Những triết lý này không chỉ có tầm ảnh hưởng ở Mỹ, mà còn nhận được nhiều sự quan tâm của các nền giáo dục khác trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kì, Mêhicô, Liên bang Nga
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ XUÂN SANG
TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY
TRONG TÁC PHẨM “DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC"
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ XUÂN SANG
TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY
TRONG TÁC PHẨM “DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC"
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Trang 3MỤC LỤC
TRANG
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Chương 1 JOHN DEWEY VÀ TÁC PHẨM “DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC” 1.1 Vài nét sơ lược về J.Dewey 10
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của John Dewey 10
1.1.2 John Dewey – Người khởi xướng Chủ nghĩa thực dụng trong giáo dục 15 1.2 Khái quát về tác phẩm Dân chủ và Giáo dục (Democracy and Education) 22
1.2.1 Sự ra đời và kết cấu tác phẩm Dân chủ và Giáo dục 22
1.2.2 Dân chủ và ngành sư phạm 26
Chương 2 TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY TRONG TÁC PHẨM DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO GIÁO DỤC VIỆT NAM 31
2.1 Thực chất triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm Dân chủ và Giáo dục 31
2.1.1 Chủ nghĩa kinh nghiệm và phương pháp lấy người học làm trung tâm 33 2.1.2 Chủ nghĩa kinh nghiệm trong nhận thức luận 44
2.1.3 Giá trị luận 51
2.2 Triết lý giáo dục của John Dewey và những vấn đề đặt ra cho giáo dục Việt Nam hiện nay … ……… 58
2.2.1 Vài nét tương đồng về triết lý giáo dục của Việt Nam và triết lý giáo dục của John Dewey 62
2.2.2 Những vấn đề đặt ra đối với giáo dục Việt Nam hiện nay 66
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, giao lưu, hội nhập quốc tế, cải cách giáo dục luôn là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các nước trên toàn thế giới Nó luôn là vấn đề nóng hổi, có khuynh hướng động, biến chuyển không ngừng Mục đích của công cuộc cải cách này nhằm giáo dục và đào tạo con người theo những hệ giá trị và tri thức thức phù hợp với điều kiện mới, giúp con người có thể thích nghi với điều kiện lịch sử, điều kiện xã hội đang biến đổi với tốc độ nhanh đến chóng mặt Quan trọng hơn, nó giúp con người có thể làm chủ được hiện tại, tương lai của chính bản thân mình, từ đó có thể giúp xã hội ổn định, phát triển theo chiều hướng văn minh và tiến bộ hơn
Trong tiến trình hội nhập ấy, tất cả các quốc gia trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đều phải nỗ lực tìm ra những chính sách phù hợp và hiệu quả nhằm xây dựng nền giáo dục của mình để đáp ứng yêu cầu của thời đại, cũng như bắt kịp với sự tiến bộ của các quốc gia khác trên thế giới Riêng đối với Việt Nam thì vấn đề này lại càng trở nên bức thiết Chúng ta tham gia vào quá trình toàn cầu hóa điều đó đồng nghĩa là chúng ta sẽ chấp nhận tham gia cạnh tranh toàn cầu Và, nếu không muốn bị tụt hậu hay thất bại trong cuộc hội nhập này thì cũng như các nước khác, Việt Nam phải chuẩn bị cho mình những điều kiện tiên quyết Đó là: đào tạo con người có học thức, có kỹ năng tư duy độc lập, sáng tạo và có phong cách làm việc năng động, hiện đại… để đảm bảo cho bước đầu hội nhập thành công Vai trò của giáo dục được đẩy lên thành ngọn đuốc soi đường Tuy nhiên, thực tế lại cho ta thấy rằng, được coi là người dẫn đường nhưng giáo dục nước ta thực sự chưa làm được điều đó, vẫn như đứa trẻ con bị cuốn theo những trò chơi mới, mạo hiểm, đầy cạm bẫy của kinh tế thị trường Chúng ta đang cố gắng tìm một hướng đi hiệu quả hơn cho nền giáo dục
Trang 5nước nhà – một nền giáo dục đang phải đối mặt với nhiều vấn đề đáng lo ngại - không chỉ thể hiện ở những hiện tượng tiêu cực mà quan trọng hơn là ở việc nhận ra sự thiếu thích ứng với những biến đổi to lớn của nền kinh tế - xã hội Một nền giáo dục đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập, mang trong mình nhiều chứng bệnh: chạy theo thành tích ảo, chạy theo bằng cấp, chỉ lo đào tạo cái thầy biết hoặc trường muốn chứ không dạy theo cái xã hội cần,… những điều này có thể ảnh hưởng đến tương lai của dân tộc Và nguyên nhân chính là do giáo dục nước ta đang thiếu một định hướng toàn diện, xuyên suốt hay nói cách khác hơn
là thiếu một triết lý phù hợp, nhất quán Hiện tại, Việt Nam đang cố gắng nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra một bước chuyển mới phù hợp với thực trạng giáo dục hiện nay Đây là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn, để làm được điều này thì việc tìm hiểu, tham khảo, học hỏi những bài học kinh nghiệm cả về lý thuyết lẫn thực tiễn của các nền giáo dục tiên tiến khác là điều nên làm Chúng ta đã và vẫn đang nói nhiều về thế giới phẳng, phẳng cho cả nền công nghệ hiện đại lẫn miền ứng dụng của nó Nó không còn biên giới cho những thách thức, rủi ro nhưng cũng không vì thế mà hiếm cơ hội Toàn cầu hóa còn mang cho giáo dục nói riêng nhiều cơ hội và vô số bài học bổ ích Phong trào giáo dục tiến bộ của thế giới cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là một điển hình và John Dewey – người khởi xướng phong trào Tân giáo dục ở Mỹ lại là một đại biểu đại diện tiêu biểu cho phong trào này Khi John Dewey khởi xướng ở Mỹ, phong trào giáo dục tiến bộ được đặt tên là “Hiệp hội Giáo dục Tích cực” – Progresstive Education Association - được thành lập vào năm 1919 Sau khi chương trình này trải rộng
ra khắp thế giới thì được đổi tên thành “Hiệp hội giáo dục thế giới” (World Education Fellowship)
Tư tưởng giáo dục tiến bộ của John Dewey được thể hiện khá đầy đủ và sâu sắc trong các công trình nghiên cứu của ông, trong đó phải kể đến tác phẩm
Dân chủ và Giáo dục Các vấn đề về chương trình sinh hoạt lớp học, bài tập
Trang 6sáng tạo, bài đọc thực tế, chương trình sinh hoạt liên quan đến xã hội, tổ chức lớp học linh động, học tập qua sinh hoạt nghệ thuật, khám phá ra nhiều phương pháp học tập mới, học sinh tự kiểm tra, đánh giá, phê bình và nhận xét, nhiều chương trình phát triển trách nhiệm công dân được thực hiện,… được Dewey phân tích khá tinh tế với triết lý giáo dục sâu sắc của mình Những triết lý này không chỉ có tầm ảnh hưởng ở Mỹ, mà còn nhận được nhiều sự quan tâm của các nền giáo dục khác trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kì, Mêhicô, Liên bang Nga…
Thiết nghĩ, tìm hiểu tư tưởng giáo dục của John Dewey - đại biểu của Chủ nghĩa Thực dụng Mỹ, một nhà tư tưởng lớn về triết học giáo dục sẽ giúp chúng ta tiếp cận với những vấn đề mới nhằm hướng đến việc xây dựng một triết lý mới, một định hướng mới hiệu quả hơn cho giáo dục Việt Nam Đó cũng chính là lý
do tác giả luận văn chọn đề tài “Triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm
Dân chủ và Giáo dục”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu triết học giáo dục là một vấn đề cần thiết và quan trọng, song là vấn đề khó đối với Việt Nam, vì nó không chỉ là vấn đề mới mẻ, còn
bỏ ngỏ trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận ở Việt Nam đồng thời còn là vấn đề trừu tượng, phức tạp Nghiên cứu về triết học giáo dục ở Việt Nam vẫn còn đang ở mức độ tìm tòi ban đầu Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về
triết học giáo dục Việt Nam như: Thái Duy Tuyên với cuốn Triết học giáo dục Việt Nam (Nxb Đại học sư phạm, TP.HCM, 2007); Đặng Thành Hưng với bài viết Một cách hiểu về triết học giáo dục (Tạp chí giáo dục số 14, tháng 11,
năm 2006) …
Trong cuốn Triết học giáo dục Việt Nam tác giả Thái Duy Tuyên đã trình
bày một số định nghĩa, đối tượng, các khái niệm và phạm trù cơ bản, phương
Trang 7pháp nghiên cứu của triết học giáo dục và trả lời cho câu hỏi Việt Nam có triết học giáo dục không? Đồng thời, ông đi sâu nghiên cứu triết học giáo dục của Việt Nam qua các thời kì (từ thời phong kiến đến nay) và đặt ra một số vấn đề cấp thiết đối với giáo dục Việt Nam hiện nay Đặc biệt hơn, trong tác phẩm của mình, GS.,TSKH Thái Duy Tuyên cũng đã có sự quan tâm dành cho Chủ nghĩa thực dụng nói chung và John Dewey nói riêng Ông đã đưa ra nhận định rằng:
“Khi nghiên cứu kinh nghiệm giáo dục nước ngoài, một số nhà giáo dục nước ta
đã nêu ra nguyên tắc của Chủ nghĩa thực dụng Theo chúng tôi, cần phân tích kĩ những kinh nghiệm nước ngoài để học tập những mặt tích cực và vận dụng vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời ngăn chặn những mặt cực đoan, có ảnh hưởng đến phấn đấu, nâng cao chất lượng nhà trường trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [47,38]
Khi nghiên cứu về tư tưởng triết học giáo dục của John Dewey, chúng ta chỉ thấy được vài mục hoặc các phần nhỏ nằm rải rác trong một tác phẩm hay một công trình nghiên cứu Các tư tưởng triết học của ông chưa được các học giả Việt Nam tách riêng để tìm hiểu một cách có hệ thống Về triết học Mỹ và
triết học J.Dewey đáng chú ý có cuốn Triết học Mỹ của Bùi Đăng Duy và Nguyễn Tiến Dũng (Nxb Tổng hợp TP.HCM, 2006); Phạm Minh Lăng - Mấy trào lưu triết học phương Tây (Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984), hay bài viết John Dewey – Giáo dục chính là cuộc sống của Ngô
Tự Lập (Tạp chí Tia Sáng, số 12, 2008)
Cuốn Triết học Mỹ đã dành hẳn một phần ba của chương II - Chủ nghĩa
thực dụng - để nói về John Dewey Hai tác giả đã đi sâu vào phân tích tư tưởng thực dụng, đặc biệt là thuyết công cụ của John Dewey Đồng thời, họ cũng đã khắc họa cho người đọc thấy được toàn vẹn chân dung của John Dewey với tính cách là nhà triết học thực dụng của “chủ nghĩa tự do triệt để”…
Trang 8Tư tưởng giáo dục của J.Dewey được Jean Chanteau phân tích khá sâu
sắc trong cuốn Triết lý giáo dục (do Lê Thanh Hoàng Dân và Trần Hữu Đức
dịch, Nxb Trẻ, Sài gòn, 1971) Ông đã làm rõ quan điểm của J.Dewey về mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục, mối liên hệ giữa giáo dục và chính trị,
ý nghĩa của tư tưởng giáo dục J.Dewey với nền giáo dục tại Mỹ và một số nước khác trên thế giới
Mối quan tâm của các nền giáo dục trên thế giới đối với tư tưởng giáo dục của John Dewey là rất lớn, các tác phẩm của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, trong đó có một số quyển đã được một số nhà nghiên cứu và
dịch giả dịch sang tiếng Việt Chẳng hạn như quyển Nhà trường và xã hội (Nxb Lao động, Hà Nội, 1977), quyển Democracy and Education (Boston, 1916), vừa được dịch ra tiếng Việt là Dân chủ và giáo dục (dịch giả: Phạm Anh Tuấn,
Nxb Tri thức, 2008) Tuy ra đời từ rất lâu nhưng tư tưởng của tác phẩm vẫn mang hơi thở của thời đại Trong tác phẩm này, các vấn đề liên quan đến giáo dục được đặt ra và luận bàn dưới ngòi bút rất sắc bén của một nhà tư tưởng rất tâm huyết với việc thay đổi, cải tổ giáo dục theo lối tư duy mới, hướng tới một nền giáo dục hiện đại, tiến bộ, gắn với tự do, dân chủ Có thể nói, thông qua tác
phẩm Dân chủ và giáo dục, John Dewey đã xây dựng một triết lý mới về giáo
dục
Trang 9Ngoài ra, trên các trang web về giáo dục ta có thể tìm thấy rất nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu về John Dewey như "Application of Dewey's Complete Act of Thought to Teaching in Nigerian Philosophy of Education"
(International Journal of African and African American Studies; Vol.1, No.3, 2005) của tác giả Tony Aladejana Tương tự, có thể tìm hiểu hàng loạt bài viết của John Dewey về giáo dục trên các trang:
Tác phẩm Dân chủ và Giáo dục cùng nhiều công trình khác của John
Dewey cũng như các nguồn tài liệu đã kể trên đã giúp cho tác giả luận văn nắm được cơ bản tình hình nghiên cứu vấn đề mà tác giả quan tâm Qua đó có thể so sánh, đối chiếu để triển khai nghiên cứu về triết lý giáo dục của John Dewey một cách toàn diện hơn và có hệ thống hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn
Làm sáng tỏ nội dung thực chất triết lý giáo dục của John Dewey trong
tác phẩm Dân chủ và Giáo dục Từ đó rút ra một số vấn đề và kinh nghiệm đối
với việc phát triển giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái quát cuộc đời, sự nghiệp của John Dewey - khắc họa rõ nét chân dung của một người khởi xướng chủ nghĩa thực dụng trong giáo dục
Trang 10Thứ hai, giới thiệu về tác phẩm “Dân chủ và Giáo dục” và những nội
dung cơ bản của nó
Thứ ba, làm sáng tỏ quan niệm về triết lý giáo dục của John Dewey,
những quan điểm về nhận thức luận và giá trị luận trong triết lý giáo dục của
John Dewey
Thứ tư, đi tìm thực chất triết lý giáo dục đang tồn tại ở Việt Nam, sự cần
thiết phải định hình một xu hướng phát triển mới cho giáo dục nước nhà trên cơ
sở tham khảo tư tưởng và hệ thống triết học giáo dục của một số nền giáo dục
lớn, cũng như tư tưởng của một số nhà triết học giáo dục trên thế giới mà John
Dewey là một đại diện
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ triết học Thực dụng với đầy đủ tư
tưởng của các tác giả và tư tưởng của Chủ nghĩa Thực dụng, đồng thời cũng
không nghiên cứu toàn bộ tư tưởng triết học của John Dewey mà chỉ tập trung
nghiên cứu triết lý giáo dục của đại biểu này trong tác phẩm: Dân chủ và Giáo
dục Trên cơ sở đó, tác giả rút ra một số vấn đề cụ thể nhằm cung cấp thêm tư
liệu phục vụ việc hoàn thiện, phát triển nền giáo dục của Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những
quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Bên cạnh đó, luận
văn còn kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp, phương pháp liệt kê, đối chiếu, so sánh
Trang 11Luận văn có tham khảo các công trình khoa học của các tác giả nước ngoài đặc biệt là các tư liệu khi nghiên cứu nền giáo dục Mỹ cũng như các nước khác dưới sự ảnh hưởng, tác động của triết học giáo dục John Dewey
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Qua việc giải quyết các nhiệm vụ đã nêu ra, luận văn làm nổi bật lối tư duy toàn diện trong giáo dục của John Dewey, những quan điểm rất tiến bộ, hiện đại Khắc họa rõ nét chân dung của người khởi xướng Chủ nghĩa thực dụng trong giáo dục Từ những quan niệm về vị trí, vai trò của giáo dục, mục đích của giáo dục, nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy,…đến những tư tưởng cải cách mang tính cách mạng về quá trình dân chủ trong giáo dục, quá trình gắn học với hành, rèn luyện tư duy phản biện cho người học cũng như đưa ra
mô hình trường học mẫu về mối quan hệ giữa trường học với xã hội bên ngoài,…Trên cơ sở đó có thể giúp các nhà hoạch định chính sách tham khảo và chọn ra những yếu tố phù hợp với quan điểm đổi mới giáo dục Việt Nam, trên hết là có những yếu tố tương thích để vận dụng vào việc cải tổ, khắc phục những điểm hạn chế từ thực trạng giáo dục Việt Nam, góp phần vào công cuộc xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục hiện tại
Đề tài luận văn “Triết lý giáo dục của John Dewey trong tác phẩm Dân chủ và Giáo dục” có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo dành cho sinh
viên chuyên ngành triết học, giáo dục học và những người quan tâm đến triết học cũng như về giáo dục học
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được kết cấu thành hai chương, bốn tiết
Trang 12Chương 1 JOHN DEWEY VÀ TÁC PHẨM “DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC”
1.1 VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ JOHN DEWEY
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp của John Dewey
John Dewey sinh ngày 20 tháng 10 năm 1859 tại thành phố Burlington, Vermont ( mất ngày 1 tháng 6 năm 1952) Bố của ông – Ông Archibald Sprague rất thành công trong việc bán hàng tạp hóa, và mẹ ông là tín đồ của đạo Cơ đốc Trong cuộc sống, nhiều khi những phát kiến vĩ đại lại là sự kết hợp hoàn hảo của những cái hoàn toàn ngẫu nhiên, lúc ông sinh ra cũng là lúc Charles Darwin1 công bố Origin of the Species2 (Nguồn gốc muôn loài)
và sau này, khoảng từ năm 1910 trở đi, những trang viết của J.Dewey đã thực
sự bị ảnh hưởng nếu không muốn dùng từ “nhuốm màu” bởi thuyết này của
1 Charles Robert Darwin (1809 – 1882), là một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tự nhiên học người Anh Ông là người đã phát hiện và chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên Lý thuyết chọn lọc của ông trong những năm 1930 đã trở thành nền tảng cho lý thuyết tiến hóa hiện đại
2 “Nguồn Gốc Muôn Loài” (On the Origin of Species, 1859) của Darwin nói rằng tiến hóa qua các thế hệ là do biến dị và điều này cung cấp lời giải thích khoa học cho sự đa dạng trong tự nhiên Ông kiểm định sự tiến hóa của loài người và chọn lọc giới tính trong các cuốn “Dòng dõi của Con người” (The Descent of Man), “Quá trình Chọn lọc Liên quan đến Giới tính” (Selection in Relation to Sex), sau đó là “Biểu lộ Cảm xúc ở Con người
và Loài vật” (The Expression of Emotions in Man and Animals)
Trang 13thầy, J.Dewey vào học bậc sau đại học ở Đại học John Hopkins3 Đến năm 1882,
Ông gửi đến tạp chí The Metaphysical Assumptions of Materialism (Tập san triết học Tư biện) những bài viết đầu tay của mình, Cái siêu hình giả định của vật chất và Thuyết phiếm thần của Spinoza – không còn gì tuyệt hơn là cả hai
bài đã được đăng ở đây
Trong quá trình làm nghiên cứu sinh, ông gặp thêm hai giáo sư, một người hướng dẫn về triết học là giáo sư George Sysvester Morris4 đã lý tưởng hóa thuyết Hegel5 mới, và người thứ hai là Giáo sư G.Stanley Hall6 – nhà tâm
lý học thực nghiệm xuất sắc ở Mỹ Ngoài ra, trong giai đoạn làm nghiên cứu sinh này, J.Dewey cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng triết học của C.Peirce7
từ các bài giảng và các vấn đề về lôgíc học Đến năm 1884 ông đã lấy bằng tiến
sĩ với luận văn tiến sĩ có tựa đề Tâm lý học của Kant
Sau khi lấy bằng tiến sĩ, J.Dewey được thầy G.S Morris giới thiệu đến giảng triết học tại đại học Michigan Trong thời gian này, J.Dewey tiếp tục nghiên cứu cùng với giáo sư G.S Morris về Chủ nghĩa Hegel Quan điểm triết học của J.Dewey, về cơ bản, gần với chủ nghĩa Hegel mới, song cũng đã bắt đầu hình thành những tư tưởng thực dụng Và đặc biệt, trong thời gian ở đại học Michican ông đã có hai quyển sách đầu tiên trong sự nghiệp của mình, đó là
quyển Psychology (Tâm lý học) và Leibniz
Đến năm 1886 - năm có thể coi là bước ngoặt và bước chuyển trong cuộc đời và sư nghiệp của Ông Ông đã kết hôn cùng Alice Chipman, một sinh viên
cũ của ông và người được nhận định Alice là nguyên nhân làm cho J.Dewey
3 Trường đi tiên phong trong giáo dục sau đại học theo mô hình Đức ở Mỹ
4 Một cây đại thụ trong việc nghiên cứu tư tưởng của Hegel
5 Georg Wilhelm Friedrich Hegel (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm khách quan, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức, người xây dựng nên phép biện chứng duy tâm Triết học của Hêghen là đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm Đức cuối thế kỉ 18 - đầu thế kỉ 19
6 Chủ tịch của “American Psychological Association” (Hiệp hội tâm lý học Mỹ)
7 Charles Sanders Peirce (1839 – 1914) là nhà triết học, lôgíc học, toán học và tự nhiên học Nhưng trên hết,
ông còn được thừa nhận là người sáng lập chủ nghĩa thực dụng Mỹ
Trang 14chuyển sang quan tâm hơn đến mặt thực hành của triết học vào cuối thập kỷ 80
của thế kỷ XIX Ông chuyển hướng quan tâm của mình sang giáo dục “Ông đã nói rằng, vợ ông là người đã đưa cả “phần hồn và phần xác” vào công việc của ông và trên thực tế, bà là người có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng sư phạm của ông” [49,206]
Từ 1890, Ông làm quen với James Heyden Tufts, nhà triết học thực dụng đang có tầm ảnh hưởng lớn tại Mỹ - người sau này đã cùng Dewey viết cuốn Ethics (Đạo đức), chịu ảnh hưởng từ tư tưởng thực dụng của W.James –
“cash value”, tức một ý tưởng phải thực tế và hữu dụng, nếu không giá trị chân lý của nó sẽ bị phủ nhận, J.Dewey dần chuyển từ chủ nghĩa lý tưởng tuyệt đối của phái Hegel mới sang chủ nghĩa thực dụng Và đồng thời ông cũng chuyển sang chủ nghĩa tự nhiên kinh nghiệm dưới sự ảnh hưởng học thuyết tiến hóa sinh học của Darwin J.Dewey bắt đầu xây dựng và phát triển
lý thuyết về nhận thức luận bỏ qua sự đối lập giữa vật chất và ý thức, tư duy
và hành động, nói chung là liên quan đến vấn đề cơ bản của triết học trong triết học truyền thống của phương Tây
Từ 1894, J.Dewey cùng với James Heyden Tufts gia nhập đại học Chicago vừa mới ra đời Ở đây, ông giảng dạy triết học và được bổ nhiệm làm Trưởng khoa Triết – Tâm lý học – Sư phạm Trong thời gian ở đại học này, J.Dewey đã đề xuất những tư tưởng cơ bản của thuyết công cụ - hay còn gọi là thuyết thực nghiệm (Intrumentalism) rất nổi tiếng - thuyết này được hiểu như là những công cụ trí tuệ, không phải là bản thân chân lý và chúng được lý trí vận dụng để giải quyết hiệu quả các vấn đề cụ thể do thực tiễn cuộc sống đặt ra Đồng thời, xem nó như những nguyên lý, khái niệm thực dụng làm nền tảng
cho học thuyết về giáo dục thực dụng và đã bắt đầu hình dung ra mô hình
trường học phù hợp với những nguyên lý đó Ông từ bỏ chủ nghĩa duy tâm và
Trang 15chuyển hẳn sang chủ nghĩa thực dụng Không dừng lại ở đó, Dewey đã phát triển tư tưởng của W.James - nếu không muốn nói là vượt qua Jame ở chỗ coi các ý tưởng cũng là những dụng cụ, là phương tiện để tìm ra cách giải quyết
vấn đề Sự vượt qua đó được đề cập trong bốn tiểu luận có tên là Tư duy và nội dung của tư duy, các tiểu luận này được tập hợp lại và cùng với các bài khác của các đồng nghiệp nó được xuất bản với tựa đề chung là Studies in Logical Theory (Các nghiên cứu về lý luận logic) vào năm 1903 Trong thời kỳ này, ông
bắt đầu quan tâm đến triết học giáo dục, cùng với vợ thành lập trường thực
nghiệm giáo dục tại trường đại học Chicago với tên gọi là Chicago Laboratory School of Education (Trường Thực nghiệm giáo dục thuộc Đại học Chicago) do
chính ông làm hiệu trưởng
Hoạt động của Trường Thực nghiệm giáo dục đã cung cấp chất liệu để J.Dewey viết nên những tác phẩm đầu tiên của mình về giáo dục, trước hết là
quyển Trường học và xã hội (The School and Society, 1899) và kế tiếp là Trẻ
em và chương trình học (1902)
Năm 1904 – cột mốc cho một sự kiện đáng tiếc, trường Chicago laboratory school of Education phải đóng cửa, nguyên nhân là do J Dewey có bất đồng gay gắt với hiệu trưởng Đại học Chicago là William Harper về vấn đề quản lý Ông từ chức ở Đại học Chicago và ngay lập tức được mời về Đại học Columbia, ông giảng dạy và nghiên cứu triết học tại đây cho đến những năm tháng còn lại trong sự nghiệp của mình Tại đây, sự nghiệp của ông cũng khắc họa được điểm nhấn quan trọng trong giáo dục bởi một tác phẩm được cho là thể hiện sâu sắc nhất về những tư tưởng triết học giáo dục đã chín muồi và có
tầm ảnh hưởng sâu rộng của John Dewey, tác phẩm Democracy and Education
(Dân chủ và giáo dục)
Trang 16Sự nổi tiếng của J Dewey với tư cách là một nhà triết học và nhà lý luận giáo dục đã vượt qua khỏi ranh giới của nước Mỹ, tên tuổi của ông đã được nhắc đến nhiều bởi tư tưởng tiến bộ, hiện đại trong lĩnh vực giáo dục Nó không dừng lại ở việc những quyển sách của ông được dịch sang nhiều thứ tiếng mà còn ở chỗ các bài giảng của ông vẫn còn dư âm cho đến tận bây giờ Ông đã sang Nhật Bản giao lưu và thỉnh giảng tại trường đại học Hoàng gia Tokyo, các
bài giảng cũng được in thành sách (cuốn Reconstruction in education – tái cấu trúc giáo dục) Ông cũng đã sang Trung Quốc vào năm 1919 theo lời mời của
một nhóm cựu sinh viên của John Dewey, trong đó có Hồ Thích, một học giả Trung Quốc nổi tiếng, đồng thời cũng là một nhà thực dụng luận Tại Trung Quốc, ông thuyết giảng hàng loạt vấn đề liên quan đến chính trị, triết học và giáo dục Ông đã diễn giải cho các học giả Trung Quốc hiểu chính xác khái niệm dân chủ cũng như cách thức hoạt động, hành xử và sinh sống dân chủ Ngoài ra, ông đã giúp cho người Trung Quốc hiểu được ý nghĩa quan trọng của
tư duy phản biện Một đất nước muốn đào tạo ra những con người thông minh, một đất nước mong muốn xây dựng một nền giáo dục bắt rễ trong tinh thần khoa học và dân chủ Các bài thuyết trình của Dewey đã truyền cảm hứng và cung cấp những ý tưởng cho những trí thức đang mong muốn đưa Trung Quốc tiến lên Các học giả, các sinh viên nói riêng và người Trung Quốc nói chung rất trân trọng triết học giáo dục của ông, thậm chí Hội nghị Giáo dục năm 1922 còn lấy triết học giáo dục của John Dewey làm chủ đề thảo luận chính Ngoài ra, ông còn đi sang nhiều nước khác như Mexico, Liên bang Xô viết cũ… để tìm hiểu, nghiên cứu và giảng bài và tham gia các hoạt động xã hội liên quan đến triết học và xã hội
Trong giai đoạn nghỉ hưu, với sự cố gắng không ngừng nghỉ, ông đã kịp
để lại cho hậu thế những tác phẩm quan trọng như: Theory of Inquiry (Lý luận
về sự thẩm tra– 1938), Art as Experience (Nghệ thuật như là kinh nghiệm –
Trang 171934), Common Faith (Một xác tín chung – 1934), Freedom and culture (tự do
và văn hóa – 1939), Theory of valuation (Lý thuyết giá trị - 1939) …
Ông mất vào ngày 1 tháng 6 năm 1952 tại New York và người đời còn mãi nhắc tên với tư cách là một đại diện tiêu biểu, tiên phong trong việc hoàn thiện Chủ nghĩa thực dụng trong giáo dục và đưa nó vào đời sống thực tiễn của
Mỹ một cách rộng rãi và mang lại nhiều hiệu quả tích cực
Như vậy, có thể nói khái quát rằng trong sự nghiệp của J.Dewey, những
tư tưởng quan trọng của ông được trình bày thông qua những đứa con tinh thần của ông - những tác phẩm gây ảnh hưởng nhất và đa số viết về giáo dục, dân chủ, đạo đức học, tâm lí học….Tác phẩm biểu hiện tập trung tư tưởng của
J.Dewey là Dân chủ và giáo dục (Democracy and education), Trường học và xã hội (The School anh Society, 1899) Ngoài ra, ông còn viết nhiều tác phẩm quan trọng khác, như Cách chúng ta tư duy (How We Think, 1910), Nhân tính
và (cách) ứng xử (Human Nature and Conduct, 1922), Kinh nghiệm và giáo dục
(Experience and Education, 1938)… Trong những tác phẩm này, J.Dewey đều chủ trương xây dựng một nền giáo dục dân chủ gắn lý luận với thực tiễn
1.1.2 John Dewey – Người khởi xướng Chủ nghĩa thực dụng trong giáo dục
Chủ nghĩa thực dụng - “Pragmatism” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là
“Pragma” (πράγµα, danh từ: πράγµατος — «công việc, hành động») có nghĩa
là thứ triết học hướng đến “thực tiễn” hay “hành động” Thực tiễn được hiểu là tiêu chuẩn, thước đo của chân lý, còn hành động là yếu tố dẫn đến hệ quả, hay
còn gọi là nguyên nhân Nhưng, “hiện thực” mà chủ nghĩa thực dụng nói đến
chỉ là hiện thực mà chính bản thân con người đã trải qua, đã xử lý, đã cải tạo, và hoàn toàn mang tính chủ quan Với chủ nghĩa thực dụng thì “niềm tin” được
Trang 18Chủ nghĩa thực dụng ra đời từ "Câu lạc bộ siêu hình" của trường Đại học Harvard (1871), về thực chất chịu ảnh hưởng của các tư tưởng triết học trước đó như: Socrate8, J.Locke9, Bekerley10, D.Hume11, Kant12, Holbach13 và kể cả Nietzsche14, Chủ nghĩa thực dụng chính thức trở thành học thuyết khi
C.Pierce đưa ra tiểu luận: Làm thế nào để tư tưởng của ta sáng sủa và một bài viết: Sự xác định của tính người đăng trên Nguyệt san khoa học phổ thông năm
1878 Ông là người đặt nền móng, là người khởi sự cho Chủ nghĩa thực dụng, khai sinh cho một tư tuởng có tầm ảnh hưởng lớn, sáng lập ra một học thuyết mang tính thời sự và thời đại Công lao lớn nhất của Ông là hệ thống hoá các
8 Socrates (469–399 TCN) là một triết gia Hy Lạp cổ đại, người được mệnh danh là bậc thầy về hùng biện và tranh luận
9 John Locke (1632 – 1704) là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận Ông cũng phát triển lý thuyết về khế ước xã hội, vai trò của nó tới chức năng và nguồn gốc nhà nước
10 George Berkeley (1685 – 1753) hay Giám mục Berkeley, là một nhà triết học người Ai Len Thành tựu triết
học chính của ông là việc đưa ra một học thuyết mà ông gọi là "chủ nghĩa phi vật chất" (immaterialism, sau được gọi là chủ nghĩa duy tâm chủ quan (subjective idealism))
11 David Hume (1711 - 1776) nhà triết học người Scotland, sử gia, nhà kinh tế và được biết đến nhất là người theo chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa hoài nghi triết học Ông được xem là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử triết học phương Tây và triết học khai sáng ở Scotland
12 Immanuel Kant (1724 – 1804), triết gia khai mở cho triết học cổ điển Đức
13 Paul - Henri Holbach: 1723-1789), nhà triết học duy vật Pháp gốc Đức, nhà vô thần, một trong những nhà tư tưởng của giai cấp tư sản cách mạng
14 Friedrich Wilhelm Nietzsche (1844 – 1900) là một nhà triết học người Đức Ông bắt đầu sự nghiệp như là một nhà ngữ văn học, viết nhiều bài phê bình về tôn giáo, đạo đức, các vấn đề văn hóa và triết học đương thời
Trang 19phương pháp và khái quát hoá về lý luận được nêu lên trong “Câu lạc bộ siêu hình” Hai đại biểu nữa của Chủ nghĩa thực dụng là W.James và John Dewey Trong hai đại biểu này thì J.Dewey được nhận xét là “một hậu duệ làm xứng danh gia phong thực dụng” Sau khi phát triển quan điểm của C.Pierce và W.James, J.Dewey kết luận rằng: “… chân lý là một phạm trù đánh giá”, “Nếu
có tư tưởng khoa học nào đó xuyên suốt sự bát nháo của cuộc sống, giúp đỡ con người trong cuộc sống, thì tư tưởng đó là chân lý Nếu tư tưởng có khả năng dẫn tới chỗ bế tắc, gây ra những khó khăn, quấy phá cuộc sống – thì đó là tư tưởng sai lầm”… [23,114] Bất kỳ tư tưởng nào cũng phải được thực tiễn kiểm nghiệm – chứng minh cho một điều rằng uy tín ở đây không là gì cả Lý tính của con người là công cụ chọn lựa cho các tư tưởng và việc vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Ý chí thâm nhập vào tri thức, chỉ đạo tri thức Nó đề ra mục đích, tổ chức kinh nghiệm, lựa chọn phương tiện để tạo ra mục đích cho con người và vì cuộc sống hạnh phúc của con người
Trên thực tế, tư tưởng thực dụng hay “Thuyết công cụ” của J.Dewey được ông phát triển từ kinh nghiệm thông thường và có thể kiểm chứng được bằng kinh nghiệm “Kinh nghiệm” cũng là khái niệm trung tâm trong triết học của J.Dewey, khi ông đưa vào nó tất cả mọi hình thức và biểu hiện của đời sống con người Theo J.Dewey, triết học “xuất hiện không phải từ sự ngạc nhiên trước thế giới như các nhà triết học cổ đại đã nghĩ, mà từ những stress - trạng thái căng thẳng trong đời sống xã hội” [48,156] Do đó, đối với ông, chính việc phân tích, tái tạo và hoàn thiện kinh nghiệm xã hội mới là cái tạo ra mục đích
cơ bản của triết học
Trong quá trình hình thành và phát triển, tên gọi Chủ nghĩa thực dụng mặc dù không được thống nhất nhưng tinh thần chung của chủ thuyết này vẫn được thể hiện (C Pierce gọi là “chủ nghĩa thực dụng”, W James gọi là “Chủ
Trang 20nghĩa thực hiệu”, còn J Dewey thì gọi là “Chủ nghĩa công cụ”) Riêng đối với Dewey, người đã cho cả thế giới biết đến chủ nghĩa thực dụng như là một học thuyết làm nền tảng cho đời sống tinh thần của nước Mỹ thì: “Ý nghĩa thực sự của vấn đề hành động của con người đó là hành động như thế nào cho có lợi cho cuộc sống của tôi, đạt được sự thành công do tôi đề ra” [23,291] Đối với những câu hỏi mang tầm triết học như: Làm thế nào có thể sử dụng trí tuệ sáng tạo để hình thành kinh nghiệm, để thích nghi với điều kiện sống và cải tạo môi trường sống? J.Dewey đã tuyên bố: con đường hiệu quả nhất là sử dụng phương pháp của chủ nghĩa thực dụng
Như vậy, trên tinh thần của chủ nghĩa thực dụng, để mang lại hiệu quả thì những tư tưởng triết học trong lĩnh vực giáo dục phải gắn liền với những hoạt động thực nghiệm J.Dewey đề cao vai trò của nhà trường, ông cho rằng trường học là một trong những hình thức của đời sống xã hội đã được trừu tượng hóa, kiểm soát – một hình thức thử nghiệm trực tiếp; và nếu coi triết học là một khoa học mang tính thử nghiệm, khởi điểm của nó chính là việc xây dựng một ngôi trường, ông nói với vợ: “trong tâm trí anh lâu nay luôn ấp ủ về một ngôi trường – một ngôi trường nơi một hoạt động mang tính xây dựng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng sẽ là trung tâm của tất thảy, từ đây sẽ liên tục phát triển theo hai hướng – một hướng bao hàm những mục tiêu xã hội của hoạt động xây dựng đó, hướng kia là mối quan hệ với nguồn tài nguyên tự nhiên cho hoạt động này Về mặt lý thuyết, anh có thể thấy rõ những thứ như việc bào đẽo trong quá trình xây dựng ngôi nhà lý tưởng sẽ trở thành trung tâm của quá trình huấn luyện cả
về mặt xã hội lẫn khoa học Tất cả sẽ nằm gọn trong khuôn khổ thói quen cơ học của con mắt và bàn tay con người” [49,216] Nhà trường John Dewey đề cập không phải là nơi để người học đến nghe truyền đạt và thâu lượm kiến thức, không phải là nơi chuẩn bị cho cuộc sống mà là môi trường sống của ngày hôm nay Ngay từ lúc mới nhen nhóm tư tưởng của mình, triết học thực dụng của
Trang 21J.Dewey chú ý đến thực tiễn giáo dục, J.Dewey từng thổ lộ với vợ mình:
“Nhiều lúc, anh nghĩ mình sẽ thôi việc trực tiếp giảng dạy tiếp môn triết học và
sẽ dạy nó thông qua khoa sư phạm” [49,109-110] Để tiếp tục cho sự lựa chọn của mình, ông đã tập trung, đi sâu nghiên cứu giáo dục Ông chính là biểu tượng của người khởi xướng chủ nghĩa thực dụng trong giáo dục, và thực tế đã kiểm nghiệm: bản thân ông được coi là nhà triết học - giáo dục học, người khởi xướng trào lưu Tân giáo dục ở Mỹ và châu Âu cuối thế kỷ XIX Tư tưởng thực dụng trong giáo dục của John Dewey thực sự chín muồi, thấm nhuần và ảnh hưởng sâu rộng trong ngành sư phạm khi ông tuyên bố: “Nếu được đề nghị nêu đâu là sự cải cách cấp thiết nhất về ý nghĩa đích thực của giáo dục, tôi sẽ đáp:
“Hãy chấm dứt quan niệm coi giáo dục như là sự chuẩn bị đơn thuần cho cuộc sống tương lai, hãy coi giáo dục như là ý nghĩa đầy đủ của đời sống đang diễn
ra trong hiện tại” [7,12] – “Education is life itself” (Giáo dục chính là cuộc sống) Với tuyên bố mang tính chất “tuyên ngôn” này, ông chủ trương “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, xây dựng một nền giáo dục học tập đi đôi với thực hành Kết quả học tập được đánh giá thông qua tính hiệu quả dựa trên cách
mà học sinh giải quyết vấn đề gặp phải trong thực tế chứ không phải là một mớ
lý thuyết suông vô nghĩa Giáo dục không phải là quá trình truyền đạt kiến thức
và kinh nghiệm cho trẻ em dưới cái nhìn phiến diện: “trẻ em là tờ giấy trắng”, nếu ta cho màu xanh thì nó tiếp nhận màu xanh và tri thức thu được trong quá trình này là màu xanh
Và mọi ấp ủ, nguyện vọng và tư tưởng, lý thuyết của ông được kiểm nghiệm triệt để khi ông về làm tại Đại học Chicago, mở ra trường thực nghiệm, ông đã đưa ra mô hình, đồng thời cũng là chủ trương giáo dục: “trẻ em là trung tâm”, “học đi đôi với thực hành”, “lý thuyết gắn với thực tiễn”, coi trọng việc tiếp cận với đời sống thực tế và chú trọng rèn luyện kỹ năng và tinh thần Chính
mô hình giáo dục này đã khơi dậy sự hứng thú trong học tập cho người học
Trang 22Một bầu không khí học tập cởi mở, kích thích sáng tạo đã được mở ra, nó cách biệt và hầu như loại bỏ hoàn toàn phương pháp học tập theo lối truyền thống – một nền giáo dục mà J.Dewey đã phê phán dẫn đến tranh luận, thậm chí là tranh cãi Nếu như giáo dục truyền thống coi học sinh như tờ giấy trắng thì Dewey bảo không phải Cho đến thời điểm đi học thì trẻ em đã hết sức nhanh nhẹn và nhiệm vụ của giáo dục là nắm bắt những hoạt động của học sinh và định hướng những hoạt động đó, coi như là ta đã có “nguyên liệu thô” và giáo viên là người chỉ dẫn cho học sinh thông qua các hoạt động trong trường học để có được
“những kết quả có giá trị” Và vấn đề càng trở nên gây hấn hơn khi Dewey chọn “lấy trẻ em làm trung tâm” trong khi giáo dục truyền thống thì lấy “nội dung giảng dạy làm trung tâm” Ông cho rằng phương pháp giáo dục truyền thống đã thất bại trong việc gắn kết chương trình học với hứng thú và hoạt động của trẻ em Trên thực tế, hứng thú chính là thái độ đối với những thực nghiệm
có thể xảy ra; chúng không phải là thành quả; giá trị của chúng nằm ở ảnh hưởng mà chúng tạo ra, chứ không phải thành quả chúng thể hiện Ông còn cho rằng chương trình học cần dựa trên những trải nghiệm của con người rồi khuyến khích trẻ thử nghiệm trong các hoạt động của mình Từ đó, học sinh có
cơ hội để trải nghiệm, khám phá bản thân, tiếp thu tri thức, rèn luyện những kỹ năng, góp nhặt kinh nghiệm… từ những hoạt động trong nhà trường trên cơ sở
những kế hoạch đã được vạch sẵn Với tinh thần đó, hai khẩu hiệu: “Giáo dục
là bản thân cuộc sống, chứ không phải chuẩn bị cho đời sống” và “Học gắn với thực hành” mà J.Dewey đưa ra cho trường này đã được khái quát thành phương
pháp dạy học hết sức hiệu quả của ông
Có thể thấy rằng, giáo dục chính là thực tiễn, là bản thân của cuộc sống nên chúng ta không thể áp đặt cách thức truyền đạt cũng như cách thức tiếp nhận từ phía học sinh Nhà trường phải chú trọng đến các yếu tố khác nhau của người học, gắn liền việc truyền đạt kiến thức chặt chẽ với thực hành, không thể
Trang 23tách khỏi hoạt động thực tiễn Vì thế, không thể chấp nhận việc có một kiểu giáo dục chung cho tất cả mọi người
Không chỉ đưa ra mô hình giáo dục, J.Dewey còn nghiên cứu sâu về tâm
lý học giáo dục, trên cơ sở tâm lý học chức năng Ông cho rằng: “tư duy không phải là một loạt những ấn tượng của tri giác, cũng không phải là biểu hiện của tinh thần tuyệt đối, mà là một phương tiện trung gian được phát triển nhằm duy trì những lợi ích sống còn của xã hội và lợi ích của con người Vì thế, cần phải dùng hành động để thử nghiệm ý nghĩ, để biến ý tưởng thành tri thức” [7,112]
Tóm lại, bằng những chủ trương của mình trong giáo dục, J.Dewey đã thực sự cho ta một cái nhìn sơ bộ về phương pháp, cách thức giáo dục mới – giáo dục gắn với thực tiễn, thông qua công cụ là tư tưởng thực dụng Trước hết, chương trình giáo dục phải bắt đầu bằng và được xây dựng theo những lợi ích của trẻ; thứ hai, phải tạo ra và củng cố sự tương tác giữa tư duy và hoạt động thực tiễn trong lớp học của trẻ Thầy giáo phải là người hướng dẫn, là người cộng tác với học sinh thay vì là nỗi ám ảnh của người học – đe dọa làm cho sợ hãi hoặc dựa vào mệnh lệnh để truyền đạt, cộng với việc thường xuyên đưa đến cho học sinh “hàng tá” bài học và bài học thuộc lòng có sẵn… Giáo dục cần phải thực hiện mục tiêu là sự trưởng thành của trẻ em trên mọi phương diện Tất cả những điều này được J.Dewey triển khai sâu hơn, khái quát hơn trong
Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education, 1916) - tác phẩm được chính
ông khẳng định là cuốn sách tổng kết đầy đủ nhất “toàn bộ quan điểm triết học” của mình
Trang 241.2 KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC (DEMOCRACY
AND EDUCATION)
1.2.1 Sự ra đời và kết cấu tác phẩm Dân chủ và Giáo dục
Trong phần lời nói đầu, Ngô Tự Lập đã đưa ra nhận định như sau: “Cuốn sách này là kết quả của một nỗ lực nhằm phát hiện và trình bày những quan niệm gắn với một xã hội dân chủ, và vận dụng các quan niêm đó vào những vấn
đề của hoạt động giáo dục Cuốn sách chỉ rõ những mục tiêu và phương pháp kiến tạo của nền giáo dục công lập xét từ quan điểm nói trên, và đưa ra đánh giá
có tính phê phán các lý luận và nhận thức và sự phát triển đạo đức Các lý luận
đó đã được phát biểu trong những điều kiên xã hội trước đó song vẫn tiếp tục có hiệu lực trong những xã hội mang danh xưng dân chủ và cản trở việc thực hiện đầy đủ cái lý tưởng dân chủ
Triết lý giáo dục ở đây gắn liền với sự trưởng thành của dân chủ với sự phát triển của phương pháp thực nghiệm trong các môn khoa học, các khái niệm
về tiến hóa của sinh học, và sự tái tổ chức lại nền công nghiệp, đồng thời chỉ ra những thay đổi trong nội dung và phương pháp của giáo dục do sự đòi hỏi của những phát triển đó” [7,15]
Tác phẩm cung cấp cho người đọc đầy đủ các phương diện của giáo dục
Nó thuyết phục tất cả những ai quan tâm đến giáo dục và muốn tìm đến một triết lý giáo dục hiện đại Kết cấu tác phẩm cụ thể như sau:
KẾT CẤU NỘI DUNG ĐỀ CẬP
Chương I Giáo dục xét như là một tất yếu của sự sống
Chương II Giáo dục xét như là một chức năng xã hội
Chương II Giáo dục xét như là điều khiển
Chương IV Giáo dục xét như là sự tăng trưởng
Trang 25Chương V Sự chuẩn bị, sự bộc lộ và phương pháp rèn luyện hình thức Chương VI Nền giáo dục bảo thủ và nền giáo dục tiến bộ
Chương VII Khái niệm dân chủ trong giáo dục
Chương VIII Mục tiêu trong giáo dục
Chương IX Sự phát triển tự nhiên và hiệu quả xã hội xét như là mục tiêu Chương X Hứng thú và kỷ luật
Chương XI Kinh nghiệm và tư duy
Chương XII Tư duy trong giáo dục
Chương XIII Bản chất của phương pháp
Chương XIV Bản chất của nội dung
Chương XV Giải trí và làm việc trong chương trình học của nhà trường Chương XVI Ý nghĩa của môn địa lý và môn lịch sử
Chương XVII Khoa học trong chương trình học
Chương XVIII Giá trị của giáo dục
Chương XIX Lao động và nhàn hạ
Chương XX Môn học lý thuyết và môn học thực hành
Chương XXI Các môn học tự nhiên và các môn học xã hội: Thuyết duy tự
nhiên và thuyết nhân văn Chương XXII Cá nhân và thế giới
Trang 26Chương XXIII Những khía cạnh nghề nghiệp của giáo dục
Chương XXIV Triết lý giáo dục
Chương XXV Những lý luận về nhận thức
Chương XXVI Những lý luận về đạo đức
Mục lục vấn đề và nội dung thuật ngữ
Niên biểu tóm tắt về cuộc đời và tác phẩm của John Dewey
Tác phẩm Dân chủ và Giáo dục (Democracy and Education) ra đời từ năm
1916, được dịch sang nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới và có tầm ảnh hưởng rất lớn đến những bạn đọc hay hầu hết những ai quan tâm đến giáo dục
và cải cách giáo dục Nhưng ở Việt Nam, mãi đến năm 2008 mới được dịch giả Phạm Anh Tuấn15 dịch sang tiếng Việt và được ấn hành bởi NXB Tri thức Bản dịch tiếng Việt tuy chỉ vừa hơn ba năm nhưng đã nhận được khá nhiều hồi âm tốt từ bạn đọc Và với bản dịch đó, Phạm Anh Tuấn đã nhận giải “Tinh hoa giáo dục quốc tế” năm 2008 của Quỹ Phan Châu Trinh (trao giải thưởng ngày 27/3/2009)
Tác phẩm “Dân chủ và Giáo dục” của John Dewey ra đời trong bối cảnh –
với riêng ông - hết sức nghiệt ngã, nó ra đời sau khi trường thực nghiệm của ông – nơi dùng để thực nghiệm triết lý giáo dục của mình - bị giải tán Điều này
là nguyên nhân khiến tư tưởng của ông kể từ sau đó liên tục bị chỉ trích Chẳng hạn, người ta tưởng rằng đề cao trẻ em nghĩa là “hạ bệ” người thầy, đề cao hoạt động năng động tức phủ nhận sách giáo khoa Ngay cả Nicholas Murray Butler, hiệu trưởng Đại học Chicago thời đó, cũng tuyên bố triết lý Tân giáo dục do
15 Dịch giả tự do của Việt Nam, sống tại Hà Nội, đoạt giải thưởng dịch thuật năm 2008
Trang 27Dewey khởi xướng đã góp phần tạo ra những học sinh vô kỷ luật Năm 1938, John Dewey đã lên tiếng tại một buổi nói chuyện kéo dài nhiều giờ tại New Jersey16 Ông không buộc tội một ai, ông chỉ ra rằng thực thi triết lý của Tân giáo dục là điều thực ra vô cùng khó, nó đòi hỏi sự thay đổi không chỉ sau cánh cửa lớp học mà còn trong toàn bộ môi trường nhà trường, và đào tạo giáo viên
Vì thế khi không thể thực hiện triệt để triết lý này, người ta bèn đầu hàng hoặc giản lược hóa nó đi Nghĩa là người ta tập trung vào những cải tiến lặt vặt - những thay đổi "cải lương" Còn gì dễ dàng cho bằng người thầy chỉ cần ra lệnh còn học trò ngoan ngoãn tuân theo Sau sự kiện đó, Dewey từ chức, chấm dứt công trình thực nghiệm của mình, bắt đầu tập trung nghiên cứu và viết sách Giai đoạn này, do tư tưởng đã thực sự chín muồi và được trải nghiệm nhiều trong công tác giáo dục nên ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm quan trọng,
mang tính định hướng cho giáo dục đương thời Trong số đó, tác phẩm Dân chủ
và giáo dục là một điển hình
Triết học giáo dục của John Dewey là thực dụng Tất cả những tư tưởng, quan điểm ông đưa ra trong tác phẩm này đều mang màu sắc thực dụng Nhưng thực dụng không có nghĩa là “vị lợi”, “bần tiện”, “hèn hạ” Giáo dục thực dụng của ông hàm nghĩa là giáo dục đem lại cho học sinh lợi ích thật sự Trong tâm hồn người học, tồn tại song song hai hệ giá trị: Hệ giá trị của trường học và hệ giá trị của cuộc sống thật bên ngoài cánh cửa lớp học Nếu trường học bị tách rời khỏi cuộc sống thực thì trường học nhất định sẽ thất bại ở ngay chính cái mục tiêu quan trọng nhất của nó: “chuẩn bị cho trẻ em bước vào đời”, nhưng rốt cuộc thì trẻ em không nhận được gì cả Thì ra, giáo dục là việc để trẻ em tự cảm nhận, tự khám phá chứ không phải là người lớn chuẩn bị sẵn mâm cỗ…và bắt
ép trẻ con ăn Vậy trẻ em là trung tâm trong giáo dục – đây là tuyên ngôn có ý nghĩa rất lớn trong sự nghiệp giáo dục con người, chính John Dewey là người
16 Một trong bốn tiểu bang nhỏ nhất của Hoa Kỳ
Trang 28đầu tiên “giải phóng trẻ em” trong giáo dục Trong tư tưởng giáo dục của J Dewey, trẻ em nói riêng và người học nói chung có chỗ đứng đúng với vị trí của mình - là trung tâm của quá trình giáo dục Nói cách khác, giáo dục là quá trình trong đó, sự tôn trọng người học được đặt lên hàng đầu, giáo dục phải là một quá trình dân chủ sâu sắc
1.2.2 Dân chủ và ngành sư phạm
Cùng với Chủ nghĩa Thực dụng, tính dân chủ cũng được coi là thành quả của xã hội Mỹ Dân chủ là gì? Nó có quan hệ thế nào đối với giáo dục? Theo Dewey, “dân chủ không chỉ đơn thuần là một hình thức cai trị của số đông thông qua phổ thông đầu phiếu: nếu dân chủ được đồng nhất với việc bỏ phiếu, thế thì dân chủ sẽ chỉ là một hệ thống của “đa số phiếu” chứ chưa chắc đã là một hệ thống của “đa số thông minh” [20] Dân chủ bao giờ cũng gắn với giáo dục và sự tôn sùng giáo dục được đẩy lên cao trong xã hội dân chủ Bởi vì, một
xã hội dân chủ bao giờ cũng bác bỏ nguyên lý quyền lực bên ngoài – như kiểu ứng cử viên không thể ép tôi bỏ phiếu để ủng hộ, tôi có quyền tự do lựa chọn trên quan điểm của cá nhân của mình Vì vậy, buộc lòng phải tìm ra một quyền lực thay thế nằm bên trong khuynh hướng nhân cách và mối hứng thú tự nguyện, và chỉ có giáo dục mới có thể tạo ra điều đó John Dewey có cách giải
thích khác thuyết phục hơn trong Dân chủ và giáo dục: “Dân chủ là cái còn hơn
cả chính quyền, trước hết là một phương thức của đời sống liên kết, của kinh nghiệm chung được truyền đạt Việc mở rộng không gian của cá nhân vào một mối hứng thú sao cho mỗi người hành động trong mối liên hệ với hành động của những người khác, phải xem xét hành động của người khác để đưa ra mục đích và phương hướng cho hành động của mình, nghĩa là sự đạp đổ rào cản giai cấp, chủng tộc và lãnh thổ quốc gia là cái làm cho con người không thể nhận ra
ý nghĩa đầy đủ trong hành động của họ Một cá nhân có nhiều các mối tiếp xúc
đa dạng tức là anh ta phải phản ứng lại nhiều kích thích đa dạng; do đó, sự thay
Trang 29đổi hành vi trở nên có tầm quan trọng đặc biệt, bởi các cá nhân sống trong một nhóm mà sự biệt lập đã ngăn chặn nhiều mối hứng thú” [7,114] Như vậy, dân chủ tất nhiên phải được tiến hành từ dưới lên chứ không áp đặt từ bên ngoài vào
hay từ bên trên xuống, dân chủ phải được số đông chấp nhận và thực hiện
Dân chủ là một quá trình từng bước một: Dewey viết trong Dân chủ và giáo dục “… làm cho những con người của một dân tộc suy nghĩ về cùng những vấn đề và hành động theo cùng một hướng dựa trên sự đồng thuận Nhưng sự đồng thuận này chỉ có thể đạt được bằng sự thảo luận tự do và bằng sự tự do đánh giá những quan điểm và yêu sách đối lập nhau; sự đồng thuận này không bao giờ được phép giành được bằng vũ lực” [55,178] Chân lý không thể đạt được bởi sự công nhận của số đông hay bởi sức mạnh, dân chủ cũng là một chân lý trong đời sống của con người tự do, văn minh Một khi muốn thay đổi
tư tưởng của xã hội, phải hướng đến thay đổi quần chúng chứ không phải thay đổi ở người lãnh đạo, phải là sự đồng thuận, hứng thú làm theo của số đông chứ không áp đặt
Dân chủ là dân chủ của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai Theo Dewey, một xã hội dân chủ nghĩa là nó dân chủ với cả bạn lẫn thù Một xã hội dân chủ bao giờ cũng được dựa trên sự truyền thông, hợp tác và tương tác của các thành viên sống trong xã hội ấy; sự tồn tại của xã hội dân chủ phụ thuộc vào sự đồng thuận của những con người sống trong xã hội Dewey phản đối đấu tranh giai cấp ở chỗ nó tước đoạt các quyền của những người mà nó không ưa Cải cách ruộng đất đã tước đoạt quyền được có nhân phẩm của những địa chủ Dewey nói với người Trung Quốc: “Đặc điểm của đời sống liên kết là sự hợp tác, và hợp tác là điều có lợi cho cả hai phía Nó giống như tình bạn vậy Tình bạn có lợi cho cả người này lẫn người kia, tình bạn giúp cho hai bên trao đổi sự hiểu biết, và kết quả là cuộc sống trở nên phong phú
Trang 30Muốn giáo dục vì mục đích tạo ra những con người có nhận thức và hành động thể hiện tinh thần dân chủ nhằm tạo ra một xã hội dân chủ và tự do cho tất cả mọi cá nhân thì nhà trường phải là một thể chế, trong đó trẻ được sống, được tham gia vào đời sống cộng đồng, nơi đứa trẻ cảm thấy được hòa nhập và đóng góp
Nhưng việc thực hiện dân chủ và đào tạo một thế hệ nhận thức đầy đủ về dân chủ không phải dễ dàng trong môi trường sư phạm, trong khuôn viên trường học nhất là khi giáo viên áp đặt chủ kiến cho học sinh của mình về dân chủ Để giải quyết vấn đề này, cần phải tạo thêm môi trường xã hội thu nhỏ, và thậm chí nhỏ hơn của cái nhỏ, có thể tổ chức ở đơn vị là một nhóm trong tập thể chẳng hạn, để trẻ có thể nhận thức được trách nhiêm của bản thân thông qua đạo đức dân chủ Nếu các em đã nhận thức được sâu sắc mục đích mình hướng tới là gì thì các em sẽ hăng say theo đuổi
Để có thể thuyết phục lý thuyết về dân chủ của mình đưa ra, J.Dewey cũng đã nghiên cứu khá kĩ các mô hình giáo dục trong lịch sử Ông đề cập đến Plato, ông cho ta thấy, niềm tin của Plato cho rằng cá nhân sẽ cảm thấy hạnh
Trang 31phúc khi tham gia vào các hoạt động phù hợp với năng khiếu tự nhiên, và nhiệm vụ đầu tiên của giáo dục là phát hiện ra những năng khiếu tự nhiên đó để huấn luyện anh ta sử dụng thành thạo, hiệu quả năng khiếu đó Nhưng không cần J.Dewey phê phán chúng ta cũng đã biết rằng Plato17 đã gom các cá nhân và năng lực bẩm sinh vào trong một vài giai cấp được phân biệt rạch ròi Như vậy, triết lý giáo dục của Plato là tiến bộ nhưng nó gắn liền với một thể chế xã hội đã
bị đóng khung, không có chỗ cho sự thay đổi, cá nhân đã biến mất trong giai cấp Điều này dẫn tới việc nhìn nhận sự thất bại của triết lý giáo dục của ông vì ông đã không nhìn thấy rằng, với giáo dục sẽ góp phần cải thiện xã hội ngày càng tốt hơn, rồi trong mối quan hệ không tách rời, bổ sung cho nhau, chúng ta lại có xã hội tốt hơn sẽ có một nền giáo dục tốt hơn, và cứ tiếp tục như thế…
Dewey cũng khảo sát thêm mộ đại diện nữa trong lịch sử, đó là triết lý giáo dục thế kỉ XVIII, trong đó đại biểu mà ông quan tâm là Kant, chính Kant là người định nghĩa “giáo dục là quá trình con người trở thành con người” và nhân loại bắt đầu lịch sử của mình trong tình trạng bị tự nhiên khống chế (chứ không phải con người với tư cách là thực thể sinh vật – xã hội, yếu tố tự nhiên chỉ là những yếu tố bản năng) Với quan điểm như thế, thì “tự nhiên chỉ cung cấp những cái mầm để giáo dục và phát triển cho nên con người phải tự tạo ra chính mình bằng nỗ lực tập luyện, anh ta phải tự mình trở thành một con người thực
sự có lý trí, có đạo đức và tự do” [7,122] Sự phát triển của xã hội sẽ dựa trên hoạt động giáo dục bền bỉ của các thế hệ Nhưng vấn đề là mỗi một thế hệ khác nhau lại giáo dục cho con cháu thế hệ mình để có thể tồn tại được trong hiện tại thay vì chỉ cho chúng thấy mục đích thực sự của giáo dục là phát triển tính người với tư cách là “nhân loại” Vậy thì câu trả lời cho chất vấn: Ai sẽ là người thực thi giáo dục vì sự tiến bộ chung của nhân loại? Đó là cá nhân, hay là sự nỗ
17 Plato ( khoảng 427-347 TCN), là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp Người được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với Socrates (thầy giáo của Plato)
Trang 32lực của những con người bẩm sinh đã có những ý tưởng, khuynh hướng lớn lao Kẻ cai trị chỉ cần lưu tâm đến việc đào tạo thần dân biến thành công cụ hiệu quả để phục vụ mục đích của họ Như vậy, kẻ cầm quyền – hay rõ hơn
là nhà nước trở thành kẻ trung gian giữa hoàn thiện nhân cách cá nhân và sự hoàn thiện tính nhân loại
Việc đề cao cá nhân hay giai cấp, nhà nước là phương tiện để thực thi giáo dục, quan điểm thứ hai có thể bổ sung sự thiếu hụt cho quan điểm thứ nhất, song nó đã thu hẹp khái niệm mục tiêu xã hội bởi cái cách đó lại coi xã hội
là tất cả những ai là thành viên của một đơn vị chính trị, và ta lại trở về với
sự phụ thuộc các cá nhân vào một thiết chế nhất định nào đó, không thể giải phóng cá nhân được, cá nhân không có tự do, xã hội không duy trì được nền giáo dục dân chủ
Tóm lại, theo Dewey thì một xã hội mà đặt ra bên ngoài nó quá nhiều rào cản cho sự giao tiếp và truyền đạt kinh nghiệm một cách tự do thì xã hội đó không đáng được hoan nghênh Một xã hội cho phép mọi thành viên chia sẻ mọi quyền lợi và điều chỉnh các thiết chế tùy theo sự thay đổi và tương quan giữa các mối liên kết các thành phần trong trong xã hội thì xã hội đó gọi là dân chủ Và xã hội nói chung cần phải có một kiểu giáo dục phù hợp Các cá nhân
có mối hứng thú riêng tới các mối quan hệ xã hội, tham gia kiểm soát xã hội, tạo ra những thói quen tinh thần có thể duy trì những thay đổi xã hội, hướng đến xã hội ngày một tốt đẹp hơn, văn minh hơn
Trang 33Chương 2 TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY TRONG TÁC PHẨM
DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO
GIÁO DỤC VIỆT NAM
2.1 THỰC CHẤT TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JONH DEWEY TRONG TÁC
PHẨM DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC
Khi nói đến triết học thì ở phương Tây họ chỉ dùng một từ là Philosophy, nhưng trong cách diễn đạt thì dường như được hiểu thành hai loại “triết học cụ thể” và “triết học cao siêu” tương tự như người Việt chúng ta có sự phân chia thành “triết học” và “triết lý” Một thứ thì vừa “cao” vừa “sang”, không dễ để hiểu nó và càng khó hơn trong vấn đề vận dụng; còn cái thứ hai thì dễ hiểu, dễ
áp dụng hơn, nó như một chuỗi vấn đề, câu hỏi rồi giải đáp trong đời thường,
nó được xem như những quan niệm sống, phương châm sống nhằm định hướng cho cách ứng xử và hành động của con người Và nếu như vậy, thì một ý tưởng, một câu danh ngôn trong sách triết học chưa chắc – nếu không muốn nói là sẽ
rất khó để trở thành triết lý của nhiều người.Ví dụ, câu: Cái gì biết thì nói biết, cái gì không biết thì nói không biết, cũng là “biết” vậy! là một câu hay trong
sách kinh điển thế nhưng nó vẫn còn “sang” lắm đối với cuộc sống đời thường
Trái lại, nhiều câu như: “không thầy đố mày làm nên”, “có công mài sắt có ngày nên kim”… không nằm trong sách vở nhưng vẫn cứ là những triết lý rất phổ quát Riêng bàn về triết học giáo dục (philosophy of education, educational
philosophy), chúng ta có cả kho tri thức tích luỹ từ thời Khổng Tử18, Plato, Aristotle19,… đến tận bây giờ là rất khổng lồ, cộng thêm với những tranh luận
18 Khổng Tử (551 – 479 TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa Triết học của ông nhấn mạnh việc cai trị con người bằng đạo đức, sự chính xác của những mối quan hệ xã hội, sự công bằng và sự trung thực
19 Aristole (348 – 322 TCN), nhà triết học lỗi lạc, được ví như bộ óc bách khoa của Hy Lạp cổ đại
Trang 34Xã hội phải được hiểu như một trường học rộng lớn và lớp học lại phải là một
xã hội thu nhỏ Giáo dục là một quá trình truyền đạt, tích lũy liên tục, không bao giờ chấm dứt, tiếp diễn ngay cả sau khi người học đã trưởng thành và hướng dẫn người học trong đời sống Như vậy, “giáo dục trong cả đời sống” chứ không phải là “chuẩn bị cho đời sống” – đó là quan niệm triết học trong giáo dục của John Dewey, ta cũng dễ dàng tìm thấy những triết lý cụ thể cho quan niệm đó được thể hiện khá nhiều trong các tác phẩm của ông Mặt khác, khi nói đến triết học giáo dục, John Dewey cũng thừa nhận rằng cho đến thời điểm ông viết thì “chưa có một định nghĩa nào được đưa ra cho triết học cũng như chưa có một nhận định xác đáng nào về bản chất của một triết lý giáo dục” (“Although we are dealing with the philosophy of education, do definition of Philosophy has yet been given; nor has there been an explicit consideration of the nature of a philosophy of education” [55,154])
Như vậy, tìm hiểu những triết lý giáo dục của John Dewey trong tác
phẩm Dân chủ và giáo dục sẽ giúp ta dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu sâu hơn những
quan niệm tiến bộ trong giáo dục của John Dewey trong tác phẩm của chính
ông – Dân Chủ và Giáo dục – một tác phẩm được đánh giá là tập trung đầy đủ,
toàn diện tư tưởng của ông về giáo dục, thế nhưng, chúng ta vẫn phải làm một công việc đó là đi tìm và tổng hợp trong tác phẩm đó những ý tưởng, những quan điểm triết học về giáo dục được trình bày ở khắp các chương trong tác phẩm Ông cũng thừa nhận điều này khi viết chương “Triết lý giáo dục” – (Philosophy of education) - chương này chủ yếu liệt kê tóm tắt theo thứ tự các
Trang 35vấn đề triết học có liên quan đến những phần đã trình bày trong các phần trước – (This topic is now introduced by a summary account of the logical order implied in the previous discussions, for the purpose of bringing out the philosophic issues invoved) [55,154]
2.1.1 Chủ nghĩa kinh nghiệm và phương pháp lấy người học làm trung tâm
Triết lý giáo dục của John Dewey thể hiện đầy đủ tính chất triết học của
nó thông qua những vấn đề mà nó giải quyết Các vấn đề về mối quan hệ giữa tính người và bản chất tự nhiên, giữa tính cá nhân và tính xã hội, giữa lý thuyết
và thực hành – hay là giữa “biết” và “làm” tất cả những vấn đề đó bắt nguồn
từ những xung đột và khó khăn trong đời sống xã hội Xuất phát từ chủ nghĩa thực dụng, J.Dewey bỏ qua những quan niệm cũ cho rằng tư tưởng, sự hiểu biết của con người xuất phát từ một “khái niệm” bất biến thuộc về một cõi siêu hình nào đó và không phụ thuộc vào kinh nghiệm của con người Từ đó, ông đưa ra thuyết kinh nghiệm của mình trong đó cho rằng tư tưởng là công cụ của con người, gồm có giả thuyết, ước đoán và những định hướng, kế hoạch nhằm giải quyết các mâu thuẫn hay các vấn đề mà con người gặp phải trong cuộc sống Còn trong lĩnh vực giáo dục thì John Dewey xem giáo dục không tiếp tục tồn tại đơn thuần như một giả thuyết về điều nó khao khát mà là một quá trình có thể đem lại sự thay đổi cần thiết Từ đó, chúng ta có lý do để cho rằng phát biểu sau đây là đúng: triết lý giáo dục là lý luận giáo dục xét như một thực tiễn được thực hiện một cách có chủ tâm Như vậy, quan tâm chính yếu của những người thực dụng nói riêng và John Dewey nói riêng là tìm ra phương pháp để tái kiến tạo nền giáo dục mọc trên một hiện trạng xã hội đang có những thay đổi vượt bậc về khoa học, sự bùng nổ của các cuộc cách mạng công nghiệp, sự phát triển của nền dân chủ…
Trang 36Để làm được điều này, John Dewey căn cứ vào thuyết kinh nghiệm (hay công cụ) của mình Lý thuyết kinh nghiệm của ông dựa trên hai nguyên lý chính, đó là nguyên lý về tính liên tục (continuity) và sự tương tác (intraction) Nguyên lý tính liên tục cho rằng những kinh nghiệm mà con người tích lũy được trong quá khứ sẽ ảnh hưởng đến tương lai của người đó, còn nguyên lý tương tác lại cho ta biết rằng sự gặp gỡ, giao thoa, tương tác giữa kinh nghiệm trong quá khứ với hoàn cảnh hiện tại sẽ tạo ra kinh nghiệm mới, kinh nghiệm trong chính cuộc sống hiện tại đó Ông đưa ra lập luận rằng trái với con vật sống bằng những bản năng bẩm sinh, con người chúng ta sống dựa vào chính những kinh nghiệm đối ứng với thế giới xung quanh đó Ông tập trung nghiên cứu sự tương tác của con người với con người và con người với môi trường sống Chính những sự tương tác này đã nảy sinh những mâu thuẫn, những vấn nạn trong cuộc sống và việc tìm ra giải pháp, cách thức giải quyết vấn đề sẽ giúp cho con người thích nghi sinh tồn và phát triển - Thực ra thì cả thuyết thực dụng cũng như các đại biểu không được lòng các trường phái hay chủ thuyết khác ở ngay tính “thực dụng” cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhất là những người theo chủ nghĩa Mác Các luận điểm mà John Dewey nêu ra như: các nhà triết học không nên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến khoa học và giải thích chúng, cụ thể là những vấn đề xem xét thế giới khách quan, vấn đề chân lý hay giả dối Công việc của triết học không phải là tranh đua giải thích tự nhiên – quan niệm này thật xa lạ và khó hình dung, nếu như không dựa vào khoa học, không giải thích thế giới thì liệu có còn là triết học Triết học cũng không cần xem xét thế giới khách quan thì làm sao có thể đề cập đến con người và đưa ra giải pháp cho cuộc sống con người với tư cách là một bộ phận của thế giới Ông cũng không muốn bàn luận đến vấn đề chân lý trong khoa học…tất cả những điều này đã gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí là bị chỉ trích rất nhiều Và dù cho tác giả luận văn cũng chưa thể hiểu hết vấn đề nhưng nhiệm vụ trước mắt lại là
Trang 37đi tìm hiểu xem ông quan tâm đến các vấn đề con người và giải quyết những vấn đề con người ra sao, đặc biệt là khía cạnh giáo dục con người trên bình diện nào Điều đáng lưu tâm là triết học của ông vẫn được được chấp nhận, tức là vẫn có cái hợp lý của nó và thực tế rong lịch sử tư tưởng nước Mỹ, số nhà triết nhận được sự ca ngợi như John Dewey cũng không nhiều
Với tựa đề “Giáo dục xét như là một tất yếu của cuộc sống” ở chương 1, luồng tư tưởng thể hiện qua những trang viết nhuốm màu bởi học thuyết tiến hóa của Darwin nhưng rốt cuộc lại, Dewey lại cho ta thấy rằng “sự sống được khôi phục bằng quá trình truyền dạy” Dù cho con người – thực thể tiến hóa cao nhất trong giới sinh vật cũng không thể thoát khỏi quy luật của đời sống tự nhiên – tức không thể tồn tại vĩnh viễn Nhưng điều đáng mừng cho tiến trình của sự sống nó lại không phụ thuộc vào việc kéo dài sự sống của bất kỳ cá thể nào Quy luật đào thải và thích nghi với điều kiện sống sẽ tạo ra những cá thể
có khả năng thích nghi tốt hơn chứ không phải chống chọi, đấu tranh trong tuyệt vọng John Dewey nói rằng “tính liên tục của sự sống là quá trình liên tục tái thích nghi với môi trường vì những nhu cầu của sinh vật sống” [7,18], dường như ở đây, ông đã đồng nhất khái niệm “sự sống” với “kinh nghiệm” khi ám chỉ
về quá trình tái thích nghi liên tục của con người Con người cũng không thoát khỏi quy luật, cho nên giáo dục với tư cách là một quá trình truyền đạt lại kinh nghiệm sống lại là cần thiết Có thành viên mất đi, có thành viên mới ra đời, tính liên tục của sự sống không chỉ dừng lại ở sự khôi phục tồn tại về thể xác
mà còn gắn chặt với sự tái tạo về mặt tinh thần như niềm tin, lý tưởng, thói quen, và cả các giá trị hạnh phúc, khổ đau… “Bởi vì không một thành viên nào của một nhóm xã hội thoát khỏi quy luật tự nhiên là sinh ra và chết đi, nên giáo dục lại là tất yếu Một mặt, trong bất kỳ cộng đồng nào cũng vậy, có sự tương phản giữa tính non nớt của của các thành viên mới ra đời – những đại diện cho tương lai và duy nhất của cộng đồng – và tính trưởng thành của người lớn và
Trang 38những người đang nắm giữ sự hiểu biết và phong tục tập quán của ấy Mặt khác, những đứa trẻ đó tất yếu phải được dạy để làm quen với những mối hứng thú, mục đích, thông tin, kỹ năng và tập quán của các thành viên trưởng thành, chứ không đơn thuần được duy trì về mặt thể xác theo số lượng, bởi nếu không làm thế: cộng đồng đó sẽ chấm dứt đặc trưng của nó” [7,19] và ông đưa ra cho chúng ta những ví dụ từ trong lịch sử “ngay tại một bộ tộc dã man, trẻ em cũng không bao giờ làm được những công việc của người lớn nếu chúng bị bỏ mặc Nền văn minh càng phát triển, khoảng cách giữa năng lực ban đầu của trẻ em
và những chuẩn mực cùng tập quán của người lớn sẽ ngày càng rộng ra Sẽ không đủ để tái tạo cộng đồng nếu như trẻ em đó chỉ đơn thuần lớn lên về mặt thể xác, nếu trẻ em của cộng đồng đó chỉ học được những kĩ năng tối thiểu để tồn tại Chúng còn cần có thêm nỗ lực đầy chủ tâm và sự động não cũng rất vất vả nữa Do đó, bắt buộc trẻ em nhận thức và và sự có hứng thú tới những mục đích và quy tắc ứng xử của cộng đồng, bởi khi sinh ra, chúng không có khái niệm gì, hơn nữa chúng hoàn toàn dửng dưng với những điều đó Giáo dục và chỉ có giáo dục, mới lấp được khoảng trống ấy” [7,19]
Ông không những đề cao giáo dục mà còn nâng nó lên ở tầm quyết định cho việc duy trì tính liên tục cho đời sống của loài người nói chung Đồng thời cũng chia thành hai phương thức giáo dục: giáo dục trong đời sống hằng ngày, nơi có sự tương tác, giao thoa, hội tụ các mối quan hệ, các kinh nghiệm để con người sống chung với nhau; và giáo dục dành riêng cho trẻ em Một trong những vấn đề lớn nhất của triết lý giáo dục là phải tìm ra cách duy trì sự cân bằng giữa giáo dục chính thức và giáo dục phi chính thức – tức là phương thức giáo dục mang tính ngẫu nhiên và giáo dục mang tính chủ đích rõ ràng
Ở phương thức thứ nhất, quá trình truyền đạt giữa thế hệ này với thế hệ khác và các cá nhân truyền dạy lẫn nhau, đó là quá trình chia sẻ kinh nghiệm
Trang 39giữa hai bên cho đến khi cả hai cùng lĩnh hội được kinh nghiệm chung Nội dung của giáo dục theo phương thức thứ nhất được đưa trực tiếp vào ma trận của các mối quan hệ tương tác, giao tiếp xã hội, là những gì mà những người sống cùng với một cá nhân họ nói và làm Nội dung này được truyền cho nhau
sẽ làm thay đổi thái độ ứng xử của hai bên tham gia vào quá trình truyền đạt,
“giáo dục là bản thân cuộc sống” tức là bản thân quá trình các thành viên sống với nhau đã là sự học tập rồi Và trong xã hội đó, người lớn tuổi hơn truyền đạt cho thế hệ nhỏ hơn những cách thức lao động, tập quán, thói quen, cả những suy nghĩ và cách bày tỏ tình cảm… “nếu không có việc truyền đạt những lý tưởng, hi vọng, kỳ vọng, tiêu chuẩn, quan điểm từ những người trải qua cuộc sống cộng đồng cho những người đang bước vào cuộc sống ấy, thì đời sống xã hội không thể tiếp tục được duy trì” Và ông nhấn mạnh thêm, con người nói riêng hay xã hội loài người nói chung không chỉ tiếp tục tồn tại nhờ vào tiến trình truyền dạy kinh nghiệm của người này cho người khác, của thế hệ này cho thế hệ khác mà còn có thể nói rằng “xã hội không chỉ tiếp tục tồn tại trong tiến trình truyền dạy, nhờ vào sự truyền đạt mà hoàn toàn có thể nói rằng xã hội đang tồn tại trong tiến trình truyền dạy, trong sự truyền đạt” [7,20] Như vậy, dù muốn hay không thì đã sống trong một cộng đồng người thì buộc phải nằm trong tiến trình truyền dạy đó, dù nó có mang tính chất ngẫu nhiên ở khía cạnh, góc độ nào đó, tuy nhiên, xét cho đến cùng thì nó là một tất yếu cho sự tồn tại của con người khi tham gia vào cộng đồng xã hội
Đến khi xã hội đã được tổ chức cao và giàu có, kiểu giáo dục theo phương thức thứ nhất, mang tính ngẫu nhiên nhiều hơn như đã nói ở trên tỏ ra yếu thế, nếu không muốn nói là bất lực, “khi nền văn minh càng phát triển, khoảng cách giữa năng lực của trẻ em và mối quan tâm của người lớn ngày càng bị nới rộng Khi đó, đối với trẻ em, học bằng cách quan sát và bắt chước ngày càng trở nên khó thực hiện hơn, đặc biệt là đối với những ngành nghề
Trang 40phức tạp Phần lớn những gì người lớn làm đều không thể quan sát bằng mắt và trừu tượng hơn, vì thế bắt chước ngày càng trở nên không thích hợp nữa, bởi bằng cách đó, trẻ em làm không đúng như người lớn Như thế, khả năng tham gia vào các công việc của người lớn có hiệu quá hay không phụ thuộc vào việc trẻ em được huấn luyện cho mục đích ấy” Và để làm được việc này thì giải pháp là tìm đến loại hình giáo dục thứ hai - giáo dục chính thức, tức là giáo dục
có chủ đích, giáo dục được thực hiện trực tiếp bởi người thầy hoặc thông qua nhà trường: “Giáo dục có chủ đích nghĩa là, như chúng ta thấy, một ngôi trường được lựa chọn riêng cho mục đích giáo dục, sự lựa chọn dựa trên cơ sở chất liệu
và phương pháp nào khuyến khích cụ thể sự phát triển theo mong muốn”[7,59] Ứng dụng lý thuyết kinh nghiệm vào trong giáo dục chính thức, John Dewey cho rằng người thầy không thể không quan tâm đến những kinh nghiệm quá khứ của người học Tuy nhiên, sự quan tâm dành cho kinh nghiệm trong quá khứ của học sinh cũng không nên xét nét chúng là tích cực hay tiêu cực, cái nào cũng có ý nghĩa của nó Người thầy chắc chắn không thể kiểm soát được kinh nghiệm quá khứ của người học nhưng có thể tổ chức bối cảnh học tập phú hợp
để dạy cho học sinh kinh nghiệm hiện tại thông qua sự tương tác những kinh nghiệm trong quá khứ đó của người học với những hoàn cảnh, những vấn đề trong hiện tại – và đó mới là giáo dục đích thực, nói rõ hơn, đã là giáo dục đích thực thì đều phải học dựa vào kinh nghiệm, học dựa vào thực hành, học dựa vào kết hợp trí óc và cơ thể, học bằng cách tự mình thực sự xây dựng cái kho kiến thức và khả năng sáng tạo của bản thân, học bằng cách tham gia vào các hoạt động “có ý nghĩa nào đó đối với mình” và học dựa vào sự cộng tác với những người học khác…
Như vậy, các phương pháp, cách thức học tập cũng như các yêu cầu đưa
ra trong giáo dục của John Dewey trong tác phẩm lại đưa ta về không khí của chương trình “Giáo dục tích cực”, một phần của một phong trào rộng lớn về cải