1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ trương thoát á nhập âu ở nhật bản thời cận đại từ góc nhìn văn hóa học

170 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 3,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Chủ trương “Thoát Á – nhập Âu” ở Nhật Bản thời cận đại từ góc nhìn văn hóa học” người viết đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ hế

Trang 1

oo 

VÕ THÀNH HƯNG

CHỦ TRƯƠNG “THOÁT Á - NHẬP ÂU” Ở NHẬT

BẢN THỜI CẬN ĐẠI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.06.40

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 2

oo 

VÕ THÀNH HƯNG

CHỦ TRƯƠNG “THOÁT Á - NHẬP ÂU” Ở NHẬT

BẢN THỜI CẬN ĐẠI TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

MÃ SỐ: 60.31.06.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHAN THỊ THU HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016

Trang 3

sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phan Thị Thu Hiền Các nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, phân tích và tổng hợp một cách trung thực, khách quan Những nhận xét, đánh giá, số liệu có liên quan của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn đều được chú thích nguồn gốc Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính trung thực, chuẩn xác của nội dung luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 08 năm 2016

Học viên thực hiện

Võ Thành Hưng

Trang 4

Trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn “Chủ trương

“Thoát Á – nhập Âu” ở Nhật Bản thời cận đại từ góc nhìn văn hóa học” người viết đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ hết sức tận tình của PGS.TS Phan Thị Thu Hiền Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc và gởi lời cảm tạ chân thành đến Cô Đồng thời, tôi cũng gởi lời cảm ơn đến quý Thầy/ Cô Khoa Văn hóa học đã cung cấp cho tôi nền tảng kiến thức cần thiết cũng như đóng góp ý kiến quý báu giúp luận văn được hoàn thiện Đặc biệt, trân trọng gửi lời cảm ơn đến quý vị học giả, nhà nghiên cứu mà tôi

có cơ hội tiếp xúc, trao đổi các vấn đề liên quan đến đề tài

Xin gởi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Thành phố Hồ Chí Minh, các Thầy/ Cô phòng Sau Đại học, Thư viện trường đã luôn tạo điều kiện cho tôi học tập, tra cứu và tham khảo tài liệu phục vụ việc nghiên cứu Sau cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè đã hết lòng động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 08 năm 2016

Học viên thực hiện

Võ Thành Hưng

Trang 5

MỤC LỤC

Mục lục 1

Danh mục bảng biểu 5

Danh mục hình 6

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử vấn đề 9

a Những công trình của các tác giả Nhật Bản 9

b Những công trình của các tác giả Âu Mỹ 10

c Những công trình của các tác giả Việt Nam 13

3 Mục đích nghiên cứu 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 20

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 21

7 Bố cục luận văn 22

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 23

1.1 Cơ sở lý luận 23

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 23

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 28

1.2 Bối cảnh lịch sử và nhu cầu, điều kiện canh tân đất nước ở Nhật Bản thời cận đại 30

Trang 6

1.2.1 Bối cảnh lịch sử 30

1.2.2 Nhu cầu canh tân đất nước 34

1.2.3 Điều kiện canh tân đất nước 36

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2 CHỦ TRƯƠNG “THOÁT Á - NHẬP ÂU” VÀ ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÂN CÁCH VĂN HÓA KIỆT XUẤT CHO CÔNG CUỘC CANH TÂN NHẬT BẢN 44

2.1 Nội dung tư tưởng “Thoát Á - Nhập Âu” 45

2.1.1 “Thoát Á” 45

2.1.2 “Nhập Âu” 47

2.1.3 Quan hệ biện chứng hữu cơ giữa “Thoát Á” và “Nhập Âu” 49

2.2 Các nhân cách văn hóa kiệt xuất đóng góp cho việc xây dựng và thực hiện chủ trương “Thoát Á - Nhập Âu” 51

2.2.1 Meiji Tenno (1852 - 1912), người chủ trì công cuộc cải cách quốc gia 54

2.2.2 Fukuzawa Yukichi (1835 - 1901), nhà cải cách giáo dục 57

2.2.3 Nishi Amane (1829-1897), nhà cải cách tư tưởng 60

Tiểu kết chương 2 64

CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH CANH TÂN THEO CHỦ TRƯƠNG “THOÁT Á – NHẬP ÂU” ĐỐI VỚI VĂN HÓA NHẬT BẢN 66

3.1 Văn hóa vật chất 66

3.1.1 Văn hóa kinh tế và công nghệ 66

3.1.2 Văn hóa ẩm thực, trang phục, kiến trúc, giao thông 70

Trang 7

3.2 Văn hóa tinh thần 78

3.2.1 Văn hóa chính trị - ngoại giao 78

3.2.2 Văn hóa xã hội 83

3.2.3 Văn hóa giáo dục 89

3.2.4 Văn hóa tín ngưỡng 96

Tiểu kết chương 3 99

CHƯƠNG 4 GIÁ TRỊ , Ý NGHĨA VĂN HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG 101

CỦA CHỦ TRƯƠNG “THOÁT Á - NHẬP ÂU” 101

4.1 Giá trị, ý nghĩa văn hóa của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” ở Nhật Bản 101

4.1.1 Sức mạnh nội sinh của Nhật Bản trong tiếp biến ảnh hưởng ngoại nhập qua chủ trương “Thoát Á – nhập Âu” 101

4.1.2 Chủ trương “Thoát Á – nhập Âu” với quá trình hiện đại hóa, quốc tế hóa Nhật Bản 108

4.2 Giá trị, ý nghĩa văn hóa và ảnh hưởng của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” đối với các nước Đông Á 113

4.3 Giá trị, ý nghĩa văn hóa của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” đối với thời hiện đại, đương đại 128

Tiểu kết chương 4 132

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 140

A Sách, tạp chí, tài liệu tiếng Việt 140

B Sách, tạp chí, tài liệu tiếng Anh 144

Trang 8

C Sách, tạp chí, tài liệu tiếng Nhật 145

D Luận văn, luận án 145

E Các website 145

PHỤ LỤC 147

1 Một số bảng biểu 147

2 Toàn văn và bản dịch “Thoát Á luận” 155

3 Một số hình ảnh 162

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

2.1 Tóm lược về các nhà tư tưởng khai sáng (Keimô) 147

3.1 Thay đổi trong dạng thức sinh hoạt của người Nhật

3.2 Danh sách các trường Đại học tư thục quan trọng có

3.3 Danh sách các kỹ thuật gia và học giả Yatoi 93

3.4 Danh sách một số kỹ thuật gia và học giả đến từ

3.8 Các họa sĩ và nhà kiến trúc tiêu biểu thời Meiji và

hậu Meiji với những tác phẩm, công trình tiêu biểu 154

4.1

Bảng so sánh công cuộc ứng phó trước thách thức

thời cuộc giữa các quốc gia Nhật Bản, Trung Quốc,

Triều Tiên và Việt Nam

127

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Số hiệu Tên Trang

1.1 Hắc thuyền được trưng bày ở bảo tàng Kanagawa 24

1.2 Hình tướng Perry được bán như quà lưu niệm trong bảo

Thiên Hoàng Minh Trị và Hoàng Hậu Chiêu Hiến trong

trang phục “kiểu mới” Ảnh chụp trước đền Minh Trị

(Tokyo)

72

3.2 Nhà ga Tokyo, một công trình kiến trúc phương Tây tiêu

3.4 Hình Maejima Hisoka (1835 - 1919) in trên tem 165

3.5 Một trong những tờ lịch thời Minh Trị ghi rõ Tây lịch -

3.6 Em bé được gia đình đưa đến đền Minh Trị thực hành lễ 105

Trang 11

cầu an

3.7 Thầy tư tế làm lễ cho xe mới 165

3.8 Đền Asakusa bên cạnh bên cạnh chùa Sensoji cổ nhất

4.1 Mô hình thể hiện nấc thang phát triển của Nhật Bản qua

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nhìn về Á Đông ngày nay, Nhật Bản không chỉ nổi lên như là một trong

ba nền kinh tế lớn nhất trên thế giới (tính theo GDP năm 2015) Nhưng nổi bật hơn

cả chính là sự dung hòa một cách gần như hoàn hảo của nền văn hóa Á Đông truyền thống bên cạnh những thành tựu khoa học kỹ thuật hàng đầu thế giới Nếu như ngày xưa, người Nhật được ví von như hình ảnh của chàng võ sĩ samurai bên cạnh hoa cúc1, thì ngày nay, lại được biết đến như hình ảnh của con tàu siêu tốc Shinkansen bên cạnh hình bóng của kimono cổ truyền Điều đó cho thấy bức tranh văn hóa điển hình của hai “gam màu” truyền thống và hiện đại đã và đang làm nên bản sắc văn hóa đầy sức mạnh của dân tộc này Rất nhiều những yếu tố làm nên sự thành công

đó Cũng rất nhiều nguyên nhân đã làm nên bản sắc rất riêng của Nhật Bản ngày nay Tất cả đã được tạo dựng căn bản từ cải cách Minh Trị thời cận đại với vai trò quan trọng của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu”

Luận văn này tìm hiểu chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” của Nhật Bản thời cận đại từ góc nhìn Văn Hóa Học với mong muốn từ hướng tiếp cận mới có thể đóng góp thêm cho nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện đề tài vốn đã được khá nhiều học giả Việt Nam và thế giới quan tâm

Thêm nữa, thế kỷ XIX đã chứng kiến những biến chuyển mạnh mẽ của dòng chảy lịch sử Các quốc gia Đông Á như Nhật Bản hay Việt Nam cũng không ngoại

lệ Trước những áp lực đang đè nặng từ phương Tây, các quốc gia Đông Á đứng trước sự chọn lựa nhằm tìm ra con đường thay đổi đất nước Tuy nhiên, ở Nhật Bản

đã không diễn ra các cuộc cách mạng xã hội theo kiểu phương Tây mà đã lựa chọn thay đổi bằng các tư tưởng canh tân, trong đó chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” đóng

1 Một trong những nghiên cứu văn hóa phương Tây đầu tiên về Nhật Bản là “Hoa cúc và thanh kiếm” của Ruth Benedict Trong đó Bà nhận xét “It was Japanese - the strength and the weakness of Japan” (tạm dịch

“đó là người Nhật mà chúng ta từng biết, sức mạnh và sự yếu đuối song hành”) Sự dung hòa của các mặt đối

lập lại là một trong những nét chính yếu của Nhật

Trang 13

vai trò là tư tưởng chủ đạo Nhật Bản với chủ trương “thoát Á - nhập Âu” đã mở cửa đón nhận văn minh Phương Tây và thành công Trái lại, những quốc gia Đông

Á khác trong đó có Việt Nam, Triều Tiên đã bị lịch sử cận đại bỏ lại phía sau và trở thành thuộc địa, còn Trung Quốc thì trở thành miếng mồi cho nhiều cường quốc xâu

xé Chính những kinh nghiệm lịch sử của Nhật Bản thời cận đại vẫn còn có thể gợi

ý nhiều bài học có ý nghĩa hôm nay trên con đường đi đến thành công trong công cuộc hiện đại hóa và hội nhập của đất nước

Cuối cùng, bản thân người viết đã có cơ hội được được học tập và làm việc tại Nhật Bản trong khoảng thời gian tương đối dài (từ năm 2001) Việc tiếp cận các tài liệu bằng tiếng Nhật và những chuyến đi thăm các viện bảo tàng, các di tích văn hóa, v.v đã giúp học viên có cái nhìn tổng quan về sự thay đổi đáng ghi nhận ở khía cạnh văn hoá tại Nhật Bản

2 Lịch sử vấn đề

Phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, trên thế giới và Việt Nam

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Nhật Bản Trong giới hạn của đề tài chúng tôi điểm qua các tác phẩm liên quan trực tiếp và gián tiếp như sau:

a Những công trình của các tác giả Nhật Bản

Học giả Nhật Bản Toyama Shigeki ngay trong những năm Nhật Bản bị Hoa Kỳ chiếm đóng sau chiến tranh thế giới thứ hai đã cho ra đời tác phẩm nghiên cứu về明治維新 - Meiji Ishi (Minh Trị Duy Tân) (1951) Tác phẩm

nghiên cứu này tuy có góc nhìn thiên về chính trị học nhưng đã trình bày khá

rõ bối cảnh lịch sử dẫn đến công cuộc cải cách thời Minh Trị Điều này giúp cho việc hiểu rõ bối cảnh lịch sử cho ra đời của chủ trương thoát Á - nhập Âu

Ishii Takashi năm 1960 cho ra đời 明治維新の舞台裏 - Meiji ishin no

butaiura (Phía sau vũ đài của Minh Trị Duy Tân) Ishii cho thấy các quan hệ

ngoại giao và vị trí trên chính trường thế giới của Nhật trước và sau thời cải

Trang 14

cách Minh Trị Tác giả khắc họa được những ảnh hưởng tích cực mà công cuộc cải cách đã mang lại

Quyển sách sử bằng tiếng Nhật 詳説日本史 - Shousetsu nihonshi (Tường thuyết Nhật Bản sử) (2013) ở phần 2 chương IX với những biên niên

kỷ cụ thể, chính xác giúp đối chiếu với các tài liệu vốn có Đồng thời quyển sách này cũng giúp hiểu rõ thêm về quan điểm chính thống của các nhà sử học Nhật Bản về Minh Trị duy tân cũng như về phong trào văn minh khai hóa

b Những công trình của các tác giả Âu Mỹ

- Những công trình liên quan đến lịch sử và văn hóa Nhật Bản

Đầu tiên có thể kể đến công trình nghiên cứu văn hóa Nhật Bản được xem là kinh điển và gây tiếng vang khá lớn ngay sau khi chiến tranh thế giới

thứ II kết thúc là The chrysanthemum and the sword (Hoa cúc và thanh kiếm)

(1946) Công trình dành chương IV (21 trang) để trình bày về “The Meiji Reform” (Cải cách Minh Trị) Tuy nhiên chủ yếu công trình nghiên cứu này nhằm tìm hiểu bản sắc văn hóa Nhật Bản Thông qua các đánh giá về tâm lý

mà R Benedict cho là “mặc cảm liêm sỉ” (đối lập “mặc cảm tội lỗi” của

phương Tây) Tác giả đã định vị những khác biệt văn hóa giữa Âu - Mỹ, mà

cụ thể là Hoa Kỳ và Nhật Bản Cũng cần nói thêm rằng quyền sách này ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu Nhật Bản như một kẻ thù trong cuộc chiến tranh thế giới vừa mới xảy ra Vì thế nên xem xét thận trọng những luận điểm

có phần thiên kiến của tác giả về văn hóa Nhật

Công trình A History of Japan (xuất bản lần đầu tiên vào tháng 5/1963)

do tác giả người Anh George Sansom chấp bút được dịch giả Lê Năng An

dịch lại với tên Lịch sử Nhật Bản Quyển III của công trình, tác giả trình bày

về giai đoạn lịch sử từ năm 1615 đến năm 1867 Đây là giai đoạn giúp hiểu rõ bối cảnh lịch sử - xã hội trước công cuộc Minh Trị duy tân

Trang 15

Quyển A History of Japan (Lịch sử Nhật Bản) xuất bản lần đầu tiên vào

năm 1972 của hai tác giả R.H.P Mason & J.G Caiger được Nguyễn Văn Sỹ dịch ra tiếng Việt (2003) Đây là một công trình nghiên cứu công phu, chi tiết các giai đoạn lịch sử Nhật Bản từ thuở hồng hoang với truyền thuyết về hình thành đất nước, dân tộc Nhật cho đến giai đoạn lịch sử gần đây với sự phát triển vượt bậc sau đại chiến thế giới lần 2 Đặc biệt, ở chương XV tác giả

trình bày giai đoạn gọi là “thời kỳ phục hưng Nhật Bản” (một kiểu so sánh với

thời Phục Hưng châu Âu) với các nghiên cứu về các chính sách ngoại giao, kinh tế cũng như các thay đổi trên bình diện xã hội tại Nhật

Công trình Yapontsy (Người Nhật) (1985) do hai học giả người Nga là

V Pronikov và I Ladanov do Đức Dương dịch đề cập chủ yếu đến các vấn đề

về đặc trưng văn hóa Nhật Bản Ông giới thiệu văn hóa Nhật Bản thông qua các nghiên cứu về phương thức đối nhân xử thế, tôn giáo, tinh thần Bushido (võ sĩ đạo), Ikebana (nghệ thuật cắm hoa), trà đạo, thiền, v.v trong đời sống người Nhật Bên cạnh đó ông cũng có nhận xét khá xác đáng những đặc điểm tâm lý của giới quản lý doanh nghiệp ở Nhật Tác phẩm giúp chúng tôi có cái nhìn tổng quan về văn hóa Nhật Bản

Năm 2000, công trình Hirohito and the making of Modern Japan (Nhật

Hoàng Hirohito và công cuộc kiến thiết nước Nhật hiện đại) của sử gia người

Mỹ Herbert P Bix được công bố tại đại học Harvard Nghiên cứu này ngay năm sau (2001) thì được trao giải Pulitzer tại Hoa Kỳ Tác phẩm tiếp cận được các tư liệu hạn chế của hoàng gia Nhật cũng như các công bố mới từ kho tư liệu chính phủ Mỹ Nội dung nghiên cứu gián tiếp liên quan đến đề tài nhưng cho chúng ta cái nhìn rõ nét về bức tranh lịch sử - xã hội Nhật Bản giai đoạn trước và trong chiến tranh thế giới lần II Bên cạnh đó, công trình cũng

Trang 16

vạch ra nguyên nhân công cuộc hồi sinh của thời hậu chiến với các ảnh hưởng

mà thời cận đại đã góp phần mang lại

Là người Nhật (2014) là tác phẩm mới nhất của nhà Nhật Bản học người

Nga A.N Mesheriakov Ông trình bày lịch sử Nhật Bản ngay sau thời Minh Trị, nêu

rõ những thành quả tích cực cũng như các ảnh hưởng tiêu cực của công cuộc duy tân tại Nhật Bản

Những công trình liên quan đến thời cận đại và Minh Trị Thiên Hoàng

Hai ấn bản tiếng Anh The Meiji Restoration (1972) của W.G Beasley và Emperor of Japan: Meiji and His World, 1852-1912 (2002) của Keene Donald là

những công trình nghiên cứu khá sâu về thời đại Minh Trị Các tác phẩm này tiếp cận được các nguồn tài liệu đáng tin cậy2 và có cái nhìn độc lập, khách quan của người từ bên ngoài Nhật Bản Tuy khái niệm “Meiji Restoration - Minh Trị duy tân” được trình bày khá kỹ trong cả hai công trình trên tuy nhiên phần lớn nhìn ở góc độ chính là lịch sử

Cũng liên quan đến công cuộc cải cách Minh Trị, ấn bản The Meiji Restoration and the rise of modern Japan (Minh Trị duy tân và sự phát triển của Nhật Bản hiện đại) của Monique Avakian (ấn hành năm 1991) là công trình nghiên

cứu tuy ngắn gọn (chỉ 61 trang và chen vào rất nhiều hình ảnh minh họa) nhưng khắc họa được các nét chính yếu về các cải cách giai đoạn trị vì của Thiên Hoàng Minh Trị

Năm 1992 nhà nghiên cứu George M Wilson cho xuất bản Patriots

and Redeemers in Japan (Những nhà ái quốc và cứu tinh ở Nhật Bản) trong

đó ông trình bày các động lực hay lý do đã dẫn đến cải cách Minh Trị Đặc biệt ở chương 6, Wilson đã thu thập lại và trình bày hết sức kỹ “phong trào”

2 Các tài liệu gốc để nghiên cứu về Hoàng Gia Nhật Bản cho đến tận ngày nay vẫn còn rất nhiều nhưng không thể tiếp cận chính thức được do bị hạn chế bởi chính luật pháp Nhật Bản

Trang 17

khá sôi nổi được gọi là “Ee ja nai ka”3 (tạm dịch: thì chả tốt sao) như một

biểu hiện xã hội của việc “nhập Âu” tại Nhật

Năm 2000, một trong những người được xem như nhà nghiên cứu hàng đầu

về Nhật Bản thời cận đại Marius B Jansen cho ra đời The making of mordern Japan (Điều làm nên nước Nhật hiện đại) Công trình nghiên cứu đồ sộ này trình bày chi

tiết toàn cảnh Nhật Bản xuyên suốt từ trận chiến Sekigahara4 cho đến sự phát triển thần kỳ kinh tế Nhật Bản sau thời hậu chiến thế giới lần hai, tiêu biểu là chương 14

“Meiji culture” (Văn hóa thời Minh Trị) (từ trang 456 đến trang 494) tác giả đặc biệt chú trọng đến những tác động qua lại giữa văn hóa và chính trị cũng như văn hóa với các chính sách của nhà nước

c Những công trình của các tác giả Việt Nam

- Các công trình liên quan đến lịch sử và văn hoá Nhật Bản

Hồ Hoàng Hoa (Chủ biên) ngay những năm đầu thế kỷ XXI đã cho ra

đời tài liệu nghiên cứu về văn hóa Nhật Văn hóa Nhật những chặng đường

phát triển (2001) Ở chương III và chương IV văn hóa thời Edo và văn hóa

thời Minh Trị được trình bày khá tỷ mỉ Công trình giúp tổng quan những nét chính yếu của văn hóa thời kỳ trước chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” cũng như ảnh hưởng trên bình diện văn hóa trong thời Minh Trị duy tân

Quyển Chuyên luận Nhật Bản học của Dương Ngọc Dũng (2008) cho

chúng ta cái nhìn khái quát các mối quan hệ giữa tôn giáo với chính trị cũng như tôn giáo với xã hội và các kiến thức nhằm có thể tìm hiểu sâu khi tìm đọc văn chương Nhật Bản Tác giả cũng có đề cập đến công cuộc cải cách ở Nhật Bản trong so sánh đồng đại với Triều Tiên và Việt Nam (thông qua nhân vật

Trang 18

Nguyễn Trường Tộ) nhưng nội dung hết sức ngắn gọn chỉ dành cho những ai

đã có sự quan tâm nhiều về Nhật Bản mới có thể tiếp cận sâu được

Tác giả Mai Ngọc Chừ trong Văn hóa và ngôn ngữ Phương Đông

(2009) cũng dành 18 trang (từ trang 74 đến 92) để nhấn mạnh văn hóa ứng

xử cũng như vai trò của văn hóa trong giáo dục ở Nhật Bản Dung lượng bài viết tuy không nhiều nhưng súc tích và có tính khái quát cao

Trần Ngọc Thêm với Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng

(2013) ở chương 3 mục VII và mục VIII và cũng đã đưa các nhận xét về văn hóa Nhật Bản thông qua các tư liệu lịch sử, địa lý, văn học Trong công trình này tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu văn hóa theo loại hình nhằm đi tìm các đặc trưng văn hóa gốc của Nhật

Công trình Giáo trình Lịch sử Nhật Bản (2013) bao gồm 2 quyển

thượng và hạ5 của nhà nghiên cứu Nguyễn Nam Trân Đây thực sự là công trình đồ sộ được soạn lại, phiên dịch lại từ các giáo khoa thư ở Nhật Bản hết sức tỉ mỉ, công phu Bằng cách đối chiếu lịch sử đồng đại giữa Nhật Bản với

Âu Mỹ, Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam Tác giả đã vẽ nên một bức tranh toàn cảnh lịch sử Nhật Bản trong dòng chảy các sự kiện thời cận đại Tác giả cũng đã dành tâm huyết nghiên cứu các chi tiết liên quan đến các nhân vật lịch sử thời Minh Trị với những nhận xét rất xác đáng

Nhà văn hóa Hữu Ngọc với Lãng du trong văn hóa xứ sở hoa anh đào

mới xuất bản (2014) đưa người đọc một cái nhìn mới mẻ với lối dẫn truyện khá lôi cuốn về văn hóa Nhật Bản nhưng nội dung mang tính giới thiệu cho độc giả phổ thông nên không đi sâu vào một chủ đề cụ thể nào

5 Công trình này chưa chính thức xuất bản và vẫn còn ở dạng bản thảo vừa được tác giả hoàn thành vào năm

2013 Tác giả là nhà nghiên cứu sống và làm việc tại Nhật và đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu

về văn học Nhật Bản đã được xuất bản ở Việt Nam

Trang 19

Những công trình liên quan đến thời cận đại và Minh Trị Thiên Hoàng

Khi nghiên cứu về Nhật Bản không thể bỏ qua công trình Nhật Bản

cận đại (1990) là công trình khảo cứu công phu của cố giáo sư Vĩnh Sính

Ông dùng cả 2 chương V và VI để trình bày những cải cách chính yếu thời Minh Trị Tác phẩm cũng trình bày những thay đổi về văn hóa, nghệ thuật trong thời kỳ này Với khá nhiều tư liệu phong phú được trình bày mang tính chuyên sâu cao Công trình này thể hiện tổng quan về hoàn cảnh trước cải cách cũng như những biến động xã hội Nhật Bản giai đoạn từ 1868 đến 1912

Năm 2004, hội thảo 30 năm quan hệ Việt Nam - Nhật Bản kết quả và

triển vọng được khoa Đông Phương Học Trường ĐHQG Tp HCM tổ chức

Trong đó, bài viết của hai tác giả Nguyễn Văn Kim và Võ Mai Bạch Tuyết đã trình bày những nét chính yếu, ngắn gọn về cuộc cải cách Minh Trị thông qua các nghiên cứu khá sâu về lịch sử Nhật Bản

Trong số những nhà nghiên cứu Nhật Bản tại Việt Nam, Nguyễn Tiến Lực gần đây đã cho ra đời rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến Nhật Bản

Trong đó, có thể kể đến Minh Trị Duy Tân và Việt Nam (2010) được ông trình bày

khá rõ về tiến trình lịch sử và vai trò các nhà khai sáng công cuộc Duy Tân ở Nhật Bản Ông cũng đưa ra các nhận định về tác động phong trào này lên xã hội Việt Nam lúc bấy giờ Công trình đã nghiên cứu khá sâu về phong trào Duy Tân ở Nhật Bản Tác giả tiếp cận nhiều tư liệu lịch sử có giá trị, sắp xếp lại công phu, trình bày chi tiết để dễ dàng tra cứu các tư liệu lịch sử Không thể phủ nhận các đóng góp cho

sự hiểu biết về lịch sử Nhật Bản thời cận qua các công trình nghiên cứu của tác giả này Các tư liệu mới nhất mà tác giả cố công tra cứu cũng như những quan điểm mới khi giải thích các vấn đề còn tranh cãi giúp ích rất nhiều cho chúng tôi trong luận văn Tác giả chú tâm nhiều đến các nghiên cứu lịch sử và ít đi sâu vào các tác động trên bình diện văn hóa tại Nhật Bản

Trang 20

Có thể thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu thời cận đại và Minh Trị Thiên Hoàng đều có sự thống nhất từ góc nhìn lịch sử là chính yếu

Những công trình liên quan đến so sánh Nhật- Việt thời cận đại

Hơn 10 năm trước, vào tháng 2/2003 Hội thảo Nhật Bản trong thế giới Đông

Á và Đông Nam Á đã diễn ra tại trường ĐHKHXH & NV thuộc Đại Học QG Tp

HCM Trong đó bài phát biểu của Lê Văn Quang “Mấy vấn đề về công cuộc Minh Trị duy tân ở Nhật Bản và xu hướng duy tân ở Châu Á nửa sau thế kỷ XIX- đầu thế

kỷ XX” đã phác thảo bối cảnh lịch sử - xã hội chung giữa Nhật Bản và Việt Nam (cùng với Trung Quốc - Triều Tiên và Xiêm) Tác giả bước đầu lý giải nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại tại các quốc gia kể trên khi đối diện trước những thách thức của thời cận đại cơ bản là giống nhau

Nguyễn Tiến Lực gần đây cho ra đời Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường

Tộ - Tư tưởng cải cách giáo dục (2013) mang nội dung so sánh tư tưởng của nhà

khai sáng nền văn hóa, văn minh hiện đại Nhật Bản là Fukuzawa với Nguyễn Trường Tộ của Việt Nam Công trình chủ yếu đi sâu vào các cải cách thuộc lĩnh vực giáo dục

Cũng trong năm 2013, Nguyễn Đình Đầu cho ra đời Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức Cùng năm đó Nhà xuất bản Hồng Đức - tạp chí Xưa và nay (với tập thể các tác giả) đã cho xuất bản Thế kỷ XXI nhìn về Trương Vĩnh Ký Cả hai

công trình khi nghiên cứu về các nhà cải cách Việt Nam thời cận đại đều đối chiếu với phong trào Duy Tân ở Nhật Bản Đều này cho thấy sự quan tâm đến phong trào cải cách thời cận đại ở Nhật Bản trong khi so sánh với các phong trào cải cách ở Việt Nam mà Nguyễn Trường Tộ là nhân vật tiêu biểu

Năm 2013, Trường ĐHQG Tp Hồ Chí Minh diễn ra hội thảo 40 năm Quan

Hệ Việt Nam - Nhật Bản Thành quả và triển vọng Các bài nghiên cứu trong kỷ yếu

hội thảo chủ yếu đưa ra các so sánh các đặc trưng văn hóa hoặc quan hệ văn hóa

Việt - Nhật Trong đó có thể kể bài “Nhìn lại vai trò của Minh Trị Thiên Hoàng

(Nhật Bản) và Vua Tự Đức (Việt Nam) trước thách thức lịch sử cuối thế kỷ XIX”

Trang 21

của hai tác giả Phạm Ngọc Tân - Hoàng Thị Hải Yến đã đưa ra các so sánh vai trò

lãnh đạo của hai vị nguyên thủ quốc gia trước sự thay đổi của thời cuộc Bài viết nghiêng về nghiên cứu lịch sử

Mới đây, Chương Thâu (biên soạn) với công trình Nguyễn Trường Tộ - nhà cải cách lớn của Việt Nam thế kỷ XIX (2014) cũng đã đưa ra những so sánh giữa

cứu lịch sử Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại nhằm làm nổi bật những tương quan giữa hai quốc gia

Gần đây, hội thảo vào tháng 6/2014 do Quỹ văn hóa Phan Chu Trinh do Chu Hảo tổ chức bàn nhiều về khái niệm “Thoát Trung” Nhiều tác giả khi bàn đến vấn đề này cũng đã đề cập đến “Thoát Á luận” của nhà canh tân Nhật Bản cận đại Các bài phát biểu cũng có đề cập đến chính trị và đem ra so sánh bối cảnh lịch sử cận đại Việt - Nhật Tuy nhiên, do có nhiều quan điểm khá khác nhau giữa các tác giả và sự kết nối mang tính hệ thống của các bài phát biểu chưa cao nên kết quả hội thảo dường như không gây được tiếng vang đáng kể trong giới nghiên cứu

Như vậy có thể thấy khi nghiên cứu giai đoạn lịch sử thời cận đại ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu đã chọn Nhật Bản như một đối tượng nhằm đưa ra các

so sánh, đối chiếu Điều này sẽ giúp luận văn có cái nhìn rõ hơn chủ trương “Thoát Á- nhập Âu” ở Nhật Bản và ảnh hưởng của nó với các quốc gia Đông Á khác

Những công trình liên quan đến “Thoát Á - Nhập Âu” dưới góc nhìn văn hóa

Trang 22

Có thể nói chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách rõ nét và chuyên sâu từ góc nhìn văn hóa học

Sau khi đất nước mở cửa, tiếp nối các công trình nghiên cứu trước, các học giả tại Việt Nam bắt đầu quan tâm nhiều về các cải cách lịch sử - xã hội đã diễn ra trên thế giới Công cuộc cải cách thời Minh Trị cũng được đặc biệt chú ý Tuy có rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu đề cập gián tiếp hoặc trực tiếp đến các cải cách thời Minh Trị nhưng tựu trung đều nhìn từ góc độ lịch sử - xã hội Riêng các luận

án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ khoa Văn hóa trường ĐHKHXH & NV Tp HCM những năm qua cũng không có đề tài nào trực tiếp đề cập đến vấn đề này

Tóm lại, trên bình diện quốc tế lẫn trong nước đã có khá nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến Nhật Bản thời cận đại và nhất là công cuộc Minh Trị duy tân với chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” Phần lớn các công trình tìm hiểu chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” từ góc độ lịch sử - xã hội Cũng có một số bài nghiên cứu bước đầu so sánh, liên hệ quá trình canh tân Nhật Bản với các nước Đông Á khác trong đó có Việt Nam Kế thừa những nhà nghiên cứu đi trước, luận văn của chúng tôi cố gắng tiếp cận từ góc độ văn hóa học là một hướng nghiên cứu mới mẻ, có thể hứa hẹn những đóng góp mới Đồng thời mong muốn từ hướng tiếp cận mới có thể đóng góp thêm cho nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện đề tài vốn đã được khá nhiều học giả Việt Nam và thế giới quan tâm

3 Mục đích nghiên cứu

Luận văn không đi vào nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi lịch sử của công cuộc canh tân Chúng tôi tìm hiểu cách thức tiếp cận văn hóa của Nhật Bản qua chủ trương “Thoát Á - nhập Âu”

Thông qua các nội dung và cách thức tiến hành chủ trương này trong việc canh tân đất nước để tìm hiểu ý nghĩa cũng như các giá trị tư tưởng về một giai đoạn quan trọng trong nền văn hóa Nhật Bản Bên cạnh đó luận văn mong muốn sẽ

Trang 23

giúp hiểu sâu hơn lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa khi nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc, soi rọi được thời kỳ quan trọng nhất đã sản sinh ra bản sắc văn hóa rất riêng của Nhật Bản ngày nay

Trong giai đoạn lịch sử cận đại, không chỉ Nhật Bản mà cả Việt Nam và các nước Đông Á khác đứng trước sức mạnh quân sự cũng như nền văn minh vượt trội đến từ Âu - Mỹ Vùng Đông Á rộng lớn đã phải đối diện với câu hỏi: từ chối hay đón nhận văn minh Phương Tây? Xét điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội Nhật Bản

và Việt Nam thời bấy giờ, tuy địa lý không liền kề nhau nhưng có khá nhiều điểm tương đồng: cùng chịu ảnh hưởng Nho giáo Trung Hoa, cùng sử dụng Hán tự trong ngôn ngữ và chữ viết Cả hai nước cùng trải qua giai đoạn lịch sử rối ren thời kỳ trung đại với chế độ Mạc Phủ ở Nhật hay Chúa Trịnh - Chúa Nguyễn ở Việt Nam v.v Nhưng mỗi dân tộc khi đứng trước phương Tây lại có một cách thức ứng xử khác nhau Tìm hiểu sự khác biệt trong việc lựa chọn giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá khác sẽ giúp hiểu rõ hơn tinh thần, tư duy của mỗi dân tộc

Sau cùng, từ góc nhìn văn hóa học, luận văn muốn làm rõ những nguyên nhân chủ yếu đã đem lại sự hình thành nền văn minh mới tại Nhật Bản khi thực hiện công cuộc canh tân Những bài học kinh nghiệm ấy vẫn còn giá trị cập nhật cho hôm nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Thông qua các nguồn tư liệu và các kết quả nghiên cứu trước đó, chúng tôi đặt trọng tâm tìm hiểu từ góc nhìn văn hóa học, nghiên cứu nội dung, cách thức tiến hành của công cuộc canh tân Nhật Bản thời cận đại thông qua chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” Cũng từ chủ trương đó, nêu lên ý nghĩa cũng như giá trị văn hóa của quá trình giao lưu tiếp biến với nền văn minh phương Tây

Trang 24

Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: Thời cận đại của Nhật Bản được xác định từ năm 1853 đến năm 1889 Luận văn cũng so sánh với thời trung đại và hiện đại để làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển và ý nghĩa của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” trong công cuộc canh tân ở Nhật Bản Qua đó khẳng định những bài học kinh nghiệm vẫn còn giá trị đối với thời điểm hiện đại, đương đại của chủ trương này

Về chủ thể và không gian: Nhật Bản Luận văn cũng so sánh, liên hệ với các nước Đông Á khác (trong đó, chủ yếu so sánh với Việt Nam) để làm nổi bật những đặc trưng và đóng góp riêng qua chủ trương này

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu có vai trò hết sức quan trọng trong việc tiếp cận cũng như phân tích và lý giải các nguồn tư liệu để hoàn thành luận văn

Từ góc nhìn văn hóa học, chúng tôi chọn lựa các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp hệ thống: Vận dụng phương pháp này cho phép nhìn nhận đối

tượng nghiên cứu “chủ trương thoát Á - nhập Âu” như một hệ thống gồm các thành

tố cấu thành (bao gồm nhân vật văn hóa kiệt xuất gắn liền với chủ trương, nội dung tác động cùng với những ý nghĩa, giá trị mà chủ trương ấy mang lại) Đồng thời, coi đối tượng nghiên cứu như một phần trong chuỗi những sự kiện cải cách thời Minh Trị để thấy được sự ảnh hưởng của nó đối với văn hoá Nhật Bản Đối chiếu trong không gian - chủ thể - thời gian theo những mối quan hệ giữa các thành tố liên quan nhằm giải thích các giá trị đặc trưng văn hóa Nhật

Phương pháp so sánh: trong phạm vi Văn hóa học chúng tôi chú ý đến việc

so sánh xuyên văn hóa lẫn so sánh nội văn hóa Kết hợp so sánh lịch đại (trước và sau thời Minh Trị) và đồng đại (giữa Nhật Bản với Trung Quốc, Triều Tiên và Việt

Trang 25

Nam) để tìm hiểu đặc trưng cũng như những ảnh hưởng của mà chủ trương “Thoát

Á - nhập Âu” đối với các quốc gia khác trong khu vực Đông Á

Phương pháp liên ngành: sử dụng các kết quả nghiên cứu các chuyên ngành

có liên quan đến Văn hóa học như: lịch sử, địa văn hóa, tôn giáo, nhân học, văn học, v.v Phương pháp nghiên cứu liên ngành cho phép tìm hiểu, đối chiếu, phân tích và xâu chuỗi các thông tin, sự kiện, kiến thức từ nhiều ngành khác nhau giúp luận văn

có được nhận định toàn diện và khách quan

Nguồn tư liệu

Nguồn tư liệu bao gồm các công trình nghiên cứu của các ngành như triết học, địa lý, lịch sử, văn hóa, chính trị v.v cùng với các di tích văn hóa, lịch sử liên quan đến thời cận đại tại Nhật Bản Đồng thời, luận văn cũng cố gắng tiếp cận các số liệu thống kê liên quan đến văn hóa - xã hội tại Nhật Bản nhằm chứng minh các luận điểm trong bài

Cá nhân người viết đã có trải nghiệm cuộc sống thực tế tại Nhật Bản với thời gian hơn 15 năm nên có điều kiện thu thập nhiều tư liệu liên quan của quá trình tiếp xúc các ảnh hưởng từ phương Tây bên cạnh truyền thống vốn có của Nhật Bản trước và sau thời Minh Trị

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Tiếp cận đề tài từ cái nhìn hệ thống, vận dụng lý thuyết giao lưu - tiếp biến văn hóa và văn hóa so sánh, luận văn góp phần nghiên cứu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn hóa Nhật Bản Thêm nữa làm rõ đóng góp của những nhân cách văn hóa kiệt xuất đối với quá trình hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của Nhật Bản trên cơ sở tiếp thu ảnh hưởng văn minh phương Tây đồng thời gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Luận văn có thể trở thành tư liệu tham khảo về văn hóa Nhật Bản, văn hóa cận đại Đông Á Luận văn cũng có thể đi đến những gợi ý cần thiết cho

Trang 26

Việt Nam từ kinh nghiệm của Nhật Bản trong giao lưu - tiếp biến văn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn Trình bày cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu bao gồm việc (1) luận giải các khái niệm, thuật ngữ quan trọng và xác định khung lý thuyết có liên quan đến đề tài; và (2) làm rõ bối cảnh lịch sử cũng như nhu cầu, điều kiện canh tân đất nước và hoàn cảnh ra đời của chủ trương “Thoát Á - nhập Âu”

Chương 2: Chủ trương “Thoát Á – nhập Âu” và đóng góp của các nhân văn hóa kiệt xuất cho công cuộc canh tân Nhật Bản Luận văn đi vào trình bày nội dung

tư tưởng “Thoát Á - nhập Âu”, gắn với vai trò của các nhân vật văn hóa kiệt xuất Nhật Bản thời cận đại trong việc xây dựng và thực hiện chủ trương “Thoát Á - Nhập Âu”

Chương 3: Tác động của quá trình canh tân theo chủ trương “Thoát Á – nhập Âu” đối với văn hóa Nhật Bản Trình bày tác động của quá trình canh tân theo chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” lên văn hóa tinh thần và vật chất tại Nhật Bản như: văn hóa kinh tế và công nghệ, văn hóa chính trị, văn hóa xã hội, v.v

Chương 4: Giá trị, ý nghĩa văn hóa và ảnh hưởng của chủ trương “Thoát Á – nhập Âu” Dựa trên cơ sở phân tích nội dung, tác động chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” ở hai chương trước, chương 4 đi vào tìm hiểu (1) giá trị, ý nghĩa văn hóa đạt được ở Nhật Bản và ảnh hưởng của nó đối với các nước Đông Á, và (2) những gợi

mở kinh nghiệm cho con đường hoàn thiện bản sắc văn hóa mỗi dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Trang 27

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Trước khi đi vào các chương sau, chúng tôi trình bày các khái niệm liên quan trực tiếp đến đề tài:

- Khái niệm “chủ trương”

Có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ “chủ trương” Từ điển tiếng Việt

giải thích chủ trương “là ý định, quyết định về phương hướng hành động” [36, tr.245] Cách giải thích này chú trọng đến cách thức hành động và gần nghĩa với

định nghĩa của từ “phương pháp” Trong các từ điển Anh ngữ, từ “Policy” đều dùng

để chỉ chung cả “chủ trương” lẫn “chính sách” Theo Phan Ngọc Liên, “Policy”

được hiểu là “chủ trương cụ thể của một đảng hay chính phủ về nhiệm vụ: chính sách kinh tế, chính sách ngoại giao” [19, tr.94] Quan điểm này nhấn mạnh vai trò

các chính sách của các đảng phái hay của chính phủ trong việc điều hành, quản lý

nhà nước Hay như quan điểm của Jay M Shafritz “Policy - chính sách: bản tuyên

bố các mục đích chung có thể được chuyển thành kế hoạch hay chương trình bằng cách nêu rõ các mục tiêu cụ thể cần đạt được” [14, tr.687] Quan điểm này xem chủ

trương như một chính sách cụ thể nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra

Có thể thấy các định nghĩa “chủ trương” đã nêu được nhìn nhận từ nhiều góc

độ khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm, đó là “chủ trương” được sử dụng

để chỉ các quyết định phương hướng hành động, các chính sách và kế hoạch được

Trang 28

hoạch định bởi các đảng phái chính trị hay chính phủ nhằm mục đích đạt được mục tiêu cụ thể nào đó Tuy nhiên, chủ trương “Thoát Á - nhập Âu” ở Nhật Bản thời cận đại lại có điểm khác biệt: chủ trương này ban đầu vốn không được hoạch định bởi các đảng phái hay các chính trị gia trong chính phủ mà do các nhà cải cách xã hội,

do tầng lớp tinh hoa, chủ yếu đến từ giới học thuật đưa ra nhằm mục đích canh tân đất nước Điểm khác biệt này cho thấy vai trò hết sức quan trọng của các nhà trí thức Nhật Bản trong buổi bình minh cải cách đất nước thời cận đại

- Khái niệm “thời cận đại”

Ngày nay, quan điểm về thời điểm bắt đầu và kết thúc của một giai đoạn lịch

sử được gọi là thời cận đại vẫn có sự khác nhau Quan điểm chung nhất của giới sử

học cho rằng thời cận đại dùng để chỉ giai đoạn lịch sử sau thời kỳ trung đại và trước thời kỳ hiện đại Thuật ngữ tiếng Anh thường dùng cụm từ “The early modern

Hình 1.1: Hắc thuyền được trưng bày ở

bảo tàng Kanagawa

Ảnh: Võ Thành Hưng (9/2015)

Trang 29

period” (tạm dịch là “tiền hiện đại”) để chỉ giai đoạn cận đại này Ở Châu Âu vẫn tồn tại quan điểm thời cận đại tính từ năm 1453 khi đế quốc Ottoman xâm chiếm thành Constantinopolis kéo dài đến cách mạng tư sản Pháp năm 1789 Riêng ở

phương Đông, thời cận đại được xem như gắn liền với “quá trình xâm lược và chống xâm lược, sự chuyển biến hình thái kinh tế - xã hội theo chiều hướng tư bản chủ nghĩa, quá trình cải cách và cách mạng của những cơ cấu quyền lực chính trị”

[11, tr 148] Tại Nhật Bản, có một số quan điểm cho rằng thời cận đại bắt đầu từ năm 1867 khi Minh Trị lên ngôi hay năm 1868 khi dời đô từ Kyoto lên Edo (Tokyo ngày nay) và kết thúc vào năm 1912 khi Minh Trị Thiên Hoàng băng hà Riêng chúng tôi tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu người Nhật Mori Toshihiko6 cho rằng thời cận đại bắt đầu tại Nhật Bản sau sự kiện Kurofune (黒船- hắc thuyền - những con tàu đen” do Đề Đốc Perry7(xem thêm hình 1.2, phụ lục) ngày 07/08/1853 cùng bốn con tàu sơn màu đen tiến vào cảng Uraga Nhật Bản trình quốc thư kêu gọi Nhật Bản mở cửa (kaikoku - khai quốc) thông thương với bên ngoài Giai đoạn cận đại kết thúc vào ngày 11/02/1889 khi Minh Trị Thiên Hoàng công bố 大日本帝國憲法 (Dai Nippon teikoku kenpo - Hiến pháp Đại Nhật Bản đế quốc) Với bản hiến pháp này, Nhật Bản không chỉ là nước đầu tiên cho ra đời bản hiến pháp tại Á Châu mà còn là quốc gia đầu tiên xem như kết thúc giai đoạn lịch sử cận đại bước vào giai đoạn lịch sử mới: thời kỳ hiện đại phát triển mạnh mẽ nhất so với các quốc gia ở phương Đông đương thời

- Khái niệm “ Minh Trị duy tân”

Nếu nói đến cải cách ở Nhật Bản thời cận đại mà không nhắc đến thuật ngữ

“Minh Trị duy tân” sẽ là một điều thiếu sót Thuật ngữ này được các nhà nghiên cứu, nhất là các nhà nghiên cứu về lịch sử soi rọi hết sức tỉ mỉ Thuật ngữ “Minh Trị

duy tân” đến từ tiếng Nhật 明治維新(Meiji ishin - Minh Trị duy tân) Meiji - Minh

Trị là niên hiệu của Thiên Hoàng thứ 122 (theo danh sách Thiên Hoàng truyền

6 Dẫn theo Nguyễn Tiến Lực “Minh Trị duy tân và Việt Nam” trang 22

7 Đề Đốc Matthew Calbraith Perry (1794-1858) Tháng 3/1852 được Tổng Thống Hoa Kỳ Millard Fillmore

cử làm tư lệnh hạm đội vùng Đông Ấn Độ kiêm Đặc sứ Nhật

Trang 30

thống Nhật Bản) Tên húy của Ông là Mục Nhân - Mitsuhito, trị vì từ năm 1867 đến

1912 Ishin - duy tân - theo nghĩa triết tự từ hai từ Kanji (Hán tự dùng trong tiếng

Nhật) Hai từ này ghép lại mang hàm nghĩa “ủng hộ cái mới, thực thi cái mới, bảo

vệ cái mới” [20, tr.12 -13] Thực ra đầu tiên người đương thời gọi những cải cách

của tân chính phủ Minh Trị là Go isshin - Ngự nhất tân - những cải cách do triều đình mới ban ra Sau đó, các học giả Nhật Bản chọn từ duy tân có trong Kinh Thi của Trung Hoa cho phù hợp với tinh thần cải cách thời bấy giờ Và Meiji ishin ra đời Thuật ngữ Meiji ishin này mà trong đó “ishin - duy tân” được nhiều nhà nghiên cứu biết đến nhưng khi dịch sang Anh ngữ lại khó có từ tương đương (một số trường hợp ghép 2 hay nhiều từ Hán tự lại với nhau trong tiếng Nhật lại bao hàm nhiều nghĩa khác với nghĩa gốc của từ đơn) Nhà nghiên cứu Nhật Bản Nagai

Michio trong công trình Meiji Ishin: Restoration and Revolution - Minh Trị Duy Tân: cải cách và cách mạng (1985) đã gián tiếp định nghĩa “ishin” vừa mang hàm

nghĩa restoration - cải cách, vừa mang hàm nghĩa revolution - cách mạng Và ông

đề nghị dùng luôn chữ Meiji ishin mà không phải dịch sang tiếng Anh ngay trong phần lời nói đầu công trình Chúng tôi đồng tình với ý kiến này bởi tâm đắc với

George Orwell khi ông nói “Let the meaning choose the word” (tạm dịch “hãy để nghĩa chọn từ”)8 chứ không làm ngược lại là lấy từ chọn nghĩa

Minh Trị duy tân là một sự kiện lịch sử quan trọng nhất trong chiều dài lịch

sử Nhật Bản, bao gồm những cải cách lớn lao làm thay đổi dòng chảy lịch sử Tuy vẫn còn đó những tranh luận về khái niệm, tính chất, phân kỳ, v.v nhưng quan điểm

xem Minh Trị duy tân như “vừa là cách mạng vừa là cải cách” và “một chuỗi những cải cách nhằm biến Nhật từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa”

[20, tr.19] Chúng tôi coi đây là khái niệm phổ quát cho thuật ngữ này

- Khái niệm “văn minh khai hóa”

8 George Orwell (1903-1950) là bút danh của nhà báo và tiểu thuyết gia người Anh Tên thật là Eric Arthur

Blair Câu nói trên được viết trong công trình Politics and the English Language (Tạm dịch: Chính trị và

ngôn ngữ Anh) xuất bản năm 1946

Trang 31

Văn minh khai hóa (文明開化 - bunmei kaika) là thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu sau này xem như một phong trào canh tân văn hóa nổi bật của thời kỳ Minh Trị Khái niệm “văn minh khai hoá” được chúng tôi tập trung tìm hiểu và luận giải theo cách nhìn của chính những “người trong cuộc” ở tại bối cảnh mà nó được sản sinh Trong những năm cuối thế kỷ XIX tại Nhật Bản các từ “văn minh” và

“khai hóa” là những từ được sử dụng riêng biệt Hai cụm từ này ở thời cận đại không phải người Nhật nào cũng dễ dàng hiểu thấu đáo

Cụm từ này lần đầu tiên xuất hiện chung trong công trình西洋事情 - Seiyo jijou - Tây dương sự tình do Fukuzawa chấp bút năm 1867 Và Fukuzawa cũng bài

tỏ quan điểm về “văn minh” trong tác phẩm nổi tiếng sau đó: 分明論の概略-

Bunmeiron no gairyaku - Khái luận về văn minh (1875) Ở đó, ngay trong phần đầu quyển sách, ông đã bàn đến văn minh là bàn đến những “thành tựu tinh thần của con người, thành tựu tinh thần của thiên hạ chúng nhân” [7, tr.51] Theo quan điểm

đó, “văn minh khai hóa” được hiểu trong thời của Fukuzawa là sự khai sáng tinh thần của con người, khai sáng những thành tựu mà thế giới (ở đây là phương Tây)

đã đạt được trước đó Các nhà tư tưởng Nhật đã đề cao giá trị tinh thần, tư tưởng trong “văn minh khai hóa” chứ không phải vật chất - kĩ thuật Cũng trong thời điểm

đó, do nhu cầu phát triển đất nước, các chính trị gia ở thời Minh Trị sau đó lại lý giải theo xu hướng thiên về văn minh của vật chất - kĩ thuật phương Tây là chính yếu Như vậy, ngay trong khi vừa mới ra đời, thuật ngữ này cũng đã có những giải thích khác nhau tùy thuộc lập trường và vai trò, địa vị trong xã hội

Tuy có nhiều cách giải thích liên quan đến thuật ngữ này nhưng chúng tôi

đồng ý quan điểm cho rằng đây là phong trào nhằm mang đến “những chính sách mang tính tích cực và tiến bộ của chính quyền Minh Trị nhằm để nâng cao tính nhận thức, tinh thần học hỏi và trình độ của người dân Nhật Bản” [7, tr.121] Đây

là nhận xét đã tổng hợp các mục đích chính yếu của phong trào văn minh khai hóa

Như vậy, “văn minh khai hóa” là khái niệm trước tiên do nhà khai sáng thời cận đại Fukuzawa đề xướng nhằm đề cao giá trị tinh thần với mục đích nâng cao

Trang 32

dân trí Sau đó nó đã được các nhà chính trị cổ xướng rộng ra lĩnh vực kỹ thuật, quân sự, kinh tế, v.v Khái niệm này sẽ giúp bổ sung nhằm hiểu rõ phong trào cải cách “Thoát Á - nhập Âu”

1.1.2 Lý thuyết tiếp cận

- Văn hóa và phát triển

Văn hóa và phát triển là chủ đề được chú ý nhiều trong những năm trở lại đây Từ hơn 200 năm trước nhà kinh tế học người Anh nổi tiếng tên Adam Smith

trong công trình The theory of moral sentiments (lý thuyết về cảm tính đạo đức)

(năm 1759) đã đặc biệt chú ý đến vai trò “đạo đức” như một phần của văn hóa trong

sự vận hành của bất kỳ nền kinh tế nào Vai trò văn hóa trong sự phát triển ngày nay được nhiều quốc gia coi trọng Ngay cả Việt Nam gần đây cũng thường nhắc tới

cụm từ “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” 9 Như vậy văn hóa được nhìn nhận như là

chủ thể và khách thể của sự phát triển Nhật Bản là một ví dụ cụ thể minh chứng cho luận điểm này Ngay từ thời cận đại, những cải cách liên quan đến văn hóa đã được cho là có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội Nhật một cách

rõ nét Nội dung luận văn cũng sẽ góp phần bổ sung cho luận điểm trên

- Sinh thái văn hóa

Thuyết Sinh thái văn hóa do Julian Steward (1902 - 1972) đề xướng Ông cho rằng con người sử dụng văn hóa để thích nghi với các môi trường tự nhiên cụ thể; ngược lại, môi trường tự nhiên cũng có tác động không nhỏ trong việc hình thành đặc trưng văn hoá của một quốc gia, khu vực Nhật Bản là một đất nước có môi trường địa lý hết sức đặc thù Đất nước này là những hòn đảo được bao bọc bởi biển cả nên việc giao lưu, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa hiển nhiên chịu ảnh hưởng

từ vị trí địa lý Nhiều nhà nghiên cứu gần đây cũng đã khẳng định vai trò của của vị

trí địa lý Nhật Bản “biển vừa tạo nên sự cô lập tách rời của Nhật không để cho nước Nhật chịu ảnh hưởng của những biến động lục địa vừa có vai trò liên kết giữa

9 Văn kiện hội nghị lần 5 BCHTW ĐCSVN khóa VIII

Trang 33

nước Nhật với thế giới” [7, tr.98] Bên cạnh đó dựa vào quan điểm của thuyết Sinh

thái văn hoá sẽ giúp giải thích các đặc trưng của loại hình văn hóa bản địa của Nhật Bản

- Đặc thù lịch sử

Thuyết Đặc thù lịch sử do Franz Boas (1858 -1942) khai sáng Thuyết này chú trọng phương pháp quy nạp và đề cao nghiên cứu thực địa Franz Boas cho rằng muốn hiểu một nền văn hóa phải có cái nhìn từ bên trong như chính người bản địa mới có thể đưa ra đánh giá khách quan Franz Boas khẳng định văn hóa của dân tộc

sẽ được hình thành trong quá trình lịch sử cụ thể, gắn liến với môi trường xã hội và điều kiện địa lý của dân tộc ấy10 Ông chủ trương mỗi một nền văn hóa, trong chừng

mực nào đó là độc nhất Cách nhìn này giúp đánh giá khách quan những thành tựu

và hạn chế của chủ trương “Thoát Á-nhập Âu”

- Giao lưu và tiếp biến văn hóa

Nghiên cứu sự biến đổi, cải cách trong lĩnh vực văn hóa thời cận đại tại Nhật không thể bỏ qua cách tiếp cận thông qua lý thuyết giao lưu văn hóa Các nhà nghiên cứu phương Tây thường dùng từ “acculturation” để nói lên khái niệm này

Và nó hoàn toàn không bó buộc hay thu hẹp theo nghĩa mà cụm từ giới nhà báo hay dùng như “cultural exchange” hay “exchange culture” Cái gọi là “trao đổi văn hóa” đôi khi lại bị thu hẹp ở bối cảnh những buổi giao lưu mang tính ngoại giao

Có nhiều quan điểm khác nhau về lý thuyết giao lưu tiếp xúc, tiếp biến văn

hóa Chúng tôi đồng ý với nhận định “đây là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm” (dẫn theo Trần Quốc

Vượng)[55, tr.51 - 54] Đồng thời tán thành cách tiếp cận của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hiệu khi nghiên cứu acculturation là phải kết hợp cả hai cách tiếp cận

“từ chủ thể” (emic) và “từ khách thể” (etic)11 nhằm tránh chủ quan trong nhận định

Trang 34

khi nghiên cứu văn hóa Bằng cái nhìn từ bên ngoài và cả bên trong trước những thay đổi tại Nhật Bản khi có sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây sẽ giúp làm rõ hơn những thành công và hạn chế của giai đoạn tiếp xúc tiếp biến với văn hóa phương Tây thời Minh Trị này

- Quá trình luận

Quá trình luận gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu như Isaac Schapera (1905 - 2003), Frederick George Bailey (1924 -) Lý thuyết này nhấn mạnh những biến đổi lịch đại mà con người là tác nhân chính yếu Họ chủ động thay đổi nhằm đạt được những giá trị tích cực trong đời sống cá nhân hay cho

“nhóm” của mình Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi

về văn hoá Thông qua phân tích quá trình thực hiện chủ trương thoát Á - nhập Âu

để hiểu được những giá trị được thiết lập trong nền văn hoá Nhật Bản Sự thay đổi trong văn hóa Nhật Bản không chỉ do yếu tố bên ngoài mang lại Yếu tố bên ngoài chỉ tác động lên trên bề mặt của quá trình biến đổi Chính người Nhật mà trước tiên

là tầng lớp tinh hoa, các bậc thức giả mới là tác nhân chính yếu làm thay đổi nền văn hóa cũ, thiết lập các chuẩn mực văn hóa mới lên toàn xã hội Thừa hưởng lý thuyết này sẽ giúp làm rõ hơn vai trò các nhân vật lịch sử gắn liền với chủ trương cải cách ở Nhật Bản cùng với các tác động tích cực mà họ mang lại

1.2 Bối cảnh lịch sử và nhu cầu, điều kiện canh tân đất nước ở Nhật Bản thời cận đại

1.2.1 Bối cảnh lịch sử

- Quá trình suy tàn của chế độ phong kiến Nhật Bản

Bối cảnh lịch sử của công cuộc thoát Á - nhập Âu của Nhật Bản thời cận đại cũng có nhiều nét tương đồng với Việt Nam và các nước Đông Á khác Thế giới lúc này chia ra hai thái cực rõ nét Phương Tây mở đầu với cuộc cách mạng kỹ thuật tại Anh Quốc vào hậu bán thế kỷ XVIII (niên đại 1760) sau đó lan tỏa mạnh mẽ tới các nước Âu Châu Vùng Bắc Mỹ với Hoa Kỳ là đại diện, sau khi công bố bản tuyên

Trang 35

ngôn độc lập (năm 1776) đã nhanh chóng phát triển công nghệ khai thác mỏ, đẩy mạnh sản xuất Với máy móc và công nghệ mới, các sản phẩm nhanh chóng được sản xuất đại trà Đến giữa thế kỷ XIX hàng hóa do Âu - Mỹ chế tạo trở nên dư thừa Điều này làm nảy sinh nhu cầu cấp bách tìm kiếm thị trường tiêu thụ và thu mua các nguyên liệu tại các xứ thuộc địa Châu Phi, châu Á và vùng Nam Mỹ trở thành nơi các quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ tìm tới Sau bao nhiêu năm nội chiến hoặc chiến tranh với các lân bang, thì giờ đây Nhật Bản, Việt Nam cũng như các nước Đông Á khác đứng trước nguy cơ bị các cường quốc phương Tây xâm lược hoặc áp chế Đặc biệt Nhật Bản là một quốc đảo ở vùng Đông Á có vị trí chiến lược quan trọng

do nằm ngay trên tuyến đường biển thông thương Á - Âu Ngay những năm đầu thế

kỷ XIX phái đoàn các nước như Hà Lan, Anh, Nga, v.v đã liên tiếp gởi các tàu đến các cảng Nhật với yêu cầu được thông thương

Trong khi đó, sau hơn 250 năm (tính từ năm 1603) dòng họ Tokugawa12 đã thiết lập quyền cai trị chế độ Mạc Phủ tại Edo (Giang Hộ - tên

cũ của Tokyo ngày nay) Trong khoảng thời gian đầu của thời Edo cũng đã xảy ra vài cuộc khởi nghĩa gây bất ổn xã hội nhưng nhanh chóng bị dập tắt Nhằm tránh sự truyền bá của Thiên Chúa giáo đã gây nên bất ổn ở các đảo phía nam như vùng Nagasaki Chế độ Mạc phủ Tokugawa đã ban ra sắc lệnh gọi là 鎖国令 (Sakoku rei - tỏa quốc lệnh) Trong vòng 6 năm (1633 đến năm 1639) đã liên tiếp có 5 sắc lệnh được Mạc Phủ ban ra Những sắc lệnh này đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử Nhật Bản trước thời cận đại Từ đây, trong khoảng hơn 200 năm người Nhật chỉ chủ yếu giao thương với Hà Lan, Trung Quốc, Triều Tiên và Lưu Cầu13 mà thôi Giao thương buôn bán bằng thuyền_ con đường duy nhất mà đảo quốc lúc này có được để tiếp thu

Trang 36

văn hóa các nước đã bị đóng lại Tuy nhiên, chính quyền Edo chỉ thu hẹp chứ không đóng cửa hoàn toàn Tên gọi của “Tỏa quốc lệnh” (bế quan tỏa cảng - đóng cửa, phong tỏa quốc gia không giao tiếp bên ngoài) dễ bị nhầm lẫn với việc đóng cửa hoàn toàn biên giói quốc gia Trong giai đoạn này giao lưu, tiếp xúc với Trung Hoa và Triều Tiên vẫn tiếp diễn Thêm nữa, thông qua cảng vùng đảo phía Nam Okinawa và đặc biệt là cảng Nagasaki ở vùng Kyushu (Cửu Châu) các mối liên hệ với phương Tây thông qua trung gian người Hà Lan vẫn được duy trì Chính sách bế quan này cũng có mặt tích cực của nó,

mà theo nhận định của Vĩnh Sính thì “văn hóa Nhật Bản phát triển mạnh” và

“Người Nhật trong suốt thời kỳ này chủ yếu dựa trên chính họ để phát huy

những đặc tính của văn hóa truyền thống trên mọi phương diện: cá tính dân tộc, tay nghề,mỹ thuật” [44, tr.74] Như vậy việc đóng cửa đối với bên ngoài

đã tạo điều kiện cho văn hóa truyền thống có cơ hội phát triển: người Nhật tận dụng khoảng thời gian này hoàn thiện văn hóa bản địa vốn có của mình và đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận

Thế nhưng, khi không còn nỗi lo từ bên ngoài do phong tỏa đất nước cùng với sự cai trị khôn khéo thì vào đầu thế kỷ XIX triều đình Tokugawa phải đối diện với sự suy tàn của chế độ Mạc Phủ Nhật Bản bắt đầu đối diện các biến cố xã hội lớn lao Cũng như các triều đình phong kiến phương Đông khác, nông nghiệp giai đoạn này đóng một vai trò hết sức quan trọng Là nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, Nhật Bản cũng trải qua một thời gian dài với quan điểm trọng nông hơn trọng thương Đến giai đoạn cuối cùng thời Tokugawa do chế độ nộp tô thuế nặng nề, mất mùa liên tiếp xảy ra và hậu quả

là các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng phát Nguyễn Nam Trân đã đúc kết như

sau: Từ thập niên 1830 thời tiết chuyển hướng xấu… Năm Thiên Hoàng

Tempo (Thiên Bảo) thứ 3 – 1832 và năm tiếp theo thu hoạch mùa màng chưa

Trang 37

được một phân nửa Cả nước lâm vào cảnh thiếu gạo… Năm Tempo thứ 7 nạn đói trở nên trầm trọng… khởi nghĩa ikki (nông dân) nổi lên Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Kamo Ikki ở tỉnh Shizuoka số nông dân khởi nghĩa lên đến 1 vạn 2 nghìn người[53, tr.535]

Mất mùa, đói kém đã khiến cho người nông dân khốn khổ Họ thậm chí phải đưa cha mẹ mình bỏ vào rừng núi cho chết đói 14 Ở một đất nước dựa trên sản xuất nông nghiệp mà ruộng đất đều nằm trong tay các địa chủ và các daimyo - 大名 - lãnh chúa địa phương tất yếu sẽ dẫn đến con đường bần cùng hóa nông dân Trong khi đó nông dân lại là giai tầng chiếm đa số trong

xã hội lúc bấy giờ Thêm nữa, sau một thời gian dài cầm quyền, triều đình Mạc Phủ rơi vào những sinh hoạt xa hoa Đồng thời nạn hối lộ trong chính trường để mua quan bán tước do Trưởng Lão (rojuu) Mizuno Tadakira (Thủy

Dã Trung Thành) 1762-1834) cầm đầu khiến cho bộ máy hành chánh càng rối loạn thêm Trên hết, sự ngấm ngầm phản đối tính chính danh trong cai trị vương quốc của triều đình Mạc Phủ chưa bao giờ lên cao như trong giai đoạn này Nhiều lãnh chúa cũng như một bộ phận tầng lớp võ sĩ vẫn trung thành với Thiên Hoàng và mong thay đổi cán cân quyền lực Và điều kiện cho giọt nước tràn ly chính là sự kiện Hắc thuyền

Sự kiện Perry năm 1853 chỉ là bước đánh dấu cho quá trình phương Tây muốn gây ảnh hưởng, thậm chí nếu có thời cơ là xâm lược lên vùng Đông Á, trong đó Nhật Bản là cửa ngõ cho cả một khu vực rộng lớn Không chỉ Hoa kỳ mà nhiều quốc gia phương Tây khác như Pháp, Anh, Hà Lan, v.v đều dòm ngó đến Nhật Tiếng pháo cùng hạm đội trên những con thuyền chạy

14 Người viết từng đứng trước con đường dẫn vào khu rừng Aokigahara dưới chân núi Phú Sĩ Khu rừng âm u này giờ đây được biết đến như một trong những nơi tự sát nhiều nhất Nhật Bản Khởi đầu là do chính những người nông dân Nhật sống chung quanh chân núi Phú Sĩ vào thời cuối Edo do bị mất mùa liên tiếp đã phải đưa cha mẹ già yếu của mình vào đây bỏ đói cho chết Một thời gian dài sau đó, do không ai dám vào trong khu vực này, khu rừng trở nên âm u Vài chục năm trở lại đây, mỗi năm có hơn 100 người chọn nơi đây làm nơi kết thúc cuộc đời mình

Trang 38

bằng hơi nước đã cảnh báo cho sự tồn vong của chủ quyền dân tộc Nguy cơ

bị xâm lược của phương Tây giờ đây đã chính thức xuất hiện Nhật Bản bước sang một giai đoạn lịch sử mới Thách thức buộc phải thay đổi đã đến

1.2.2 Nhu cầu canh tân đất nước

- Những cuộc canh tân của lịch sử Nhật Bản thời trung đại

Những biến động lịch sử như trình bày ở trên dẫn đến nhu cầu cần phải đưa

ra các biện pháp nhằm ứng phó với hoàn cảnh mới Đây không phải là lần đầu tiên Nhật Bản phải cải cách Nhật Bản từng trải qua các cuộc cải cách thời trung đại Vào thế kỷ VII cuộc cải cách Taika 大化の改新 (Đại hóa cải tân) đã từng diễn ra

do Thiên Hoàng thứ 36 là Kotoku (Hiếu Đức) khởi xướng Sau đó Thiên Hoàng Tenji (Thiên Trí) và Thiên Hoàng Mommu (Văn Vũ) tiếp tục hoàn tất các cải cách này Vương quốc Nhật Bản trước năm 645 khi Thiên Hoàng Kotoku lên ngôi vẫn còn trong giai đoạn thị tộc, nơi các lãnh chúa địa phương thật sự nắm quyền và chỉ phục tùng Thiên Hoàng trên danh nghĩa Đứng trước sức mạnh của nhà Đường, các

vị Thiên Hoàng nhận thấy nguy cơ xâm lược từ Trung Hoa Dự báo này đã không sai khi vào năm 668 nhà Đường sau khi đánh chiếm Triều Tiên đã mưu toan xâm lược Nhật Bản Bằng cách dự liệu trước nguy cơ xảy ra và bằng sự quyết đoán, Thiên Hoàng Kotoku ban ra chiếu chỉ nổi tiếng trong lịch sử Nhật năm 646 là

“Kaishin no Mikotonori” (Chiếu chỉ đổi mới) 15 Chiếu chỉ này giúp cải cách đất nước trên nhiều lĩnh vực: giáo dục, luật pháp, hành chánh, quân đội, v.v nhằm thoát khỏi sự dòm ngó từ của vương quốc láng giềng đang thời cực thịnh Đường triều Trung Hoa Hai nhà nghiên cứu R.H.P Mason và J.G Caiger còn mạnh dạn

đưa ra nhận xét cuộc cải cách Taika như “một cuộc cách mạng chính trị” vì nó đã

“thay đổi địa vị xã hội của quần chúng từ thân phận nô lệ trở thành những người

15 “Kaishin no Mikotonori” có thể tóm lược như sau:

“Bãi bỏ chế độ chia tư hữu dân (nông nô) và tư hữu địa (nông địa) của hoàng tộc và hào tộc

Qui hoạch lại các khu vực hành chính để thực thi trung ương tập quyền

Lập sổ hộ tịch và kế toán, tổ chức thu hồi và phân phát ruộng ban (handen- ban điền- ruộng chia theo nhân khẩu)

Áp dụng một chế độ tô thuế thống nhất” [53, tr.100]

Trang 39

dân tự do làm thuê cho nhà nước” [39, tr.35] Cải cách này nhanh chóng ảnh hưởng

đến sinh hoạt xã hội thời đó Nếu như trước đây Nhật Bản thường được các “tiên sinh” đến từ Triều Tiên sang truyền thụ nền văn minh Trung Hoa, thì nay từ vị thế

“học trò”của Triều Tiên, Nhật lại quay sang xâm lược “thầy” mình16 Điều đó cho thấy sự cường thịnh một cách nhanh chóng của Nhật Bản Hơn hết, công cuộc cải cách này đã đưa Nhật Bản trở thành nhà nước phong kiến trung ương tập quyền một cách triệt để Một điều đáng lưu ý trong giai đoạn cải cách này là tên gọi Nhật Bản (日本)được chính thức sử dụng Trước đây Nhật Bản từng được gọi là Yamatai

(Da Mã Đài Quốc) dù tên gọi này và cả vị trí cũng như niên đại của nó vẫn là “một cuộc tranh luận lớn nhất của giới sử học Nhật Bản” [53, tr.57] Sau đó, tên gọi

Yamato (大和 - Đại Hòa) đã được sử dụng trước khi được chính thức gọi là Nhật Bản

Tuy nhiên đến thời cận đại bối cảnh đất nước đứng trước những thách thức hoàn toàn khác Lần đầu tiên trong lịch sử hơn một ngàn năm xây dựng đất nước (tính từ cuộc cải cách Taika) người Nhật đối diện với kẻ thù xa lạ với trang thiết bị quân sự mạnh hơn gấp bội Nếu trước đây xung đột với Triều Tiên hay cả đội quân Mông - Nguyên17 hùng mạnh thì Nhật Bản vẫn trong tâm thế đối chọi với các dân tộc lân bang gần gũi về chủng tộc, văn hóa Xét về trang thiết bị quân sự, khả năng tác chiến thì các quốc gia lân bang này vẫn có nhiều mặt hạn chế hơn so với người Nhật, lại thêm người Nhật rất giỏi tận dụng vị trí đảo quốc của mình

Khi trọng pháo trên các con tàu hơi nước màu đen kỳ lạ nổ súng biểu dương sức mạnh của Hoa Kỳ, đất nước mà ngay cả cái tên cũng lạ lẫm với đa phần người Nhật, đã làm biến chuyển tâm thức họ Người Nhật một mặt chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc chiến với niềm tin giành thắng lợi; mặt khác, tâm thức về việc sắp phải chấm dứt những ngày tháng yên bình không bị ngoại xâm hơn năm trăm năm cũng bị xáo

Trang 40

trộn mạnh mẽ18 Nhưng trên hết vẫn là sự kinh ngạc, khiếp đảm khi đứng trước sức mạnh của phương Tây Khác với các chiến thuyền Mông - Nguyên, các con thuyền chạy bằng hơi nước với trang bị trọng pháo có sức mạnh kinh hồn đánh thức cả dân tộc Nhật Câu hỏi lịch sử được đặt ra cho dân tộc Nhật: tiếp tục đóng cửa và cố gắng chống lại kẻ thù Hay tư tưởng cầu xin thần linh mang “cơn gió thần” thổi bay

kẻ thù trên biển như trong trận chiến chống trả quân Mông - Nguyên từng xảy ra ở thế kỷ XIII Hay buộc phải canh tân một lần nữa như tổ tiên từng thực hiện công cuộc cải cách Taika trước đó? Nếu chọn phương án đối đầu thì người Nhật không tự tin mình có thể chiến thắng Thất bại cay đắng của Thanh triều với Anh quốc sau

“chiến tranh thuốc phiện” diễn ra đầu năm 1840 là bài học trước mắt Đối lại, nếu chọn giải pháp thứ hai thì sẽ bắt đầu từ đâu? Đâu là hình mẫu để noi theo? Trung Hoa từng là biểu tượng sức mạnh của phương Đông giờ đây cũng đang bị các nước phương Tây xâu xé

Gần như ngay lập tức, tư tưởng canh tân đất nước đã xuất hiện và chiếm ưu thế trong xã hội Nhật Nhu cầu bức bách phải nhanh chóng canh tân đất nước ra đời Nhật Bản có những điểm khác biệt cơ bản làm bệ phóng hoàn hảo cho sự canh tân sau này Ba trong số đó là vai trò của tầng lớp võ sĩ, sự phát triển của các đô thị và

sự phát triển rộng khắp của các terakoya (trường địa phương

1.2.3 Điều kiện canh tân đất nước

- Vai trò của tầng lớp võ sĩ

Các nước Đông Á vốn chịu nhiều ảnh hưởng từ Trung Hoa đã chia xã hội thành 4 giai tầng khác nhau mà đứng đầu là “sĩ” Nhưng nếu ở Trung Hoa, Triều Tiên và Việt Nam, “sĩ” chính là tầng lớp học hành đỗ đạc ra làm quan được gọi chung là tầng lớp sĩ phu, thì riêng ở Nhật Bản, sĩ chính là tầng lớp võ sĩ Đây chính

là sự khác biệt đáng kể Nếu như các sĩ phu vùi đầu vào đầu vào văn chương thơ

18 Xin xem Bộ phim “Ryoma den” (Truyền thuyết Ryoma) dài 48 tập do đạo diễn Ootomo Keiji của đài NHK

đã tái hiện lại tâm thức của người Nhật trong sự kiện “con tàu đen” hết sức sinh động Bộ phim diễn tả các cung bậc khác nhau của người Nhật khi chứng kiến sức mạnh từ phương Tây cùng với các phản ứng của họ trước sự kiện lớn lao của đất nước Phim trình chiếu năm 2010 trên NHK

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Herbert P. Bix (2013), Nhật Hoàng Hirohito và công cuộc kiến thiết nước Nhật hiện đại, NXB Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Hoàng Hirohito và công cuộc kiến thiết nước Nhật hiện đại
Tác giả: Herbert P. Bix
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2013
2. Trương Bá Cần (1988) Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ - con người và di thảo
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
3. Nhật Chiêu (2013) (tái bản), Văn Học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Học Nhật Bản từ khởi thủy đến 1868
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
4. Cho Dong - IL (2010) (Hà Minh Thanh dịch), Lý luận nền văn minh Đông Á, NXB Hội Nhà Văn, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận nền văn minh Đông Á
Nhà XB: NXB Hội Nhà Văn
5. Dương Ngọc Dũng (2008), Chuyên luận Nhật Bản học, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên luận Nhật Bản học
Tác giả: Dương Ngọc Dũng
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2008
6. D.T. Suzuki (2013) (Đào Cương và Thích Nhuận Tánh dịch), Thiền và văn hóa Nhật Bản, NXB Hồng Đức, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền và văn hóa Nhật Bản
Nhà XB: NXB Hồng Đức
8. Nguyến Đình Đầu (2013), Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức NXB Trẻ, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ với triều đình Tự Đức
Tác giả: Nguyến Đình Đầu
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2013
9. Fukuzawa Yukichi (2013), Phúc Ông tự truyện, NXB Thanh niên, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc Ông tự truyện
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2013
10. Fukuzawa Yukichi (2014) (Nguyễn Hữu Lợi dịch), Khuyến học, NXB Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến học
Nhà XB: NXB Thế giới
12. Hồ Hoàng Hoa (chủ biên) (2001), Văn hóa Nhật những chặng đường phát triển, NXB Khoa Học Xã hội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Nhật những chặng đường phát triển
Tác giả: Hồ Hoàng Hoa (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã hội
Năm: 2001
13. Lê Văn Hùng (2013) (biên soạn), Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, Học viện Nông nghiệp VN - Hà Nội phát hành, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin
14. Jay M. Shafritz (2002) (nhóm dịch Minh Đức), Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ (nhóm dịch Minh Đức), NXB Chính trị - Quốc gia. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ
Nhà XB: NXB Chính trị - Quốc gia. HN
15. Lê Thành Khôi (1955/2014) (Nguyễn Nghị dịch): Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, NXB Thế giới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Thế giới
16. Lee Ki - baik (2002) (Lê Anh Minh dịch), Lịch sử Hàn quốc tân biên, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hàn quốc tân biên
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
17. Nguyễn Hiến Lê (2006), Sử Trung Quốc, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử Trung Quốc
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
18. Li Tana (1999/2014) (tái bản), Xứ Đàng Trong - lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII, NXB Trẻ, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong - lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII
Nhà XB: NXB Trẻ
19. Phan Ngọc Liên (2000) (cb), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Nguyễn Tiến Lực (2010), Minh Trị Duy Tân và Việt Nam, NXB Giáo dục HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Trị Duy Tân và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Nhà XB: NXB Giáo dục HCM
Năm: 2010
21. Nguyễn Tiến Lực (2013), Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tưởng cải cách giáo dục, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ - Tư tưởng cải cách giáo dục
Tác giả: Nguyễn Tiến Lực
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2013
22. Mesheriakov A.N (2014) (Phạm Nguyên Trường dịch), Là người Nhật, NXB Tri thức, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Là người Nhật
Nhà XB: NXB Tri thức

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm