Tại buổi thăm và làm việc với các đại biểu chủ chốt của Bộ GD&ĐT nhân dịp đầu năm học mới 9/2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, chúng ta cần hình thành một triết lý về giáo dục,
Trang 1đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
vũ thị hằng
Đội ngũ trí thức ở các tr-ờng đại học
trong việc xây dựng triết lý giáo dục
Việt Nam hiện nay
luận án tiến sĩ triết học
Hà nội - 2015
Trang 2đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
vũ thị hằng
Đội ngũ trí thức ở các tr-ờng đại học
trong việc xây dựng triết lý giáo dục
Việt Nam hiện nay
Chuyên ngành : Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử
luận án tiến sĩ triết học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh
Hà nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Ngọc Thanh Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
T¸c gi¶ luËn ¸n
Vũ Thị Hằng
Trang 41.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án 26
Chương 2: ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG
VIỆC XÂY DỰNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM - MỘT
Chương 3: ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG
VIỆC XÂY DỰNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
78
3.1 Thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong
việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
78
3.2 Một số vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò của đội ngũ trí
thức ở các trường đại học trong xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam
hiện nay
105
Trang 5Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG VIỆC XÂY DỰNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
118
4.1 Đổi mới cơ chế, chính sách, bảo đảm môi trường thuận lợi để đội
ngũ trí thức ở các trường đại học phát huy vai trò của mình trong
việc xây dựng triết lý giáo dục
118
4.2 Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ trí thức ở các trường đại
học nhằm đáp ứng công cuộc đổi mới toàn diện, triệt để giáo dục và
đào tạo theo hướng tiên tiến, hiện đại
133
4.3 Nâng cao nhận thức xã hội, đề cao trách nhiệm vai trò của đội ngũ
trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) là lĩnh vực hoạt động xã hội đặc biệt, có vai trò đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đảng và Nhà nước luôn coi trọng phát triển GD&ĐT, đã nhiều lần tiến hành cải cách, đổi mới giáo dục Những năm gần đây, Nhà nước không ngừng tăng ngân sách đầu tư cho phát triển GD&ĐT Tuy nhiên, chất lượng GD&ĐT của nước ta còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là Việt Nam thiếu triết lý giáo dục phù hợp, chỉ đạo và định hướng toàn bộ hoạt động giáo dục trong tình hình mới Tại buổi thăm và làm việc với các đại biểu chủ chốt của Bộ GD&ĐT nhân dịp đầu năm học mới 9/2012, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, chúng ta cần hình thành một triết lý về giáo dục, chú ý phát triển khoa học giáo dục Việt Nam, coi đây là nền tảng lý luận để tiến hành đổi mới giáo
dục - đó là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước, là trách nhiệm chung, nhưng trước hết là của gia đình, xã hội và các đoàn thể, trong đó đội ngũ trí thức ở các trường đại học đóng vai trò là lực lượng nòng cốt, trực tiếp xây dựng và triển khai thực hiện triết lý giáo dục trong thực tiễn
Đường lối xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo cách mạng là "độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội" đã được Hiến pháp qui định qua các thời kỳ, và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 Hội nhập quốc tế, chúng ta tiếp thu vận dụng khoa học và công nghệ (KH&CN), kinh nghiệm quản lý của các nước trên thế giới để phát triển Nhưng, mọi lĩnh vực hoạt động của Việt Nam vẫn phải bảo đảm nhân tố "định hướng xã hội chủ nghĩa" Nền giáo dục
của Việt Nam, trong đó có triết lý giáo dục Việt Nam không thể nằm ngoài định
hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Triết lý giáo dục chính là những quan điểm, cốt lõi, nguyên tắc cơ bản định hướng, chỉ đạo cả hệ thống giáo dục Ở Việt Nam hiện
nay, tuy chưa có sự công bố chính thức về triết lý giáo dục Việt Nam, song nhiều
Trang 8nội dung của triết lý giáo dục đã có trong quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về giáo dục, Luật Giáo dục Nhiều cuộc hội thảo khoa học, sách báo trong
nước và quốc tế, nhiều cá nhân và tập thể cũng đã bàn về triết lý giáo dục Việt
Nam Như vậy, triết lý giáo dục Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn
thiện Đó là những cơ sở rất quan trọng và cần thiết để tác giả luận án này nghiên
cứu và góp phần vào quá trình xây dựng, hoàn thiện, phát triển triết lý giáo dục Việt
Nam trong thực tiễn đổi mới hiện nay
Những năm qua, đội ngũ trí thức ở các trường đại học là lực lượng nòng cốt trong quá trình xây dựng và thực hiện triết lý giáo dục Bởi vì, đây là lực lượng vừa trực tiếp thử nghiệm, "thi công", vừa phản biện, hiện thực hóa triết lý giáo dục Họ là những người có trình độ trí tuệ cao, có khả năng đưa giáo dục Việt Nam phát triển hội nhập quốc tế; là chủ thể luôn tích cực, sáng tạo những tri thức mới, tiếp cận nhanh với khoa học và tiến bộ của nhân loại Phần lớn đội ngũ trí thức ở các trường đại học là những người trực tiếp "thi công", giảng dạy, nghiên cứu khoa học hiện thực hóa những mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục trong nhà trường Một bộ phận trí thức tiêu biểu khác ở các trường đại học là những người tham gia, tư vấn trực tiếp vào việc hoạch định chương trình, chiến lược, chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục Cụ thể là những thành viên của Hội đồng giáo dục quốc gia tiêu biểu như: Nguyễn Thị Bình, Phạm Minh Hạc, Hoàng Tụy, Hoàng Xuân Sính,… Họ đều là những trí thức có tâm huyết, gắn bó lâu dài với sự nghiệp GD&ĐT và góp phần xây dựng những chiến lược phát triển giáo dục đất nước
Tuy nhiên, trước sự thay đổi của xã hội, cần phát triển nhanh nguồn nhân
lực chất lượng cao, một trong ba đột phá chiến lược mà Đại hội Đảng XI đề ra, đội
ngũ trí thức ở các trường đại học nước ta chưa phát huy hết vai trò, tính tự giác, tích cực của mình đối với hoạt động giảng dạy và nghiên cứu; tinh thần phản biện độc lập còn hạn chế,… đặc biệt trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam
Nghiên cứu vai trò đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa
Trang 9thực tiễn sâu sắc góp phần thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT và thực hiện thành công một trong ba khâu đột phá chiến lược là đột phá về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong điều
kiện mới Đồng thời, đây là một vấn đề mới mẻ, những nghiên cứu về đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam còn tản mạn và dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, chưa có hệ thống Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu vấn đề này một cách cơ bản, hệ thống, chuyên sâu góp phần cung cấp cơ
sở lý luận khoa học để đánh giá đúng vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học đối với sự nghiệp phát triển GD&ĐT nói chung và với việc xây dựng triết lý giáo dục nói riêng
Từ những lý do trên và trong phạm vi giới hạn của một luận án tiến sĩ triết
học, chúng tôi lựa chọn vấn đề "Đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc
xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay" làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích: Luận giải một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải
pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích đó, luận án giải quyết những nhiệm vụ cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của đội ngũ trí thức ở các
trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng vai trò và chỉ rõ một số vấn đề đặt ra
cần tập trung giải quyết nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ
trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa
Trang 10Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức, trí thức ở các trường đại học và về GD&ĐT gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của giáo dục nước ta hiện nay
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích - tổng hợp, cấu trúc - hệ thống, lôgic - lịch sử, một số phương pháp liên ngành như tổng kết thực tiễn, so sánh,…
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây
dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Từ góc độ triết học, luận án chủ yếu tập trung làm rõ
vai trò đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam từ năm 1996 đến nay
5 Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, từ góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử, luận án đã làm rõ một số khái niệm: "Triết lý", "Triết lý giáo dục", "Xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam" và vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam
Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường
đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay; xác định một số vấn đề đặt ra trong quá trình đội ngũ này tham gia xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
Thứ ba, trên cơ sở xác định những hạn chế và một số vấn đề đặt ra, luận án
đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luâ ̣n án góp phần làm rõ những đóng góp và nâng cao vị
trí, vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay Kết quả của luận án góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lí
Trang 11luận về vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong GD&ĐT nói chung, xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam nói riêng
Ý nghĩa thực tiễn: Luâ ̣n án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
và giảng dạy những vấn đề liên quan; góp thêm luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, biện pháp để xây dựng một triết lý giáo dục mới và chính sách phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học Việt Nam hiện nay, nhằm thực hiện thành công đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT; hoàn thành khâu đột phá thứ hai mà Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Giáo dục và đào tạo không chỉ là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm mà còn là vấn đề của toàn xã hội Nghiên cứu về vấn đề này, gần đây, đã có rất nhiều các công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và việc sử dụng các phương pháp cụ thể Nghiên cứu về GD&ĐT, triết lý giáo dục, xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan và tổ chức trong nước cũng như quốc tế quan tâm Liên quan đến đề tài luận án, có thể phân loại các công trình nghiên cứu thành các nhóm cơ bản sau đây
1.1 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC VÀ TRIẾT LÝ GIÁO DỤC
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, GD&ĐT luôn chiếm một vị trí quan trọng Giữa thế kỷ XIX, các nhà kinh điển mác-xít luôn quan tâm và chỉ rõ vai trò của GD&ĐT đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nhân cách của con người Tuy không có tác phẩm chuyên biệt nào bàn riêng về GD&ĐT, nhưng những tư tưởng, luận điểm của C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin về giáo dục được trình bày xuyên suốt cùng với hệ thống các luận điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Các tác phẩm đã phản ánh những tri thức sâu sắc, toàn diện về giáo dục Các ông là những người đầu tiên nghiên cứu giáo dục một cách khoa học thông qua việc xác định mục đích, tính chất, vai trò, nguyên lý, phương pháp, hình thức, nội dung giáo dục… và khẳng định rằng: "bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục" [64, tr 10] Những tư tưởng về giáo dục của C Mác, Ph Ăngghen được tổng kết thời kỳ đầu của cách mạng công nghiệp, V.I Lênin và các nhà giáo dục Nga đã tiếp tục phát triển và đưa lên thành nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục XHCN, sau này các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn giáo dục nước nhà
Trang 13Nhận thức được giáo dục ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn xuất hiện nền kinh
tế tri thức, nên các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục, triết lý giáo dục ngày càng phong phú, đa dạng với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về giáo dục - đào tạo, giáo dục đại học
Một số công trình ở nước ngoài:
"Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống", (2007) [57], của học giả Krishnamurti, đã
phân tích tầm quan trọng, giá trị của một nền giáo dục đích thực Sứ mạng của giáo dục là đào tạo những con người toàn vẹn, giúp chúng ta khám phá ra những giá trị muôn đời Cuốn sách phân tích rõ vai trò của giáo dục đối với xã hội phát triển, đối
với cuộc sống Cuốn "Nền giáo dục cho thế kỷ 21: Những triển vọng của Châu Á -
Thái Bình Dương về canh tân giáo dục vì sự phát triển", (1994) [96], của tác giả
Raja Roy Singh… cũng bàn luận về nhiều vấn đề đổi mới, canh tân giáo dục vì sự phát triển trong thế kỷ 21, phù hợp với điều kiện, tình hình mới của các nước Châu
Á - Thái Bình Dương Cuốn "Cải cách giáo dục ở các nước phát triển ở Mỹ, Anh,
Pháp, Đức, Oxtraylia", (2010) [40], do tác giả Lữ Đạt, Chu Mãn Sinh (chủ biên),
cho thấy công cuộc cải cách giáo dục ở các nước phát triển, từ mô hình giáo dục cho đến nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục không chỉ có trong nhà trường
mà còn ở gia đình, xã hội, tùy theo lứa tuổi mà nội dung giáo dục khác nhau; mỗi một nước khác nhau thì việc cải cách diễn ra khác nhau và hiệu quả khác nhau…
Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN làm cho GD&ĐT có những biến đổi mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, đó là giáo dục đại học Do đó, đã
có nhiều tổ chức, hội nghị quan tâm sâu sắc đến hệ thống giáo dục đại học như:
"Highter Education in the Twenty - first Century, Vision and Action" (Giáo dục đại
học thế kỷ XXI, Tầm nhìn - Hành động) (1998), là khẩu hiệu của Hội nghị thế giới đầu tiên do UNESCO tổ chức Đây là công trình nghiên cứu quốc tế quan trọng khẳng định "sự nghiệp trồng người" phải được giữ gìn, củng cố và phát triển một cách có trách nhiệm; đồng thời khẳng định: sứ mạng của các hệ thống giáo dục đại học là giáo dục những người tốt nghiệp có chất lượng cao, những công dân có trách nhiệm… Chất lượng ở đây bao trùm mọi chức năng và hoạt động của nó: giảng dạy,
Trang 14đào tạo, nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên, sinh viên, cấu trúc hạ tầng và môi trường giáo dục v.v
Một số công trình trong nước:
Từ khi đổi mới, vấn đề giáo dục cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như một cái toàn thể, xem xét ở mọi góc độ khác nhau, có thể kể đến một số công trình sau:
"Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển xã hội - kinh tế", (1996) [43] và "Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI", (1999) [54]
của tác giả Phạm Minh Hạc, Đặc biệt, "Những vấn đề về chiến lược phát triển
giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa", (1998) [119] của Viện Nghiên
cứu Phát triển Giáo dục, gồm 9 tập, Các tác giả đã thấy được yêu cầu phải xây dựng nền giáo dục phát triển để đáp ứng trong thời kỳ mới, đưa ra một số các giải pháp chiến lược nhằm xây dựng và phát triển giáo dục nước ta, đặc biệt là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng thời kỳ CNH, HĐH đất nước
"Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài", (2002) [123] của Nghiêm Đình
Vỳ, Nguyễn Đắc Hưng, gồm hai phần chính: Phần thứ nhất, khái quát giáo dục Việt Nam từ lịch sử đến hiện tại, đặc biệt là đã phân tích nhiều nội dung sâu sắc những vấn đề đặt ra và nhiệm vụ của giáo dục Việt Nam trong thế kỷ XXI Các tác giả đã khẳng định sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi nhận thức về vị trí, vai trò của các nguồn lực, đồng thời tạo ra những thời cơ, thách thức đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam Phần thứ hai, phân tích nội dung về lý luận và thực tiễn trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ nhân tài
Bước vào xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vai trò của giáo dục ngày càng được khẳng định với những sứ mệnh mới Do đó, vấn đề giáo dục được quan tâm nhiều hơn, cụ thể là các công trình:
"Giáo dục Việt Nam tiếp tục đổi mới để phát triển và hội nhập", (2003) [83], Trần Văn Nhung… Đặc biệt là cuốn "Những vấn đề giáo dục hiện nay: Quan điểm
và giải pháp", (2007) [81], nhiều tác giả, gồm nhiều bài viết quan trọng về các vấn
đề mấu chốt và cấp bách của giáo dục Cuốn sách gồm hai phần Phần thứ nhất bao gồm những bài viết mang tính chất dẫn luận, trong đó có trích dẫn phát biểu của
Trang 15Einstein về giáo dục và ý kiến quan trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về đổi mới có tính cách mạng nền giáo dục nước nhà; các ý kiến phỏng vấn Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về vấn đề giáo dục được đăng tải trên các báo gần đây Phần thứ hai là hai bản đề án, kiến nghị của hai tập thể các nhà khoa học trong nước (Hoàng Tụy cùng cộng sự) và cả ở nước ngoài (Vũ Quang Việt cùng cộng sự) Đây
là hai bản đề án, kiến nghị được soạn thảo công phu, một cách khoa học và mang tính thực tiễn đã được gửi lên các cơ quan cao cấp nhất của Đảng và Nhà nước từ vài năm trước đây Cuốn sách đã thể hiện có rất nhiều trí thức, nhà khoa học, chuyên gia quan tâm đến nền giáo dục nước nhà
"Giáo dục: Xin cho tôi nói thẳng", (2012) [115], của GS Hoàng Tụy - người
đã gắn bó với giáo dục 60 năm nay Ông và các cộng sự kiên trì đề xuất những phương án khắc phục những bất cập trong giáo dục một cách quyết liệt Điển hình
là hai bản kiến nghị của các nhà khoa học về cải cách giáo dục năm 2004 [115, tr 118] và năm 2009 [115, tr 260] mà chính ông là người chủ trì và chấp bút Đó là những trăn trở, đầy tâm huyết, trí tuệ và trách nhiệm đối với nền giáo dục nước nhà Ông hy vọng Việt Nam có một "cuộc cải cách toàn diện và triệt để nền giáo dục" hiện nay [115, tr 10]
"Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI", (2013) [11], Bộ GD&ĐT Cuốn sách
gần đây nhất của Bộ GD&ĐT nêu một cách khái quát thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay và định hướng phát triển lớn của nền giáo dục nước ta trong thời gian tới
Đó cũng là những kỳ vọng của mọi người đối với một nền giáo dục của dân tộc Các công trình trên đều nhận thấy rõ GD&ĐT ở giai đoạn nào cũng được Đảng và
xã hội quan tâm, nhưng GD&ĐT ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, do đó cần phải đổi mới Các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu đã bàn luận sôi nổi và hướng đến căn nguyên cội nguồn của GD&ĐT nước nhà
là chúng ta đang thiếu vắng một triết lý giáo dục
Các công trình đều cho rằng, giáo dục nước ta thời gian tới phải làm tốt hơn công tác quản lý giáo dục, nâng cao chất lượng GD&ĐT, đặc biệt là vai trò của giáo dục đại học Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đại học như:
Trang 16"Đổi mới giáo dục đại học và hoạt động khoa học - công nghệ" (2010) [39],
Nguyễn Văn Đạo Cuốn sách là tập hợp các bài viết phản ánh một tư duy lý luận hết sức sâu sắc và đầy tâm huyết về giáo dục đại học và KH&CN
"Về khuôn mặt mới của giáo dục đại học Việt Nam" (2011), [87], Phạm Phụ,
gồm 2 tập Tập 1 xuất bản tháng 11/2005 tập hợp gồm 52 bài báo, tham luận trong
10 năm từ 1996 - 2005; tập 2 gồm 68 bài trong năm năm từ 2005 - 2010 Tác giả tiếp tục làm rõ những vấn đề "nóng" của giáo dục như: Học phí và quỹ cho sinh viên vay vốn, "xã hội hóa" giáo dục, "Hội đồng trường" ở các trường đại học, chiến lược và cải cách giáo dục, giáo dục Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế…,
đó là những cơ sở hết sức cần thiết cho những chính sách giáo dục đại học Việt Nam đang có những biến đổi sâu sắc, có tính chất nguyên lý, tính chất "ý thức hệ" trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
"Xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Việt Nam", (2011) [12], của
tác giả Hoàng Văn Châu, là một công trình với cách tiếp cận mới đối với giáo dục đại học, cuốn sách đã giải quyết những vấn đề như xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục,
và vấn đề xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học ở nước ta hiện nay
Ngoài sách chuyên khảo như trên, còn có một số các đề tài nghiên cứu như:
"Xu hướng cải cách giáo dục của một số nước trên thế giới và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam", (2011) [120], các tác giả Viện Thông tin Khoa học xã hội
với đề tài nghiên cứu cấp Bộ Đề tài đi phân tích mục tiêu, yêu cầu cải cách giáo dục, đặc điểm chiến lược cải cách, xu hướng cải cách và các vấn đề đáng chú ý trong nội dung chính sách cải cách giáo dục của một số nước trên thế giới Từ đó, trình bày một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa gợi mở cho công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam về việc xây dựng hệ thống học suốt đời; phổ cập giáo dục; phân luồng học sinh; hoạt động quản lý dựa vào nhà trường; cải cách mục tiêu giáo dục phù hợp thực tế; xây dựng chương trình giáo dục; chính sách cho giáo viên; phương pháp cải cách giáo dục; vấn đề giáo dục đại học; kết hợp giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học… Ngoài ra, còn có nhiều bài viết trên các tạp chí tiếp cận xung quanh các vấn đề giáo dục, giáo dục đại học ở nhiều phương diện khác nhau
Trang 171.1.2 Một số công trình nghiên cứu về triết lý giáo dục, triết lý giáo dục Việt Nam
Có thể thấy, đối với các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến những tư tưởng triết học về giáo dục trên nhiều khía cạnh khác nhau, rất phong phú Nhưng các công trình trực tiếp bàn về triết lý giáo dục thì còn rất khiêm tốn, mới chỉ dừng lại ở những bài viết trong các kỷ yếu, tạp chí khoa học hoặc tồn tại dưới dạng các tư tưởng, quan điểm trong những công trình nghiên cứu, chứ không phải viết dưới dạng hệ thống chuyên sâu
Một số công trình nước ngoài về triết lý giáo dục:
"Modern Philosophies of Education" (Triết học giáo dục hiện đại), (1962) [129]
của tác giả John S Brubacher Cuốn sách phân tích các trường phái triết học bàn về những vấn đề của giáo dục, từ tiểu học đến giáo dục đại học như sự tồn tại bản chất của con người, lý thuyết về tri thức, mối quan hệ giữa chính trị và giáo dục, giáo dục và xã hội, nhà nước và giáo dục
Đầu những năm 90 thế kỷ trước, các nhà triết học giáo dục Hoa Kỳ đã công
bố nhiều công trình nghiên cứu sâu về quá trình hình thành triết học giáo dục Đặc
biệt là cuốn "A New History of Educational Philosophy" (Lịch sử mới của triết học
giáo dục), (1993) [128] của James S Kaminsky và cuốn "Philosophy of Education:
An Encyclopedia", (Bách khoa thư về triết học giáo dục), (1996) [126] do J J Chambliss
chủ biên, xuất bản tại New York & London (bài "History of Philosophy of Education" của J J Chambliss) Ngoài ra, một số triết lý giáo dục của các nhà triết học giáo dục hầu như được viết cùng với hệ thống những quan điểm chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục… nói chung
Ở Trung Quốc, liên quan đến vấn đề này cũng có hai giáo trình tiêu biểu:
"Giáo dục triết học đại cương", (1998) [121], của Hoàng Tế và "Triết học giáo dục",
(1997) [51], của Lương Vĩ Hùng và Khổng Khang Hoa Qua hai giáo trình triết học giáo dục Trung Quốc có thể nhận thấy rằng: tư tưởng chỉ đạo nền giáo dục Trung Quốc và Việt Nam có nét tương đồng Nội dung trong giáo trình của Hoàng Tế có nhiều điểm giống như những vấn đề chung của giáo dục trong chương trình giáo dục học đại cương của Việt Nam Cuốn sách làm rõ bản chất của giáo dục là sự
Trang 18thống nhất biện chứng giữa con người và xã hội, tác giả đi sâu vào những vấn đề mang tính triết lý giáo dục hiện đại có thể chi phối, chỉ đạo các khâu, các lĩnh vực
cụ thể của giáo dục, từ phương châm, mục đích, chức năng, nội dung, phương pháp, chính sách, cơ chế giáo dục… ảnh hưởng trực tiếp, quyết định tất cả các cấp của nền giáo dục Mục đích cần đạt tới của công cuộc cải cách giáo dục là đào tạo lớp người mới, thế giới quan và nhân sinh quan tiến bộ, biết và dám độc lập suy nghĩ, biết cách tự mình chiếm lĩnh lấy kiến thức, tự mình khám phá ra chân lý, từ đó làm chủ cuộc sống của mình, của đất nước
Trong cuốn giáo trình của Lương Vĩ Hùng, Khổng Khang Hoa ngoài việc nghiên cứu các quan điểm giáo dục nhằm chỉ đạo quá trình hình thành nhân cách và chỉ đạo hệ thống quốc dân, đặc biệt là đã đi sâu vào cấu trúc, cơ chế của nó Các vấn đề mâu thuẫn, động lực, đòn bẩy giáo dục trong kinh tế thị trường XHCN đã được đặt ra Đó là những vấn đề rất quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục, và là vấn đề lí luận đang cần nghiên cứu để giải quyết nhiều thách thức đang đặt ra cho các nhà trường hiện nay
Đã có một số các công trình nước ngoài được dịch ra tiếng Việt như:
"Emile hay là về giáo dục", (2008) [97], của J.J.Rousseau (nhà triết học
khai sáng Pháp, nhà giáo dục lớn của Pháp thế kỷ XVIII), là tác phẩm nổi tiếng đã
để lại ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài nhất đối với phương pháp sư phạm, điểm trọng tâm khi thuyết minh các vấn đề giáo dục Trong tác phẩm, J.J.Rousseau đã xây dựng một triết lý giáo dục giúp cho "con người tự nhiên" có đủ sức khỏe thể chất và
nghị lực tinh thần để đương đầu với những thử thách trong cuộc đời Sau Cộng hòa,
quyển VIII của Platon, đây là tác phẩm hoàn chỉnh đầu tiên về triết lý giáo dục phương Tây Ông chủ yếu dựa trên kinh nghiệm bản thân và sự quan sát thực tiễn
và tổng kết các quan điểm lý luận đương thời để phân tích mâu thuẫn giữa thiên nhiên và xã hội Tuy nhiên, điều đáng nói trong triết lý giáo dục của ông đã bác bỏ
và phá vỡ tất cả các khuôn mẫu giáo dục trước đó Tư tưởng của ông và J.Locke đều mang tinh thần nhân văn về con người, con người sống trong mối quan hệ hài hòa với tự nhiên và bạn bè xung quanh; những tư tưởng này được C.Mác kế thừa và phát triển sau đó
Trang 19"Chân dung những nhà cải cách giáo dục tiêu biểu trên thế giới", (2008) [117]
(dịch theo tài liệu của UNESSCO) Cuốn sách được biên dịch là tài liệu tham khảo
có giá trị nhằm phục vụ các nhà hoạch định chính sách giáo dục, các nhà nghiên cứu cũng như các bậc phụ huynh muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc, những phương pháp và chính sách giáo dục đã được áp dụng trên thế giới
"Dân chủ và giáo dục", (2008) [19]; và "Kinh nghiệm và giáo dục, (2011) [20]
là hai cuốn sách đặc biệt bàn về triết lý giáo dục của John Dewey, nó cung cấp cho các nhà giáo dục và thầy cô giáo một triết lý giáo dục mang tính tích cực, cuốn sách đánh giá những thực tiễn của cả trường học cổ truyền và trường học tiến bộ, đã chỉ
ra những khiếm khuyết của mỗi trường học ấy Triết lý giáo dục của Dewey thể hiện tư duy giáo dục hiện đại và khoa học, đưa KH&CN thông tin vào giảng dạy Triết lý giáo dục của ông được hoan nghênh và ứng dụng rộng rãi, có ảnh hưởng ở nhiều nước châu Âu và châu Á Lý luận về dân chủ trong giáo dục của ông là bài học quý giá, ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam thời kỳ đổi mới Bàn về triết lý giáo dục, John Dewey nói: Triết lý giáo dục không phải là sự áp dụng các tư tưởng có sẵn từ bên ngoài vào một hệ thống thực hành có nguồn gốc và mục đích khác biệt về cơ bản Như vậy, có thể định nghĩa
"triết lý" một cách sâu sắc là "lý luận giáo dục xét trên các phương diện phổ biến nhất", là "lý luận chung của giáo dục" [19, tr 389] Nếu như trước đây người ta quan niệm giáo dục như là quá trình truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm, hoặc là quá trình thanh lọc tâm hồn, hoặc một quá trình khai sáng nhằm giúp con người tự
do lý trí, thì với ông "giáo dục chính là bản thân cuộc sống" (Education is Life Itself)
Vì giáo dục chính là bản thân cuộc sống nên nhà trường không thể tách khỏi hoạt động thực tiễn, và kiến thức không thể được áp đặt từ bên ngoài; không thể có một thứ giáo dục chung cho tất cả mọi người, người thầy phải ý thức rõ và tôn trọng sự khác biệt giữa các học sinh Giáo dục phải là quá trình của người học chứ không phải người dạy Giáo dục là quá trình mà người học làm trung tâm Nói cách khác, giáo dục phải là một quá trình dân chủ sâu sắc
Đặc biệt, cuốn sách "Cải cách giáo dục ở các nước phát triển ở Mỹ, Anh,
Pháp, Đức, Oxtraylia", (2010) [40] do Lữ Đạt, Chu Mãn Sinh (chủ biên) cho thấy
Trang 20chiến lược, cách thức cải cách giáo dục ở các nước phát triển; mỗi một quốc gia khác nhau thì cách thức diễn ra và hiệu quả khác nhau Do vậy, cuốn sách là tài liệu tham khảo quý giá để chúng ta lựa chọn, kế thừa nhằm xây dựng triết lý giáo dục riêng cho dân tộc
Ngoài sách chuyên khảo, có thể tìm thấy triết lý giáo dục thông qua những bài viết trên các tạp chí, hội thảo khoa học hay trong một công trình lớn chứ nó không được trình bày theo nghĩa là những công trình chuyên sâu Cụ thể, một số bài
viết về triết lý giáo dục như: "Unamuno, Schleiermacher, Humboldt: A Question of
Language", (autumn 2011) [130] của C.A Longhurst; "Playful Learning and Montessori Education", (2013) [124] của tác giả Angeline S Lillard, … Qua các bài viết đó, chúng
ta thấy được triết lý giáo dục của Schleiermacher, Humboldt, Maria Montessori là những tư tưởng giáo dục tiến bộ ảnh hưởng lớn đến các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới như Đức, Pháp, Itali, Hoa Kỳ, Đặc biệt, triết lý giáo dục của Maria Montessori - nhà giáo dục nổi tiếng người Ý - một trong những người nổi bật trong phong trào Tân Giáo dục (lý thuyết giáo dục mới này do các cuộc cải cách giáo dục ở Châu Âu cuối thế kỷ XVII, cho tới thế kỷ XIX) Đối với bà, cải cách giáo dục không phải là thay thế phương pháp giáo dục cũ bằng phương pháp giáo
dục mới cho là tốt hơn, mà bà quan tâm tới một quá trình khác là reformatio: một sự
tái tạo và tổ chức lại cuộc sống Triết lý giáo dục của bà xoay quanh mục tiêu giáo
dục, phương pháp giáo dục, nội dung, chương trình giáo dục, vai trò của người dạy… Quan điểm của bà cho rằng: phải lấy sở thích và sự quan tâm của người học làm xuất phát điểm cho quá trình dạy học Đây chính là đóng góp độc đáo và có ý nghĩa của bà Bà quan tâm đến việc phát triển thái độ thay vì chỉ phát triển các năng lực thực nghiệm Sở dĩ phương pháp giáo dục của bà được áp dụng và thành công phổ biến ở một số nước trên thế giới là do sự kết nối giữa lý thuyết và thực hành Các lý thuyết của bà được khẳng định trên thực tế là do tiến hành các thử nghiệm thực tiễn của mình dựa trên các nguyên tắc khoa học
Tóm lại, triết lý giáo dục của một số triết gia tiêu biểu ảnh hưởng mạnh nhất đến nền giáo dục của các nước phát triển, nó đều khẳng định vai trò tiên quyết của
Trang 21giáo dục đối với sự phát triển của một quốc gia và lấy con người là mục tiêu giáo dục, hướng đến giải phóng con người với tư tưởng tự do, dân chủ trong khoa học…
Tuy nhiên, với triết lý giáo dục có nội dung khác nhau khi vận dụng vào mỗi quốc gia cũng khác nhau do sự khác biệt về mặt địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa… Triết lý giáo dục đều có mục đích chung là hướng đến giáo dục vì con người Việt Nam cũng như các quốc gia khác đều có nhu cầu hội nhập và phát triển, do đó, việc nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc, vận dụng triết lý giáo dục của các nhà cải cách giáo dục trên thế giới vào nước ta là cần thiết
Một số công trình trong nước về triết lý giáo dục Việt Nam:
Một là, các công trình xuất bản thành sách như:
"Lý luận giáo dục châu Âu", (1994) [114] của tác giả Nguyễn Mạnh Tường đã
giới thiệu hệ thống các lý luận giáo dục điển hình của thời kỳ Phục hưng và Khai sáng
ở thế kỷ 16, 17 và 18 Phân tích hoàn cảnh kinh tế, xã hội, chính trị, các lý luận giáo dục
lý thuyết về con người, điều đó cũng phần nào nói lên triết lý giáo dục phương Tây
Những năm gần đây, ở Việt Nam đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu
liên quan đến vấn đề này, đó là công trình "Triết học giáo dục Việt Nam", (2007) [116]
của Thái Duy Tuyên Công trình đã đề cập đến một số vấn đề chung về triết học giáo dục, giới thiệu tư tưởng của một số nhà giáo dục lớn trong lịch sử và nêu lên những vấn đề triết học giáo dục ở một số nước trên thế giới; triết lý giáo dục truyền thống Việt Nam, nhất là những tư tưởng, quan điểm giáo dục của Đảng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo, xây dựng nền giáo dục, từ sau Cách mạng tháng Tám cho đến nay và thực tiễn phát triển giáo dục nước nhà
Đặc biệt, gần đây có công trình đã đi sâu vào tìm hiểu nền giáo dục nước
nhà dưới góc độ triết lý khá sâu sắc với nhan đề: "Triết lý giáo dục thế giới và Việt
Nam", (2011) [46] của Phạm Minh Hạc được bàn luận nhiều Cuốn sách 16 chương
300 trang tìm hiểu triết lý và triết học trong lịch sử phương Đông và phương Tây để
từ đó tìm ra triết lý giáo dục cho bản thân mình, cho lớp học, nhà trường và cả hệ thống giáo dục quốc dân, hy vọng chúng ta xây dựng một triết lý cho nền giáo dục nước nhà trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập quốc tế, tìm con đường phát triển cho giáo dục Việt Nam Trên cơ sở làm rõ triết lý giáo dục Việt Nam qua
Trang 22các thời kỳ, tác giả Phạm Minh Hạc đã đề xuất một phương án triết lý giáo dục "giá trị bản thân" ở tầm quản lý nhà nước về GD&ĐT, từ tầm vĩ mô xuống tầm vi mô tới người học Đây cũng là công trình có ý nghĩa, với tâm huyết của người nghiên cứu
và gắn bó với giáo dục nhiều năm kinh nghiệm, điều này đã giúp nghiên cứu sinh kế thừa và tiếp tục nghiên cứu, làm rõ mối quan hệ giữa triết lý giáo dục với đội ngũ trí thức ở các trường đại học Việt Nam hiện nay
Cuốn sách "Nghịch lý và lối thoát", (2014) [26] của tác giả Vũ Cao Đàm
mới xuất bản, bàn về triết lý giáo dục trên cơ sở tiếp cận từ góc độ triết lý phát triển của khoa học và giáo dục Việt Nam, từ đó đưa ra biện pháp tái cấu trúc hệ thống nhằm cải cách triết lý khoa học và giáo dục Việt Nam Đây được coi là công trình
có giá trị quan trọng đối với quá trình xây dựng triết lý giáo dục nước nhà trong giai đoạn KH&CN phát triển vượt bậc như hiện nay
Hai là, các hội thảo về triết lý giáo dục
Gần đây, các hội thảo được tổ chức và tranh luận nhiều với sự tham gia của các chuyên gia giáo dục, những người tâm huyết với ngành, đó là Hội thảo về triết
lý giáo dục do Học viện Quản lý giáo dục Việt Nam tổ chức ngày 21/9/2007; Hội thảo về triết lý giáo dục do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đại học
Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ngày 19/8/2011; Hội thảo về triết lý giáo dục do Khoa Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 02/12/2011 Đây là vấn đề mới, phức tạp, còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng cơ bản có mấy nhóm ý kiến sau (theo "tổng quan" ý kiến của các nhà nghiên cứu, giảng dạy, quản lý giáo dục đăng tải trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Triết lý giáo dục của Học viện Quản lý giáo dục, Bộ GD&ĐT 9/2007) [50]:
Ý kiến của Thái Duy Tuyên, Đỗ Khánh Tặng, Hoàng Minh Thao cho rằng: Không gọi là "Triết lý giáo dục" mà gọi là "Triết học giáo dục" hoặc "Lý luận triết học giáo dục"
Ý kiến của Đặng Quốc Bảo cho rằng: tên gọi là "Triết học giáo dục" xác định nền giáo dục xây dựng trên quan điểm nào; còn gọi là "Triết lý giáo dục" khi nền giáo dục này hành động thế nào trong thực tiễn
Trang 23Ý kiến của Nguyễn Tùng Lâm, Nguyễn Vân Anh, Trần Ngọc Giao, Nguyễn Xuân Tế, Phạm Khắc Chương, Lưu Xuân Mới cho rằng: chỉ bàn quan điểm chung
về giáo dục, đổi mới tư duy giáo dục không dùng thuật ngữ "Triết lý giáo dục"
Ý kiến của đa số các nhà khoa học như: Phạm Minh Hạc, Đặng Bá Lãm, Đặng Thị Thanh Huyền, Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Công Giáp, Trần Kiểm, Trần Quang Nhiếp, Phạm Đỗ Nhật Tiến, Nguyễn Phúc Châu, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Thành Vinh, Lương Ngọc Bình, Nguyễn Hồng Hà… đều tán thành dùng thuật ngữ "Triết lý giáo dục" [46, tr 41]
Các ý kiến tham luận về triết lý giáo dục đều có những lý giải khác nhau, tuy nhiên phần lớn đều cho rằng triết lý giáo dục có thể ở các cấp độ khác nhau (một cá thể, một tập thể, một quốc gia, cho cả hệ thống giáo dục) Nhiều tác giả cho rằng, trước năm 1945 nước ta đã có triết lý giáo dục nhưng chưa được gọi tên hay nói cách khác là chưa có hệ thống, triết lý đó được diễn giải một cách tự nhiên, giản dị mà ai cũng biết, cũng nhớ như: "Không thầy đố mày làm nên"; "Học thầy không tày học bạn"; "Tiên học lễ, hậu học văn"; "Học đi đôi với hành, Lý luận gắn liền với thực tiễn"; "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu"… Tất cả những diễn giải đó đều đúng, tuy nhiên để định nghĩa về triết lý giáo dục đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất
Trên cơ sở nghiên cứu một số các triết lý giáo dục trong lịch sử và những học giả Việt Nam bàn về triết lý giáo dục từ rất nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tựu trung lại xoay quanh các vấn đề sau:
Triết lý giáo dục xoay quanh việc xác định mục đích của giáo dục là gì? (đào
tạo ra những con người như thế nào?) như một số tác giả Trần Văn Đoàn, Vũ Minh Giang, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Lanh, Trần Xuân Nhĩ, Trần Hồng Phong, Dương Trung Quốc, Nguyễn Khánh Trung,
Triết lý giáo dục xoay quanh việc xác định nội dung của giáo dục là gì?
(dạy gì cho người học?) như một số tác giả Văn Như Cương, Trần Văn Đoàn, Vũ Minh Giang, Trần Xuân Nhĩ, Trần Hồng Phong, Dương Trung Quốc,
Triết lý giáo dục xoay quanh việc xác định phương pháp giáo dục như thế
nào? (dạy người học như thế nào?) như một số tác giả Tống Văn Công, Văn Như Cương, Trần Văn Đoàn, Phạm Minh Hạc, Trần Xuân Nhĩ,
Trang 24Triết lý giáo dục xoay quanh việc xác định vai trò của Nhà nước trong hệ
thống giáo dục, như một số tác giả Trần Văn Đoàn, Vũ Minh Giang, Nguyễn Ngọc
Lanh, Trần Hồng Phong, Dương Trung Quốc, Nguyễn Khánh Trung [26, tr 106]
Tất cả các tác giả đều mong muốn tìm hiểu, làm rõ nội hàm triết lý giáo dục thời nay nhằm phát triển nền giáo dục của đất nước, góp phần xứng đáng vào công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế
Ba là, triết lý giáo dục thể hiện thông qua các quan điểm, văn kiện, nghị
quyết của Đảng
Cùng với các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học về giáo dục, triết lý giáo dục còn có các văn kiện, nghị quyết, tài liệu của Đảng và Nhà nước qua các kỳ Đại hội Cụ thể là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa VIII (1996); Nghị quyết Trung ương 6, khóa IX; Nghị quyết Trung ương 8, khóa XI và các chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010, 2011 - 2020… Đặc biệt, tại Hội nghị Trung
ương 8, khóa XI, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản
và toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế thể hiện một bước đột phá mới về GD&ĐT
Ngoài ra, còn có nhiều các bài báo, tạp chí nghiên cứu về các vấn đề liên
quan đến triết lý giáo dục như: "Triết học giáo dục: một số vấn đề của Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo quốc tế tại Liên bang Nga "Xã hội mở và
phát triển bền vững", (2001) [103] của tác giả Phạm Ngọc Thanh Bài viết "Triết
học trong việc xây dựng triết lý giáo dục trong đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay", (2010) [113] của tác giả Nguyễn Anh Tuấn đăng trên Kỷ yếu Hội
thảo khoa học của Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhìn chung, các công trình đã bước đầu, tìm hiểu làm rõ một số quan điểm
về triết lý giáo dục của các nhà khoa học tiêu biểu trong lịch sử phương Đông, phương Tây và thấy được sự cần thiết, cấp bách của việc hình thành một triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Nhưng cho đến nay, có một số ý kiến về triết lý giáo dục vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa thống nhất Nghiên cứu triết lý giáo dục là một vấn đề mới và là vấn đề lý luận khó, vì nó không chỉ trừu tượng, phức tạp mang tầm chiến lược mà là vấn đề của
Trang 25toàn xã hội Tuy nhiên, để xây dựng và hoàn thiện triết lý giáo dục hiện nay cần phát huy tối đa vai trò của đội ngũ trí thức, đặc biệt là trí thức ở các trường đại học - nguồn lực trí tuệ cao ở nước ta với tư cách vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể xây dựng, thực thi triết lý giáo dục trong cuộc sống
1.2 MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TRÍ THỨC, VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA HỌ TRONG XÂY DỰNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM
Đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, vai trò của trí thức ngày càng được khẳng định thông qua những tác phẩm kinh điển của các nhà lý luận mác-xít, trí thức được đề cập đến như một tầng lớp xã hội đặc biệt
Từ phương pháp tiếp cận triết học xã hội, trên cơ sở kế thừa, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng Trong các tác phẩm của Người, trí thức khoa học, chân chính luôn được coi trọng, Người gọi đó là những "anh hùng vô danh", "những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa"… Người luôn xác định: "Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc" [68, tr 156] Trong thời kỳ đổi mới đất nước, các công trình nghiên cứu về trí thức nói chung, trí thức ở các trường đại học ngày càng phong phú
1.2.1 Một số công trình nghiên cứu về trí thức
Đội ngũ trí thức ở các trường đại học là một bộ phận của đội ngũ trí thức
Do đó, nghiên cứu đội ngũ trí thức ở các trường đại học cần phải kể đến các công trình nghiên cứu về trí thức nói chung Có thể nói, các công trình nghiên cứu về trí thức rất phong phú, đa dạng với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, bao gồm cả các công trình trong nước và quốc tế
Một số công trình ở nước ngoài nghiên cứu về trí thức
"Tập tiểu luận về trí thức Nga", Nxb Trí thức, tháng 4/2009 do La Thành và
Phạm Nguyên Trung dịch [80] Đây là công trình tập hợp các bài viết của trí thức, nhà khoa học Nga trước Cách mạng tháng Mười Quan điểm của họ rất đa dạng, đôi khi đối lập nhau nhưng đều trên một tinh thần học thuật độc lập nghiêm túc và với ý thức trách nhiệm xã hội rất đáng trân trọng Họ viết về chính họ trong khung cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội nước Nga cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Những
Trang 26trăn trở, dồn nén và phản ứng của họ trước thời cuộc lịch sử nước Nga, điều đó cho
ta có cái nhìn toàn cảnh để so sánh với thực trạng trí thức nước ta hiện nay
"Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất
nước", (2008) [49] của Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (chủ biên) đã làm rõ tư
tưởng của Đặng Tiểu Bình về những vấn đề liên quan đến trí thức: nhân tài là then chốt của phát triển, việc tổ chức xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến lược bồi dưỡng phát triển và giáo dục, tuyển chọn, sử dụng, bố trí nhân tài, tạo môi trường cho nhân tài phát triển, cải cách chế độ nhân sự… Công trình này có giá trị to lớn trong việc xây dựng nhân tài ở Trung Quốc, có ý nghĩa quan trọng đối với việc vận dụng thực hiện chính sách cho cán bộ nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng ở Việt Nam
Một số công trình trong nước nghiên cứu về trí thức, về đội ngũ trí thức
ở các trường đại học
"Một số vấn đề về trí thức Việt Nam", (1998) [111] của Nguyễn Thanh Tuấn
đã nêu lên vị trí, vai trò, thực trạng của đội ngũ trí thức, những thành tựu mà đội ngũ trí thức đã đạt được sau mười năm đổi mới đất nước và những hạn chế của đội ngũ này, từ đó đề ra những phương hướng, giải pháp cơ bản để khắc phục và tiếp tục phát huy
"Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện
đại hóa", (2001) [22] của Phạm Tất Dong đề cập toàn diện và sâu sắc hơn về tình hình
của đội ngũ trí thức, khẳng định những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới Trước những yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đặc biệt những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức, tác giả đã đưa ra những định hướng, giải pháp để đội ngũ trí thức tiếp tục phát huy năng lực của mình thực hiện đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
"Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển của đất nước", (2005) [52] của
Nguyễn Đắc Hưng, nghiên cứu, phân tích rõ thực trạng của đội ngũ trí thức hiện nay về chất lượng, số lượng, cơ cấu, sự phân bố đội ngũ trí thức ở các vùng miền, độ tuổi, giới tính… cụ thể hóa bằng một số các bảng biểu, số liệu để từ đó đưa ra những giải pháp hữu ích trong thực tế Tác giả cho rằng, cốt lõi của việc phát triển đội ngũ trí thức là phát triển giáo dục, phát triển toàn diện con người Mục đích của giáo dục là tạo ra giá trị của con người, mà trong đó, giáo dục nhân cách phải được coi trọng,
Trang 27đó là nhiệm vụ trọng tâm số một xuyên suốt cả quá trình giáo dục và rèn luyện con người trong suốt cả cuộc đời theo những chuẩn mực và định hướng giá trị xã hội
Đó là một trong những tư tưởng hết sức quý giá cần phải tiếp thu và vận dụng trong việc giáo dục nhân cách cho sinh viên, những trí thức tương lai của đất nước
Ngoài ra, còn có công trình "Kinh nghiệm của một số nước về phát triển
giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức",
(2010) [119] của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã xuất bản Công trình này nghiên cứu chính sách phát triển GD&ĐT, KH&CN của các quốc gia phát triển chỉ
ra được những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể tham khảo nhằm xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh Công trình cũng đã trình bày một cách khái quát những điểm mạnh, điểm yếu của trí thức Việt Nam và những thành công, hạn chế của Việt Nam trong phát triển GD&ĐT, KH&CN Trên cơ sở kinh nghiệm của các nước phát triển, các nhà khoa học đã phân tích một số giải pháp quan trọng nhằm phát triển các lĩnh vực đó gắn với xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam
Ngoài các công trình được xuất bản bằng sách, có các đề tài cấp Nhà nước bàn về vấn đề này một cách hệ thống và công phu như:
"Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tầng lớp trí thức Những định hướng
chính sách", (1999) [21], đề tài của Phạm Tất Dong (chủ nhiệm đề tài Khoa học xã
hội, mã số 03-09) Đề tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt Nam; vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; thực trạng đội ngũ trí thức và chính sách của Đảng đối với đội ngũ trí thức Trên cơ sở đó, có chính sách chiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam
để họ xứng đáng với vai trò là lực lượng trụ cột, bộ phận tinh túy nhất của xã hội
"Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020", Đề tài cấp
Nhà nước KX04.16/06-10 [122], của Đàm Đức Vượng (chủ biên) Đây là đề tài nghiên cứu tổng thể về trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Trên cơ sở làm
rõ những vấn đề chung về trí thức, thực trạng của trí thức bằng các số liệu điều tra khách quan, từ đó đưa ra các phương hướng, giải pháp cụ thể ở các lĩnh vực hoạt động Đó là cơ sở cung cấp những luận cứ góp phần với Đảng và Nhà nước trong việc đưa ra những những chính sách nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam
Trang 28giai đoạn mới nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể trí thức trong các trường đại học nói riêng
Ngoài ra, còn có rất nhiều luận án liên quan đến đội ngũ trí thức như: "Vị trí,
vai trò của tầng lớp trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam",
Phan Việt Dũng (1988) [24], Luâ ̣n án phó tiến sĩ triết ho ̣c; "Động lực của trí thức trong
lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay", Phan Thanh Khôi (1992) [54], Luâ ̣n án tiến sĩ
triết học,… Các luận án này đã phân tích khá sâu sắc về khái niệm, đặc điểm, vai trò cũng như những động lực thúc đẩy lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp rất hữu ích nhằm phát huy vai trò của những đội ngũ này
Bên cạnh đó, có nhiều bài viết rất đa dạng, phong phú trên các tạp chí khoa học như:
Bài viết "Vai trò của trí thức trong quản lý xã hội", (9/2007) [104] của
Phạm Ngọc Thanh đề cập đến những tiếp cận triết học đối với các lĩnh vực quản lý, chính trị, giáo dục Tác giả đã làm rõ những nội dung cơ bản của các vấn đề này, phân tích rõ mối quan hệ giữa triết học với các lĩnh vực đó, vai trò của triết học trong việc nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực nói trên Đặc biệt, tác giả chỉ ra vai trò của trí thức trong các hoạt động lý luận và quản lý xã hội
Bài viết "Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức
nước ta phát huy tài năng, trí tuệ", (1995) [1] và "Suy ngẫm và nhận thức về trí thức",
(2008) [2] của Nguyễn Đức Bách; "Bài học từ quan điểm của Hồ Chí Minh về trí
thức", (2001) [55] của Phan Thanh Khôi… Các tác giả đã làm rõ vai trò quan trọng
của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và chỉ ra vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng luận cứ khoa học; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực; góp phần vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Đồng thời, tác giả đã chỉ ra những bài học trong việc xây dựng đội ngũ trí thức từ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát triển trí thức phải luôn được đặt lên hàng đầu trong quá trình phát triển đất nước
Bài viết "Trí thức và trách nhiệm xã hội" của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn,
Tạp chí Cộng sản, số 853, (2013), [17] Bài viết phân tích vai trò của lao động trí óc của trí thức trong lịch sử nhân loại tiến bộ, trách nhiệm của trí thức trong mọi thời
Trang 29đại, vai trò và trách nhiệm xã hội của trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Tác giả kết luận: "Trí thức chỉ có thể thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình, nếu như họ ý thức rõ được trách nhiệm đó" [17, tr 23]
Những công trình liên quan đến trí thức được bàn đến ở nhiều góc độ khác nhau, cho ta thấy bức tranh toàn diện về trí thức Việt Nam rất đa dạng, phong phú Trong đó, đội ngũ trí thức ở các trường đại học là bộ phận tiêu biểu của trí thức Việt Nam hiện nay, về đội ngũ này cũng có nhiều công trình nghiên cứu như sau:
"Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa", (2002) [98] của Nguyễn Văn Sơn Công trình đã đi sâu làm rõ những
nét cơ bản về thực trạng cơ cấu và chất lượng đội ngũ trí thức giáo dục đại học ở nước
ta hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần xây dựng cơ cấu hợp lý và nâng cao chất lượng của đội ngũ này Tác giả cho rằng, đội ngũ trí thức giáo dục đại học
có vai trò quyết định chất lượng nguồn lực trình độ cao của đất nước [98, tr 251]
Gần đây nhất có công trình "Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc
xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay", (2013) [42] của Ngô Văn Hà, tiếp
cận tư tưởng Hồ Chí Minh xem xét, phân tích và xây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay Công trình phân tích sâu sắc vai trò quan trọng của đội ngũ giảng viên trong các trường đại học theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tác giả đã trình bày có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy bao gồm: Vai trò, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp giáo dục của người thầy giáo; đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên đại học về số lượng, chất lượng, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, khía cạnh thu nhập và vị thế của thầy trong xã hội; đồng thời phân tích
sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy trong việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, để quyết định chất lượng giáo dục đại học không phải chỉ có đội ngũ giảng viên mà cần phải có đội ngũ quản lý và nghiên cứu khoa học
Ngoài ra, còn có một số luận án, bài viết trên tạp chí cũng đề cập đến đội ngũ trí thức ở các trường đại học dưới các góc độ, khía cạnh, lĩnh vực cụ thể như:
"Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi
mới ở nước ta", của Nguyễn An Ninh (1999) [84], Luận án tiến sĩ triết học; "Xây
Trang 30dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay", của Phạm Văn Thanh (2001) [102], Luận án tiến sĩ triết học; "Phát huy vai trò nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Đình Minh (2002) [74], Luận án tiến sĩ triết học;
"Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam trong sự
nghiệp đổi mới", Ngô Thị Phượng (2005) [88], Luận án tiến sĩ triết học; "Xây dựng đội ngũ trí thức ngành kiến trúc trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay", của
Lê Quang Quý (2005) [94], Luận án tiến sĩ triết học; "Phát huy vai trò trí thức
ngành y tế Việt Nam trong công cuộc đổi mới", Nguyễn Thị Hòa Bình (2006), [7],
Luận án tiến sĩ triết học; "Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại
học Việt Nam hiện nay", Trần Thị Lan (2014) [58], Luận án tiến sĩ triết học…
Những công trình, bài viết liên quan đến vai trò đội ngũ trí thức, trí thức ở các trường đại học được nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau tùy theo mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu Tuy nhiên, xem xét, làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng, vận dụng triết lý giáo dục Việt Nam thì cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống, cơ bản dưới góc độ triết học
1.2.2 Một số công trình nghiên cứu về vai trò của đội ngũ trí thức, về vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục
Nghiên cứu về vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam là một trong những nội dung mới, phức tạp Bởi việc nghiên cứu riêng về triết lý giáo dục Việt Nam đã là một vấn đề ở tầm vĩ
mô, cho đến nay chưa có một định nghĩa, quan niệm thống nhất Do đó, các nghiên cứu liên quan đến nội dung này dường như chỉ được xem xét một cách gián tiếp, cụ thể ở một số lĩnh vực như: nghiên cứu về vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong nền kinh tế tri thức, trong phát triển văn hóa, trong đào tạo nguồn nhân lực, trong sự nghiệp CNH, HĐH… còn trong việc xây dựng triết lý giáo dục thì chưa có công trình nào nghiên cứu, giải quyết trực tiếp từ góc độ triết học ở một mức độ chuyên sâu, hệ thống Tuy nhiên, có một số công trình liên quan đề cập đến vai trò của đội ngũ này dưới các góc độ sau đây:
Trang 31Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
"Essays on quality in Education", (Bàn về chất lượng của giáo dục), (1976) [127]
của tác giả B.C.Crittenden; J.V.D’ Cruz luận giải, chứng minh vai trò của giáo viên
quyết định chất lượng giáo dục trong các nhà trường cùng với các yếu tố khác trong quá trình giáo dục Tác giả công trình đã phân tích nét đặc trưng của chất lượng giáo dục, các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục và chế độ dân chủ trong giáo dục Sự ảnh hưởng giữa các tổ chức xã hội như: trường học, cộng đồng, giai cấp, Nhà nước, tình trạng văn hóa trong xã hội tới sự đạt được
về chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục còn phụ thuộc rất lớn vào sự ảnh hưởng của giáo viên đến các phương pháp dạy và học khác nhau trong nhà trường
"Xác định hiệu quả công tác của giáo viên", (1998) của J A Centra [125]
Ông cho rằng, bất cứ người giảng viên trong trường đại học phải thực hiện ba chức năng, nhiệm vụ chủ yếu như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng Do đó, đánh giá chất lượng, vai trò của giảng viên phải thông qua hiệu quả công tác của nhà giáo đại học ở ba lĩnh vực trên
Một số công trình trong nước
"Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học
và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức", (2010) [118], của Viện Khoa học
Giáo dục Việt Nam Đây là công trình nghiên cứu công phu về đường lối phát triển GD&ĐT, KH&CN gắn với xây dựng lực lượng trí thức vững mạnh của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước phát triển Công trình chỉ ra được những đóng góp của đội ngũ trí thức trong việc phát triển GD&ĐT, KH&CN của các quốc gia Do đó, việc xây dựng, phát triển triết lý giáo dục phải gắn liền với vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học Đó là kinh nghiệm mà các chuyên gia, các nhà khoa học đã tổng kết Việt Nam cần vận dụng và tiếp thu những bài học này thật sâu sắc và sáng tạo, đặc biệt là trong giai đoạn cách mạng KH&CN phát triển mạnh mẽ như ngày nay
"Đại học Humbolt 200 năm (1810 - 2010)", (2010) [13] của Ngô Bảo Châu,
Pierre Darriulat, Cao Huy Thuần, Hoàng Tụy… gồm những bài viết có giá trị xoay quanh vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học và triết lý giáo dục Nhìn
Trang 32chung các tác giả đều cho rằng tự do học thuật và nghiên cứu khoa học là hai yếu tố
cơ bản của một trường đại học, kinh nghiệm đại học Humbolt [13, tr 527] về vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học được đánh giá trên cả ba phương diện giảng dạy, quản lý và nghiên cứu khoa học
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN
Nhìn chung những công trình liên quan đến giáo dục, giáo dục đại học, trí thức, đội ngũ trí thức ở các trường đại học cả trong nước và ngoài nước được nghiên cứu công phu, tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức, trí thức ở các trường đại học đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà Hầu hết, các công trình nghiên cứu đã đạt được giá trị về lý luận, thực tiễn, tạo điều kiện cho tác giả luận án có nhiều tư liệu tham khảo để nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục góp phần thực hiện thành công khâu đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao
mà Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Do vậy, có thể đánh giá vấn
đề này trên một số thành quả cần tham khảo:
Thứ nhất, bàn về triết lý giáo dục, các công trình nêu trên bước đầu đã đạt
được một số thành công nhất định trong nghiên cứu, luận giải các vấn đề như: khái niệm, nội dung triết lý giáo dục của một số tác giả, mặc dù chưa thống nhất thành
hệ thống Các công trình đã bước đầu, tìm hiểu làm rõ một số quan điểm triết lý giáo dục của các nhà khoa học tiêu biểu trong lịch sử phương Đông, phương Tây và thấy được sự cần thiết, cấp bách của việc hình thành một triết lý giáo dục phù hợp với điều kiện đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Thứ hai, bàn về đội ngũ trí thức ở các trường đại học, các công trình đã đạt
được nhiều kết quả quan trọng trong việc đưa ra và phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học Việt Nam dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, mỗi công trình còn có những nhận thức và cách đánh giá khác nhau nhưng cũng thống nhất với nhau ở một số các tiêu chí về mặt khái niệm, đặc điểm của đội ngũ trí thức nói chung và trí thức ở các trường đại học Việt Nam nói riêng Như vậy, khái niệm và đặc điểm của đội ngũ trí thức ở các trường đại học bao
Trang 33giờ cũng gắn liền với quá trình biến đổi các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở mỗi quốc gia trong các giai đoạn lịch sử nhất định
Đã có nhiều công trình điều tra, khảo sát đánh giá thực trạng của đội ngũ trí thức Việt Nam nói chung, trí thức trong các trường đại học nói riêng Từ thực trạng của đội ngũ trí thức này, có nhiều công trình đã đề xuất những giải pháp có ý nghĩa, giá trị trong việc hoạch định những chủ trương, chính sách đối với trí thức và trí thức trong các trường đại học giai đoạn tới
Thứ ba, bàn về vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học thì các công
trình đều khẳng định vai trò quan trọng của đội ngũ này đối với sự phát triển của xã hội Vai trò của đội ngũ này thể hiện trên nhiều lĩnh vực như: kinh tế tri thức, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, văn hóa, KH&CN Tuy nhiên, khi bàn đến vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam thì còn rất khiêm tốn, chỉ có một số ít các công trình bước đầu đề cập đến những yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ trí thức ở các trường đại học và khẳng định Việt Nam cần xây dựng một triết lý giáo dục phù hợp với thời đại - là cơ sở định hướng cho trí thức phát triển và trưởng thành cống hiến cho xã hội trước bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống dưới góc độ tiếp cận triết học về đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam, khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ này trong việc đưa giáo dục Việt Nam phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế
Trên cơ sở kế thừa các kết quả trên, với cách tiếp cận và mục đích các công trình theo nhiều góc độ khác nhau, trong đề tài luận án này, tác giả tiếp tục đi sâu làm rõ dưới góc độ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử một số vấn đề sau:
- Luận giải làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vai trò của đội ngũ trí thức
ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam như: Triết lý, triết lý giáo dục, triết lý giáo dục Việt Nam, xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam, đặc điểm của đội ngũ trí thức ở các trường đại học và vai trò của họ trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam
Trang 34- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam; xác định một số vấn đề đặt ra trong quá trình đội ngũ này tham gia xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
- Trên cơ sở lý luận, thực trạng vai trò cũng như xác định một số vấn đề đặt
ra, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ này trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT hiện nay
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Vấn đề triết lý giáo dục và đội ngũ trí thức ở các trường đại học đã và đang được nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ, bình diện, quy mô khác nhau Thông qua việc đánh giá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở hai nhóm nghiên
cứu chính: nghiên cứu về giáo dục và triết lý giáo dục; nghiên cứu về đội ngũ trí
thức ở các trường đại học và vai trò của họ trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam, tác giả đã chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Với đề tài "đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết
lý giáo dục Việt Nam hiện nay", tác giả luận án mong muốn trình bày một cách hệ
thống vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng vai trò, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay
Mặc dù đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề liên quan đến luận
án, nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu, đề xuất một cách có hệ thống về vai trò
của đội ngũ trí thức ở các trường đại học trong việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam hiện nay nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT Với việc chỉ ra một số vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu, có thể khẳng định luận án đã xác định được hướng nghiên cứu riêng, không trùng lặp với bất kì công trình nào trước đây Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luận án này chúng tôi có kế thừa những kết quả nghiên cứu của những người đi trước
Trang 35Chương 2 ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG VIỆC XÂY DỰNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 "TRIẾT LÝ GIÁO DỤC" VÀ XÂY DỰNG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM
2.1.1 Quan niệm và cơ sở lý luận, thực tiễn của "triết lý giáo dục"
2.1.1.1 Quan niệm về "triết lý giáo dục"
* Quan niệm về triết lý
Những hành vi, hoạt động của con người thường xuất phát từ "triết lý sống" của họ (kể cả từ ở mức độ "tư duy kinh nghiệm" đến "tư duy lí luận") Bởi mỗi một người có triết lý sống riêng, không giống nhau Mọi quyết định, cử chỉ, hành vi biểu hiện ra bên ngoài là những hiện tượng thể hiện sự khác biệt bản chất triết lý sống của
họ Mỗi một xã hội đều theo đuổi một triết lý phát triển riêng của mình trên cơ sở của tồn tại xã hội đó Một hệ thống giáo dục hay một nhà trường cho đến cả một nền giáo dục quốc gia nào đó cũng cần xây dựng và hoạt động theo triết lý nhất định, phù hợp
Từ khi ra đời cho đến nay, với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, triết lý tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa
và giáo dục Sự phát triển của xã hội loài người là nền tảng cho triết học phát triển, triết học cũng góp phần hoàn thiện quan niệm của con người, trong đó có quan niệm của con người về giáo dục và quá trình giáo dục Sự tác động đó không chỉ bằng những nguyên lý, quy luật, phạm trù, hệ tư tưởng mà còn là những quan niệm mang tính định hướng, chỉ đạo mọi hoạt động giáo dục như mục tiêu, phương châm, nội dung, phương pháp, chủ thể, khách thể giáo dục Đó chính là triết lý giáo dục
Trong hệ ngôn ngữ Latinh ở Hy Lạp, triết lý xuất phát từ "Philosophy" (có nghĩa là "yêu mến sự thông thái") Trong Đại cương triết học Trung Quốc thì "Bản căn tối sơ là "mật" nghĩa là lý, - cái nguồn gốc của "dụng", cái "hư không không có dấu vết" nhưng "ở đó muôn tượng đã đầy đủ cả", từ khi vạn vật còn chưa sinh" [14, tr 214]
"Lý là bản căn của vật, cho nên "mọi vật trong thiên hạ chẳng có vật nào là không
Trang 36có lý" [14, tr 217] Đôi khi, ở Trung Quốc sử dụng thuật ngữ "Triết lý" để chỉ một vấn đề rất lớn có tầm cỡ quốc gia, có khi chỉ những vấn đề rất đời thường, cụ thể như "Triết lý ẩm thực" Trong Từ điển tiếng Trung Quốc (1978) định nghĩa: Triết lý
là nguyên lý về vật thể và nhân sinh
Trong Từ điển Việt - Anh, có phân biệt Triết học là philosophy (the study) với Triết lý là philosophy (of a man or religion), triết lý còn dùng như một động từ -
to philosophize [110, tr 610]
Trong Từ điển Tiếng Việt: "Triết" là sáng suốt, "Lý" là lẽ, "Triết lý" là lý luận
về Triết học (Nguyễn Lân, 2006) Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ (2007): Triết lý là cái lý sâu xa phải vậy của mọi sự vật, mọi lý do, mọi nguyên tắc trên đời
Như vậy, triết lý là những quan điểm, mệnh đề rút ra từ thực tiễn nhằm chỉ đạo, định hướng hoạt động cho một số người, một nhóm người, đôi khi là cả một giai cấp, dân tộc Chẳng hạn như triết lý "tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng - trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của ta trước đây" Đúng như tác giả Lê Văn Lực quan niệm: "Triết lý là những quan niệm chung về những vấn đề nhân sinh
và xã hội để giúp con người có phong cách tư duy, vận dụng tư duy để nhận thức về hoạt động sản xuất và sinh hoạt" [63, tr 20] Tác giả Phạm Xuân Nam cũng khẳng định: "Triết lý có thể là những kết luận rút ra từ một triết thuyết hay một học thuyết nào đó… là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những quan điểm, luận điểm, phương châm cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống… có vai trò định hướng…" [77, tr 16] Đúng vậy, "triết lý" được hiểu là những tư tưởng, quan niệm, quan điểm mang tính khái quát cao được phản ánh dưới dạng một quan điểm, mệnh đề và được sử dụng trong đời sống xã hội với tư cách là những định hướng cho hoạt động của con người về mặt thế giới quan, phương pháp luận hoặc nhân sinh quan Nhưng "triết lý" phân biệt với "triết học", người ta không thể gọi một quan niệm dân gian, một câu thành ngữ như "Không thầy đố mày làm nên", "Tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại", "Tiên học lễ hậu học văn", "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"… là "triết học", mặc dù những thành ngữ, tục ngữ đó cũng hàm chứa tư tưởng về nhân sinh quan, thế giới quan không kém phần sâu sắc, cho đến nay vẫn còn nhiều giá trị Những tư tưởng chứa
Trang 37đựng trong các thành ngữ, tục ngữ đó hoặc những khái quát tương tự như vậy được
gọi là "triết lý" chứ không phải là "triết học"
Bàn về "triết lý" phân biệt với "triết học", tác giả Hồ Sĩ Quý có bài viết khá sâu sắc trên tạp chí triết học như sau: "Triết lý ở trình độ thấp hơn triết học về tính
hệ thống, độ toàn vẹn và khả năng nhất quán trong việc giải quyết vấn đề mối quan
hệ giữa tồn tại và tư duy…" [93, tr 58] Liên quan đến vấn đề này, tác giả Phạm Xuân Nam cho rằng:
Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học ( ) nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học Bởi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định, người
ta có thể rút ra những triết lý về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng nào đó tin theo [76, tr 23-24] Chúng tôi đồng ý với quan điểm của các tác giả cho rằng bàn đến triết học
là bàn đến tính hệ thống của nó bao gồm những tư tưởng, quan điểm, quan niệm,
khái quát được bản chất các sự vật, hiện tượng, các quy luật, tính quy luật…, các mối quan hệ tự nhiên và xã hội Không hoặc chưa thể gọi là triết học nếu những tư tưởng, quan điểm, quan niệm, đó chưa đạt tới trình độ tồn tại trong một cấu trúc
hệ thống nhất định Đặc biệt là các tư tưởng, quan niệm, quan điểm, trường phái
triết học nào đó bao giờ cũng đạt tới trình độ của những hệ thống cấu trúc logic chặt
chẽ, cụ thể như triết học Cổ điển Đức, triết học Kant về "vật tự nó", triết học Mác -
Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tuy nhiên, trên thực tế ở một văn cảnh nhất định người ta có thể phân tích các hệ thống triết học này dưới dạng những tư tưởng riêng rẽ, quan niệm cụ thể về một lĩnh vực nhất định
Tuy nhiên, tác giả cho rằng, cả triết lý và triết học đều có khả năng chứa đựng mâu thuẫn và xem xét trong sự thống nhất hay tính chỉnh thể của nó Bởi triết
lý và triết học đều là những quan điểm có tính trừu tượng cao, song triết lý với tư cách là quan điểm, tư tưởng cô đọng, khúc chiết, là phương châm hành động cho hoạt động của con người
Đôi khi, các triết lý nằm ngoài sự chi phối của một hệ thống thế giới quan, trong một số trường hợp còn là nguyên nhân trở thành cục bộ và phiến diện khi ứng
Trang 38dụng mà không xem xét các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Chẳng hạn, triết lý "tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại" là một triết lý trong gia đình, khi vận dụng rộng ra ngoài xã hội nếu áp dụng máy móc sẽ dẫn tới bệnh phô trương, cục bộ, hình thức, không chịu nhận khuyết điểm, sửa chữa, dẫn đến hình thành một xã hội "lừa dối", quan hệ người với người là quan hệ không trung thực Do đó, việc sử dụng triết lý là phải hiểu các khái niệm của triết lý theo quan niệm nào lại do các yếu tố nằm ngoài triết
lý quy định Vì vậy, việc triển khai và ứng dụng hiệu quả của các triết lý cần phải xem xét trên cơ sở hai yếu tố chủ quan và khách quan
Theo quan điểm của tác giả, triết lý được hiểu là những quan điểm, quan niệm
được khái quát, đúc kết từ những kinh nghiệm thực tiễn, yêu cầu phát triển xã hội nhằm định hướng, chỉ đạo suy nghĩ và hành động của con người theo một mục tiêu, nhu cầu, lợi ích… nào đó
Vì vậy, triết lý với triết học giống nhau đều có từ "triết" tức là "thông thái, hiểu biết" và khái quát cao; đều chỉ những mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quy định, ràng buộc, ảnh hưởng lẫn nhau
Triết lý phân biệt với triết học ở những đặc trưng:
Một là, triết lý là những tư tưởng, quan điểm về một vấn đề nào đó, là cái
tinh tế nhất nhưng ở cấp độ thấp hơn triết học về tính hệ thống, độ toàn vẹn, logic
của các khái niệm, phạm trù, qui luật, tính quy luật
Hai là, "triết lý" thường xuyên được sử dụng với tư cách là danh từ, động
từ, tính từ, thường là quan điểm, quan niệm Còn "triết học" thường được sử dụng với tư cách là một ngành khoa học nghiên cứu cơ bản hệ thống bao gồm những
phạm trù, khái niệm, qui luật, tính qui luật và những trường phái khác nhau
Ba là, triết lý có thể được hiểu là sự kết tinh bởi những mệnh đề được rút ra
(hay là những nguyên tắc chỉ đạo) sau khi nghiên cứu một hệ thống lý luận hay từ kinh nghiệm thực tiễn có tính khái quát, nhưng chưa đạt tính quy luật, phổ quát như triết học
* Quan niệm về giáo dục
Cho đến nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về giáo dục, có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, định nghĩa khác nhau về khái niệm này Trong Từ điển Tiếng
Trang 39Việt (1967) định nghĩa: "Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch nhằm truyền cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên và xã hội và về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội" [100, tr 440]
Như vậy, giáo dục (theo nghĩa rộng) được hiểu là quá trình hình thành nhân cách được tổ chức một cách có ý thức, mục đích, thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp cho người được giáo dục chiếm lĩnh những tri thức xã hội của loài người để cải tạo thế giới Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình sư phạm nhằm hình thành những
cơ sở khoa học, thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, tình cảm, động cơ, thái độ, hành
vi, thói quen, cư xử đúng đắn trong xã hội
Giáo dục đóng vai trò quan trọng, là cơ sở nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội Bất kì nền giáo dục nào cũng đã và đang có triết lý giáo dục của mình Chỉ có điều là triết lý đó có phù hợp với nhu cầu của thời đại không, đã được gọi tên chưa Nếu chưa phù hợp, chưa gọi tên, chưa chính thức công bố thì phải xây dựng và hoàn thiện Và để xây dựng triết lý giáo dục, cần xác định rõ những vấn đề cơ bản: Con người là gì? Xã hội muốn tạo ra những con người như thế nào? Và làm thế nào để
tạo ra những con người đó? Triết lý giáo dục có khác với triết học giáo dục không?
* Quan niệm về triết lý giáo dục
Muốn làm rõ khái niệm "triết lý giáo dục", phải phân biệt với khái niệm "triết
học giáo dục" Nhà nghiên cứu Phạm Khiêm Ích đã bàn về sự khác biệt giữa hai khái
niệm "triết lý giáo dục" và "triết học giáo dục" được viết trên Tạp chí Tia sáng; Nguyễn
Anh Tuấn cũng có bài viết bàn về sự khác biệt này, tác giả đã viết: "Triết lý giáo dục nằm trong triết lý phát triển của đất nước, là một bộ phận cấu thành nên triết lý phát triển của đất nước Không thể đặt triết lý giáo dục nằm ngoài triết lý phát triển Triết lý phát triển chính là định hướng cao nhất để triết lý giáo dục phải theo" [113, tr 431] Muốn xây dựng triết lý giáo dục phải đặt trong triết lý phát triển của đất nước đó, dựa trên những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong những giai đoạn lịch sử
cụ thể để xác định mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục cho phù hợp
Như vậy, có nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau nhưng cơ bản đều thống nhất là không phải từ xưa đến nay chúng ta không có triết lý giáo dục, mà ở mỗi
Trang 40thời đại đã có một triết lý giáo dục phù hợp, vì không có một triết lý giáo dục phù hợp thì xã hội không thể tiến lên được Mọi triết lý giáo dục đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là tạo ra con người với những phẩm chất và năng lực nhằm đáp ứng sự phát triển xã hội Tác giả cũng đồng tình với quan điểm của Phạm Khiêm Ích và Nguyễn Anh Tuấn cho rằng triết học giáo dục là một môn khoa học chuyên ngành
của triết học, giống như các môn triết học xã hội, triết học chính trị…, còn triết lý
giáo dục là khái niệm hoàn toàn khác, đó là tư tưởng cốt lõi của giáo dục, là một hệ quan điểm về giáo dục, là một hệ tín niệm về giáo dục, sự kết tinh của triết học giáo dục hay là "kim chỉ nam" cho giáo dục, là phương châm chỉ đạo mọi hoạt động của giáo dục
Tóm lại, theo tác giả, triết lý giáo dục là toàn bộ những quan điểm cốt lõi,
nguyên tắc cơ bản, phương châm hành động nhằm định hướng, chỉ đạo việc tổ chức
và vận hành hệ thống giáo dục của đất nước trên cơ sở những điều kiện lịch sử cụ
thể nhất định của xã hội
Triết lý giáo dục là những quan điểm phản ánh những vấn đề của giáo dục
thông qua con đường trải nghiệm từ cuộc sống để chỉ đạo suy nghĩ và là phương châm hành động của con người về các vấn đề giáo dục
Còn, triết học giáo dục là một môn khoa học nghiên cứu và vận dụng các
phương pháp triết học để giải quyết các vấn đề về giáo dục, là những nguyên tắc phương pháp luận chủ yếu và chung nhất làm cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học
và cải tạo thực tiễn giáo dục Triết học giáo dục có vai trò không thể thiếu trong việc xây dựng triết lý giáo dục Đối tượng nghiên cứu của triết học giáo dục là giáo dục Nhưng không phải là giáo dục nói chung, mà là GD&ĐT theo định hướng của triết lý giáo dục
Như vậy, theo tác giả, "triết lý giáo dục" và "triết học giáo dục" gần đồng
nghĩa về đối tượng tiếp cận, nhưng khác nhau ở phương thức khái quát và vận dụng
vào thực tiễn "Triết học giáo dục" với tư cách là môn khoa học triết học, lấy giáo
dục làm đối tượng nghiên cứu, và sử dụng bộ máy khái niệm, phạm trù, quy luật và phương pháp của triết học để lý giải, phát hiện những mối liên hệ bản chất, bên trong của giáo dục, cũng như mối quan hệ của giáo dục với đời sống xã hội; trên cơ