1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm giáo dục Việt Nam thời phong kiến, ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở Nhà trường hiện nay.

19 1,3K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 155 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm cơ bản của giáo dục quân sự Việt Nam thời phong kiến 11 1.8.. Vì vậy, Tiểu luận: “Đặc điểm giáo dục Việt Nam thời phong kiến, ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Giáo dục Việt nam dưới chế độ phong kiến 6

1.2 Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam 7 1.3 Hệ thống tổ chức của nền giáo dục phong kiến Việt Nam 8

1.7 Đặc điểm cơ bản của giáo dục quân sự Việt Nam thời

phong kiến

11

1.8 Ưu và nhược điểm giáo dục Việt Nam thời phong kiến 12

2 Ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở nhà trường hiện nay 13

2.1 Ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ởnhà trường nói chung hiện nay 13 2.2 Ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ởnhà trường quân đội hiện nay 18

MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Lý do chọn chủ đề tiểu luận

Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội Cũng giống như các yếu tố khác, giáo dục cần phải được quan tâm nghiên cứu đúng mực, trên tắt cả các phương diện như lý luận, tư tưởng, lịch sử giáo dục nhằm đem lại cho chúng ta một cái nhìn tồng quát nhất, đầy đủ nhất về giáo dục dân tộc Trên phương diện lịch sử tư tưởng, giáo dục mở ra nhiều khía cạnh cho chúng ta

có thể nghiên cứu khái quát, từ đó chúng ta có thể kế thừa và phát triển tư duy lý luận về giáo dục, định hướng cho thực tiễn đa dạng phong phú, đó cũng là một việc làm cần thiết Đặc biệt, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta, có rất nhiều vấn đề lý luận được đặt ra cần phải giải quyết, vấn đề lý luận đó không phải chỉ ở một lĩnh vực, một ngành khoa học nhất định mà cần phải khái quát ở nhiều lĩnh vực khác nhau Do đó, giáo dục cũng không phải là ngoại lệ

Hiện nay, giáo dục Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định, vì vậy việc nghiên cứu lý luận về giáo dục

đã trở nên quan trọng và không ngừng hoàn thiện trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Vì vậy, Tiểu luận: “Đặc điểm giáo dục Việt Nam thời phong kiến, ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở Nhà trường hiện nay”, nhằm tìm hiểu đặc điểm của giáo dục Việt Nam thời phong kiến, đồng thời đánh giá những ưu điểm và hạn chế để rút ra ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở Nhà trường hiện nay

Là một học viên lớp Cao học Quản lý giáo dục 2019, tôi nhận thức đây

là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, thông qua đó, bản thân có hiểu biết sâu hơn về lịch sử giáo dục của dân tộc Việt Nam thời phong kiến và hỗ trợ rất tốt cho học chuyên ngành sau này

2 Giới hạn của tiểu luận

Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm giáo dục Việt Nam thời phong kiến, ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở Nhà trường hiện nay

Phạm vi nghiên cứu: Đi sâu nghiên cứu trong phạm vi của lĩnh vực giáo dục, ngoài ra còn đề cập đến đặc điềm kinh tế - xã hội - chính trị - văn hoá của thời phong kiến để có cái nhìn toàn diện nhất về nền giáo dục

3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng phương pháp logic kết hợp với lịch sử, phân tích với tổng hợp để rút ra những kết luận cơ bản nhất về đặc điểm, ưu điểm và hạn chế, những bài học của nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến, từ đó rút ra ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở nhà trường hiện nay

4 Giá trị, ý nghĩa của tiểu luận

Trang 3

Tiểu luận phân tích các khía cạnh của nền giáo dục thời phong kiến như mục tiêu, tính chất, nội dung, phương pháp, hệ thống giáo dục đồng thời, đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế của nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến Từ đó, rút ra ý nghĩa trong đổi mới giáo dục và quản lý giáo dục ở Nhà trường hiện nay Kết quả nghiên cứu của tiểu luận góp phần củng cố về nhận thức, làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử phát triển về giáo dục của dân tộc

5 Cấu trúc của tiểu luận

Tiểu luận gồm mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo

NỘI DUNG

Trang 4

1 Giáo dục Việt nam dưới chế độ phong kiến

1.1 Bối cảnh lịch sử

1.1.1 Quá trình phát triển

Năm 257 (TCN), Thục Phán đã thống nhất các bộ lạc Âu Việt và Lạc Việt, lập ra nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương

Năm 179 (TCN), Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc và thiết lập chế độ cai trị của đế chế phương Bắc Trải qua hơn mười thế kỷ Bắc thuộc, đã nổ ra các cuộc khởi nghĩa lớn: khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43), Bà Triệu (248),

Lý Bí (542), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (766 -791), Khúc Thừa Dụ (905), Dương Đình Nghệ (931)

Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, giành quyền độc lập tự chủ cho dân tộc, mở đầu thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam

Năm 965, xảy ra “Loạn 12 xứ quân” Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12

xứ quân, lập ra nước Đại Cổ Việt, đóng đô ở Hoa Lư Vào cuối triều Đinh, quân Tống xâm lược nước ta, triều thần đã tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua; đánh tan quân Tống xâm lược vào năm 981

Năm 1009, sau khi Lê Long Đĩnh mất (triều Tiền Lê kết thúc), Lý Công Uẩn lên ngôi vua, năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Ba triều đại Lý - Trần - Hồ, gắn liền với các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống, Nguyên, Minh Triều Lý thực hiện cuộc kháng chiến chống Tống (1075 1077) Triều Trần ba lần kháng chiến chống Mông -Nguyên (1258; 1285 và 1288) Triều Hồ thực hiện cuộc kháng chiến chống Minh (1406 - 1407) Những năm cuối thế kỷ XV, đầu thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam dần dần suy yếu Năm 1527, tập đoàn phong kiến do Mạc Đăng Dung cầm đầu đã phế truất nhà Lê lập ra nhà Mạc

Họ Mạc chiếm vùng Bắc Bộ, gọi là Bắc Triều Nhà Lê (Lê Trung Hưng), chiếm vùng Thanh Hoá trở vào, gọi là Nam Triều Cuộc xung đột Nam - Bắc triều kéo dài gần nửa thế kỷ (1545 - 1592), ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống nhân dân, trong đó có giáo dục

1.1.2 Đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến Việt Nam

Tổ chức nhà nước: là nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, chịu ảnh hưởng của tổ chức nhà nước phong kiến Trung Quốc Xã hội có hai giai cấp

cơ bản là quý tộc địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân phụ thuộc

Trong thời kì xây dựng và phát triển dân tộc ta đã tiến hành 4 cuộc kháng chiến lớn chống giặc ngoại xâm: Kháng chiến chống Tống do Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt lãnh đạo (TK XI); kháng chiến chống Nguyên Mông do nhà Trần

Trang 5

lãnh đạo (TK XIII); kháng chiến chống quân Minh do Lê Lợi lãnh đạo (TK XV); Tây Sơn đánh quân Thanh ( TK XVIII)

Kinh tế: Kinh tế nông nghiệp, tự cấp tự túc là mô hình kinh tế chiếm giữ

vị trí thống trị Ruộng đất nằm trong tay giai cấp địa chủ phong kiến

1.2 Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam

Nho giáo là Tư tưởng giáo dục chủ đạo của nền phong kiến Việt Nam, đó

là học thuyết bao gồm các tư tưởng chính trị, đạo đức, triết học, giáo dục do Khổng Tử (551- 479 TCN) là người sáng lập trong thời Trung Hoa cổ đại

Về mặt chính trị: Mong muốn phục hưng lễ giáo nhà Chu, ổn định xã hội Trung Hoa bằng đức trị và lễ trị Về nhân: Mong muốn tạo ra một mẫu người quân tử, tầng lớp trên của xã hội, đối lập với kẻ tiểu nhân Nhân quy lại là cách đối nhân xử thế giữa người và người theo chế độ đẳng cấp và quan hệ tông pháp Các môn đệ xuất sắc nhất của Nho giáo gồm có Mạnh Tử (385-354 TCN), Tuân

Tử (298-238) Nho giáo bao gồm 4 vấn đề cơ bản: Thế giới quan duy tâm; quan niệm về lich sử; đạo đức; trị đạo Bốn vấn đề cơ bản của nho giáo đó là:

Thế giới quan duy tâm: Tin là có trời Trời là chủ thể của vũ trụ, chi phối mọi sự việc trên thế gian Bên cạnh trời có quỷ thần, quỷ thần bao quát được tất

cả Dần dần kính và thành trở thành cái gốc luân lí của đạo Nho và trở thành cái gốc đạo đức luân lý của người VN

Quan niệm về lịch sử: Các nhà nho luôn tin vào lịch sử, dựa vào lịch sử

và kinh nghiệm của lịch sử để chứng minh cho đạo đức và trị đạo của mình

Quan niệm về đạo đức: Hạt nhân cơ bản của nho giáo là đạo đức, các quan điểm đạo đức này chi phối và chỉ đạo đường lối trị nước và hình thành đạo đức của xã hội Cái học của nho giáo là đào tạo người hiền nhân, hiền giả Quan niệm về đạo đức trong nho giáo - Nho giáo chủ trương lấy đức để trị nước Đức

ở đây là đạo đức của nhà vua Nội dung của đức là phải thực hiện được 3 điều: Thứ, Phú, Giáo (làm cho dân cư được đông đúc, kinh tế phát triển, dân được học hành) Đạo đức nho giáo cô đọng ở 2 chữ: Luân, thường hay Cương thường Luân là ngũ luân, bao gồm 5 mối quan hệ: vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bạn bè Sau này ngũ luân rút lại còn 3: vua tôi (Trung: trung quân, trung với vua); cha con (Hiếu: đạo hiếu); vợ chồng (biểu hiện ở sự phụ thuộc của người

vợ đối với người chồng mà từ đó nảy sinh ra thuyết tam tòng) Đây là 3 mối quan hệ rường cột của chế độ phong kiến Thường tức Ngũ thường, biểu hiện ở

5 đức tính của người quân tử Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Có được 5 đức tính này thì người quân tử trở thành người hiền Theo quan niệm của nho giáo, hạt nhân của đạo đức là chữ Nhân, biểu hiện cụ thể của nhân là Lễ Con đường để đạt đến Nhân là chính danh

Trang 6

Trị đạo: Nguyên tắc trị đạo của Khổng Mạnh là chính danh và lễ trị Chính danh: Khổng Tử quan niệm có Danh và Thực Danh là tên gọi, chức vụ, thứ bậc của người nào đó phải phù hợp với Thực, tức là phận sự của người đó Danh và Thực trong mỗi người phải phù hợp với nhau tức là mỗi người phải làm theo đúng nghĩa vụ và bổn phận của mình Lễ trị: theo quan điểm của Khổng Tử vừa là nghi lễ, vừa là thể chế chính trị, vừa là quy phạm đạo đức Trong mối quan hệ giữa Nhân và Lễ thì Nhân là nội dung của lễ, lễ là hình thức của nhân, nhân lnà chuẩn tắc để quy định lễ, lễ là quy định để thực hiện nhân Lễ nghi phong kiến quy định các tục lệ thiết triều của vua, sắc phục, quần áo của các phẩm hàm quan tước trong triều, các thủ tục ma chay, cưới xin, ăn hỏi…

1.3 Hệ thống tổ chức của nền giáo dục phong kiến Việt Nam

1.3.1 Trường học thầy đồ

Là loại trường tư thục được lập ra ở nông thôn, ở các làng xã thu hút trẻ

em từ 7 tuổi trở lên

Tổ chức lớp học: số lượng HS không có quy định cụ thể, tùy vào tiếng tăm của thầy

Tài liệu học tập: Thông thường là các sách kinh điển của Nho gia, các bài văn, bài thơ của các vị TS đã thi đỗ trước đó Phương pháp dạy và học: PP thầy đọc, trò nghe, học thuộc lòng cổ sử, cổ văn, học thuộc lòng những lời nói của cổ nhân, thánh hiền Kỉ luật học tập chủ yếu được duy trì bằng roi vọt đánh mắng

1.3.2 Một vài trường học nổi tiếng

Trường của thầy Chu Văn An (1292-1370), đời nhà Trần, ở xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội Trường của thầy Trần ích Phát (Thế kỷ

XV, huyện Chí Linh, Hải Dương) Trường Nghi Am của thầy Nhữ Bá Sỹ (Thế kỉ XIX) Trường của bà Ngô Chi Lan (Thế kỷ XV ở Kim Hoa, Đông Anh, Hà Nội) Trường của bà Đoàn Thị Điểm (Thế kỷ XVIII ở huyện Mỹ Hào, Hải Dương)

1.3.3 Trường công

Từ thời nhà Trần trở đi, ở mỗi phủ, huyện có các quan giáo thụ và huấn học trong nom việc học và dạy tứ thư, ngũ kinh cho các nhà nho Trường Quốc

tử giám là trường đại học đầu tiên của Việt Nam được xây dựng từ thế kỉ XI (năm 1076) dưới triều Lý Công Uẩn Đây là nơi biểu trưng cho trí tuệ và nền văn hiến Việt Nam dưới chế độ phong kiến Sự phát triển của nó tùy thuộc vào

sự hưng thịnh hay suy vong của mỗi triều đại phong kiến

Bộ máy tổ chức quản lí nhà trường (thời Nguyễn): Tế tửu và Tư nghiệp là chức quan quản lí cao nhất của nhà trường Đội ngũ quan văn làm công tác giảng dạy gồm có: học chánh, giáo thụ, trợ giáo (tối thiểu phải đỗ cử nhân)

Trang 7

Học trò: có Tôn sinh thuộc dòng tôn thất, ấm sinh là con quan triều đình và con quan lại đứng đầu hàng tỉnh ở các địa phương, giám sinh là con quan lại nhỏ

ở địa phương hoạc những thanh niên tuấn tú xuất thân từ tầng lớp thường dân

Chế độ học bổng, thưởng phạt: Dựa vào kết quả của các kỳ khảo hạch để cấp học bổng bằng dầu, gạo cho học trò

Tài liệu học tập Gồm những sách kinh điển chủ yếu của Nho giáo: Tứ thư, Ngũ kinh Tứ thư gồm 4 cuốn sách kinh điển của Nho giáo (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử) Ngũ kinh gồm 5 kinh (Kinh thư, Kinh dịch, Kinh lễ, Kinh xuân thu) do Khổng Tử chép và chỉnh lí

1.4 Lực lượng giáo dục

Gia đình: Truyền cho con cái những lễ nghĩa, quy tắc đức hạnh

Hội đồng môn: những người bạn học tập hợp nhau lại, có trách nhiệm giữ gìn phẩm chất cho nhau và giữ gìn lòng biết ơn thầy day

Hội tư văn: hội của các nhà Nho ở cùng một địa phương

1.5 Chế độ khoa cử

Nhà Lý năm 1070 mở Quốc Tử Giám làm nơi học tập cho con em quý tộc quan lại Chế độ giáo dục và thi cử đã mang tính chất chính quy Giáo dục gắn với sự truyền bá Nho giáo

Nhà Trần: Phật giáo và Đạo giáo vẫn được coi trong Nho giáo chưa hoàn toàn được giữ vị trí độc tôn

Nhà Hồ: Hồ Quý Ly coi trọng chữ Nôm Năm 1396 ông định phép thi Hương, thi Hội, thi Đình Phép thi cử ngày càng trở nên quy củ

Nhà Lê: Năm 1428, Lê Thái Tổ lập trường Quốc Tử Giám để cho con cháu quan lại và các thường dân tuấn tú được vào học

Năm giai đoạn đầu thời Lê, chế độ khoa cử phát triển toàn diện, nho giáo chiếm vị chí độc tôn và là tư tưởng chủ đạo

Nhà Mạc: Lập một số văn miếu tại các tỉnh, cứ 3 năm mở một kỳ thi hội, thi đình để tuyển chọn nhân tài

Nhà Lê - Trịnh: Việc học vẫn phát triển, các khoa thi vẫn mở để tuyển chọn nhân tài Nhưng cuối đời nảy sinh nhiều tiêu cực, nền giáo dục bị suy thoái

Vua Quang Trung: Việc học được mở rộng, chế độ thi cử được chấn chỉnh lại Quang Trung muốn đưa chữ Nôm lên địa vị chính thức, chữ Hán không còn giữ vị trí độc tôn

Nhà Nguyễn: Năm 1918 là khoa thi Hương cuối cùng ở Việt Nam Địa vị thống trị của Nho giáo không còn nữa

1.6 Đặc điểm về giáo dục

Mục tiêu giáo dục: Đào tạo con em quan lại thành người Quân tử, kẻ sĩ

Trang 8

Nội dung giáo dục chủ yếu là nho giáo Đặc trưng nổi bật của giáo dục Việt Nam thời Phong kiến là nền giáo dục Nho học Thời kỳ đầu dựng nước, bên cạnh giáo dục nho học có sự tồn tại của các loại hình giáo dục Phật giáo

và Đạo giáo Tuy có sự khác nhau nhưng các loại hình giáo dục trên không bài trừ lẫn nhau Tâm giáo thịnh vượng nhất là thời Lý - Trần, triều đình nhiều lần đứng ra tổ chức kỳ thi Tam giáo bao gồm cả 3 nội dung Nho - Phật

- Đạo Tuy nhiên, các triều đại Phong kiến nối tiếp nhau luôn lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống Vì thế, Nho giáo gần như trở thành hệ thống giáo dục chính thống và tồn tại trong suốt thời kỳ Phong kiến Sách giáo khoa chính của Nho giáo ở bậc cao là Tứ thư, Ngũ kinh và Bắc sử

Phương pháp giáo dục: Trí dục và đức dục Trí dục: Chủ yếu phương pháp thuộc lòng, dùi mài kinh sử, Kinh viện, giáo điều Đức dục: Chủ yếu sử dụng phương pháp nêu gương (Thân giáo trọng ư ngôn giáo - Nguyễn Trãi)

Tổ chức trường lớp và thi cử: Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây Văn miếu để thờ Khổng Tử, Chu Công và tứ phối (Mạnh tử, Tăng Tử, Tử Tư, Nhan Uyên ) Năm 1076, Lý Nhân Tông cho xây dựng Quốc Tử Giám, làm nơi dạy học cho các hoàng tử Thời Lý, việc tổ chức khoa cử ngày càng nền nếp Năm 1075, Lý Nhân Tông cho mở khoa thi đầu tiên, lấy tên là Minh kinh bác học (các kỳ tiếp theo được tổ chức vào các năm 1086, 1186, 1195,…)

Thời Trần, năm 1236, Quốc Tử Giám được đổi thành Quốc Học Viện, dần dần mở rộng cho con em các đại quan vào học Năm 1253, Trần Thái Tông xuống chiếu cho các nho sĩ trong nước, những người thông kinh sử được đến Quốc Tử Viện học tập Tổ chức khoa cử đi vào quy củ, nền nếp hơn trước Năm 1232, Trần Thái Tông cho mở khoa thi Thái học sinh Năm

1247, Trần Thái Tông đặt ra định chế tam khôi: (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa - 3 người có kết quả cao nhất trong cuộc thi đình) Thời Hồ, Năm

1404, Hồ Hán Thương định cách thi cử nhân Do tồn tại trong thời gian quá ngắn nên triều Hồ chỉ tổ chức được 2 khoa thi, nhưng đã đào tạo được nhiều danh nho, danh thần nổi tiếng (Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên)

Nhìn chung, dưới các thời Lý - Trần - Hồ, hệ thống trường học được

tổ chức từ bậc Ấu học đến bậc Đại học Tuy có sự phát triển, tiến bộ so với các thời kỳ trước, song sự phát triển còn chậm, số trường học do nhà nước

mở còn ít, chỉ có ở kinh đô và một số phủ, châu Việc học tập ở địa phương, hầu như do dân tự lo liệu, chủ yếu là do nhà chùa và các nho sĩ mở Dưới các triều Mạc - Lê, Trịnh - Nguyễn, việc học và thi tiếp tục được duy trì Song, cùng với bước đường suy tàn của chế độ phong kiến, nền giáo dục nước ta có nhiều bước thụt lùi về chất lượng Nhiều giá trị hầu như bị đảo lộn, các sĩ tử theo lối học chạy theo danh lợi, xa rời chính học

Trang 9

Tóm lại, từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII, chế độ giáo dục và thi cử Nho

học vẫn được các triều đại phong kiến ở cả 2 miền Nam Bắc duy trì Song trên bước đường suy vong của chế độ phong kiến, nội dung giáo dục và chế

độ thi cử ngày một suy giảm về chất lượng, chỉ còn bề nổi, không còn chiều sâu; tình trạng này nằm trong sự suy tàn chung của ý thức hệ Nho giáo

1.7 Đặc điểm cơ bản của giáo dục quân sự Việt Nam thời phong kiến

Nhận thức về vai trò của giáo dục quân sự: Các triều đại phong kiến nhìn

chung đều thấy rõ được tầm quan trọng của giáo dục quân sự Vì có thông qua huấn luyện mới đảm bảo cho quân sỹ có đủ khả năng đáp ứng sự nghiệp kháng chiến cứu nước cũng như bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Không chỉ coi trọng giáo dục quân sự trong thời chiến mà ngay trong cả thời bình

Tính chất của giáo dục quân sự: Nhìn chung giáo dục quân sự trong các triều đại phong kiến mang tính nhân dân ở các triều đại phong kiến tiến bộ thì tính nhân dân càng thể hiên sâu sắc Khi tiến hành chiến tranh yêu nước chống

kẻ thù xâm lược thì trăm họ là lính (bách tính vi binh), toàn dân là lính (tạn dân

vi binh), cả nước đánh giặc

Tổ chức trường lớp: Ngoài những trường nhà nước mở (Nhà Lý lập xạ đình 1170; Nhà Trần lập giảng võ đường 1235 Còn các trường lớp do dân mở, các trường lớp trong nhân dân, từ các nhà chùa, từ lò võ vật (Lò võ đường Lâm, Mai động, Thuận thành, Phái võ Bình Định…)

Mục tiêu giáo dục: Nhằm đào tạo những tướng sỹ có phẩm chất, tài năng, những người chỉ huy chiến đấu và tham gia chiến đấu đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc

Nội dung giáo dục: Nhìn chung nội dung giáo dục phong phú thiết thực và toàn diện bao gồm cả Chính trị, tinh thần và quân sự

Về chính trị tinh thần: Giáo dục lòng yêu nước, căm thù giặc; ý thức độc lập dân tộc, tinh thần quyết chiến, quyết thắng; đạo đức nhân nghĩa lòng trung quân ái quốc; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần đoàn kết

Giáo dục quân sự bao gồm: Võ kinh và võ nghệ

Võ kinh là lý luận quân sự: Võ kinh thất thư, bộ kinh gồm bảy quấn, tuyển chọn từ trăm bộ binh thư cổ của Trung Quốc trong khoảng 1500 năm Từ cuối thời Xuân thu đến thời Bắc Tống gồm: “Binh pháp Tôn Tử; Tư Mã pháp; Lục thao; Binh pháp Ngô Khởi; Uất liêu tử; Tam lược; Đường lý vấn đối” Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo; Hổ trường khu cơ của Đào Duy Từ

Võ nghệ là Võ thuật, Kỹ thuật sử dụng trang bị vũ khí; chiến thuật và nghệ thụt tác chiến (Cách đánh tập kích, mai phục, tiến công, phòng thủ, phản công, bao vây, chia cắt, phân tán địch)

Trang 10

Phương pháp, hình thức giáo dục quân sự: Các phương pháp phong phú,đa dạng, linh hoạt, két hợp cả phương pháp đức dục và phương pháp trí dục Coi trọng việc kết hợp phương pháp giáo dục xây dựng các phẩm chất nhân cách cho quân sỹ (Thuyết phục, Nêu gương, Rèn luyện, Răn đe, Khen thưởng, Xử phạt) Coi trong luyện tập thực hành chiến đấu (Luyện tập trận đồ, hiệp đồng chiến đấu, tập dượt cung tên, cưỡi ngựa, đấu gươm, chèo thuyền luyện tập thuỷ chiến)

Kết hợp tác chiến chính quy và không chính quy, dài hạn và ngắn hạn Kết hợp vừa huấn luyện vừa tổ chức chiến đấu Chú trọng thi cử cả võ kinh và võ nghệ thi đấu nhiều môn khác nhau, bổ nhiệm chức danh, chức vụ thông qua thi cử

1.8 Ưu và nhược điểm giáo dục Việt Nam thời phong kiến

Ưu điểm: Các triều đại phong kiến Việt Nam cùng với việc chăm lo phát

triển các mặt kinh tế, xã hội cũng đã chú trọng tới việc phát triển giáo dục

Ví dụ: thế kỷ XV - XVI, các phủ, lộ đều có trường công, Đã phát triển nhiều trường tư để dạy con em của nhân dân với mong muốn cho con em của nhân dân đi học vài chữ để làm người; phát triển giáo dục gia đình

Nền giáo dục Việt Nam thời Phong kiến từng bước được mở rộng và chính quy nhưng vẫn chưa phải là nên giáo dục giành cho mọi người; chỉ có con em của những người giàu, quý tộc mới được đi thi (thi là để làm quan); con em nhà nông cơ bản không được đi thi Tính độc lập, tự chủ, ý thức tự lực, tự cường trong giáo dục, nó đã góp phần to lớn trong việc gìn giữ đất nước, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc

Giáo dục Việt Nam thời Phong kiến để lại cho chúng ta nhiều bài học quý trong việc tổ chức nền giáo dục hiện nay Bài học về tổ chức giáo dục (giáo dục nhà trường, giáo dục trong gia đình, ở trường công, trường tư,…) Bài học về tổ chức thi cử, về bổ nhiệm người tài, Chế độ khoa cử là một trong những đặc trưng cơ bản của hệ thống giáo dục phong kiến

Thông qua chế độ khoa cử để chọn người hiền tài đảm nhiệm các chức

vụ quan lại thực hiện chức năng quản lý bộ máy nhà nước phong kiến Còn đối với nhân dân, thi cử là con đường tiến thân lập nghiệp, vì vậy được nhân dân hết sức coi trọng

Đồng thời, giáo dục thời phong kiến đã tạo nên một đất nước có truyền thống hiếu học, yêu chuộng văn hóa, Tôn sư trọng đạo Tạo nên những nhà văn hóa, nhà giáo dục, nhà sử học, nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu, nhà quân sự nổi tiếng…

Hạn chế: Mục đích của nền giáo dục Phong kiến không nhằm vào

những con người làm khoa học, lao động sản xuất để phát triển xã hội mà đào tạo những con mọt sách, những đồ đệ phục vụ tầng lớp phong kiến:

Ngày đăng: 30/04/2020, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w