức tốt, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của đất nước?, chúng tôi nhận định rằng: việc xây dựng một triết lý giáo dục đậm đà
bản sắc dân tộc là thực sự quan trọng
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi nghiên cứu triết lý giáo dục của Nhật Bản thời hiện đại nhằm mục đích tìm ra cách thức người Nhật đã học hỏi và chuyển hóa triết lý giáo dục từ lý luận thành thực tiễn trong các cuộc cách tân giáo dục, qua những biến động lớn của xã hội Thiết nghĩ, với kết quả thu được từ việc chỉ ra sứ mệnh trọng yếu đặt trên vai nhân dân Nhật Bản trải dài suốt hai thế kỷ, cùng với việc lý giải được sự vận hành của triết lý giáo dục trong hệ thống bao gồm các mối quan hệ bên trong (triết lý giáo dục – nguyên lý giáo dục – nội dung giáo dục – phương pháp giáo dục) và mối quan hệ bên ngoài (triết lý giáo dục – văn hóa giáo dục – chính sách giáo dục – tổ chức giáo dục – hạ tầng giáo dục), cũng như sự tác động, hỗ trợ qua lại giữa các thành tố trong hệ thống đó, sẽ tạo ra cái nhìn toàn vẹn, tổng thể về vai trò của triết
lý giáo dục trong sự phát triển của một quốc gia Từ đó, có thể đúc kết được những bài học, kinh nghiệm trong việc xây dựng triết lý giáo dục ở các cấp (quốc gia, nhà trường, cá nhân) và cách thức hiện thức hóa triết lý giáo dục đã đặt ra một cách hiệu quả nhất
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu triết lý giáo dục của Nhật Bản thời hiện đại để góp phần: (1) Tìm ra nhân tố làm nên sức mạnh Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai; (2) Là tài liệu tham khảo trong việc xây dựng triết lý giáo dục của Việt Nam trong quá trình hội nhập, phát triển của đất nước hiện nay
Trang 12nền tảng tư tưởng triết học, thời điểm lịch sử , các nhà khoa học sẽ đưa ra những nghiên cứu, tham luận, đánh giá khác nhau Tất cả các kết quả nghiên cứu đều đem đến nhiều bài học, kinh nghiệm cho chính bản thân nền giáo dục sở tại Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra của luận văn, chúng tôi phân chia các công trình nghiên cứu liên quan đến triết lý giáo dục, giáo dục Nhật Bản thành ba nhóm chính: (1) Nhóm tài liệu tổng quan về tư tưởng triết lý giáo dục; (2) Nhóm tài liệu tổng quan
về giáo dục Nhật Bản; (3) Nhóm tài liệu về tư tưởng triết lý giáo dục Nhật Bản
3.1 Nhóm tài liệu về tư tưởng triết lý giáo dục
Trong báo cáo đề dẫn tọa đàm “Triết lý giáo dục và triết lý giáo dục trong Luật
Giáo dục” do Chương trình Khoa học Giáo dục cấp Quốc gia 2016-2020 tổ chức tại
Hà Nội ngày 5/1/2019, nhóm nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm đã báo cáo một số kết
quả nghiên cứu bước đầu của đề tài “Triết lý giáo dục Việt Nam – từ truyền thống đến
hiện đại” về nhận diện triết lý giáo dục, cách hiểu triết lý giáo dục trong quan hệ với
Luật Giáo dục, mối quan hệ giữa triết học giáo dục và triết lý giáo dục, cấu trúc của triết lý giáo dục nhìn từ bên trong và bên ngoài Ngoài ra, Trần Ngọc Thêm cũng có
một số bài nghiên cứu, bài báo liên quan đến triết lý giáo dục như: “Văn hóa học
đường Việt Nam trong thời kỳ phát triển và hội nhập: Vài nét về con đường từ lý luận đến thực tiễn” tại Hội thảo quốc tế Văn hóa học đường Đại học Việt Nam trong thời
kỳ phát triển và hội nhập vào tháng 4 năm 2018; “Triết lý nhân sinh của người Nam
Bộ” đăng trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế Triết lý nhân sinh của người dân Nam Bộ,
Việt Nam năm 2018; “Tìm câu trả lời cho triết lý giáo dục Việt Nam” đăng trên báo
Giáo dục thời đại vào ngày 15 tháng 10 năm 2018 Chúng tôi dựa trên nội dung của những nghiên cứu này để tổng hợp tình hình nghiên cứu triết lý giáo dục, triết học giáo dục và xây dựng cơ sở lý luận về triết lý giáo dục
Cuốn “教育の原理及び課題” (Nguyên lý và vấn đề giáo dục) của tác giả Ozaki
Mugen trình bày tổng quan về giáo dục nói chung qua các vấn đề lớn như định nghĩa
về giáo dục, mục đích giáo dục, chế độ giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, mối quan hệ con người trong giáo dục Đặc biệt, trong tiểu mục viết về mục đích giáo dục, chúng tôi tìm được định nghĩa về “Lý niệm giáo dục” (教育理念) Đây
Trang 13cũng là một trong những định nghĩa quan trọng giúp chúng tôi nhận diện “triết lý giáo dục” đang được sử dụng trong tiếng Nhật
Tóm lại, chúng tôi sử dụng kiến thức từ những công trình trên để tạo nền tảng lập luận, định hình triết lý giáo dục của Nhật Bản ở chương một Từ cơ sở lập luận này chúng tôi chắt lọc được triết lý giáo dục của Nhật Bản suốt chiều dài lịch sử từ Minh Trị Duy tân năm 1886 cho đến khi Nhật Bản thực hiện sửa đổi Luật Giáo dục
cơ bản lần đầu tiên vào năm 2006
3.2 Nhóm tài liệu tổng quan về giáo dục Nhật Bản
3.2.1 Về lịch sử giáo dục Nhật Bản, cuốn “日本教育史” (Lịch sử giáo dục
Nhật Bản) của tác giả Yamamoto Masami đã cung cấp một bức tranh tổng quát về
tiến trình hình thành và phát triển giáo dục của Nhật Bản Sách bao gồm 18 chương
Cụ thể, chương 1 nêu khái quát về sự hình thành và phát triển giáo dục dưới dạng tổ chức thời cổ đại từ nữa sau thế kỷ thứ VII, khi tầng lớp quý tộc thống trị bắt đầu đẩy mạnh việc học chữ để quản lý đất nước (ban hành luật lệ, quản lý nhân khẩu, hộ tịch, chia cấp ruộng đất), tầng lớp tăng lữ muốn truyền đạo Phật cho thứ dân Hai chương tiếp theo mô tả sự chuyển biến, chuyên môn hóa, cũng như những đặc trưng của giáo dục Nhật Bản qua các thời kỳ trung thế, cận thế Ở các chương còn lại, tác giả tập trung phân tích bối cảnh, các định chế, pháp lệnh, cải cách của giáo dục Nhật Bản thời cận đại, từ Minh Trị Duy tân đến sau chiến tranh thế giới thứ hai
Cuốn “日本国民を作った教育” (Giáo dục hình thành nên dân tộc Nhật Bản)
của tác giả Okita Yukuji mô tả các phương thức giáo dục, cách thức tổ chức, vận hành của các tổ chức giáo dục tương ứng với tầng lớp võ sĩ, tầng lớp thứ dân thời Edo, hệ thống trường học cho toàn dân từ thời Minh Trị Ngoài ra, lồng ghép bên trong các
mô tả liên quan đến chính sách giáo dục, bối cảnh thực hiện các chính sách, sắc lệnh giáo dục, tác giả đưa ra các quan điểm liên quan đến hòa bình, bình đẳng, đạo đức, chiến tranh và giáo dục, chỉ ra những vấn đề giáo dục Nhật Bản đang phải đối mặt sau chiến tranh thế giới thứ hai, ví dụ như những khó khăn khi đập bỏ và xây dựng lại nền giáo dục kiểu mới, sự thích ứng với các chính sách của Tổng tư lệnh đồng minh quân đội (Mỹ) Cuốn sách này có thể được xem như một công trình về lịch sử
Trang 14– xã hội khái quát về giáo dục Nhật Bản từ thời Edo đến ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc
Cuốn “学校の戦後史” (Lịch sử trường học thời hậu chiến) của tác giả Kimura
Hajime cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng thể về giáo dục Nhật ở khía cạnh chương trình học, các số liệu về sự thay đổi số lượng trường học, cấp lớp, số lượng học sinh – sinh viên ở các cấp lớp ở Nhật Bản sau chiến tranh
Ba tác phẩm tiếng Nhật nêu trên cung cấp cho chúng tôi kiến thức tổng quan về lịch sử giáo dục của Nhật Bản dưới góc độ nghiên cứu, hệ thống hóa của người Nhật Đây là nguồn tư liệu chính giúp chúng tôi có nền tảng, căn cứ để hệ thống hóa những
sự kiện quan trọng ảnh hưởng đến giáo dục Nhật Bản từ thời cận đại đến thời hiện đại, cũng như nắm rõ những văn bản pháp lý quan trọng có ảnh hưởng đến giáo dục Nhật Bản sau mỗi sự kiện
3.2.2 Ngoài những công trình của các nhà nghiên cứu người Nhật như đã nêu trên, chúng tôi cũng tập hợp được một số công trình nghiên cứu khác về giáo dục Nhật Bản của phương Tây và Việt Nam Bàn về sự phát triển giáo dục, các cải cách
và các chính sách giáo dục cũng như những thay đổi về cơ cấu, hệ thống, phương thức giáo dục, sự thay đổi về nội dung giáo trình tương ứng với các cuộc cải tổ có
cuốn “Education Reform in Japan – A case of Immobilist Politics” của tác giả Leonard J.Schoppa và cuốn “Japan and Education” của tác giả Michael D.Stephens
Ở Việt Nam, bên cạnh những tác phẩm liên quan đến giáo dục được dịch lại từ nguyên bản tiếng Nhật để phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu giáo dục Nhật Bản
như “Khuyến học” của tác giả Fukuzawa Yukichi do Phạm Hữu Lợi biên dịch, cuốn
“Cải cách giáo dục Nhật Bản” của tác giả Ozaki Mugen do Nguyễn Quốc Vương
biên dịch, chúng tôi cũng tìm được một số bài viết ngắn khái quát về mô hình giáo
dục Nhật Bản như “Giáo dục Nhật Bản – Những vấn đề phương hướng cải cách”
của tác giả Ngô Hương Lan đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, 2012, No.7;
“Giáo dục Nhật Bản – Thành tựu và bài học kinh nghiệm” của tác giả Phạm Ngọc
Anh đăng trên tạp chí Cộng sản, 2015, No.105 Những tác phẩm, bài viết này là nguồn
tư liệu cho chúng tôi viết về những thay đổi về chính sách, cơ sở hạ tầng, tổ chức giáo dục nhằm mục đích hiện thực hóa triết lý giáo dục
Trang 153.2.3 Bên cạnh một số công trình nghiên cứu chuyên biệt về giáo dục Nhật Bản nêu trên, có hai công trình đặc sắc nghiên cứu lịch sử giáo dục toàn thế giới là
“Sơ lược lịch sử giáo dục” của Đoàn Huy Oánh và cuốn “Giáo dục quốc tế: một vài
tư liệu và so sánh” của Phạm Lan Hương
Cuốn “Sơ lược lịch sử giáo dục” gồm 36 chương trải dài trong 533 trang, tóm
tắt tiến trình lịch sử từ giáo dục sơ khai, giáo dục cổ đại đến giáo dục thế kỷ 20 và hiện tại của một số quốc gia, khu vực điển hình trên thế giới như Châu Âu, Trung Đông, Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á Liên quan đến giáo dục Nhật Bản, tác giả
đề cập trong mục III Giáo dục Nhật Bản – Giáo dục phát triển, chương 11 Giáo dục
Á Châu trước ảnh hưởng tây phương và mục II Giáo dục Nhật Bản – Giáo dục quốc gia dân tộc phát triển, chương 20 Giáo dục Á Châu ảnh hưởng tây phương tới cuối thế kỷ thứ 19 Qua hai tiểu mục này, tác giả nhận định giáo dục Nhật Bản được hình
thành từ nữa sau thế kỷ thứ VII, tương ứng với thời nhà Đường của Trung Quốc, đồng thời tác giả cũng mô tả tiến trình phát triển của giáo dục Nhật Bản từ thời cổ đại đến thế kỷ thứ XII Tác giả cũng đề cập đến các ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa và Ấn
Độ trong nền giáo dục phong kiến của Nhật Bản Công trình này cung cấp cho chúng tôi lượng thông tin lớn về tiến trình lịch sử của giáo dục không chỉ của Nhật Bản, mà của toàn thế giới Công trình nêu ra các đặc trưng giáo dục riêng của từng quốc gia, bối cảnh xã hội và ảnh hưởng của giáo dục giữa các quốc gia trong quá trình giao lưu, tiếp biến theo các mốc thời gian nhất định, nhờ đó chúng tôi có sự liên tưởng, đối chiếu giáo dục Nhật Bản trong sự vận động chung của giáo dục thế giới, hiểu rõ thêm bối cảnh giáo dục Nhật Bản trong bức tranh tổng thể của giáo dục thế giới Tuy nhiên, công trình chứa đựng khối lượng thông tin đồ sộ, bao quát các đặc điểm, cũng như tiến trình phát triển giáo dục thế giới, nên nội dung mang tính liệt kê, tập hợp thông tin, chưa đào sâu được tảng băng xã hội vận động bên dưới các hiện tượng, dẫn đến
sự chuyển biến, đổi thay của giáo dục Nhật Bản
Cuốn “Giáo dục quốc tế: một vài tư liệu và so sánh” của tác giả Phạm Lan Hương là tập tài liệu tham khảo chính cho môn học Giáo dục so sánh, cuốn “Kinh
nghiệm và thành tựu phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới” của tác giả Nguyễn
Tiến Đạt, cuốn “Lịch sử giáo dục thế giới” của tác giả Bùi Minh Hiền (chủ biên)
Trang 16cung cấp thêm cho chúng tôi thông tin để đối chiếu các cột mốc thời gian hình thành, phát triển, những thời điểm diễn ra các cuộc cải cách và các nội dung cải cách trọng yếu trong chính sách, đường lối của giáo dục Nhật Bản ở từng thời kỳ
Tóm lại, các tác phẩm trong nhóm tài liệu này là cơ sở để chúng tôi hệ thống hóa lại toàn bộ lịch sử giáo dục Nhật Bản từ cận đại đến hiện đại, không chỉ dừng lại
ở mức độ liệt kê theo tiến trình thời gian mà nghiên cứu nền giáo dục Nhật Bản như một chỉnh thể của các thành tố: nhà nước – chính sách giáo dục – các cơ sở giáo dục – người thụ lãnh giáo dục – gia đình trong một mối quan hệ biện chứng, để làm nổi bật sự cấu thành, cũng như chuyển hóa của triết lý giáo dục Nhật Bản ở từng thời kỳ
3.3 Nhóm tài liệu về tư tưởng triết lý giáo dục Nhật Bản
3.3.1 Đối với tài liệu nghiên cứu về triết lý giáo dục của Nhật Bản, ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có tác phẩm nào xoay quanh sự biến đổi của triết lý giáo dục Nhật Bản từ thời kỳ cận đại đến hiện đại Có chăng là một số tác phẩm, bài viết ngắn bàn về tư tưởng giáo dục của các nhân vật lỗi lạc của Nhật Bản,
ví dụ như Fukuzawa Yukichi, Arinori Mori ) Ngay cả trong cuốn “Lịch sử giáo dục
thế giới” của tác giả Bùi Minh Hiền có đề cập đến học thuyết giáo dục của các triết
gia nổi tiếng như Mác – Ănghen, Lenin, A.S.Macrenko, John Locke, John Dewey trong phần viết về các nền giáo dục lớn của thế giới, nhưng đến phần giáo dục của Nhật Bản, tác giả chỉ dừng lại ở nội dung khái quát chung, tiến trình phát triển của nền giáo dục Nhật Bản hiện đại, hệ thống giáo dục quốc dân và mô hình quản lí giáo dục, mà không đề cập đến bất cứ tư tưởng, triết lý giáo dục nào của Nhật Bản Hơn nữa, trong tất cả các tài liệu chúng tôi tìm được liên quan đến triết lý giáo dục Nhật Bản, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào tư tưởng giáo dục thời Minh Trị (1868-1912), cụ thể hơn là triết lý giáo dục của Fukuzawa Yukichi
Đơn cử như tác phẩm “Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tưởng cải cách
giáo dục” của tác giả Nguyễn Tiến Lực Một số bài viết, luận án tiến sĩ, luận văn thạc
sĩ viết về triết lý giáo dục của Fukuzawa Yukichi ví dụ như một số bài viết được đăng
trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á như “Ảnh hưởng của tư tưởng Duy tân về Giáo
dục của Fukuzawa Yukichi đối với xã hội Nhật Bản” và “Tư tưởng giáo dục chủ yếu của Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm 'Khuyến học'” của tác giả Dương Thi Mẫn,
Trang 17“Tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi đối với Nhật Bản thời cận đại” của tác
giả Nguyễn Minh Nguyên; bài viết “Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản” tham gia hội
thảo Văn hóa học đường tháng 5/2018 của tác giả Nguyễn Thu Hương; luận án tiến
sĩ chuyên ngành Triết học “Ảnh hưởng tư tưởng cải cách giáo dục từ Minh Trị (Meiji)
Nhật Bản đến tư tưởng giáo dục” của tác giả Ngô Bích Đào; luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Triết học “Tư tưởng giáo dục của Fukuzawa Yukichi và ý nghĩa của nó đối với
tư tưởng Giáo dục của Phan Bội Châu” của tác giả Lưu Thị Yến Các công trình này
là tài liệu tham khảo liên quan đến tư tưởng giáo dục thời Minh Trị và cũng là nguồn thông tin để chúng tôi tra cứu, tìm hiểu về nội hàm của thuật ngữ “triết lý giáo dục” đang được các nhà nghiên cứu Việt Nam sử dụng hiện nay
3.3.2 Ở Nhật Bản, có rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về tư tưởng giáo dục
như cuốn “教育の歴史と思想” (Tư tưởng và lịch sử giáo dục) của hai tác giả Ishimura Kaiyo và Karube Katsuichiro, cuốn “教育思想史” (Lịch sử tư tưởng giáo dục) của tác
giả Imai Yasuo Cả hai tác phẩm đều viết về những triết gia tiêu biểu của nhân loại
và tư tưởng giáo dục tương ứng của các triết gia đó trong từng thời đại Đặc biệt, cả hai tác phẩm đều đề cập đến các tư tưởng giáo dục nổi bật của Nhật Bản trước và sau Minh Trị Duy tân, tuy nhiên, các tác giả chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các tư tưởng giáo dục đó một cách độc lập, không đề cập đến việc các tư tưởng giáo dục này đã ảnh hưởng như thế nào trong công cuộc xây dựng chính sách giáo dục, đổi mới hệ thống giáo dục
Cuốn “文部省の研究「理想の日本人像」を求めた百五十年” (Nghiên cứu Bộ
Giáo dục – 150 năm hướng tới “Hình tượng người Nhật Bản lý tưởng”) của tác giả
Tsujita Masanori là một trong những tác phẩm hấp dẫn, cung cấp thông tin chi tiết về quá trình hình thành, sự thay đổi cũng như phát triển của Bộ Giáo dục Nhật Bản Sách nghiên cứu góc nhìn mới để làm sáng tỏ các xu hướng giáo dục của Nhật Bản trong gần 150 năm từ sau Minh Trị Duy tân, thông qua khảo sát Bộ Giáo dục (文部省)1 và
“Hình tượng người Nhật Bản lý tưởng” Từ sau Minh Trị Duy tân, Bộ Giáo dục là tổ
chức chịu trách nhiệm toàn diện giáo dục của đất nước Nhật Bản Tác giả đã viết theo
1
Bộ Giáo dục (文部省) đổi tên thành Bộ Khoa học Giáo dục (文部科学省) từ sau năm 2001
Trang 18một mạch chính là mô tả sự vận động của Bộ Giáo dục để làm sáng tỏ lịch sử giáo dục Nhật Bản thời cận đại Ngoài ra, một trong những điểm đáng lưu ý của tác phẩm này là tác giả không những chỉ ra được hình tượng người Nhật Bản trong từng giai đoạn lịch sử mà đã nêu bật được sự đổi thay của hình tượng lý tưởng này qua các biến động trong lịch sử
Tác phẩm trải dài qua sáu chương Trong đó, chương một nói về sự ra đời Bộ Giáo dục và các tranh luận về lý tưởng từ năm 1868 đến năm 1890 – năm ban bố Sắc ngữ giáo dục Đến chương hai và chương ba, tác phẩm kể về những thăng trầm của Bộ Giáo dục trong bối cảnh chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh Nga – Nhật Từ chương bốn, tác phẩm kể về quá trình Nhật Bản cải cách giáo dục sau thất bại trong chiến tranh thế giới thứ hai Có thể khẳng định rằng, tác phẩm giúp độc giả lý giải được sự chuyển biến trong tư tưởng giáo dục, cũng như quan điểm quản lý, hoạch định chính sách của các bộ trưởng Bộ Giáo dục ở các thời kỳ trong mối tương quan lẫn nhau, cũng như chịu chi phối của Thiên hoàng và các cơ quan chính phủ khác Đây là tác phẩm quan trọng giúp chúng tôi hệ thống các sứ mệnh giáo dục được chính phủ Nhật Bản đề ra trong suốt tiến trình lịch sử từ Minh Trị Duy tân đến thời hiện đại
Vì khái niệm về triết lý giáo dục Nhật Bản của nhóm tài liệu được nêu bên trên không thật sự rõ ràng, do đó, để hiểu được tư tưởng triết lý giáo dục của Nhật Bản, chúng tôi cho rằng cần phải có thông tin nền tảng về giáo dục Nhật Bản Nhóm tài liệu này đã được trình bày ở mục 3.2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Triết lý giáo dục Nhật Bản
Phạm vi về chủ thể: Con người Nhật Bản
Phạm vi về không gian: Đất nước Nhật Bản
Phạm vi về thời gian: Thời hiện đại từ năm 1945 cho đến khi chỉnh sửa Luật Giáo dục cơ bản vào năm 2006 Tuy nhiên, giáo dục thời hiện đại được xây dựng và phát triển từ giáo dục thời cận đại, cho nên để hiểu được giáo dục thời hiện đại, chúng tôi
sẽ đề cập đến giáo dục thời cận đại (1868-1945) trong luận văn này
Trang 195 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về phương diện khoa học, nghiên cứu triết lý giáo dục Nhật Bản trong sự vận động, phát triển của xã hội… giúp tìm ra mối quan hệ biện chứng giữa triết lý giáo dục – sức mạnh quốc gia Bên cạnh đó, việc khảo sát triết lý giáo dục trong mối quan
hệ bên trong (triết lý giáo dục – nguyên lý giáo dục – nội dung giáo dục – phương pháp giáo dục) và mối quan hệ bên ngoài (triết lý giáo dục – văn hóa giáo dục – chính sách giáo dục – tổ chức giáo dục – hạ tầng giáo dục) cung cấp cơ sở lý luận phục vụ cho việc xây dựng và hiện thực hóa triết lý giáo dục một cách hiệu quả
Về phương diện thực tiễn, luận văn góp phần cung cấp thêm thông tin về triết
lý giáo dục của Nhật Bản – quốc gia có nền giáo dục hàng đầu thế giới Chúng tôi cũng hi vọng luận văn sẽ có thể là tài liệu tham khảo trong định hướng triết lý giáo dục cho Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng cách tiếp cận liên ngành và những
phương pháp sau:
Thứ nhất, phương pháp hệ thống - cấu trúc để sắp xếp lại thông tin từ tất cả
nguồn tư liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài; xâu chuỗi các dữ liệu theo các thành tố: triết lý giáo dục – nguyên lý giáo dục – nội dung giáo dục – phương pháp giáo dục và triết lý giáo dục – chính sách giáo dục – văn hóa giáo dục – tổ chức giáo dục – hạ tầng giáo dục
Thứ hai, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu sự chuyển đổi
của triết lý giáo dục trong quá trình phát triển của giáo dục Nhật Bản
Trang 20Tiếp theo, ở chương hai, chúng tôi trình bày tư tưởng triết lý giáo dục chính ở Nhật Bản thời hiện đại
Ở chương ba, chúng tôi trình bày hai vấn đề: (1) Các giải pháp để hiện thực hóa triết lý giáo dục Nhật Bản giai đoạn hiện đại thông qua các chính sách giáo dục, văn hóa giáo dục, tổ chức giáo dục và hạ tầng giáo dục; (2) Triết lý giáo dục Nhật Bản trước ngưỡng cửa thế kỷ 21
Trang 21CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ
THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm, cấu trúc và vai trò của triết lý giáo dục
1.1.1 Khái niệm triết lý giáo dục
Nhóm nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm đã xây dựng cơ sở về mối quan hệ giữa
triết lý giáo dục – triết học giáo dục và báo cáo trong đề dẫn tọa đàm “Triết lý giáo
dục và triết lý giáo dục trong Luật Giáo dục” do Chương trình Khoa học Giáo dục
cấp Quốc gia 2016-2020 tổ chức tại Hà Nội ngày 5/1/2019, chúng tôi tóm tắt lại kết quả đã được nghiên cứu để trình bày về khái niệm “triết lý giáo dục”
1.1.1.1 Ở các dân tộc phương Tây, triết lý giáo dục ít được sử dụng một cách tách bạch mà thường được dùng chung với triết học giáo dục trong một vỏ ngôn từ (ví dụ: philosophy of education, hoặc educational philosophy) nên sự tồn tại của triết
lý giáo dục có thể tường minh hoặc hàm ẩn, có thể đúc kết thành các từ khóa hay không Khác với cách tư duy của người Việt Nam, triết lý giáo dục thường được diễn đạt một cách cô đọng, súc tích, thể hiện một cách tường minh, rõ ràng Do đó, khi định nghĩa “triết lý giáo dục”, các nhà nghiên cứu Việt Nam có khuynh hướng định
vị “triết lý giáo dục” so với “triết học giáo dục” ở hai cặp bình diện thực hành – lý luận, thuật ngữ – khái niệm để làm nổi bật sự khác nhau cũng như vai trò đặc trưng của hai chủ thể Các cặp bình diện này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động đến nhau Thuật ngữ (“triết học giáo dục” hay “triết lý giáo dục”) được hình thành tuỳ vào nội dung thực hành, từ đó, mỗi thuật ngữ sẽ có khái niệm phù hợp Bên cạnh
đó, thực hành là nền tảng, là nhân tố cần thiết để xây dựng lý luận, hay có thể nói thực hành chuyển hóa thành lý luận Mối quan hệ của hai cặp bình diện này được thể hiện ở hình sau
Trang 22Hình 1: Mối quan hệ của các cặp thuật ngữ và khái niệm, thực hành và lý luận
1.1.1.2 Bản chất của triết học giáo dục và triết lý giáo dục đều là những
tư tưởng liên quan đến giáo dục, được đúc kết từ thực tiễn giáo dục Triết học giáo
dục thuộc lĩnh vực khoa học, triết lý giáo dục thuộc lĩnh vực hoạt động thực tiễn
Và dựa trên cơ sở thực tiễn, thực hành, triết học giáo dục xây dựng lý luận hướng đến
mục tiêu nâng tầm hiểu biết, nhận thức về giáo dục, trong khi đó, triết lý giáo dục nhắm đến việc chỉ đạo, định hướng hoạt động giáo dục Chính vì vậy, hình thức biểu hiện của triết học giáo dục tường minh dưới dạng ngôn từ phong phú, hình thức biểu hiện của triết lý giáo dục tường minh ngắn gọn (dưới dạng một từ, một cụm
từ, một câu), hoặc hàm ẩn dưới dạng ngôn từ (như truyện cổ) hoặc vô ngôn (qua hành động, sự vật, tác phẩm nghệ thuật) liên quan đến giáo dục [Trần Ngọc
Thêm 2018]
1.1.1.3 Cũng theo báo cáo đề dẫn này, Trần Ngọc Thêm đưa ra ba cách hiểu về triết lý giáo dục: triết lý giáo dục được hiểu theo nghĩa hẹp (ví dụ các triết lý giáo dục như “tiên học lễ, hậu học văn”, hoặc “giáo dục toàn diện – khai phóng – đa văn hóa”); nghĩa rộng (thường được lồng ghép vào triết học giáo dục, tư tưởng giáo dục) và nghĩa trung gian Triết lý giáo dục theo nghĩa trung gian trung hòa giữa triết
Trang 23lý giáo dục nghĩa hẹp và nghĩa rộng Ba cách hiểu này được Trần Ngọc Thêm tóm tắt như bảng bên dưới
Bảng 1: Các cách hiểu về triết lý giáo dục
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm triết lý giáo dục theo nghĩa trung gian để chắt lọc triết lý giáo dục của Nhật Bản trong thời cận đại và hiện đại
1.1.1.4 Trong các bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục Nhật Bản, thuật ngữ “triết lý giáo dục”2 xuất hiện trong các bản dịch về Luật Giáo dục cơ bản (1947) của Nhật Bản, và các tác phẩm mang tính lý luận về giáo dục của
Nhật Bản Ví dụ như cuốn “Đi tìm triết lý giáo dục Việt Nam” và “Giáo dục Việt Nam
học được gì từ Nhật Bản” (Nguyễn Quốc Vương); bài báo khoa học “Giáo dục đạo
2 Trong tiếng Nhật, cũng có từ “哲理” (Tetsuri – Triết lý) Dựa trên kết quả tìm kiếm
từ trang dữ liệu của Viện quốc gia nghiên cứu ngôn ngữ Nhật Bản (National Intsitute for Japanese Language and Linguistics), từ “哲理” (Tetsuri –Triết lý) xuất hiện trong 57 tác phẩm từ năm 1887 đến năm 1925 (trên tổng cộng 18,620,363 tác phẩm) (Phụ lục 1) (Trang
dữ liệu này cung cấp cho người dùng một câu có chứa từ muốn tra được tìm thấy đầu tiên trong tác phẩm, và không cung cấp thông tin số lần từ tra cứu xuất hiện trong toàn bộ tác phẩm) Dựa trên nội dung các câu mẫu được cung cấp và Đại từ điển quốc ngữ Nhật Bản, từ
“哲理” (triết lý) có nghĩa: Đạo lý sâu sắc về bản chất của nhân loại và thế giới, đạo lý về mặt triết học Ví dụ, ở dữ liệu truy xuất số 1 (Phụ lục 1) có nghĩa là “…về đời sống xã hội loài
người, nếu xem xét dựa trên các yếu tố đạo lý, đời sống xã hội loài người đã tồn tại và vun
đắp từ trước khi nhà nước hình thành”
Tóm lại, (1) ở Nhật Bản có từ đọc theo âm Hán là “triết lý” (哲理), từ này có nghĩa gần giống với từ “đạo lý” (道理), (2) bản thân từ “哲理” (triết lý) đã trở thành từ cổ, hiện nay hầu như không còn được sử dụng, và trong kết quả truy xuất cuối cùng (năm 2008) từ “哲理” vẫn được sử dụng với nghĩa là “đạo lý”
Trang 24đức tại Đại học Nhật Bản (Trường hợp Đại học Reitaku)” tham gia hội thảo “Văn hóa học đường đại học Việt Nam trong thời kỳ phát triển và hội nhập” (Nguyễn Thu
Hương), tác phẩm “Cải cách giáo dục” của Ozaki Mugen, do Nguyễn Quốc Vương
dịch Sau khi đối chiếu với văn bản gốc tiếng Nhật, chúng tôi truy ra được từ “triết lý” đang được các nhà nghiên cứu, dịch giả Việt Nam dịch lại từ “理念” (rinen – lý niệm) của tiếng Nhật
Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, cùng một từ “理念”, nhưng trong tác phẩm
“Giáo dục Nhật Bản” (tác giả Katsuta Shuichi và Nakauchi Toshio) của Hội thông
tin giáo dục quốc tế, xuất bản năm 2001, Nguyễn Mạnh Trường dịch là “nguyên tắc”
trong trích đoạn “Các tư tưởng và nguyên tắc giáo dục ở Nhật Bản được trình bày
trong Bộ Luật cơ bản về giáo dục ban hành năm 1947” [Katsuta Shuichi, 2001: 57]
Cách dịch này giống với bản dịch tiếng Anh nội dung Luật Giáo dục cơ bản của Bộ
Giáo dục Nhật Bản “Aims and Principle of Education”3, hoặc bản dịch tiếng Nhật từ bản báo cáo của UNESCO 1996 “Giáo dục: Một tài sản tiềm ẩn”, phần II – “Các nguyên tắc” (Principles) được dịch là “理念” (sau đây chúng tôi viết theo âm Hán – Việt là Lý niệm)4
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư tiếng Nhật, về nguồn gốc, người Nhật sử dụng
từ Hán – Nhật “lý niệm” để truyền tải ngữ nghĩa của từ Idea trong khái niệm “Idea”
của Platon, với nội hàm là “một tư tưởng cơ bản, thuần khiết về một sự vật, hiện
tượng” Theo kết quả tra cứu từ trang dữ liệu của Viện quốc gia nghiên cứu ngôn ngữ
Nhật Bản, thuật ngữ này được sử dụng từ thời Minh Trị, sau khi Nhật Bản thực hiện chính sách mở cửa, tiếp thu văn minh phương Tây Tác phẩm đầu tiên có sử dụng từ
“lý niệm” có nội dung về giáo dục, nhan đề “社會の教育” (Shakai no Kyouiku – Giáo
dục xã hội) Tác phẩm do tác giả 湯本武比古 (Yumoto Takehiko) viết và được xuất
bản năm 1895 (Phục lục 3) Tài liệu tiếp theo có sử dụng từ này là “Luật Giáo dục cơ
bản” và sách giáo khoa quốc ngữ dành cho học sinh lớp 6 tiểu học, được Bộ Giáo dục
xuất bản năm 1947 Từ năm 1970 đến 2008, có 2,316 tác phẩm (trên hơn 150,000,000
3Bộ Giáo dục Nhật Bản (2006) Basic Act on Education
http://www.mext.go.jp/en/policy/education/lawandplan/title01/detail01/1373798.htm
4F.Shinohara (2006) The four pillars of education
Trang 25http://www.u-tác phẩm) sử dụng từ “lý niệm” (Phụ lục 4) Có thể thấy rằng từ “lý niệm” xuất hiện
từ năm 1895 và được sử dụng phổ biến cho đến hiện nay
Có một điểm đáng quan tâm là, thời Edo, Nhật Bản chịu ảnh hưởng lớn của Nho học, và Nho học thời Edo không phải là Hán Học mà là Tống Học, hay còn gọi là Shushigaku (Châu tử học, Châu tử tức là Châu Hy 1130 – 1200) Theo Vĩnh Sính
trong cuốn “Nhật Bản cận đại” (1991) có viết: “Theo quan niệm nhị nguyên về “理” (Lý) và “気” (Khí) của Tống – Nho, mọi vật trong vũ trụ trước hết, đều được chi phối bởi một quy luật nhất quán đó là “Lý” Thiên nhiên và con người đều sinh ra từ “Lý” bởi vậy mọi trật tự thiên địa âm dương trong vũ trụ, hay sự phân biệt tôn ti thượng hạ trong thế giới loài người, trên căn bản đều thống nhất và không thể thay đổi” Phải chăng đây là lý do người Nhật dùng từ “lý niệm” để dịch thuật ngữ “Idea” của Platon? Ngoài ra, trong bài báo cáo khoa học về giáo dục của Yamamoto Masami (cb), khi bàn về Luật Giáo dục cơ bản, có ghi nguyên văn như sau “この教育基本法は、
đoạn này tác giả dùng 2 thuật ngữ “理念” (Rinen – lý niệm) và “原則” (Gensoku – nguyên tắc), có nghĩa là “lý niệm” và “nguyên tắc” trong tiếng Nhật có nội hàm khác nhau Có một điều thú vị rằng, từ “Principle” của tiếng Anh được dịch sang tiếng Việt là: nguyên lý, nguyên tắc
Chúng tôi cho rằng, vì bản thân thuật ngữ “Lý niệm” không có trong tiếng Việt,
do đó, để hiểu được chính xác nội hàm của từ này, việc xác định vị trí ngữ nghĩa của
nó trong mối tương quan với các thuật ngữ gần với nó là cần thiết Ngoài ra, việc xác định nội hàm của từ “lý niệm” cũng nhằm phục vụ cho chúng tôi trong việc chọn thuật ngữ tương ứng trong từng bối cảnh thực tiễn thích hợp khi nghiên cứu và trích dẫn các tài liệu tiếng Nhật liên quan đến triết lý giáo dục
1.1.1.5 Theo từ điển Bách khoa quốc tế Britanica và đại từ điển kỹ thuật
số, “lý niệm” có nguồn gốc từ khái niệm “Idea” của triết gia Platon, chỉ một tư tưởng
5 Dịch: Luật Giáo dục cơ bản này không chỉ xác định lý niệm và nguyên tắc cơ bản liên quan đến giáo dục quốc gia bằng hình thức Sắc ngữ dưới danh nghĩa của Thiên Hoàng như lúc trước chiến tranh,…
Trang 26cơ bản, thuần khiết về một sự vật, hiện tượng6; “nguyên lý” có nghĩa tương đương
với tiếng Anh là Principle, chỉ căn nguyên căn bản quy định sự vật hiện tượng, không
phụ thuộc vào yếu tố khác7; “ngyên tắc” là những quy định căn bản được áp dụng
vào hoạt động xã hội8 Từ các định nghĩa này có thể suy ra “lý niệm” là tư tưởng cơ bản chi phối “nguyên lý”, “nguyên lý” được thể hiện ra bên ngoài qua “nguyên tắc” Mối tương quan giữa “lý niệm”, “nguyên lý”, “nguyên tắc” được thể hiện qua mô hình sau
Hình 2: Mối tương quan giữa Lý niệm – Nguyên lý – Nguyên tắc
Cũng theo từ điển Bách khoa quốc tế Britanica, “lý niệm giáo dục” (教育理念)
là “Idea of education”, là hình mẫu lý tưởng nhất mà giáo dục cần đạt đến Nếu lý
niệm giáo dục chỉ phương hướng cần đạt đến thì đó là mục đích giáo dục, nếu nó chỉ
ra những phương hướng cụ thể hơn thì gọi là mục tiêu giáo dục9; “nguyên lý giáo dục” (教育原理) là nghiên cứu làm tường minh cơ sở và nguyên tắc về mục đích, ý
nghĩa, phương pháp và nội dung giáo dục…10 “Nguyên tắc giáo dục” (教育原則) là
những quy định căn bản áp dụng trong hoạt động giáo dục
6 Từ điển Bách khoa quốc tế Britinica Lý niệm (理念)
Trang 27Từ đó, có thể suy ra lý niệm giáo dục chỉ ra phương hướng; nguyên lý giáo dục xác định lý luận cho phương hướng và nguyên tắc giáo dục chỉ ra các quy định căn bản phải thực hiện theo phương hướng đã được xác lập bởi nguyên lý giáo dục
Trong tác phẩm “Nguyên lý và vấn đề giáo dục”, tác giả Ozaki Mugen đã định
nghĩa “lý niệm giáo dục” như sau:
Lý niệm (理念) là khái niệm quy định đối tượng của nhận thức giống
như có thượng đế hay không và lý niệm yêu cầu nhận thức thống
nhất một cách toàn vẹn Hơn nữa, dựa vào những lý niệm này mà
chúng ta vượt ra khỏi thế giới nhận thức, được dẫn dắt đến thế giới
hành vi Nhìn chung, trong thế giới giáo dục, từ lý niệm không được
sử dụng một cách quá nghiêm ngặt như giải thích trên, nhưng nếu
suy nghĩ dựa trên những diễn giải trên thì lý niệm giáo dục (教育理
念) khác với mục đích giáo dục (教育目的) (nhắm đến sự “đạt thành”
trên thực tế), ngược lại nó chỉ đạo mục đích giáo dục [Ozaki Mugen,
2000: 99]
Trong định nghĩa bên trên, Ozaki Mugen có ghi “lý niệm giáo dục” khác với
“mục đích giáo dục”, nhưng không có nghĩa hai thuật ngữ này tách biệt nhau, mà ngược lại, hai thuật ngữ này gắn liền nhau, lý niệm giáo dục chỉ đạo mục đích giáo dục Lý niệm giáo dục thể hiện ra thành mục đích giáo dục, trong lý niệm đã có hướng tới mục đích, và lý niệm giáo dục là cái chung hơn, mục đích giáo dục là cái cụ thể hơn Lý niệm giáo dục là cái còn tồn tại trong tư tưởng, trong khi đó, mục đích giáo dục mang tính thực tiễn, phải đạt được trong thực tế
Từ những diễn giải trên về khái niệm “lý niệm giáo dục” (教育理念) của Nhật Bản và “triết lý giáo dục” của Việt Nam (đề cập ở mục 1.1.1.2 và 1.1.1.3), có thể suy
ra “triết lý giáo dục” và “lý niệm giáo dục” khác nhau về cấp độ, triết lý giáo dục
Trang 28mang nghĩa rộng hơn, mang tính tư tưởng hơn, nhận thức hơn, trong khi đó “lý niệm giáo dục” cụ thể hơn, gắn với hành động hơn
Đối chiếu với cấu trúc giáo dục được trình bày ở tiểu mục 1.1.2, có thể thấy rằng
“lý niệm giáo dục” đang tồn tại phổ biến trên các văn bản pháp quy, tài liệu nghiên cứu về triết học giáo dục, giáo dục học…của Nhật Bản tương đương với triết lý giáo dục theo nghĩa trung gian, có cấu trúc tối giản So với triết lý giáo dục theo nghĩa
hẹp và nghĩa rộng, “lý niệm giáo dục” – theo nghĩa trung gian, có xuất hiện trong các điều luật liên quan đến giáo dục (hình 3) Ngoài ra, ở phần giải thích thêm về “lý niệm
giáo dục” trong Từ điển Bách khoa Britician, có ghi: Lý niệm giáo dục của Nhật Bản
trong chiến tranh thế giới được thể hiện trong Sắc ngữ giáo dục Luật Giáo dục cơ
bản cũ ban bố năm 1947 thể hiện lý niệm giáo dục và nguyên tắc cơ bản của giáo
dục Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai11
Ngoài ra, Nguyễn Tiến Lực có nhận định về triết lý giáo dục của Nhật Bản như
sau: “Khi biên soạn Luật Giáo dục cơ bản, các nhà làm luật Nhật Bản không ghi rõ
triết lý giáo dục, lý niệm giáo dục Tuy nhiên, sau khi ban hành Luật Giáo dục cơ bản,
Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản thường cho đăng các bài viết giải thích về luật (thường là của các giáo sư có uy tín về Luật Giáo dục), trong đó giải thích rõ hơn, chi tiết hơn về luật mà đọc nó chúng ta thấy rõ triết lý giáo dục của Nhật Bản”
[Nguyễn Tiến Lực, 2019: 188]
Dựa trên cơ sở này, chúng tôi thực hiện tra cứu Luật Giáo dục và các văn bản pháp quy liên quan đến giáo dục của Nhật Bản để tìm ra triết lý giáo dục Nhật Bản đã được chính phủ Nhật Bản đề ra và áp dụng trên quy mô toàn quốc
từ thời cận đại đến thời hiện đại
11
Trang 29Hình 3: Triết lý giáo dục theo nghĩa trung gian trong quan hệ với Luật Giáo dục
[Trần Ngọc Thêm 2019]
Tóm lại, theo cách khu biệt triết lý giáo dục trung gian của Trần Ngọc Thêm
ở bảng 1, mục 1.1.1.3, chúng tôi đúc kết lại: Triết lý giáo dục (trung gian) là tinh thần
chủ đạo của giáo dục; được trình bày tường minh, rõ ràng, công khai; có thể đúc kết thành các từ khoá hoặc không; được thừa nhận khá rộng rãi
Căn cứ theo đúc kết về triết lý giáo dục trung gian và những phân tích về “lý niệm giáo dục” của Nhật Bản và “triết lý giáo dục” của Việt Nam, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu triết lý giáo dục Nhật Bản dựa trên các văn bản pháp quy về giáo dục của Nhật Bản là phù hợp với mục tiêu đã đề ra của luận văn này
1.1.2 Cấu trúc bên trong và bên ngoài của triết lý giáo dục
1.1.2.1 Theo Trần Ngọc Thêm trong báo cáo đề dẫn tọa đàm “Triết lý giáo dục
và triết lý giáo dục trong Luật Giáo dục”, cấu trúc phổ biến của “Triết lý giáo dục”
gồm năm thành tố: (1) Sứ mệnh giáo dục, (2) Mục tiêu giáo dục, (3) Nguyên lý giáo dục, (4) Nội dung giáo dục, (5) Phương pháp giáo dục Năm thành tố này tương tác với nhau theo mô hình sau
Trang 30Hình 4: Cấu trúc của Triết lý giáo dục
Theo mô hình cấu trúc triết lý giáo dục trên, “sứ mệnh giáo dục” là thành tố gốc,
“mục tiêu giáo dục” là thành tố trung tâm, chi phối ba thành tố “nội dung giáo dục”,
“phương pháp giáo dục” và “nguyên lý giáo dục” Cấu trúc tối giản của triết lý giáo dục là sứ mệnh giáo dục Triết lý giáo dục còn có thể được thể hiện qua cấu trúc rút gọn hai thành tố (sứ mệnh giáo dục – mục tiêu giáo dục), hoặc cấu trúc rút gọn ba thành tố (sứ mệnh giáo dục – mục tiêu giáo dục – nguyên lý giáo dục)
1.1.2.2 Ngoài ra, với một khái niệm mang tính triết học như triết lý giáo dục,
để nhận diện được nó một cách đầy đủ và chính xác, cần phải quan sát triết lý giáo dục trong một hệ thống cụ thể, cần xác định triết lý giáo dục có mối liên hệ chính yếu với các nhân tố nào, và những nhân tố quan trọng nào góp phần tạo nên thế giới nhận thức về triết lý giáo dục Do đó, trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu triết lý giáo dục Nhật Bản trong hệ thống các mối quan hệ giữa triết lý giáo dục và văn hóa giáo dục – chính sách giáo dục – tổ chức giáo dục – hạ tầng giáo dục Để miêu tả cấu trúc này, chúng tôi sử dụng mô hình các quan hệ bên ngoài của văn hóa giáo dục nói chung
và văn hóa học đường nói riêng của Trần Ngọc Thêm trong bài viết “Văn hóa học
đường Việt Nam trong thời kỳ phát triển và hội nhập: Vài nét về con đường từ lý luận đến thực tiễn”
Mục tiêu GD
Sứ mệnh GD
Phương pháp GD
Nguyên
lý GD
Nội dung GD
Trang 31Hình 5: Triết lý giáo dục và mối quan hệ với các nhân tố khác
1.1.3 Vai trò của triết lý giáo dục
1.1.3.1 Giáo dục ra đời từ nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài người Từ xa xưa, để có thể sinh tồn, chống chọi lại với thiên nhiên kỳ bí, hoang dã, loài người nguyên thủy đã sống thành bầy, cùng săn bắt, tìm kiếm thức ăn, duy trì giống nòi, nuôi nấng con cái Trong quá trình tồn tại đó, con người có nhu cầu trao đổi, truyền đạt lại cho nhau kinh nghiệm đối phó với thiên nhiên, thú dữ, kinh nghiệm phân công lao động, phương thức sử dụng dụng cụ lao động và cải tạo thiên nhiên
Từ bối cảnh như vậy, hiện tượng giáo dục đã ra đời Hiện tượng giáo dục trong xã hội nguyên thủy được coi là giáo dục tự nhiên, truyền thụ trực tiếp bằng lời nói trong quá trình lao động, sinh hoạt xã hội
Theo tiến trình phát triển của xã hội, khi sự sinh tồn của con người không chỉ dựa vào việc săn bắt mà mở rộng sang trồng trọt, chăn nuôi, nội dung cần truyền đạt ngày càng trở nên phức tạp Ngoài ra, cùng với sự xuất hiện của chữ viết, sự khao khát khám phá thế giới, nguồn gốc vạn vật, kiến thức cần truyền tải từ người này sang người khác ngày càng lớn, dẫn đến sự gia tăng về nhu cầu được tiếp nhận kinh nghiệm, kiến thức Quy mô giáo dục ngày càng mở rộng như một điều tất yếu Các nhà khoa học đã tìm ra được dấu tích của trường học trong thời kỳ văn minh Lưỡng Hà thời cổ đại Từ “school” (trường học) bắt nguồn từ từ “scolé” trong tiếng Hi Lạp cổ đại, có nghĩa là “thời gian rảnh”, dần dần từ này mở rộng sang nghĩa “học vào thời gian rảnh”,
và cuối cùng “school” có nghĩa là “trường học”
Trang 32Thưở ban đầu, trường học dành cho những người có “thời gian rảnh”, không phải lao động chân tay kiếm sống, tức những người thuộc giai cấp được hưởng đặc quyền đặc lợi, tầng lớp quý tộc Sau đó, trường học dần mở rộng đến tầng lớp thứ dân, mục đích để giảng dạy các tri thức, kỹ thuật cơ bản, tôn giáo, đạo đức Vào đầu thế kỷ thứ 19, giáo dục còn được xem là một giải pháp hữu hiệu cho sự bất ổn định của xã hội do tình trạng bùng phát dân số Bên cạnh đó, cần phải nói thêm, khái niệm giáo dục nghĩa vụ (義務教育) ra đời từ thời Phục Hưng, khoảng cuối thế kỷ thứ 17 tại Châu Âu, khi các quốc gia Châu Âu nhận ra sự cần thiết trong việc phổ cập chữ viết cho dân chúng [Konno Yuu, 2019: 43]
Biểu đồ 1: Dân số các nước Châu Âu
Dưới góc độ kinh tế, vào đầu thế kỷ 18, nhà kinh tế chính trị học nổi tiếng người Scotland, Adam Smith, đã đưa ra khái niệm đầu tiên về “vốn con người” (human capital) trong tác phẩm nổi tiếng, đặt nền móng cho nền kinh tế thị trường của ông –
“Của cải của các dân tộc” (The Wealth of Nations) xuất bản năm 1776 Từ những
phân tích về tài sản của một quốc gia trong công trình nghiên cứu của ông, có thể hiểu “vốn con người” là những năng lực hữu ích mà các thành viên của một xã hội
có được Những năng lực này, lẽ dĩ nhiên, có được thông qua quá trình học tập và tiếp thu kiến thức từ việc giáo dục đào tạo Những năng lực hữu ích mang lại nhiều
cơ hội tốt hơn cho không chỉ bản thân người thụ hưởng giáo dục, mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của cộng đồng Jacob A Mincer, nhà khoa học tiên phong
về kinh tế học hiện đại, cũng đã phân tích mối tương quan giữa những cá nhân được đào tạo và những đóng góp, thu lợi từ kiến thức của họ đối với cộng đồng trong tác
Trang 33phẩm “Schooling, Experience and Earnings” xuất bản năm 1974 Theo đó, “vốn con
người” phải được đầu tư, tích luỹ thông qua giáo dục, rèn luyện trong lao động, và
“vốn con người” đem lại cho người sở hữu một khoản thu nhập Chính khoản thu nhập và những giá trị lao động đem lại từ mỗi cá thể là nguồn tài sản bền vững của quốc gia
Tóm lại, từ những lập luận trên, có thể nhận định rằng, giáo dục là một trong những nhân tố lớn tạo nên sức mạnh quốc gia Bản thân nhân tố giáo dục có mối liên
hệ phổ biến với các nhân tố khác (kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…), ảnh hưởng đến nội lực của một quốc gia Toàn bộ những mối quan hệ này liên hệ mật thiết với nhau, xoay quanh nhân tố giáo dục, và có mối quan hệ biện chứng với sức mạnh quốc gia, hay nói cách khác, nhân tố giáo dục đóng vai trò quan trọng trong mối liên hệ phổ biến với các nhân tố khác, nó tác động và cũng chịu sự tác động trở lại của sức mạnh quốc gia
Lẽ đương nhiên, tuỳ theo hoàn cảnh văn hóa, xã hội, kinh tế, truyền thống lịch sử mà quá trình phát triển giáo dục, cũng như hệ thống, chính sách giáo dục ở mỗi đất nước sẽ có đặc thù riêng, tuy nhiên, xét trên tổng thể, giáo dục – một khi được đặt vào vị trí xác đáng, mang tầm vĩ mô về hoạch định chính sách, sẽ đem lại sự thịnh vượng cho dân tộc Ở chiều tác động trở lại, một khi quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh, đội ngũ quản lý trí thức dồi dào thì nền tảng giáo dục của quốc gia đó sẽ có điều kiện được củng cố, các cuộc cải cách giáo dục hướng đến sự phù hợp với thời đại được thúc đẩy nhanh chóng, đều đặn và triệt để
1.1.3.2 Để giúp hoạt động giáo dục đạt được kết quả đúng như mục đích
đề ra, đem lại sức mạnh bền vững cho quốc gia, không thể không đề cập đến vai trò của triết lý giáo dục Khi bàn đến vai trò của triết lý giáo dục, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đánh giá triết lý giáo dục như kim chỉ nam, định hướng giáo dục, giúp xây dựng một nền giáo dục đạt đến mục tiêu đào tạo ra những công dân lý tưởng,
đóng góp vào sự phồn vinh và tiến bộ cho xã hội Điển hình như trong bài viết “Triết
học với việc xây dựng triết lý giáo dục trong đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam”
trên trang chuyên đề triết học, Nguyễn Anh Tuấn đã đánh giá tầm quan trọng của triết
lý giáo dục trong công cuộc đào tạo như sau: “Triết lý giáo dục là tư tưởng chỉ đạo
Trang 34giáo dục công dân của một đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể nhằm đạt được những kỳ vọng của đất nước với từng công dân, và trách nhiệm của công dân đối với đất nước” [Nguyễn Anh Tuấn 2014] Trong cuốn “Định hướng chiến lược, giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, tác giả
Phạm Văn Linh đã cho rằng: “Triết lý giáo dục là kim chỉ nam cho hành động giáo
dục, một triết lý giáo dục đúng là điều kiện đầu tiên để giáo dục thực thi thành công
sứ mệnh đối với phát triển của đất nước” [Phạm Văn Linh, 2015: 7] Trong cuốn “Đi
tìm triết lý giáo dục Việt Nam”, Nguyễn Quốc Vương đã chỉ ra Triết lý giáo dục đóng
vai trò trong việc xác định “hình ảnh xã hội tương lai (xã hội mơ ước) mà nền giáo
dục ấy muốn hướng tới” và “hình ảnh con người mơ ước mà nền giáo dục đó muốn tạo ra” [Nguyễn Quốc Vương, 2017: 35] Có thể thấy rằng, triết lý giáo dục cũng là
một trong những nhân tố không thể thiếu, có mối liên hệ mật thiết với sức mạnh quốc
gia Một triết lý giáo dục đúng đắn sẽ định hướng cho công cuộc đào tạo, giáo dưỡng ra những công dân lý tưởng theo đúng tiêu chí, sứ mệnh đất nước đã đề
ra
1.2 Triết lý giáo dục Nhật Bản thời cận đại
Lịch sử Nhật Bản được phân theo các thời kỳ chính: Nguyên thuỷ, Cổ đại, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại
Trong đó, thời Cận đại của Nhật Bản bắt đầu từ sau khi chính quyền Mạc phủ Tokugawa tan rã năm 1868, và kéo dài đến năm 1945, thời điểm kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai Thời cận đại của Nhật Bản trải qua ba triều đại Thiên hoàng: Thiên hoàng Minh Trị từ năm 1868 đến 1912, Thiên hoàng Đại Chính từ 1912 đến 1926 và Thiên hoàng Chiêu Hoà từ 1926 đến 1945 (thời kỳ Chiêu Hoà kéo dài 64 năm, từ thời cận đại 1926 qua đến thời hiện đại 1989)
Thời hiện đại của Nhật Bản trải dài từ năm 1945 đến hiện nay
Trang 35Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu triết lý giáo dục Nhật Bản thời hiện đại, nhưng để có cái nhìn sáng tỏ hơn về triết lý giáo dục thời hiện đại, chúng tôi cũng tóm tắt triết lý giáo dục Nhật Bản thời cận đại từ 1868 đến 1945
1.2.1 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa cá nhân
Năm 1868, chính quyền tướng quân Tokugawa bị tan rã, chính quyền mới với trung tâm là Thiên hoàng ra đời sau cuộc đảo chính Mạc phủ thành công Minh Trị Duy tân mở ra thời kỳ cận đại của Nhật Bản Chính quyền mới đã xóa bỏ chế độ giai cấp phân chia thân phận và chế độ phong kiến, đưa Nhật Bản chuyển sang quốc gia cận đại hóa Chính phủ đã đề ra những khẩu hiệu như “Văn minh khai hóa” (文明開
化 – Civilization and Enlightenment), “Phú quốc cường binh” (富国強兵 – Enrich the Country, Strengthen the Military), “Thực sản hưng nghiệp” ( 殖 産 興 業 – Industrialization), lấy mô hình các nước Âu Mỹ để thiết lập xã hội cận đại, xây dựng chế độ mang tính kinh tế Cải cách giáo dục cũng được đặt lên hàng đầu trong chính sách cận đại hóa
Năm 1871, Bộ Giáo dục được thành lập như một cơ quan chính phủ Vào năm
1872, Nhật Bản công bố chính sách giáo dục có tính hệ thống đầu tiên là Học chế (学
制 – Goverment Code of Education) Triết lý giáo dục giai đoạn này được thể hiện
qua lời bạt của “Học chế”: “Giáo dục đề cao tính quan trọng của học vấn và sự độc
lập, đặc biệt của mỗi cá nhân Mỗi người phải tự lực xây dựng cuộc sống, suy tính con đường sinh kế, cống hiến cho công việc”,“để sống một cuộc đời không hối tiếc thì cần phải nâng cao kiến thức” [Tsujita Masanori, 2017: 184]
Bộ Giáo dục ban hành Học chế để điều chỉnh lại suy nghĩ của số đông dân chúng
về học vấn Học chế nhắm tới mục tiêu xây dựng và thực hiện kế hoạch để dân chúng được thụ hưởng học vấn một cách bình đẳng Đây là quan điểm giáo dục (教育観) mang đậm màu sắc chủ nghĩa cá nhân, thực học Hơn nữa, Bộ Giáo dục trong thời điểm này không chỉ đơn giản tán dương chủ nghĩa cá nhân, mà mục tiêu sâu sắc nhất
là duy trì độc lập quốc gia Để duy trì độc lập quốc gia thì trước tiên cần phải giáo dưỡng những cá thể độc lập, đặc sắc, là người trưởng thành bằng chính năng lực của mình, cống hiến cho sự phát triển của xã hội
Trang 36Để hiện thực hóa triết lý giáo dục này, chính phủ mới đã thi hành nhiều chính sách giáo dục, thực hiện điều chỉnh lớn về hạ tầng cũng như tổ chức giáo dục Chế
độ trường học được cấu thành theo ba cấp bậc tiểu học, trung học và đại học theo mô hình của Mỹ Mặt khác, ở phương diện hành chính giáo dục, Nhật Bản sử dụng mô hình của Pháp, phân chia các khu vực trường học (school districts) và quản lý theo kiểu chế độ trung ương tập quyền Dựa trên nội dung Học chế, Nhật Bản lên kế hoạch thực hiện thiết lập các khu vực trường học như sau: toàn quốc chia làm 8 khu vực trường đại học, mỗi khu vực trường đại học sẽ chia làm 32 khu vực trường trung học,
và mỗi khu vực trường trung học sẽ chia làm 210 trường tiểu học Theo cách thiết lập này, toàn quốc sẽ có 8 trường đại học, 256 trường trung học và 50,000 trường tiểu học Đây là một kế hoạch giáo dục đầy tham vọng và cực kỳ quy mô lúc bấy giờ Trường tiểu học được chia làm cấp cao (上等) và cấp thấp (下等) trong 8 năm, yêu cầu toàn bộ trẻ em phải đến trường trên nguyên tắc không phân biệt giới tính, nghề nghiệp của cha mẹ, địa vị xã hội
Một phần trường học mới thời cận đại được cho là mô phỏng kiến trúc Tây phương nhưng hầu hết các trường học vẫn sử dụng lại trường Terakoya12, hoặc thuê lại các cơ sở của dân Giáo viên được tuyển cũng là các giáo viên của trường Terakoya, các võ sĩ thất nghiệp thời Minh Trị Duy tân, những tăng lữ, giáo sĩ thần đạo có thể đọc viết Phần lớn các trường Hanko13 được chuyển thành trường trung học ở địa phương Ngoài ra, các cơ sở giáo dục Nho giáo của Mạc Phủ, các cơ sở Shoheikou14 bị bãi bỏ, tuy nhiên, các trường Dương học được thiết lập vào cuối thời Edo và trường Y thì được chính phủ Minh Trị duy trì Chính phủ mới đã lưu tâm sâu
12
Terakoya (寺子屋 – lớp học trong chùa) dành cho con em thường dân Trường dạy đọc, viết, bàn tính, địa lý, tên, nghi thức, may vá…Trẻ em đi học khoảng từ 6 đến 7 tuổi và thường học khoảng 5 năm Các lớp học bắt đầu từ khoảng 8 giờ sáng đến khoảng 3 giờ chiều
13 Trường Hanko (郷校 – Hương hiệu) do Han lập ra, để dạy cho con cháu võ sĩ Nhập học
từ lúc 8 tuổi, học cho đến năm 15 đến 20 tuổi Nội dung học gồm có Nho học, Toán học, Kiếm thuật…Nội dung học tuỳ thuộc vào Han
14 Trường Shouheikou (昌平黌) là trường công do Mạc phủ xây dựng dành cho con cháu của Tướng quân, sau đó mở rộng cho võ sĩ, thứ dân Cơ quan giáo dục chuyên dạy Nho học Có thi tuyển đầu vào
Trang 37sắc đến lương và công cuộc đào tạo giáo viên như một cách thức để cận đại hóa phương pháp và nội dung giáo dục sơ đẳng Năm 1872, chính phủ đã mời các chuyên gia giáo dục đào tạo giáo viên từ Mỹ sang, và thành lập trường Sư phạm tại Tokyo
Hệ thống giáo dục của Nhật Bản sau khi ban hành Học chế theo như hình sau
Hình 6: Hệ thống trường học Nhật Bản năm 1873 15
Ở chính sách giáo dục, chính phủ dốc toàn lực vào việc phổ cập trường sơ đẳng với mục đích nâng cao kiến thức nền tảng của đại đa số quần chúng, và việc chỉnh trang giáo dục cao đẳng để phổ cập học thức từ phương Tây, kỹ thuật
Đầu thời kỳ Minh Trị, chính phủ đã chi trả một khoản tiền lớn tuyển nhiều chuyên gia từ nước ngoài đến Nhật để học hỏi kỹ thuật và tri thức phương Tây Các
cơ quan giáo dục cao đẳng thời kỳ đầu thực hiện giờ giảng bằng tiếng nước ngoài bởi các giáo sư người nước ngoài Ngoài ra, cũng trong thời gian này, chính phủ đã phái
cử số lượng lớn các học sinh giỏi đi du học Sau một thời gian học tập thì những người trẻ này trở về nước và thay thế cho giáo viên người nước ngoài Cách thực hiện này đã làm chính phủ mới tốn một khoảng chi phí khổng lồ cho giáo dục vào buổi
15 Bộ Giáo dục Nhật Bản (2009) Sơ đồ hệ thống trường học (学校系統図)
Trang 38đầu Cũng chính vì thế, chính quyền địa phương phải tự bỏ vốn để kiến thiết và vận hành các trường tiểu học, tiền học phí cũng phải trưng thu Do đó, số lượng nhập học của trẻ em không cao
Kế hoạch phát triển giáo dục dựa trên Học chế đầu thời kỳ Minh Trị là một tham vọng rất lớn tuy nhiên rất khó có thể hiện thực hóa Cho đến năm 1877 chỉ có một trường Đại học Tokyo được thành lập trên tổng số 8 trường theo kế hoạch
1.2.2 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa Nho giáo
Lúc bấy giờ, các phong trào vận động tự do dân quyền phát triển mạnh Trong giới võ sĩ sẵn có bất bình về chính trị, dần dần thông qua chính trị nghị hội đã có ý định thay đổi sự nắm quyền chính trị của hai phái thuộc phiên Satsuma (薩摩藩) và Choshu (長州藩) Điều này đã làm Thiên Hoàng và Motoda Nagazane16 (元田 永孚) không hài lòng Bên cạnh đó, để dập tắt sự vận động tự do dân quyền có thể gây ảnh hưởng lớn đến chính quyền, các thành viên trong ban lãnh đạo chính phủ mới như Ito Hirobumi (伊藤博文) đã có nhiều thay đổi lớn trong quan điểm giáo dục Vì lo sợ việc thực hiện chính sách giáo dục theo chủ nghĩa cá nhân sẽ làm bùng phát mạnh các cuộc vận động quyền tự do dân chủ, chính quyền mới đã chuyển chính sách giáo
dục từ chủ nghĩa cá nhân, thực học sang chủ nghĩa Nho giáo
Đến ngày 28 tháng 12 năm 1880, Pháp lệnh Giáo dục sửa đổi (改正教育令) được ban hành Sứ mệnh giáo dục vào giai đoạn này không còn là xây dựng những
cá nhân phát huy tính độc lập mà là những cá nhân: “tôn vương ái quốc”, phụng sự Thiên hoàng, đất nước [Tsujita Masanori, 2017: 316]
Các nội dung như thể chế phong kiến, sự thiêng liêng của Thiên hoàng Jimmu (hậu duệ trực tiếp nữ thần mặt trời Amaterasu), sự cần cù của Thiên hoàng Nintoku (vị vua thứ hai triều đại Ojin nhà nước Yamato), sự thịnh suy của gia tộc Taira và Minamoto, sự tồn tại của Nam Bắc triều, sự lẫy lừng trong chính trị của Tokugawa, quan điểm Vương chính phục cổ được đưa vào chương trình giảng dạy Vì thế giáo dục thời kỳ này được cho là giáo dục nhuốm màu sắc Nho giáo mang tính phục cổ
16 Motoda Nagazane là võ sĩ phiên Kumamoto, nhà Nho học, có ảnh hưởng lớn đến
Trang 391.2.3 Triết lý giáo dục theo trào lưu chủ nghĩa quốc gia
Năm 1885, thể chế chính trị triều đình cũ đã được thay đổi thành chế độ Nội các Đây là cột mốc chính trị quan trọng từ sau Minh Trị Duy tân (1868) ảnh hưởng đến tiến trình mở rộng và phát triển giáo dục Nhật Bản Ito Hirobumi được bầu làm Thủ tướng đầu tiên Mori Arinori (森有礼), một chính khách đã có kinh nghiệm tại các cơ quan ngoại giao ở Mỹ, Anh nhận chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nhật Bản đầu tiên
ở thể chế mới
Mori Arinori chủ trương tuyệt đối hóa vai trò của quốc gia, nhà nước, khác với chủ nghĩa Nho giáo mang tính phục cổ Mori đã nhiều lần thuyết giảng về tính quan trọng của Thiên hoàng, dựa trên mô hình các cường quốc phương Tây, để khơi gợi tinh thần chủ nghĩa quốc gia phải dựa vào biểu tượng Thiên Hoàng Thiên Hoàng chính là “nguồn vốn độc đáo, báu vật vô song” (無二の資本至大の宝源) Chính vì thế, giáo dục dưới thời của Mori Arinori được cho là giáo dục theo chủ nghĩa quốc gia17 Ngoài ra, Mori đã đưa ra chủ trương rèn luyện thân thể gọi là “Binh thức thể thao” (兵式体操) vào chương trình học Theo ông, cái để sinh ra chủ nghĩa dân tộc không phải là đức dục hoặc trí dục mà là thể dục mang tính đoàn thể Có thể thấy đây
là tư tưởng giáo dục độc đáo của Mori Arinori Triết lý giáo dục thời kỳ này là đào tạo ra những thần dân Nhật Bản có thể lực tốt, tôn sùng Thiên Hoàng, quốc gia
[Tsujita Masanori, 2017: 327]
Về chính sách giáo dục, năm 1886, Mori đã ban hành Pháo lệnh Giáo dục (教
育令 – Education Order), quy định bao quát toàn bộ các loại trường học như: (1) Pháp lệnh trường tiểu học (小学校令 – Elementary School Order), (2) Pháp lệnh trường trung học (中学校令 – Middle School Order), (3) Pháp lệnh trường Sư phạm (師範学
校令 – Normal School Order), (4) Pháp lệnh Đại học Đế quốc (帝国大学令 – Imperial University Code) Trong đó, mỗi loại hình trường học, Pháp lệnh Giáo dục quy định
17
Chủ nghĩa quốc gia (hay còn gọi là chủ nghĩa dân tộc, statisim) tuyệt đối hóa quốc gia trong xã hội loài người Chủ nghĩa quốc gia khẳng định sự tồn tại của nhà nước Ngoài ra, trong thời hiện đại, chủ nghĩa quốc gia phản đối mạnh mẽ các trào lưu như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa vô chính phủ (Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thế giới)
Trang 40các mục đích khác nhau tương ứng Trong Pháp lệnh Giáo dục tiểu học, lần đầu tiên quy định giáo dục nghĩa vụ được thể hiện rõ ràng minh bạch bằng pháp chế, quy định việc đi học bốn năm Tiểu học thông thường là nghĩa vụ của quốc dân
Cùng với sự ra đời liên tiếp của các chính sách giáo dục, cơ sở hạ tầng giáo dục của Nhật Bản cũng được thiết lập mới và chuyển đổi theo Cho đến thời điểm này, trường đại học duy nhất ở Nhật Bản là Đại học Tokyo được đổi tên là “Đại học Đế quốc” Đại học Đế quốc được cấp đặc quyền tự do học vấn như một cơ quan giáo dục đào tạo các nhà lãnh đạo cấp cao, chuyên gia khoa học, là nhân lực cần thiết cho sự nghiệp cận đại hóa của đất nước Trường trung học thực hiện việc giáo dục đào tạo
dự bị trước khi vào học trường Đại học Đế quốc Trường tiểu học chia làm 2 giai đoạn: thông thường (尋常 – ordinary) và bậc cao (高等 – higher) Trường Sư phạm là một cơ quan chú trọng vào việc giảng dạy tư tưởng chủ nghĩa quốc gia một cách triệt
để cho toàn bộ giáo viên trong tương lai Bằng cách thức xây dựng chế độ giáo dục này, Mori Arinori đã cân đối hai mục đích của giáo dục: một mặt cận đại hóa đất nước, mặt khác thống nhất tinh thần quốc dân bằng việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức quốc dân Hệ thống trường học của Nhật Bản sau khi Mori Arinori ban hành Pháp lệnh Giáo dục được thay đổi theo như hình sau