Về lịch sử giáo dục của Nhật Bản có công trình “Lịch sử giáo dục Nhật Bản – Giáo dục ngày nay nhìn từ góc độ lịch sử” của tác giả Yamamoto Masami do nhà xuất bản Trường Đại học Keio ấn h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
NGUYỄN VŨ PHA PHIM
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC NHẬT BẢN CUỐI THỜI EDO TRONG VIỆC ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC CHO MINH TRỊ DUY TÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Châu Á Học
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN
-
NGUYỄN VŨ PHA PHIM
VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC NHẬT BẢN CUỐI THỜI EDO TRONG VIỆC ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC CHOMINH TRỊ DUY TÂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn không vi phạm bản quyền Tôi đồng ý cho trường Trường Đại học Khoa học Xã hội &
Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh và khoa Đông phương học dùng luận văn làm tài liệu tham khảo
Tác giả luận văn Nguyễn Vũ Pha Phim
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô,cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy hướng dẫn của tôi PGS.TS Ngô Minh Oanh, người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Đông phương học và phòng sau đại học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến cha mẹ, gia đình, các anh chị em và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Tp.HCM, tháng 7 năm 2018
NGUYỄN VŨ PHA PHIM
Trang 5MỤC LỤC
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3.1 Nhóm các công trình bằng tiếng Việt: 3
3.2 Nhóm các công trình bằng tiếng nước ngoài: 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 11
7 Tính mới của luận văn 12
8 Bố cục luận văn 12
CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC GIÁO DỤC NHẬT BẢN VÀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC CUỐI THỜI EDO 14
1.1 Một số khái niệm cơ bản 14
1.1.1 Giáo dục và vai trò của giáo dục 14
1.1.2 Cuối thời Edo 16
1.1.3 Minh Trị duy tân 17
1.2 Sơ lược về lịch sử giáo dục Nhật Bản từ thời cổ đại đến hết giai đoạn Edo trung kỳ 18
1.3 Hoàn cảnh lịch sử Nhật Bản cuối thời Edo 23
1.3.1 Sự khủng hoảng của thể chế Bakuhan và sự biến đổi về kinh tế xã hội 24
1.3.2 Nhật Bản đóng cửa (Sakoku 鎖国) và mở cửa (Kaikoku 開国) 27
Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC NHẬT BẢN CUỐI THỜI EDO 34
2.1 Tình hình giáo dục ở các trường công trực thuộc Mạc phủ (Bakufu) và Phiên (Han) 35
2.1.1 Trường thuộc Mạc phủ 35
2.1.2 Trường thuộc Han (Hanko 藩校 Phiên hiệu) 43
2.1.3 Trường làng (Goko 郷校 Hương hiệu) 55
2.2 Tình hình giáo dục ở các trường tư nhân 59
Trang 62.2.1 Các trường Terakoya (寺子屋 Tự tử ốc, Trường chùa) 59
2.2.2 Các trường tư thục (Shijuku 私塾 Tư thục) 65
2.3 Tình hình giáo dục ở các trường Tây học 73
2.3.1 Các trường Hà Lan học (Rangaku 蘭学) 73
2.3.2 Các trường Tây học khác(Yogaku 洋学) 79
2.4 Một số đặc điểm nổi bật của giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo 83
Ảnh hưởng lớn bởi Nho giáo 83
Đa dạng về tổ chức, mục đích và nội dung đào tạo 84
Sự bùng nổ về số lượng và sự phổ cập 86
Văn hóa tự học tập, tự rèn luyện (jigaku jishu 自学自習) 86
Nhu cầu “Tây học” phát triển 87
“Du học” và sự biến mất của đẳng cấp trong xã hội 88
Tiểu kết chương 2 88
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC NHẬT BẢN CUỐI THỜI EDO TRONG VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO CÔNG CUỘC MINH TRỊ DUY TÂN 92
3.1 Đào tạo các nhà lãnh đạo sự nghiệp đánh đổ Mạc phủ 92
3.1.1 Hình thành tư tưởng Tôn Vương nhương Di 92
3.1.2 Hình thành tư tưởng Tôn Vương đảo Mạc 101
3.1.3 Hình thành tư tưởng xóa bỏ cái cũ, xây dựng cái mới 103
3.2 Đào tạo các nhà tư tưởng khai sáng 105
3.3 Đào tạo các nhà lãnh đạo sự nghiệp duy tân 111
3.4 Đào tạo nguồn nhân lực có tri thức cho sự nghiệp xây dựng đất nước “phú quốc cường binh” 117
Tiểu kết chương 3 119
KẾT LUẬN 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Tài liệu tiếng Việt: 129
Tài liệu tiếng Nhật (Xếp theo thứ tự 50 âm tiếng Nhật): 134
Tài liệu tiếng Anh 140
Trang 7Tài liệu Internet 141 PHỤ LỤC 144
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ
Bảng 2.1: Tỷ lệ giữa sách chữ Hán ( Hán tịch) và sách tiếng Nhật ( Hòa
thư) tại Shoheiko và Hanko Bảng 2.2: Phân loại sách bằng tiếng Nhật của Shoheiko và các Hanko
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Shoheiko ngày nay tại Yushima, Quận Bunkyo, Tokyo
Hình 2.2: Đại học Tokyo tại Quận Bunkyo, Tokyo
Hình 2.3: Zoshikan của Han Satsuma cuối thời Edo
Hình 2.4: Trường Shizutani- Di sản thế giới – Quốc bảo của Nhật Bản
tại tỉnh Okayama
Hình 2.5: Quang cảnh một lớp học ở Trường Terakoya
Hình 2.6: Trường Shoka Sonjuku
Hình 2.7: Di tích Tekijuku được bảo tồn tại Osaka
Hình 2.8: Bản in lại cuốn từ điển Hòa - Lan sử dụng trong
Trang 10DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Vào giữa thế kỷ XIX, công cuộc Minh Trị duy tân đã diễn ra ở Nhật Bản Minh Trị duy tân là một sự kiện lịch sử trọng đại, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc đất nước Nhật Bản và có tác động to lớn đến phong trào cải cách, duy tân ở châu Á Trong nhiều công trình nghiên cứu gần đây, các tác giả đều khẳng định rằng, một trong những nguyên nhân thành công của Minh Trị duy tân là vì công cuộc cải cách này đã được thừa hưởng những di sản từ thời Edo Diễn đạt theo cách khác, thời kỳ Edo đã chuẩn bị những điều kiện cơ bản cho việc tiến hành thắng lợi công cuộc Minh Trị duy tân
Một trong những điều kiện quan trọng đó là đào tạo nguồn nhân lực cho Minh Trị duy tân, mà để đào tạo nguồn nhân lực thì vai trò lớn nhất, trực tiếp nhất phải là giáo dục Một điều khiến cho người nước ngoài khi đến với Nhật Bản cuối thời Edo kinh ngạc chính là sự phát triển của nền giáo dục Trước hết là hệ thống giáo dục đa dạng gồm có các trường Han lập (Hanko), trường chùa (Terayako), trường làng (Goko) và các trường Tây học tức là Lan học (Rangaku) hay Dương học (Yogaku) Hơn nữa, ở Nhật Bản lúc này tỷ lệ người biết chữ rất cao, 50% với nam
và 10% với nữ (trong những năm 1860), tỷ lệ này còn cao hơn tại các thành phố lớn như Edo, Kyoto và Osaka vì đây là những trung tâm kinh tế và giáo dục của Nhật Bản Đây là điều đáng ngạc nhiên nếu chúng ta so sánh với các nước tiên tiến đương thời, ví dụ như ở Mỹ, tỷ lệ biết chữ vào đầu thế kỷ XIX chỉ đạt 20% [117] Nhờ có tính đa dạng, phong phú, căn bản và phổ cập nên giáo dục Nhật Bản thời Edo đã có đóng góp vô cùng to lớn cho việc đào tạo nguồn nhân lực của sự nghiệp duy tân thời Minh Trị sau này Việc đào tạo nguồn nhân lực ở đây bao gồm đào tạo
Trang 11các nhà lãnh đạo sự nghiệp duy tân qua nhiều giai đoạn, trong nhiều lĩnh vực chính trị, tư tưởng, quản lý kinh tế, quản lý giáo dục, văn hóa… và cả việc đào tạo nguồn nhân lực đông đảo trong giới bình dân cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong thời gian học tập tại Nhật Bản, tôi đã quan tâm tìm hiểu về lịch sử giáo dục của Nhật Bản, đặc biệt thích thú nền giáo dục thời kỳ Edo Khi vào học Cao học ngành Châu Á học, tôi quan tâm nhiều hơn đến vai trò của giáo dục thời Edo đối với sự nghiệp duy tân thời Minh Trị Tôi muốn tìm hiểu sâu hơn về giáo dục thời Edo và nó đã đóng vai trò như thế nào trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho
sự nghiệp duy tân
Trong giai đoạn đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu giáo dục Edo với những thành tựu của nó có thể rút ra những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này: Một là làm sáng tỏ sự phát triển của giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo Đây là giai đoạn đầy biến động của lịch sử Nhật Bản, chuẩn bị cho quá trình chuyển biến lớn của lịch sử đất nước từ thời kỳ Edo sang thời kỳ Minh Trị Nền giáo dục cũng chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử đó Các trường học, trường phái giáo dục cũ cũng tự cải cách, đưa những nội dung mới vào giáo dục Trường học Tây học mới được mở ra đào tạo ngoại ngữ, khoa học kỹ thuật Chính nền giáo dục đa dạng đó đã đào tạo ra nguồn nhân lực đa dạng, đa tầng cho việc lật đổ chính quyền Mạc phủ (bakufu) và công cuộc duy tân thời Minh Trị Hai là, thông qua hoạt động của các loại hình giáo dục chính, đánh giá vai trò của nó trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp duy tân thời Minh
Trang 12Trị Nguồn nhân lực này bao gồm các nhà lãnh đạo công cuộc lật đổ chế độ Mạc phủ Tokugawa, các nhà lãnh đạo công cuộc duy tân thời Minh Trị và đội ngũ quần chúng nhân dân
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử và lịch sử giáo dục Nhật Bản nhưng số lượng công trình, bài viết chuyên sâu về giáo dục cuối thời Edo vẫn còn ít được nghiên cứu
3.1 Nhóm các công trình bằng tiếng Việt:
Trong các công trình bằng tiếng Việt có thể phân thành 2 loại Loại 1 là các công trình lịch sử, lịch sử giáo dục có đề cập ít nhiều đến tình hình giáo dục cuối thời Edo và loại 2 là các công trình có đề cập trực tiếp đến giáo dục Nhật Bản thời Edo hoặc đánh giá vai trò của nền giáo dục cuối thời Edo đối với sự nghiệp duy tân
Về loại thứ 1, trước hết là cuốn“Nhật Bản cận đại” của Vĩnh Sính (đã được xuất bản nhiều lần cả ngoài nước lẫn trong nước, lần gần đây nhất là năm 2014 do Nxb Lao Động ấn hành) Do tính chất là cuốn lịch sử chủ yếu đề cập từ thời Minh Trị đến nay nên phần Edo được viết ngắn và tác giả cũng chủ yếu giới thiệu sơ qua về Rangaku (Hà Lan học) và Yogaku (Tây học) thời Edo mà thôi
Công trình “Lịch sử Nhật Bản” do Nguyễn Quốc Hùng chủ biên, Nxb Thế giới ấn hành lần đầu vào năm 2007, đã trình bày công phu, đầy đủ toàn bộ lịch sử Nhật Bản từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay Các bộ giáo trình “Lịch sử Nhật Bản” của Phan Ngọc Liên chủ biên (xuất bản lần đầu vào năm 1995, Nxb Văn hóa Thông tin) và của Lê Văn Quang (do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh ấn hành vào năm 1998) cũng có đề cập
Trang 13đến giáo dục Hà Lan học vào cuối thời Edo nhưng còn rấ sơ lược Tuy nhiên, do tính chất thông sử, nên lịch sử giáo dục thời Edo cũng chỉ được giới thiệu sơ lược Trong cuốn “Minh Trị duy tân và Việt Nam” của Nguyễn Tiến Lực, nhà xuất bản Giáo dục có một phần đề cập đến hệ thống trường Hà Lan học (Rangaku) và đánh giá cao trường phái học thuật này trong việc chuẩn bị về tư tưởng cũng như đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp duy tân Nakayama đã có bài viết đăng trong cuốn “Nhật Bản và Việt Nam phong trào văn minh hóa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”, Nguyễn Tiến Lực chủ biên, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, đề cập đến một trường học ở Aki (nay thuốc Hiroshima) chỉ rõ những đóng góp cụ thể của trường học thời Edo đối với sự phát triển giáo dục thời Minh Trị
Liên quan trực tiếp đến những vấn đề về giáo dục cuối thời Edo phải kể đến các bài viết “Những đặc điểm tiêu biểu của chế độ giáo dục ở Nhật Bản thời Tokugawa” in trong công trình của Nguyễn Văn Kim “Nhật Bản và Châu Á: những mối quan hệ lịch sử và biến đổi kinh tế xã hội”, Nxb Thế giới 2003 đề cập trực tiếp đến nền giáo dục Nhật Bản thời Edo (tức là thời Tokugawa) Tuy nhiên, bài viết nêu lên đặc điểm của toàn bộ thời kỳ Edo nên không phân biệt rõ lắm sự biến đổi của giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo và tác giả chú trọng vào giáo dục Nho học, không đề cập toàn diện nền giáo dục thời kỳ này
Năm 2000, Đặng Xuân Kháng cho công bố bài báo “Terakoya – chỗ dựa đầu tiên của nền giáo dục hiện đại Nhật Bản” trên Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản (tiền thân của Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á hiện nay), trong đó giới thiệu loại hình trường chùa (terakoya) và cách thức đào tạo của loại trường này
Về lịch sử giáo dục, có hai công trình đáng chú ý Đó là cuốn “Giáo dục Nhật Bản hiện đại” của Đoàn Văn An do Bộ Văn hóa Giáo dục xuất bản ở Sài Gòn năm
Trang 141965 và cuốn “Cải cách giáo dục Nhật Bản” của Ozaki Mugen do Nguyễn Quốc Vương dịch từ tiếng Nhật Hai công trình này chuyên sâu về giáo dục Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, không đề cập trực tiếp đến giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo
3.2 Nhóm các công trình bằng tiếng nước ngoài:
Các công trình bằng tiếng Nhật
Ở Nhật Bản có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo Trước hết, trong bộ “Lịch sử 100 năm ban hành Luật Giáo dục” (文部科学省『学制百年史』) do Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản công bố có mục đề cập đến giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo (幕末維新期の教育) Vì đây là
bộ lịch sử nên tuy số trang dành cho giáo dục thời Edo còn ít nhưng nội dung được viết hết sức súc tích về các loại hình trường học cuối thời Edo Công trình này cung cấp cho chúng ta cách nhìn tổng quan về giáo dục thời Edo và những đánh giá căn bản nền giáo dục này từ phía Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản
Về lịch sử giáo dục của Nhật Bản có công trình “Lịch sử giáo dục Nhật Bản – Giáo dục ngày nay nhìn từ góc độ lịch sử” của tác giả Yamamoto Masami do nhà xuất bản Trường Đại học Keio ấn hành năm 2014 (『日本教育史―教育の「今」
quan về toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của lịch sử giáo dục Nhật Bản một cách hệ thống, trong đó có đề cập đến giáo dục thời Edo như là một mắt xích quan trong trong lịch sử giáo dục của Nhật Bản Công trình tuy không phân tích quá sâu vào từng thời điểm và đối tượng cụ thể nhưng là một bức tranh khái quát lại toàn bộ tiến trình phát triển của giáo dục Nhật Bản từ cổ đại đến hiện đại Công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo, trước
Trang 15hết phải kể đến chuyên luận của Kumazawa Eriko “Nghiên cứu về cận đại hóa giáo dục Nhật Bản thời Mạc mạt3 Duy tân - Quá trình hình thành và phát triển giáo dục nhà trường thời cận đại” do Nxb Kazama ấn hành vào năm 2007 (熊澤恵里子『幕末維新期における教育の近代化に関する研究 - 近代学校教育の生成過程』風間書房) Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu và công phu về cận đại hóa giáo dục Nhật Bản, trong đó phần giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo được đề cập và phân tích chi tiết như là tiền đề, là cơ sở cho sự phát triển liên tục của lịch sử giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị sau này
Tác giả Ishikawa Matsutaro với công trình “Hanko và Terakoya” của nhà xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1978(『藩校と寺子屋』教育社、1978 年) đã có một bức tranh giới thiệu hoàn chỉnh về bối cảnh xã hội, quá trình hình thành và phát triển, nội dung giáo dục cụ thể ở một số trường tiêu biểu của hai cơ quan giáo dục dành cho giới võ sĩ và thường dân trong thời cận thế Tác giả Irie Hiroshi với công trình “ Nghiên cứu giáo dục gia đình của thường dân thời cận thế” của nhà xuất bả Taga ấn hành năm 1996 (『世庶民家訓の研究』多賀出版、1996) là nguồn tài liệu
vô cùng quý giá phân tích về giáo dục gia đình của tầng lớp thường dân tập trung vào nông dân và thương nhân, đây là công trình đánh giá được rất cụ thể vai trò của giáo dục với kinh doanh gia đình của thường dân Nhật Bản thời Edo Công trình “Nghiên cứu lịch sử giáo dục thường dân thời cận thế” nhà xuất bản Azusa ấn hành năm 1991 của tác giả Umemura Kayo(『近世民衆教育史の研究』梓出版、
1991 年) nghiên cứu rất chi tiết về giáo dục Terakoya, đây là một trong ít công trình quý báu không chỉ phân tích tổng quát mà còn đề cập đến rất nhiều trường
3 Mạc mạt hay Bakumatsu (幕末) là những năm cuối cùng dưới thời Edo khi Mạc phủ Tokugawa sắp sụp đổ Tiêu biểu là hàng loạt sự kiện quan trọng diễn ra từ năm 1853 đến năm 1867 khiến Nhật Bản chấm dứt chính sách Tỏa Quốc và chuyển từ chế độ phong kiến Mạc phủ sang triều đình Minh Trị
Trang 16Terakoya cụ thể thời cận thế Tác giả Kaibara Tooru với công trình “Nghiên cứu trường tư thục cận thế” do nhà xuất bản Shibunkaku ấn hành năm 1983 (『近世私塾の研究』思文閣出版、1983 年) là một trong những tài liệu quý báu cho những người muốn tìm hiểu, nghiên cứu về trường tư thục Nhật Bản thời cận thế, tác phẩm đề cập đến động thái và sự giao lưu của một số trường tư thục thiêu biểu thời
kỳ này của các nhân vật như Yoshida Shoin, Ogata Koan, Siebold, Sugita Genpaku, Hirose Tanso cùng một số nhân vật khác Dưới góc nhìn đa dạng tác giả đã phân tích một cách tổng hợp mang tính hệ thống từ đó đi sâu vào làm rõ và phân tích được ý nghĩa cũng như vai trò của trường tư thục đối với thời cận đại Tương tự, tác giả Naramoto Tatsuya với công trình “Trường tư thục Nhật Bản” do nhà xuất bản Tanko ấn hành năm 1969 (『日本の私塾』淡交社) cũng nghiên cứu rất kỹ nội dung hoạt động của các trường tư thục như Shoka Sonjuku của Yoshida Shoin, Toju Shoin của Nakae Toju, Kogido của Ito Jinsai, Renjuku của Kanchajan, Kangien của Hirose Tanso, Narutaki juku của Siebold, Tekijuku của Ogata Koan đây là những ngôi trường đã đào tạo nên nhiều nhà lãnh đạo cho Minh Trị duy tân nên thực sự là tài liệu quý giá cho đề tài luận văn này
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đi sâu vào nghiên cứu, phân tích
và đánh giá vai trò của giáo dục Nhật Bản trong suốt thời Edo chứ không phải tập trung chỉ vào cuối thời Edo, cũng không đi vào đánh giá vai trò của nó đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc Minh Trị duy tân
Về những thành quả của nền giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo trong việc góp phần đào tạo những nhà lãnh đạo công cuộc duy tân thời Minh Trị thì trong các bộ sách về nhân vật lịch sử đã đề cập chi tiết Ví như, trong tác phẩm “Mười công thần kiệt xuất của Duy tân” (維新元勲十傑論) của Yamawaki Yukito đề cập đến
Trang 17gồm có: Saigo Takamori, Okubo Toshimichi, Komatsu Kiyokado, Okura Yasujiro, Kido Takayoshi, Maehara Issei, Hirosawa Saneomi, Edo Shimpei, Yokoi Shonan, Iwakura Tomomi Đây là những nhân vật chịu ảnh hưởng của nền Nho học kiểu mới và đã tiếp cận hay học tập ở các trường Hà Lan học Đó là môi trường giáo dục đào tạo họ thành những nhà lãnh đạo công cuộc duy tân trong giai đoạn đầu “Thực lục duy tân thập kiệt”(実録維新十傑) của Ito Chiyu là mười nhân vật : Okubo Toshimichi, Saigo Takamori, Kido Takayoshi, Katsu Kaishu, Iwakura Tomomi, Sanjo Sanetomi, Sakamoto Ryuma, Nakaoka Shintaro, Yoshida Shoin, Takasugi Shinsaku
Các công trình bằng tiếng Anh:
Về các công trình lịch sử Nhật Bản có đề cập nhiều đến giáo dục Nhật Bản thời Edo có “The Rise of Modern Japan”, Charles E Tuttle Campany, Tokyo, 1991 của W.G.Beasley Phần trình bày của ông về giáo dục cũng còn ít, và giống như các nhà nghiên cứu phương Tây khác ông chú trọng vào giáo dục Nho học cấp tiến (Neo-Confucian)
Công trình đề cập trực tiếp, sâu về giáo dục ở Nhật Bản thời Edo như
“Education in Tokugawa Japan” của Ronald Dore do Center for Japanese Studies, University of Michigan ấn hành vào năm 1984, trong đó nhấn mạnh đến giáo dục Hán học (Nho học) thời đầu và giữa Edo chưa tập trung nhiều cho nghiên cứu ở thời cuối Edo; cuốn “Tokugawa Confucian Education” của Marleen Kassel do State University of New York Press xuất bản 1994 lại bàn sâu chuyên về giáo dục Nho học của Trường Kangien của Hirose Tanso, một nhà Hán học nổi tiếng thời Edo; và bài viết Education in the Bakumatsu Japan (1853-1912) của Giovanni Boroello đăng trên “Journal of Foreign Teaching and Applied Linguistics”, Roma
Trang 18Tre University, No.3/2014, tập trung trình bày tổng quát giáo dục thời Minh Trị, có dành một phần đề cập đến giáo dục cuối thời Edo
Tóm lại, có thể nói ở Việt Nam và nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết liên quan đến giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo Tuy nhiên, thứ nhất, do giới hạn về thời gian và nội dung nghiên cứu của mình, phần lớn các tác giả trong nước và ngoài nước khi đề cập đến giáo dục Nhật Bản thường thiên về giáo dục Nho học có tính cấp tiến của Nhật Bản (trong sự so sánh giáo dục Nho học ở Trung Quốc, Triều Tiên), không có công trình nào cân bằng trong việc giới thiệu Nho học và Tây học; hai là, các công trình đã nêu đều giới thiệu giáo dục Nhật Bản toàn bộ thời Edo chứ không tập trung vào giai đoạn cuối thời Edo; thứ ba
là, các nhà nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu các loại hình trường học, nội dung, phương pháp giáo dục, không chú trong phân tích mối quan hệ giữa giáo dục với bối cảnh lịch sử cuối thời Edo; và cuối cùng, chưa đi sâu đánh giá vai trò của nền giáo dục giai đoạn này đối với việc đào tạo nguồn nhân lực cho giai đoạn chuyển đổi từ thời Tokugawa sang thời Minh Trị
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo Cụ thể là bối cảnh lịch sử cuối thời Edo, các loại hình trường học, nội dung và phương pháp giáo dục của các loại trường, những thành quả và hạn chế của nó
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian chủ yếu là Nhật Bản và những nước, khu vực liên quan như Đông Á và phương Tây
Trang 19Về thời gian: chủ yếu là cuối thời Edo (1767-1868) nhưng đề cập đến phạm vi dài hơn trong thế kỷ XIX (cuối thời Edo đầu thời Minh Trị)
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Đây là công trình nghiên cứu thuộc về khoa học lịch sử và cả giáo dục học nên người viết đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử xem xét, đánh giá những biến đổi của giáo dục cuối thời Edo trong bối cảnh chung của lịch sử Nhật Bản trong thời kỳ này với sự biến đổi và nguyên nhân của nó, có triển vọng của nó Phương pháp lịch sử cũng giúp người viết khi xem xét đánh giá vai trò của giáo dục cuối thời Edo dựa trên những
tư liệu có thực, đáng tin cậy Đây cũng là phương pháp chính mà học viên áp dụng với luận văn này
Phương pháp lô-gíc giúp trình bày vấn đề một cách có hệ thống, có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, góp phần làm rõ những vấn đề đạt được trong công trình này Ngoài ra, vì đây cũng là đề tài liên quan đến giáo dục nên luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu giáo dục nhằm xem xét các loại hình giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục trong thời kỳ này
5.2 Nguồn tư liệu
Chủ yếu là tư liệu tiếng Nhật như các tư liệu liên quan đến chính sách giáo dục của Mạc phủ, của các Han (phiên), các văn bản về giáo dục của chính phủ Minh Trị; các số liệu thống kê về số lượng trường học, học sinh được chính quyền công bố
Trang 206 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Trong những năm gần đây, ở Nhật Bản cũng như nước ngoài, sự quan tâm nghiên cứu về thời đại Edo rất nhiều Nếu như trước đây, các nhà nghiên cứu thường đánh giá cao thời kỳ Minh Trị duy tân và nhấn mạnh những thành quả của thời ký đó là do việc tiếp nhận văn minh phương Tây, thì hiện nay, người ta quan tâm nghiên cứu về thời kỳ Edo, thời kỳ đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho công cuộc văn minh hóa, cận đại hóa thời Minh Trị Nói cách khác, trong lí luận về
sự phát triển của lịch sử Nhật Bản, có lý luận về sự phát triển liên tục và sự phát triển nhảy vọt, thì sự phát triển thời Minh Trị duy tân là sự phát triển vừa có tính liên tục, kế thừa thời đại Edo và có tính nhảy vọt nhờ kết hợp với việc tiếp nhận văn minh, kỹ thuật, luật pháp, thể chế phương Tây
Việc nghiên cứu giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo chẳng những giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn, chi tiết hơn thực trạng giáo dục của thời kỳ đó (như loại hình giáo dục, xu thế phát triển, thành tựu giáo dục) mà còn giúp chung ta hiểu sâu hơn, khoa học hơn bức tranh tổng thể về lịch sử Nhật Bản cuối thời Edo, một thời
kỳ hết sức quan trọng trong lịch sử Nhật Bản Hơn nữa, những thành tựu của nền giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo đã chỉ ra vai trò của nó trong việc đào tạo nguồn nhân lực đảm đương sự nghiệp duy tân thời Minh Trị sau này
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trong nghiên cứu về lịch sử giáo dục của Nhật Bản có một đặc điểm nổi bật
là là, các nhà nghiên cứu tập trung quá nhiều nghiên cứu những cuộc cải cách giáo dục thời Minh Trị duy tân, thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II và hiện nay Còn thời kỳ Edo, đặc biệt là giai đoạn cuối của nó, theo chúng tôi biết, chưa được
Trang 21các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Nhưng nếu không nghiên cứu đầy đủ lịch
sử giáo dục cuối thời Edo thì chúng ta không thể hiểu biết toàn diện về lịch sử giáo dục Nhật Bản, không lý giải được bức tranh tổng thể của thời Edo mà còn không lý giải đầy đủ và thấu đáo sự phát triển lịch sử của Nhật Bản trong thời Minh Trị và các thời kỳ sau Vì thế, người viết mong muốn tìm hiểu sâu hơn, có hệ thống và toàn diện hơn về giáo dục của Nhật Bản cuối thời Edo, một vấn đề chưa được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ
Theo sự hiểu biết của học viên, ở Việt Nam, còn rất ít công trình nghiên cứu sâu và chi tiết về vấn đề này Nếu nghiên cứu tốt, thì thành quả của nó có thể dùng làm tài liệu cho việc cho việc học tập, nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản, đặc biệt là lịch sử giáo dục Nhật Bản
7 Tính mới của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu có hệ thống và chi tiết về vấn đề giáo dục cuối thời Edo ở Nhật Bản
Là công trình nghiên cứu chi tiết, có nhiều tư liệu mới và do đó sẽ đưa tới cách đánh giá mới, toàn diện hơn về vai trò giáo dục thời Edo đối với sự phát triển
Trang 22Bản vào cuối thời Edo nhằm làm rõ bối cảnh dẫn đến nhu cầu và sức ép tạo nên sự phát triển của giáo dục Nhật Bản thời kỳ này
Chương 2: Giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo
Trong chương này, tác giả đi vào phân tích cụ thể về tình hình giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo thông qua quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục Các tiểu mục trong chương tập trung chính vào các trường trực thuộc mạc phủ, trường tư nhân và trường Tây học
từ đó rút ra những đặc điểm của giáo dục thời kỳ này và đi đến những kết luận về
sự thay đổi, phát triển của giáo dục Nhật Bản nhằm liên hệ với việc đào tạo nguồn nhân lực cho Minh Trị duy tân ở chương sau
Chương 3: Vai trò của giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho Minh Trị duy tân
Chương này tập trung phân tích những vai trò của giáo dục Nhật Bản cuối thời Edo trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực lãnh đạo công cuộc lật đổ chế độ Mạc phủ, thiết lập chính quyền Minh Trị cũng như sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhật Bản thời Minh Trị
Trang 23CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC GIÁO DỤC NHẬT BẢN VÀ BỐI CẢNH LỊCH
SỬ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC CUỐI THỜI EDO
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Giáo dục và vai trò của giáo dục
Đề tài luận văn lấy giáo dục cuối thời Edo làm đối tượng để nghiên cứu, như vậy việc đầu tiên cần làm sáng tỏ là những định nghĩa, khái niệm cơ bản của giáo dục
Định nghĩa về giáo dục theo nghĩa rộng thì rất nhiều vì có thể nhìn nhận nó dưới nhiều góc độ, ví dụ như định nghĩa giáo dục nhìn từ góc độ ngữ nghĩa của từ,
từ mục đích của giáo dục, từ phương pháp- cách thức của giáo dục hay từ ý nghĩa-vai trò và hiệu quả của giáo dục
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra định nghĩa về giáo dục như sau: Giáo dục
là quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, nó được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người [48]
John Dewey trong bài viết “ Democracy and Education” thì quan niệm: Giáo dục theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học [101, tr.1-4]
Theo Phạm Viết Vượng thì “giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người…” [43, tr 9]
Trang 24Trong cuốn “ Giáo dục và đào tạo chìa khóa của sự phát triển “ của Đinh Văn
Ân, Hoàng Thu Hòa, các tác giả đã khẳng định “Giáo dục là quá trình được tổ chức
có ý thức, làm biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người học, góp phần hoàn thiện nhân cách người họ”
Yamamoto Masami trong cuốn “Lịch sử giáo dục Nhật Bản - Giáo dục hiện tại nhìn từ lịch sử” (日本教育史‐教育の「今」を歴史から考える) có nhận định rằng xung quanh vấn đề hàm nghĩa của giáo dục thì ngay cả trong giới nghiên cứu giáo dục cũng chưa hình thành một cách giải thích ý nghĩa nào gọi là định thuyết
cơ bản.Ví dụ, có người cho rằng “sự xã hội hóa của cá nhân (tầng lớp trẻ)” , cũng
có người hiểu nó là “sự truyền đạt văn hóa” hoặc “sự dạy dỗ, quá trình học tập” Những giải nghĩa này dựa trên góc độ nhìn nhận về mục đích, hoặc có thể cũng là không mục đích Những gợi ý trên không thể giải thích hết được ý nghĩa căn bản vốn có của giáo dục bởi chính ý nghĩa của từ đó (giáo dục) đã mang tính đa dạng
và ưu việt Việc thử các cách tiếp cận học thuật với“giáo dục”cũng cần luôn đảm bảo rằng khái niệm về“giáo dục” vốn là đa ý nghĩa” [78, tr 1]
Như vậy, giáo dục mặc dù đa nghĩa do nhìn nhận từ những khía cạnh góc độ khác nhau thì nhìn chung giáo dục vẫn phải là một hoạt động của con người, thông qua quá trình đào tạo, rèn luyện, lĩnh hội những kiến thức đi trước để trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng nhằm phục vụ cho những hoạt động của họ, nhằm hoàn thiện con người và nhằm phát triển xã hội
Về vai trò của giáo dục thì có những nhận định như sau: Giáo dục và đào tạo
có vai trò là nền tảng, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc bởi giáo dục - đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động
Trang 25có trình độ cao làm giàu của cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ sức đề kháng chống lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu Giáo dục - đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề cao
Có thể thấy vai trò của giáo dục dù có nhiều cách định nghĩa, diễn giải, tuy nhiên nhìn chung giáo dục nắm giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân con người và của bất cứ quốc gia nào
1.1.2 Cuối thời Edo
Như trong mục Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã trình bày, đối tượng nghiên cứu là Lịch sử giáo dục cuối thời Edo vì vậy học viên xin được trình bày về phạm vi thời gian và chủ thể của nghiên cứu này
Trước hết về cách phân kỳ cơ bản của các thời kỳ lịch sử Nhật Bản, xin được tóm tắt sơ bộ như sau:
Lịch sử của Nhật Bản qua các thời đại được chia thành: Nguyên thủy, Cổ đại, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại Để rõ hơn, xin xem bảng so sánh sau đây
Phân kỳ lịch sử Nhật Bản Phân kỳ lịch sử Việt Nam
Theo đó, thời cận thế tương đương với thời kỳ Edo trong lịch sử Nhật Bản
Trang 26Thời kỳ Edo được ghi nhận là thời kỳ các tướng quân trong dòng họ Tokugawa nắm quyền thống trị, chính vì vậy nó còn được gọi là thời kỳ Tokugawa Về thời gian, thời kỳ Edo bắt đầu từ ngày 24 tháng 3 năm 1603 (năm Keicho thứ 8) khi mà Tokugawa Ieyasu được phong tặng danh hiệu Chinh di đại tướng quân và xây dựng nên Mạc phủ tại Edo (nay là Tokyo) cho đến ngày 3 tháng 5 năm 1868, khi thành Edo đầu hàng trước quân đội chính phủ Minh Trị, là khoảng thời gian kéo dài suốt
265 năm trong quá trình lịch sử của Nhật Bản
Thời kỳ Edo của Nhật Bản thường được chia thành 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn đầu thời kỳ Edo: 1600 -1680
Giai đoạn giữa thời kỳ Edo: 1680-1787
Giai đoạn cuối thời kỳ Edo: 1787-1868
Luận văn đề cập chủ yếu trong giai đoạn cuối của thời kỳ Edo, tức là từ năm
1787 (thời Tướng quân Tokugawa Ienari) đến năm 1868 (thời Tướng quân Tokugawa Yoshinobu) Tuy nhiên, do các mối liên hệ giữa các sự kiện và nhân vật liên quan đến giáo dục nên cũng có khi đề cập đến giai đoạn trước năm 1787 hay sau năm 1868
1.1.3 Minh Trị duy tân
Cho đến hiện nay, khái niệm “Minh Trị duy tân” giữa các nhà nghiên cứu vẫn chưa có một quan niệm thống nhất Trang mở có tính học thuật wikipedia tiếng Nhật viết rằng: Cải cách Minh Trị, hay Cách mạng Minh Trị, hay Minh Trị Duy tân (明治維新 Meiji-ishin) là một chuỗi các sự kiện cải cách, cách tân dẫn đến các thay đổi to lớn trong cấu trúc xã hội và chính trị của Nhật Bản
Về việc phân kỳ của Minh Trị duy tân cũng có nhiều cách phân kỳ khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều coi nó là một chuỗi các cuộc cải cách kéo
Trang 27dài từ năm 1868 khi chính quyền Minh Trị được thành lập đến cuộc chiến Nhật- Thanh kết thúc năm 1895
Minh Trị Duy tân là một trong những sự kiện quan trọng nhất của lịch sử Nhật Bản Minh Trị Duy tân đã đưa Nhật Bản từ một nước phong kiến theo chế độ baku
- han (Mạc – Phiên) thành một cường quốc trên thế giới và là cường quốc duy nhất ngoài Âu - Mỹ Năm tháng trôi qua, người ta càng thấy rõ ý nghĩa to lớn của Minh Trị Duy tân đối với Nhật Bản và thế giới
1.2 Sơ lược về lịch sử giáo dục Nhật Bản từ thời cổ đại đến hết giai đoạn Edo trung kỳ
Để có một cái nhìn tổng quát về quá trình phát triển của giáo dục Nhật Bản, học viên xin được sơ lược về lịch sử giáo dục Nhật Bản từ thời cổ đại cho đến hết giai đoạn giữa thời kỳ Edo:
Thời cổ đại là thời kỳ tiếp nhận và duy trì giáo dục theo văn hóa đại lục Thời Nara là thời kỳ phát triển của văn hóa Tùy - Đường thông qua việc gửi
sứ giả là tăng sư và du học sinh Việc học tập, nghiên cứu Minh pháp đạo, Văn chương đạo rất thịnh hành.Triều đình quản lý Daigaku (Đại học), địa phương quản
lý Kokugaku (Quốc học) cả hai đều là trường học đào tạo quan lại theo tư tưởng Nho giáo
Đến thời Heian, Nhật Bản ngưng việc đi sứ nhà Đường, phát triển văn hóa quý tộc mang phong cách Nhật Bản (Văn hóa quốc phong) Đầu thời Heian văn học chữ Hán phát triển mạnh, sau đó nhờ vào sư xuất hiện của chữ Kana mà văn thơ Nhật Bản (Waka, wabun) đã phát triển.Trong thời kỳ này do Phật giáo phát triển mạnh mà ảnh hưởng của tăng sư đến giáo dục là vô cùng to lớn, nhà sư Không Hải mở “Tổng nghệ chủng chí viện” nhằm mục đích giáo dục cho dân thường Ngoài ra, một số cơ sở giáo dục có giới nữ tầng lớp quý tộc như:
Trang 28Kangakuin (dòng họ Fujiwara), Gakkanin (dòng họ Tachibana), Shogakuin (dòng
họ Ariwara) được thành lập
Sang thời Kamakura cơ chế chính trị trở nên thống nhất, văn hóa Nhật Bản được phản ảnh ngay trong giáo dục Các trường quan lập (công lập) và tư lập dần suy thoái, thay vào đó chùa chiền hoặc giáo dục tại gia đình, tư trang lại phát triển Đáng chú ý là thư viện cổ nhất của giới võ sĩ Kanazawa bunko được xây dựng Thời Nam - Bắc triều nghiên cứu về Chu Tử học phát triển, song song với nó
là nghiên cứu về văn học cổ như “Genji Monogatari”, “Kim cổ hòa ca tập” cũng thịnh hành Văn hóa đặc trưng và tư tưởng Nhật Bản phát triển Đặc biệt, Teikin orai (庭訓往来), một hình thức thư gửi qua lại (đây được xem như một kiểu sách giáo khoa luyện chữ, khá phổ biến trong giáo dục Terakoya ở thời Edo) được áp dụng cho đến tận thời Cận đại Đây được coi là sách giáo khoa tiểu học đầu tiên của Nhật Bản
Qua thời Muromachi mặc dù chính trị có nhiều biến chuyển và chiến tranh xảy ra liên miên nhưng giáo dục xã hội vẫn rất phát triển Uesugi Norizane trở thành Han chủ của Ashikaga, ông đã dốc hết sức mình để thành lập nên ngôi trường Ashikaga được coi là học phủ cao nhất của vùng Kanto thời kỳ đó Vào năm 1549, Francisco de Xavier - nhà truyền giáo người Tây Ban Nha đã đến Nhật truyền bá đạo Thiên chúa Năm 1580, cơ sở giáo dục và truyền giáo của đạo Thiên chúa - Seminário được thành lập ở vùng Oumi (Tỉnh Siga) và Hizen (Tỉnh Saga và Nagasaki), Collegio được thành lập trong nội phủ vùng Bungo (Tỉnh Oita)
Bước sang thời Edo, đây là thời kỳ mà nhiều cơ sở giáo dục được thành lập, phong phú về hình thức và nội dung Cơ sở giáo dục của giới võ sĩ gồm có trường Gia thục, Tư thục, Hanko Giới bình dân có Terakoya, Gyoko (trường làng) Năm
Trang 291641 Hanko đầu tiên có tên là Hanabata Kyojo được Ieda Mitsumasa người đứng đầu Han Okayama thành lập Năm 1648 Nakae Toju thuộc phái Dương Minh học lập nên trường tư thục đầu tiên là Toju Shoin ở làng Ogawa thuộc vùng Oumi Năm 1662 nhà Nho học Ito Jinsai mở trường tư thục Kogido ở vùng Horikawa , Kyoto Năm 1670 Han chủ Okayama thiết lập một cơ sở giáo dục cho bình dân gọi
là trường Shizutani Năm 1739 do Lệnh cấm dị học Kansei (Khoan Chính) mà trường tư thục của dòng họ Hayashi được chuyển thành cơ sở giáo dục của Mạc phủ có tên Shoheiko
Như vậy nhìn chung giáo dục Nhật Bản cho đến trước thời Edo tuy có phát triển nhưng chưa phong phú Đối tượng của giáo dục chủ yếu cũng vẫn còn là tầng lớp quý tộc, tăng sư giới bình dân và võ sĩ chưa được chú trọng giáo dục Qua thời kỳ Edo, do chính sách đóng của giúp cho Nhật Bản có được thời kỳ hòa bình lâu dài, văn hóa chữ viết phát triển, giáo dục dành cho giới bình dân và võ sĩ cũng bắt đầu được phát triển
Trong giai đoạn đầu và giữa của thời kỳ Edo (khoảng từ đầu thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII) các loại hình giáo dục đã dần định hình Về cơ bản các cơ sở giáo dục ở thời kỳ này cũng được phân ra làm hai loại hình: một là dành cho giới
võ sĩ và quý tộc (con em của Hoàng gia và quan chức triều đình), và hai là dành cho thường dân
Về các cơ sở dành cho giới võ sĩ, quý tộc
Giáo dục ở thời Edo tập trung vào Nho giáo dựa trên nền tảng là những phương châm của Mạc phủ, trong đó Chu tử học được coi là chính thống và rất được tôn sùng Các dòng họ võ sĩ thời trung thế học tại các chùa và tăng sư là thầy của họ nhưng đến thời Edo thì các trường học được lập ngay dưới các lâu đài của
Trang 30Han chủ (người đứng đầu các phiên) và thầy giáo là những nhà Nho có tiếng Các trường học này được gọi là Hanko (hay Hangaku) Ở thời kỳ đầu, các Hanko chỉ được thành lập ở một số Han mà thôi, tuy nhiên vào khoảng giữa thời Edo thì số lượng Hanko tăng lên nhanh chóng, ngay cả ở những Han nhỏ cũng được thiết lập,
số lượng Hanko lên đến hơn hai trăm mấy chục trường
Trong số những Hanko đó thì học phủ cao nhất của thời Edo, do Mạc phủ lập
ra là Shoheiko Shoheiko được biết đến như là một Hanko kiểu mẫu để các Han học theo và xây dựng trường học, hơn thế nữa đây cũng là nơi nhận các học viên
ưu tú của các Hanko khác về đào tạo, ngoài ra cũng là nơi đào tạo cả thầy giáo cho các Hanko vì vậy khi nhắc đến giáo dục của giới võ sĩ thời Edo, trước tiên phải kể đến là Shoheiko
Về các cơ sở giáo dục dành cho giới bình dân
Bình dân (mà người Nhật hay dùng từ thường dân “shomin” 庶民) là đại đa
số nhân dân và ở thời Edo, chủ yếu là tầng lớp nông, công, thương Trong xã hội thời Edo, tầng lớp bình dân cũng rất coi trọng giáo dục cả về mặt đạo đức và về kiến thức Giáo dục bình dân trong giai đoạn đầu chủ yếu là ở gia đình và giáo dục thông qua các sinh hoạt xã hội Trường Tâm học và Báo đức giáo (coi trọng giáo dục đạo đức) của Ninomiya Takanori là cơ sở giáo dục có đóng góp to lớn trong giáo dục bình dân thời Edo Tuy nhiên, từ giữa thời kỳ Edo trở đi thì Teyakoya (Trường chùa 寺子屋) đã phát triển, dần dần được mở rộng và phổ biến như là những trường học chính dành cho con em bình dân và chiếm một vị trí quan trọng
trong giáo dục Nhật Bản đương thời
Ngoài những trường học mang tính đại diện cho giáo dục thời Edo như Hanko của giới võ sĩ hay Terakoya của bình dân thì trong thời kỳ này cũng còn có những
Trang 31cơ sở giáo dục với nhiều loại hình khác nhau Trong đó Trường làng (Goko, Gogaku 郷校・郷学) là một trong những cơ sở giáo dục đáng được quan tâm chú ý
vì nó mang hình thức như một Hanko, để cho các võ sĩ trong làng theo học nhưng cũng có nhiều nơi thu nhận cả dân thường học cùng
Về các cơ sở giáo dục tư thục
Trường tư thục về cơ bản là trường mà các thầy giáo mở ra tại nhà của mình nhằm giảng dạy cho các môn đệ những kiến thức về học vấn, kỹ năng Trường tư thục từ thời cổ đại, trung thế đã được hình thành với mục đích truyền giảng những học phái, trào lưu trên cơ sở là mối quan hệ khăng khít giữa thầy và trò
Vào cuối thời Edo trường tư thục có những hình thức như trường Hán học, trường luyện chữ, trường học làm toán (soroban), trường quốc học, trường Tây học ngoài ra còn có các trường tổng hợp các môn học nêu trên cũng phát triển
Vì Mạc phủ vận động mọi người tập trung vào Hán học đặc biệt là Nho học nên rất nhiều nhà Nho đã xuất hiện, và các trường Hán học tập trung vào Nho học thời kỳ này cũng rất hưng thịnh Những nhà Nho học nổi tiếng khi mở trường đều có nhiều môn đồ theo học, thậm chí còn có cả những nhân vật nổi tiếng, ghi danh trong lịch
sử sau này
Về các cơ sở Tây học
Các trường Tây học là những học phái học tập kỹ thuật, văn hóa và học thuật
ở các nước bên ngoài, nhìn về quá trình hình thành trong lịch sử thì ở thời kỳ đầu được gọi là Man học hay Nam man học (蛮学・南蛮学), ở thời kỳ giữa là Lan học (蘭学), ở thời kỳ cuối sau khi Mạc phủ mở cửa đất nước thì trở thành Tây học (洋学) Tây học hay Dương học (Yogaku 洋学) phát triển và phổ biến rất nhanh chóng vào khoảng cuối thời Edo đầu thời Minh Trị duy tân, nhờ Tây học mà Nhật
Trang 32Bản đã du nhập những văn hóa cận đại của Âu - Mỹ đưa giáo dục bước vào cận đại hóa Phong tào Tây học phát triển kéo theo các trường Tây học và tư thục Tây học cũng phát triển Chính tại những trường này sau khi Học chế được ban hành đã biến chuyển thành hoặc là nguồn gốc để trở thành cơ sở giáo dục trung cấp Với ý nghĩa đó, sự phát triển của Tây học và các trường Tây học vào giai đoạn cuối Edo đầu thời Minh Trị duy tân có ý nghĩa và mối quan hệ sâu sắc với việc hình thành nên giáo dục trường học cận đại của Nhật Bản
Trên đây là một bức tranh tổng quát về lịch sử giáo dục Nhật Bản cho đến giai đoạn giữa thời Edo Nhìn chung, vào gần cuối thời Edo, giáo dục mang những đặc điểm nổi bật là phát triển, phong phú và mang tính phân biệt đẳng cấp rõ rệt
1.3 Hoàn cảnh lịch sử Nhật Bản cuối thời Edo
Thời kỳ Edo (còn gọi là Tokugawa) kéo dài khoảng hơn 250 năm (1600 -
1868, có sách ghi là 1603 - 1867) là thời kỳ có nhiều biến đổi về nhiều mặt trong lịch sử Nhật Bản Đây là được coi là giai đoạn phát triển cao nhất chế độ phong kiến đồng thời giai đoạn cuối của nó cũng là thời kỳ mở ra cánh cửa bước vào cận
- hiện đại của Nhật Bản
Hơn hai thế kỷ tuy có nhiều biến động nhưng về căn bản thời Edo diễn ra hòa bình tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước trên nhiều lĩnh vực góp phần quan trọng cho cải cách Minh Trị sau này
Nhìn một cách tổng quát có thể thấy Edo là thời kỳ mà chính quyền trung ương đạt được sự quản chế tương đối thống nhất trên toàn lãnh thổ cơ sở kinh tế của đất nước vẫn chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp tự nhiên , song các ngành kinh
tế như thủ công nghiệp, thương nghiệp đã có nhiều phát triển nổi bật
Trang 33Về mặt ngoại giao thời kỳ đầu Edo đất nước mở cửa giao thương với nước ngoài nhưng sau đó bước vào giai đoạn đóng cửa - sakoku 鎖国(tỏa quốc)
Vào cuối thời Edo “một số khuynh hướng học thuật mới đã xuất hiện như Quốc học, Khai quốc học, Hà Lan học đã tạo nên những trào lưu tư tưởng mới, đẩy nhanh tiến trình cải cách, góp phần quan trọng đưa công cuộc hiện đại hóa ở Nhật Bản đến thành công” [25, tr 194, 195]
1.3.1 Sự khủng hoảng của thể chế Bakuhan và sự biến đổi về kinh
tế xã hội
Thể chế Bakuhan (幕藩体制) hay còn gọi là thể chế Mạc - Phiên được hình thành vào cuối thế kỷ thứ XVI dưới thời của tướng quân Tokugawa Ieyasu và kéo dài đến giữa thế kỷ thứ XVII dưới thời của tướng quân đời thứ 3 của dòng họ Tokugawa - Tokugawa Iemitsu
Nhằm đạt được một thiết chế ổn định hòa bình và thống nhất cho đất nước Tokugawa Ieyasu đã xác lập nên “cơ chế vận động song song: Mạc phủ, đứng đầu
là tướng quân (Shogun) Tokugawa ở Edo và các daimyo (lãnh chúa) cai trị khoảng trên 260 lãnh địa.Cơ chế chính trị phong kiến có tính chất quân phiệt đó được gọi
là Bakuhan taisei (Mạc- phiên thể chế hay Chế độ Mạc Phủ- công quốc)” [25, tr 196]
Mạc phủ tuy công nhận quyền cai trị lãnh địa của các lãnh chúa nhưng đồng thời cũng ban hành Luật vũ gia (Buke shohatto) nhằm quản lý các lãnh chúa
và xã hội một cách chặt chẽ Thêm vào đó để quản lý và kiểm soát chặt chẽ các lãnh chúa Mạc phủ đã ban hành chế độ sankin kotai, một chế độ luân phiên trình diện mang tính chất đặc trưng của sự cai trị của chế độ phong kiến quân phiệt Nhật Bản Ban đầu sankin kotai được thực hiện một cách tự nguyện nhưng sau đó đã trở
Trang 34thành bổn phận của tất cả các lãnh chúa Sankin kotai có hiệu quả tốt trong việc tạo nên điều kiện khách quan để thúc đẩy sự hoàn thiện của các tuyến giao thông và hoạt động thương mại cũng như đô thị hóa Tuy nhiên, thực hiện chế độ luân phiên trình diện này đã gây ra tổn thất rất to lớn về mặt kinh tế của các lãnh chúa vì những chi phí cho cuộc hành trình và các dinh thự ở Edo đã chiếm khoảng một nửa thu nhập của họ
Các võ sỹ cấp dưới thì rơi vào tình trạng bị bần cùng hóa do nguồn lực tài chính của Mạc phủ bị suy yếu dẫn đến không thể trả lương cho võ sĩ một cách đầy
đủ như trước đó Võ sĩ cấp càng thấp càng lâm vào cảnh khốn khó buộc phải bán lúa được cấp hoặc phải đi vay nặng lãi, nhiều võ sĩ vì không thể duy trì cuộc sống hiện tại đã bỏ đi lang thang và biến thành Ronin ( Võ sĩ không chủ) Sự bần cùng hóa của tầng lớp võ sĩ đã làm cho sự tôn quý, kính trọng của các tầng lớp khác với
họ cũng giảm đi đồng thời gây nên tâm lý bất mãn của họ đối với chính quyền Mạc Phủ
Bước vào giai đoạn cuối thời Edo (thế kỷ XVIII) thiết chế chính trị phong kiến dựa trên cơ sở là nền kinh tế nông nghiệp đã rơi vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng về mặt kinh tế và quản lý xã hội
Kinh tế nông nghiệp suy thoái do hiện tượng mua bán ruộng đất gia tăng, việc nộp tô bằng tiền khiến cho người nông dân lệ thuộc nhiều hơn vào thương nhân, những người cho vay nặng lãi, những phú nông mới giàu có lên và sự bần cùng hóa nông dân diễn ra quyết liệt [32, tr 94]
Sự bần cùng hóa của người nông dân khiến cho một số lượng lớn người lao động di chuyển đến các thành thị, tuy nhiên điều này cũng không giải quyết được
sự bất mãn của nông dân khiến họ đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh chống lại chế
Trang 35độ Mạc Phủ Từ năm 1590 đến năm 1867 trong khoảng thời gian 278 năm đã diễn
ra 2809 cuộc đấu tranh của nông dân (bình quân 1 năm 10 trận), trong đó có 1192 trận xảy ra trong thời gian 67 năm ngay trước khi Minh Trị duy tân [29, tr 36, 37]
Về mặt xã hội thì sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp khiến một só người làm trong các ngành này giàu lên nhanh chóng thậm chí mạc phủ (bakufu) và các daimyo trong tình hình khủng hoảng cũng đã phụ thuộc vào họ về mặt tài chính Tuy nhiên “Chính quyền bakufu đã dùng nhiều biện pháp để kiểm soát hoạt động của thủ công nghiệp thông qua việc khống chế hoạt động của các
“za” Đối với thương nhân thì chính quyền bakufu kiểm soát gắt gao hoạt động cũng như thu nhập của họ, thậm chí còn sử dụng quyền lực của mình để cướp đoạt tài sản của họ” [32, tr 94]
Như vậy có thể khẳng định rằng Mạc Phủ đã không còn gánh vác được vai trò trung tâm lãnh đạo nữa vì đã không giải quyết được những mâu thuẫn đối với các tầng lớp trong xã hội và để đất nước rơi vào trạng thái suy thoái nặng nề về kinh tế Trong bốn đẳng cấp người của xã hội thì Mạc Phủ trực tiếp xung đột với giai cấp nông, công, thương và bị bất mãn bởi không đủ khả năng đảm bảo cuộc sống cho võ sỹ cấp dưới
Từ cuối thời Edo, nền kinh tế và xã hội Nhật Bản có nhiều biến đổi sâu sắc
Về kinh tế có thể thấy rõ nhất đó là sự suy thoái của nền nông nghiệp song song với sự phát triển của thủ công nghiệp và công nghiệp
Về xã hội đó là sự hình thành tầng lớp thị dân hay còn gọi là Chonin, tầng lớp này là những người thuộc đẳng cấp công và thương trong bốn đẳng cấp: sĩ, nông, công, thương Nếu như ở thời kỳ trước họ là những người bị xếp sau cùng và ít
Trang 36quan trọng trong xã hội thì vào thời kỳ này họ trở thành những người có vai trò quan trọng đối với nhiều tầng lớp người trong xã hội
1.3.2 Nhật Bản đóng cửa (Sakoku 鎖国) và mở cửa (Kaikoku 開
国)
Sakoku (鎖国) trong tiếng Nhật có nghĩa là “tỏa quốc” ở Việt Nam có nhiều tài liệu dùng từ ngữ này là “đóng cửa”, có thể là vì nó đối lập với nghĩa “mở cửa” vào năm 1854 của Nhật Bản, tuy nhiên trên thực tế Nhật Bản không đóng cửa hoàn toàn đất nước mà vẫn để mở một số cảng giao thương với bên ngoài, chỉ cấm giao thương với một số nước và ở tại một số địa điểm nhất định mà thôi
Chính sách đóng cửa được mạc phủ ban bố dưới thời Tướng quân Tokugawa Iemitsu qua một số sắc lệnh từ năm 1633 đến năm 1639 và thực thi cho đến năm
1853 khi Đô đốc Mathew Perry đến mở cửa Nhật Bản vào năm 1853 Như vậy chính sách tỏa quốc của Nhật Bản đã được thực thi trong hơn 200 năm, đây được đánh giá là “ một thời thanh bình có lẽ lâu dài nhất trong lịch sử các dân tộc trên thế giới ” [51, tr 52] Chính vì có được một khoảng thời gian dài hầu như không có xung đột, chiến tranh nên chính sách này cũng đã tạo nên được những điểm tích cực cho đất nước Nhật Bản, cụ thể là:
Nhờ có thời gian yên bình lâu dài nước Nhật đã có điều kiện để tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Chính sách sakoku cũng là một cách kiểm soát thương mại giữa Nhật Bản và các quốc gia khác, cũng như khẳng định vị thế mới của Nhật trong khu vực, giúp Nhật Bản thoát khỏi hệ thống sách phong - triều cống của Trung Quốc trong quan
hệ với các nước Đông Á nhiều thế kỷ nay
Trang 37Chính sách sakoku cũng được đánh giá là chính sách tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhật Bản, ngăn cản nạn “chảy máu” bạc và đồng ra thế giới bên ngoài [32, tr 86]
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực nói trên thì chính sách sakoku lại được xem như là mang đến thất bại nhiều hơn thành công, vì:
Không giao thương với bên ngoài là một tổn thất lớn về kinh tế “Kinh tế đối ngoại, là một bộ phận nhạy cảm và không thể thiếu được của một nền kinh tế, hầu như bị “triệt tiêu” Các thương thuyền của Nhật trước đây từng cạnh tranh được cả với tàu Bồ Đào Nha, thì nay trở nên vắng bóng Các “khu phố Nhật” ở Đông Nam
Á theo đó cũng suy vong.” [20, tr 123]
Không giao lưu học hỏi các nước phát triển hơn lúc bấy giờ là nguyên nhân gây nên tụt hậu về các ngành khoa học kỹ thuật “ Trong khi phương Tây triển khai thắng lợi cuộc cách mạng công nghiệp, thì người Nhật hầu như chưa biết gì mấy về một nước Anh “công xưởng” của thế giới.” [20, tr 123] Một đất nước lạc hậu về khoa học kỹ thuật sẽ không có đủ khả năng để chống lại các nước tư bản cường quốc phương Tây hùng mạnh
Tuy nhiên như đã nêu ở trên, tuy thực thi chính sách tỏa quốc nhưng Nhật Bản đã không hoàn toàn đóng cửa với bên ngoài Thực tế, có đến 4 cửa khẩu: Ở Nagasaki, đảo Tsushima, han Satsuma và han Matsumae vẫn mở cửa giao thương với bên ngoài Đặc biệt là cửa khẩu tại Nagasaki, Mạc phủ vẫn cho phép thương nhân Hà Lan buôn bán, lập thương quán trên đảo Dejima, nhờ vậy mà dù ít Nhật Bản vẫn có thể tiếp thu văn minh phương Tây Cũng chính vì thế mà giáo dục Nhật Bản trong thời kỳ này không chỉ chú trọng đến Quốc học mà còn phát triển cả Hà Lan học
Trang 38Với tình hình trong nước là sự khủng hoảng sâu sắc của thể chế Bakuhan, không còn đủ khả năng giải quyết các vấn đề, xung đột trong nước, khởi nghĩa của nông dân xảy ra liên tục Kinh tế nông nghiệp bị sa sút trầm trọng trong khi thủ công nghiệp và công nghiệp lại phát triển khiến người nông dân rơi vào cảnh mất ruộng đất, mất nguồn thu nhập dẫn đến kinh tế của Mạc phủ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Xã hội xảy ra nhiều chuyển biến lớn như sự hình thành tầng lớp thị dân, sự bần cũng hóa của tầng lớp võ sĩ dẫn đến mâu thuẫn với chính quyền Mạc phủ Chính sách sakoku kéo dài hơn 200 năm để lại hậu quả là đất nước tụt hậu so với các nước phương Tây đã khiến cho chính người Nhật nhận ra rằng mở cửa để học hỏi và phát triển là điều cần thiết và hết sức cấp bách
Ngoài ra với sức ép của các thế lực hùng mạnh bên ngoài mà cụ thể là vào năm 1853 một chiến hạm gồm 4 tàu hải quân dẫn đầu là Đô đốc Mathew Perry đã đến vịnh Edo của Nhật Bản yêu cầu mở cửa, thông thương và đến năm 1854 chính quyền Mạc phủ đẵ bắt buôc phải ký “Hiệp ước Kanagawa” hay còn gọi là “Hiệp ước Nhật - Mỹ hòa thân” mở đầu cho quá trình mở cửa của Nhật Bản
Cùng với Hiệp ước đã ký kết ở trên với Mỹ thì các nước như Anh, Pháp, Hà Lan cũng lần lượt ký kết các hiệp ước với chính quyền Mạc phủ Việc Mạc phủ mở cửa cho các nước phương Tây xét về hoàn cảnh lịch sử là điều khó có thể tránh khỏi, tuy nhiên một số daimyo không đồng tình với điều này và bắt đầu có tư tưởng chống lại chính quyền
Sau đó, vào năm 1585, Mạc phủ lại buộc phải ký kết với Mỹ “Điều ước Nhật
- Mỹ tu hiếu thông thương” với nhiều điều khoản bất bình đẳng và kéo theo sau đó
là hàng loạt điều ước bất lợi cho Nhật Bản với Nga, Pháp, Anh càng làm tăng thêm sự bất bình trong giới võ sĩ đứng đầu là các daimyo Biểu hiện của sự phản
Trang 39kháng lại Mạc phủ này là phong trào “Tôn Vương nhương Di” tức là đánh đuổi phương Tây, ủng hộ Thiên hoàng, tuy nhiên chính quyền Mạc phủ đã thực hiện những cuộc chống trả đàn áp và đây chính là nguyên nhân để phong trào “Tôn Vương nhương Di” chuyển thành phong trào “Tôn Vương đảo Mạc” tức là đánh
đổ Mạc phủ, ủng hộ Thiên hoàng Vào năm 1867 phong trào khôi phục lại quyền lực cho Thiên hoàng diễn ra mạnh mẽ, đến cuối năm thì Thiên hoàng chính thức được khôi phục quyền lực thông qua sắc lệnh “Vương chính phục cổ” Đến năm
1868 - 1869 với sự thất bại của Mạc phủ trong cuộc chiến tranh Mậu Thìn, chính quyền Minh Trị được thành lập đánh dấu một thời kỳ mới cho đất nước đồng thời
là điểm kết chấm dứt thời kỳ Mạc phủ Tokugawa
Như vậy, tình hình Nhật Bản đến cuối thời Edo có một vài yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến giáo dục Nhật Bản Trước hết, đó là chính sách đóng cửa suốt hơn
250 năm đã làm biến đổi xã hội Nhật Bản, từ chỗ tầng lớp võ sĩ trước kia tập trung vào khả năng “chiến đấu” thì nay do hòa bình kéo dài họ đã phải chú trọng sang
“văn hóa”, nói cách khác ở thời bình người ta đã không còn chỉ tập trung vào trang
bị “võ nghệ” mà bắt đầu chuyển hướng qua những kiến thức hành chính nhằm cai quản đất nước, điều này dẫn tới “văn hóa chữ viết” được dần coi trọng và phổ biến, giáo dục cũng từ đấy có được vị trí quan trọng trong tầng lớp võ sĩ, tầng lớp lãnh đạo của xã hội
Mặt khác, cũng nhờ hòa bình, ổn định kéo dài mà kinh tế và văn hóa, giáo dục
đã phát triển Trong ba đẳng cấp còn lại của xã hội thì thợ thủ công và thương nhân
ở các thành phố lớn phát triển vượt bậc về kinh tế, những nhu cầu cơ bản về giáo dục phục vụ cho kinh tế như đọc, viết và làm tính cũng xuất hiện và tăng lên ngày
Trang 40một nhiều Đây chính là nguyên nhân chính để giáo dục trong tầng lớp bình dân được chú trọng và phổ biến rộng rãi trên khắp đất nước Nhật Bản
Ngoài ra, với chính sách đóng cửa những vẫn giao thương với Hà Lan ở Dejima thì giáo dục phương Tây mà cơ bản là tiếng Hà Lan, y học Hà Lan và khoa học kỹ thuật của các nước phương Tây cũng vẫn được truyền vào Nhật Bản Đây cũng là tiền đề cho giáo dục Tây học Nhật Bản cuối thời Edo, khi nhu cầu học ngoại ngữ như tiếng Anh, Pháp, Đức, Nga hình thành và nhu cầu học tập khoa học kỹ thuật phương Tây dâng cao thì đã có kinh nghiệm và cơ sở từ Lan học, điều này cũng là một yếu tố quan trọng giúp cho Tây học Nhật Bản ở cuối thời Edo có điều kiện phát triển nhanh chóng và thuận lợi hơn
Tiểu kết chương 1
Giáo dục Nhật Bản cho đến trước thời Edo tuy có phát triển nhưng cũng chưa phong phú và ít ảnh hưởng của văn minh phương Tây Từ giữa thời Edo do hòa bình kéo dài dẫn đến “văn hóa chữ viết” và “giáo dục chữ viết” phát triển, trong giới võ sĩ khả năng “chiến đấu” tuy vẫn được chú trọng nhưng song song với nó là năng lực quản lý hành chính cũng được nâng cao Điều kiện tuyển chọn nhân tài cũng thay đổi, giới võ sĩ lãnh đạo được yêu cầu phải có “văn võ song toàn”, giáo dục chữ viết vì thế có một vị trí quan trọng
Kinh tế nông nghiệp tuy vẫn chiếm giữ vị trí quan trọng nhưng thủ công nghiệp
và thương nghiệp ngày một phát triển mạnh và đóng vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế, đây cũng là một nguyên do thôi thúc sự phát triển của giáo dục trong giới
võ sĩ và đặc biệt là giới bình dân ở cuối thời Edo
Ngoài ra, sự kiện những “chiến hạm đen” của đô đốc Perry đến Edo đã làm rung chuyển toàn Nhật Bản từ triều đình, võ sĩ và cả giới bình dân, giáo dục cũng