ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC PHÙNG THỊ THU THỦY VẬN DỤNG KHÁI NIỆM "KINH NGHIỆM VÀ TƯ DUY" TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHÙNG THỊ THU THỦY
VẬN DỤNG KHÁI NIỆM "KINH NGHIỆM VÀ TƯ DUY" TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN "SÓNG" CỦA XUÂN QUỲNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHÙNG THỊ THU THỦY
VẬN DỤNG KHÁI NIỆM "KINH NGHIỆM VÀ TƯ DUY" TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN "SÓNG" CỦA XUÂN QUỲNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11 Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYẾN ÁI HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, những người đã tạo mọi điều kiện đểgiúp chúng tôi hoàn thành Luận văn này
Đặc biệt, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Ái Học,
người đã hướng dẫn chúng tôi tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài: Vận
dụng khái niệm "Kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey hướng dẫn học sinh trung học phổ thông đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh
Cảm ơn các thầy cô và các em học sinh tại trường THPT Ân Thi (huyện
Ân Thi, tỉnh Hưng Yên) đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình khảo sát, điều tra để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học viên
Phùng Thị Thu Thủy
Trang 4Chữ viết đầy đủ Giáo viên
Học sinh Phương pháp dạy họcTrung học phổ thông Tác phẩm văn chương Sách giáo khoa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Triết học và triết lí giáo dục của John Dewey 6
1.1.1 Triết học John Dewey 6
1.1.2 Khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey 14
1.1.3 Vấn đề vận dụng triết lý giáo dục của John Dewey vào giáo dục và dạy học ở Việt Nam 17
1.2 Đọc hiểu, phương pháp dạy học đọc hiểu, mô hình đọc hiểu TPVC 20
1.2.1 Khái niệm "đọc" và "đọc hiểu" 20
1.2.2 Phương pháp dạy và học đọc hiểu trong nhà trường THPT 24
1.2.3 Mô hình đọc hiểu TPVC 25
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP 28
2.1 Thực trạng về việc dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh 28
2.1.1 Vài nét về tác giả Xuân Quỳnh và văn bản "Sóng" 28
2.1.2 Thực trạng về việc dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh 32
2.2 Biện pháp hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản "Sóng" bằng cách vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey 53
2.2.1 Khơi gợi "kinh nghiệm và tư duy" sẵn có của HS 53
2.2.2 Lồng ghép "kinh nghiệm và tư duy" vào nội dung các câu hỏi đọc hiểu văn bản 57
2.2.3 Tổ chức các hoạt động kiểm tra - đánh giá 59
Trang 6Tiểu kết chương
2 62
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 63
3.3 Nội dung, cách thức thực nghiệm 63
3.4 Phương pháp thực nghiệm 64
3.5 Giáo án thực nghiệm 65
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 80
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 90
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng phân chia các câu hỏi đọc hiểu văn bản "Sóng" theo thang cấp độ tư duy 34 Bảng 2.2 Các bước của "tư duy" được thực hiện trong văn bản "Sóng" 55 Bảng 2.3 Các tiêu chí dùng cho chuẩn nội dung năng lực đọc hiểu
văn bản 60 Bảng 3.1 Đối chiếu kết quả dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" 81 Bảng 3.2 Bảng so sánh kết quả bài làm của HS 82
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, cụm từ "đổi mới phương pháp dạy học" (PPDH) đã không còn quá xa lạ với ngành giáo dục cũng như với toàn xã hội Người học được đặtvào vị trí trung tâm, vị trí của người tự khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức dưới sựgợi mở, sự dẫn dắt của người thầy Quá trình "giáo dục" được chuyển đổi thành quá trình "tự giáo dục" và đó cũng là mục tiêu lớn nhất của ngành giáo dục Việt Nam trong thế kỉ XXI Hòa vào xu thế chung, hệ thống chương trình SGK các cấp đã được biên soạn lại theo tinh thần hiện đại, thiết thực và vừa sức Chương trình Ngữ văn hiện hành cũng được thiết kế theo quan điểm tích hợp và tích cực hóa người học Riêng trong phân môn Văn học, các văn bản được sắp xếp theo cụm thể loại và đi theo tiến trình lịch sử Để làm nổi bật tínhthể loại của văn bản, các giờ bình giảng văn trước kia được thay thế bằng giờ đọc hiểu Thông qua hệ thống câu hỏi đọc hiểu, giáo viên (GV) sẽ hướng dẫn học sinh (HS) đọc và tiếp cận văn bản theo đúng đặc trưng thể loại, từ đó giúp HS không chỉ hiểu thấu đáo văn bản được cung cấp trong sách giáo khoa (SGK) mà có thể chủđộng đọc hiểu các văn bản khác ngoài chương trình
John Dewey (1859 - 1952) là nhà triết học lớn nhất nước Mỹ nửa đầu thế kỉ XX Ông đồng thời là nhà giáo dục vĩ đại, đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáo dục của nhân loại Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục
đồ sộ của John Dewey đã bao trùm đời sống trí thức Mỹ, ảnh hưởng to lớn làmthay đổi nền giáo dục Mỹ suốt thế kỉ XX Ông đã trở thành thần tượng của những tri thức Hoa Kỳ lỗi lạc
John Dewey đã dành trọn cuộc đời dài gần thế kỉ của mình cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì sự tiến bộ của người học, vì lợi ích
to lớn của con người, vì sự phát huy tận độ tài năng, trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con người nhằm xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp Tuy nhiên, triết lý giáodục của Dewey, tư tưởng dân chủ giáo dục của ông không phải
Trang 9được ủng hộ trên hoàn toàn đất Mỹ, các trường phái đối lập vẫn chỉ trích ông
Mặc dù vậy, những thành quả lao động của Dewey vẫn luôn là một di sản vô giá, đặc biệt những người muốn xây dựng trường học theo ý tưởng của Dewey.Đối với giáo dục của Việt Nam hôm nay, nội dung triết lý giáo dục của John Dewey vẫn là những giá trị đầy tính thời sự, nó càng đặc biệt ý nghĩa khi Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng và phát triển đề án:
"Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế"
Tại Việt Nam, năm 1940, Vũ Đình Hòe đã giới thiệu John Dewey trên báoThanh Nghị nhưng sau đó tư tưởng triết học của John Dewey gần như đã vắng bóng suốt hai phần ba thế kỉ Cái tên John Dewey nếu có được nhắc đến đâu đó ở Việt Nam thì cũng gắn với việc phê bình triết học của ông, gắn với sự phê phán triết học thực chứng của "giai cấp tư sản" Trong chương trình thực nghiệm của
Hồ Ngọc Đại hai thập niên gần đây, có sự âm thầm vận dụng tư tưởng của Dewey Hiện nay, John Dewey đã được dịch và giới thiệu khá bài bản ở Việt Nam với các bản dịch của Phạm Anh Tuấn như: "Dân chủ và giáo dục" (NXB Tri thức, 2008), "John Dewey về giáo dục" (NXB Trẻ, 2012), "Kinh nghiệm vàgiáo dục" (NXB Trẻ, 2012) cùng với các bản dịch: "Cách ta nghĩ" của Vũ Đức Anh (NXB Tri thức, 2013) Sự xuất hiện trở lại một cách bài bản hơn và đầy
đủ hơn trước tác của Dewey ở Việt Nam hiện nay phải kể đến công lao của các dịch giả nói trên, và đặc biệt là công lao của Quỹ dịch thuật Văn hóa Phan Chu Trinh và Nhà xuất bản Tri thức Nhưng sự vận dụng triết học giáo dục của John Dewey vào giáo dục và dạy học ở Việt Nam nói chung và vận dụng vào việc đọc hiểu các tác phẩm văn chương nói riêng, nhất là thơ chưa được tiến hành bằng những công trình nghiên cứu chuyên sâu, chưa có các nội dung vận dụng một cách tự giác được hiện thực hóa trở thành phổ biến
Trang 10Trong các triết lý giáo dục của John Dewey, khái niệm "kinh nghiệm và
tư duy" rất có giá trị với giáo dục, nhất là với quan điểm lấy người học là trungtâm như hiện nay Nhà trường không chỉ là nơi bảo vệ và lưu giữ tri thức mà cốt lõi là huấn luyện kĩ năng Nhà trường là phòng thí nghiệm, là nơi học sinh thựchiện những kinh nghiệm quyết định để phát triển Vì vậy, có thể nói, nhà trường chính là cuộc sống để học sinh trải nghiệm chứ không phải là nơi chuẩn bị cho
HS bước vào cuộc sống như quan điểm hiện tại nữa Tuy nhiên, việc vận dụng triết lý này vào trong dạy học nói chung và dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương (TPVC) nói riêng lại chưa được chú trọng
Trong số các nhà thơ nữ nửa cuối thế kỉ XX, Xuân Quỳnh nổi lên là một
"gương mặt thơ" với phong cách chân thành, đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường, nhất là trong hạnh phúc của tình yêuđôi lứa Trong số các sáng tác của Xuân Quỳnh thì "Sóng" được coi là một bài thơ đặc sắc viết về khát vọng tình yêu của một người phụ nữ muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người Bởi vậy, việc tạo điều kiện cho học sinh được "trải nghiệm" trong thế giới nghệ thuật của văn bản và cảm nhận được khát vọng tha thiết ấy là mục đích cao nhất trong việc hướng dẫn họcsinh đọc hiểu văn bản này Tuy nhiên, việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bảnnày hiện nay ở các trường phổ thông dường như chưa "chạm" tới được mục đích cao nhất đó
Xuất phát từ những lý do trên và điều kiện nghiên cứu của bản thân, tác
giả chọn đề tài: "Vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý
giáo dục của John Dewey hướng dẫn học sinh trung học phổ thông đọc
hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh" làm luận văn thạc sỹ
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa các lý thuyết và phân tích thực trạng của việc dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh hiện nay, luận văn đề xuất vàđánh giá hiệu quả của việc vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy"
Trang 11trong triết lý giáo dục của John Dewey vào hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểu văn bản này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu thực trạng dạy học văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh ở trường THPT hiện nay, Luận văn đề xuất các biện pháp dạy học đọc hiểu văn bản này theo hướng vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Cơ sở lý luận của đề tài
Thứ hai: Thực trạng dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân
Quỳnh hiện nay
Thứ ba: Kết quả của việc vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy"
trong triết lý giáo dục của John Dewey vào hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểuvăn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu trong Luận văn này là một số biện pháp nhằm hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh theo theohướng vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh (SGK Ngữ văn 12); khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trongtriết lý giáo dục của John Dewey
- Phạm vi khảo sát, ứng dụng: khảo sát học sinh và giáo viên lớp 12 tại trường THPT Ân Thi- Ân Thi - Hưng Yên
Trang 125 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey vào hướng dẫn học sinh THPT đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh thì sẽ đem lại hiệu quả cao
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Sưu tầm, đọc tài liệu, nghiên
cứu các văn bản về triết lý giáo dục của John Dewey nói chung và khái niệm
"kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của ông nói riêng ; dạy học đọchiểu ; văn bản "Sóng" của Xuân Quỳnh
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, khảo sát
bằng phiếu hỏi, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia
- Nhóm phương pháp xử lý thông tin: Định lượng, định tính, thống kê và
phân tích thống kê
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng và biện pháp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Triết học và triết lí giáo dục của John Dewey
1.1.1 Triết học John Dewey
John Dewey (20/10/1859 - 1/6/1952) là triết gia, nhà tâm lý học, nhà giáo dục học người Mỹ Ông ra đời tại Burlington, Vermont Dewey lấy bằng cửnhân của đại học Vermont năm 1879 và bằng tiến sĩ của đại học Hopkins năm
1884 Sự nghiệp và ảnh hưởng trong lĩnh vực giáo dục của Dewey bắt đầu tại đại học Michigan, nơi ông giảng dạy từ 1884 đến năm 1888 Giai đoạn từ năm
1888 đến 1889, Dewey giảng dạy tại Đại học Minnesota, rồi quay về Đại học Michigan từ năm 1889 đến 1894 Ông tiếp tục sự nghiệp tại Đại học Chicago từ
1894 đến năm 1904 và tại Đại học Columbia từ 1904 đến khi về hưu với tư cáchgiáo sư danh dự năm 1931
Ban đầu, ông là một người theo triết học Hegel nhưng sớm chuyển sang chủnghĩa thực dụng Phù hợp với các lý thuyết thực dụng, ông thường có quan hệ tới một loạt những hoạt động thực tiễn chẳng hạn với các nhóm khoa học, các nhóm chính trị và tham gia vào việc thành lập các nhà trường kiểu mới Ông thường tìm cách truyền bá ý tưởng của mình tới một cử tọa rộng lớn hơn và đã viết hàng loạt bài báo và nhiều cuốn sách đặc sắc Sự quan tâm đến giáo dục của Dewey bắt đầu vào những năm ông giảng dạy tại Michigan Ông nhận thấy hầu hết các trường học đều đi theo những đường hướng được thiết định bởi những truyền thống cũ kỹ và không biết điều chỉnh theo những khám phá mới nhất của tâm lý học trẻ em và theo những nhu cầu của một trật tự xã hội dân chủ đang thay đổi Việc tìm kiếm một triết lý giáo dục để có thể sửa chữa những khiếm khuyết ấy trở thành mối bận tâm chính với Dewey và là một chiều kích thích mới thêm vào tư duy của ông
Với việc ủng hộ cho dân chủ, Dewey coi hai thành tố nền tảng - nhà trường và xã hội dân sự - là hai chủ đề cần được quan tâm và xây dựng lại
Trang 14nhằm khuyến khích trí thông minh trải nghiệm Dewey cho rằng dân chủ
không thể đạt được chỉ bằng việc mở rộng quyền bầu cử, mà còn phải thông qua việc đảm bảo rằng ý kiến dư luận được hình thành một cách đầy đủ, điều này chỉ đạt được thông qua việc giao tiếp hiệu quả giữa người dân, chuyên gia và những nhà chính trị, trong đó các nhà chính trị phải chịu trách nhiệm cho những chính sách mà họ đưa ra
Khi cuốn "Lịch sử triết học phương Tây" của Bertrand Russell được xuất bản vào năm 1946, chỉ có một triết gia còn sống được dành cho một chương, đó là John Dewey Điều này thể hiện ảnh hưởng, vai trò của Dewey trong nền triết học đương đại
Nhìn vào niên biểu cuộc đời và tác phẩm của Dewey, chúng ta dễ dàng nhận thấy triết học Dewey là một quá trình Được đào tạo khá bài bản về triết học ở trường Đại học John Hopkins- một trường đi tiên phong trong giáo dục sau đại học theo mô hình Đức tại Mỹ, với những người thầy triết học ảnh hưởng tư tưởng trường phái Hegel, với luận văn tốt nghiệp tiến sĩ mang đề tài:
"Tâm lý học của Kant", John Dewey ban đầu đã chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa
lý tưởng tuyệt đối của phái Hegel, nhưng sự biến chuyển đổi thay, do nhiều tác động của bối cảnh khoa học thời đại ông tại Mỹ, John Dewey đã đến với tư tưởng triết học thực dụng Từ đây, người ta đã biết đến John Dewey là nhà triết học thực dụng( hay là công cụ luận, thuyết công cụ) có ảnh hưởng lớn nhất, người đưa tư tưởng thực dụng một cách có phương pháp vào sinh hoạt hàng ngày của
tổ chức đời sống xã hội ở Mỹ, đặc biệt là việc triển khai tư tưởng thực dụng tronggiáo dục Mỹ thế kỷ XX
1.1.1.1 Quan niệm của John Dewey về triết học, về công việc của triết học
Quan niệm của John Dewey về triết học được gửi gắm trong toàn bộ trước tác của ông về triết học và giáo dục Những người nghiên cứu về John Dewey đều tìm thấy ý nghĩa thực dụng trong triết học của ông ngay khi ông nêu những quan điểm của mình Hơn ở đâu hết, chúng ta có thể lắng nghe những tuyên ngôn trực tiếp của ông Theo Dewey "Quan niệm tồi tệ nhất là
Trang 15quan niệm cho rằng triết học là để giải thích "tồn tại" là gì, như ta thấy ở quan
niệm của người Hi Lạp cổ đại, hoặc giả quan niệm coi triết học là để giải thích
"thực tại" là gì, như ta thấy ở triết học hiện đạiTôi quan niệm triết học phải giải quyết những vấn đề của nền văn minh, văn minh hiểu theo nghĩa khai quát, được các nhà nhân học đưa ra rất dễ hiểu - tức triết học phải giải quyết những
mô thức nằm trong các mối quan hệ con người Triết học phải bao gồm những chủ đề như ngôn ngữ, tôn giáo, nền sản xuất, chính trị, mỹ học bao lâu giữa chúng có tồn tại một mô thức chung chứ không phải xét chúng tồn tại như những vấn đề tách rời và độc lập Nhiệm vụ chính của triết học là tìm cách hiểuđược nguyên nhân sâu xa của sự rối loạn rất dễ nhận ra trong những thời điểm diễn ra sự biến động nhanh chóng của nền văn minh, hiểu được cái gì nằm ở đằng sau cái đang bộc lộ ra bên ngoai, hiểu được chất đất nào nuôi dưỡng những gốc rễ của một trình độ văn minh cụ thể Triết học quan tâm tới mối quan hệ giữa con người với thế giới nơi nó đang sống bao lâu con người và thế giới bị tác động bởivăn hóa, sự tác động này là vô cùng
lớn, chứ không phải như ta thường vẫn tưởng" [24]
Phê phán triết học chỉ dừng lại ở việc giải thích "tồn tại" là gì, hoặc giải thích "thực tại" là gì, Dewey đưa triết học tiến tới giải quyết những vấn đề cụ thểcủa đời sống nhân sinh, "giải quyết những vấn đề gần gũi với con người" Với Dewey, "những vấn đề của triết học luôn thay đổi khi thế giới của con người thay đổi", bởi vậy, "giáo sư và sinh viên nên tìm cách nói cho người khác biết
sự thay đổi gì đang xảy ra" Quan niệm triết học và công việc của triết học gắn với môt thời đại mới, như Dewey nói: "Thời đại mới này hầu như là hệ quả củakhoa học tự nhiên ra đời vào thế kỷ XVI nhờ Galileo và Niuton, bởi vì ững dụng của khoa học tự nhiên đã làm thay đổi hoàn toàn cung cách sống và những mối quan hệ giữa con người Ứng dụng khoa học đã làm nên những đặc điểm của nền văn hóa hiện đại và những vấn đề quan
trọng của nó".[24]
Trang 16Quan niệm triết học của Dewey gắn với quan điểm thực tiễn khá triệt
để, bởi vậy triết học của Dewey thường gắn với cái nhìn của nhà xã hội học Triết học gắn với nhiệm vụ xã hội, giải quyết các vấn đề thực tại "Hiểu rõ được tình hình hiện tại đòi hỏi nhiều can đảm Hiểu được tình hình một cách triệt
để đòi hỏi nỗ lực lâu dài Nhưng triết học đem lại niềm hi vọng mới vì triết họcnhất định phải tham gia vào việc khởi xướng những xu hướng vận động để rồi sau đó con người sẽ hoan tất những xu hướng đó bằng hành động
Bước trước tiên là phải thẳng thắn nhận ra thế giới mà chúng ta đang sống lúc này là gì và nó sẽ đi về đâu Ngay cả nếu như chúng ta không thể làm được gì bằng sức lực đôi tay và cơ bắp thì chúng ta ít nhất cũng có thể nhìn thẳng vào nó Nhưng điều không nên làm là thêu dệt những bức màn
chắn khiến cho chúng ta không nhận ra tình hình đang diễn ra thực sự".[24] Quan niệm trên đây của Dewey cho thấy nhiệm vụ của triết học là nhiệm vụ phân tích thực tiễn, để khai mở những con đường hành động Từ cơ sở sinh vật học, từ Dacwin, từ những nghiên cứu tâm lý học chức năng, Dewey
là người phủ định mạnh mẽ thuyết nhị nguyên truyền thống, như sự chia cắt tinhthần và vật chất, cá nhân và xã hội Ông hào hứng nêu lên: "Trong vài thế kỷ qua khoa học đã thủ tiêu rất nhiều sự chia cắt nhị nguyên: tinh thần và vật chất,
cá nhân và xã hội Những chia cắt nhị phân này đã từng có đất sống lâu dài chỉ bởi
vì những điều kiện của nền văn minh đã cho phép điều đó Chúng ta còn thiếu một tư tưởng có hệ thống để chỉ ra sự phát triển tiếp theo Triết học không thể giải quyết những vấn đề này, cũng giống như triết học thế kỷ XVII không thể giải quyết những vấn đề của vật lý học, song các nhà triết học ngay hôm nay cóthể phân tích những vấn đề và đưa ra những giả thuyết phục vụ và gây ảnh hưởng tới nhiều người để rồi chúng có thể được trắc nghiệm bằng phương pháp duy nhất sau đây: Việc làm thực
tiễn" [24]
Trang 17Quan niệm triết học và công việc của triết học trên đây đã đưa John Dewey trở thành nhà triết học thực dụng có ảnh hưởng lớn nhất, ông được xem
là cha đẻ của trào lưu tân giáo dục
1.1.1.2 Những nội dung cơ bản của triết học thực dụng
Triết học thực dụng là triết học gắn với khoa học, bắt nguồn từ một quan niệm dựa trên cơ sở sinh học rằng: "Cơ thể con người luôn tìm kiếm một trạng thái yên tâm hoặc thăng bằng Nó tìm kiếm một sự điều chỉnh trước môi trường của nó Đây là khuynh hướng cơ bản của cơ thể con người, nó bị ràng buộc vào các nhu cầu sinh lý cơ bản nhất buộc phải được đáp ứng nếu như sự sống, xét như là một giá trị quan trọng số một, muốn
đ ư ợ c du y t r ì " [ 26; t r 3 2, 33 ]
Theo Dewey, đôi khi sự biến đổi quyết liệt của môi trường, sinh vật người không thấy mình có sẵn một đáp ứng thích đáng nào nên nó phải xoay sở cho ra một giải đáp để tiếp tục sống còn Do đó có nhu cầu suy nghĩ Nếu tương quan giữa sinh vật - người và môi trường được mô tả bằng từ ngữ "hoàn cảnh"hoặc "tình huống" thì người ta có thể cho rằng tư duy chỉ thiết yếu khi có một hoàn cảnh hay tình huống sụp đổ "Hành động tư duy có nghĩa là giải quyết một vấn đề Tư duy không phải một phương tiện để khám phá bản tính của thực tại tối hậu mà là công cụ thực hành được dùng để tìm kiếm giải pháp cho các vấn
đề thực tiễn [] Thật vô nghĩa khi nói đến chân lý tuyệt đối, vì tri thức hoặc chân
lý tuyệt đối đều bị giới hạn trong các giải pháp cho các vấn đề cá biệt Chân lý
có tinh tương đối đối với các hoàn cảnh (hay tình huống) cá biệt, và có bao nhiêu giải pháp cho vấn đề thì có bấy nhiêu chân lý"
"Về phương diện siêu hình học, chủ nghĩa thực dụng bác bỏ quan niệm của Platon cho rằng tư tưởng của một con người xuất phát từ một "khái niệm" toàn cầu, bất biến, thuộc về một cõi siêu hình nào đó và không lệ thuộc vào quanniệm của con người Những người theo chủ nghĩa thực dụng cho rằng, tư tưởng
là công cụ của con người, gồm có giả thuyết, ước đoán và những kế
Trang 18hoạch, nhằm giải quyết các vấn nạn của con người Tư tưởng xuất phát từ xã
hội, liên quan tới các sinh hoạt của con người Thay vì đi tìm các câu trả lời trong cõi siêu hình, những người thực dụng chú trọng vào sự tương tác giữa con người với nhau, giữa con người với môi trường nó sinh sống Những sự tương tác này tạo ra những vấn nạn con người cần giải quyết để sinh tồn và để sống một cách thoải mái Quan tâm chính yếu của những người thực dụng là tìm ra một phương pháp giải quyết vấn đề của con người trong đời sống thực
Về phương diện nhận thức luận, Dewey và những người thực dụng quan tâm đến câu hỏi: Làm thế nào để ta biết rằng ta biết? Làm sao ta có thể biết những ý tưởng của ta là đúng? Đâu là cách chính xác nhất để ta nhận biết?Tuy nhiên, những người thực dụng không chấp nhận câu trả lời là "cái biết" của ta do một nguồn nào đó cao hơn kinh nghiệm của con người ban cho Họ cho rằng biết của con người phải xuất phát từ kinh nghiệm mà ra Dewey định nghĩa: "Kinh nghiệm là tiến trình tương tác giữa con người và môi trường" Trong tiến trình này con người sẽ gặp phải những vấn đề mới làm trở ngại nếp sinh hoạt đã quen, nghĩa là những vấn đề khác với những gì mà kinh nghiệm trong quá khứ đã giải quyết, và cần có những giải pháp mới Đời sống theo Dewey và những người theo chủ nghĩa thực dụng là một chuỗi các vấn đề, và " một đời sống thành công là một đời sống trong đó cá nhân và tập thể xác định đượcvấn đề đặt ra cho họ và tìm cách giải quyết được những vấn đề này"
Về phương diện giá trị luận, Dewey bác bỏ quan niệm của Plato cho rằng các giá trị đạo đức xuất phát từ một đấng tối cao mang tinh cách bất biến, phổ cập và vĩnh cửu cho mọi thời đại, hay quan niệm của Aristotle cho rằng giá trị đạo đức mang tinh phổ cập ngàn đời vì được đặt căn bản trên lý tính của con người, và lý tinh cũng giúp con người nhận thức thế nào là thiện ác, đúng sai Dewey cho rằng các giá trị luân lý, đạo đức thay đổi theo từng
thời đại chứ không bất biến như Plato và Aristotle quan niệm
Trang 19Về phương diện luận lý học, những người thực dụng dựa vào thực chứng kinh nghiệm và những ý tưởng đã được đánh giá qua kinh nghiệm và qua các thử nghiệm khoa học Những người thực dụng không chấp nhận phương pháp suy luận diễn dịch đi từ một tiền đề (trong triết học) hoặc một định đề (trong toán học) mà vận dụng phương pháp quy nạp đưa đến một kết luận tổng quát dựa trên những trường hợp đặc thù Luận lý quy nạp trong triết học và khoa học đưa đến những kết luận, những "chân lý" tương đối, những chân lý đã được kiểm nghiệm trong quá khứ Nhưng những chân lý này luôn luôn bị thử thách bởi các khám phá mới và các chứng cứ mới"
Một triết học như vừa mô tả trên đây rõ ràng là triết học giải quyết các vấn đề thực tiễn, triết học gắn với khoa học nhằm cải tạo thực tiễn Cái nối kết giữa các nhà thực dụng (tiêu biểu là Peirce James và John Dewey) với nhau là niềm tin của họ rằng có một sự liên kết mật thiết giữa tư duy và hành động Khái niệm thực dụng đối với các nhà triết học thực dụng có nghĩa là cách thức mà tư duy thể hiện trong hành động Các nhà triết học thực dụng coi rẻ kiểu tư duy không tạo ra được sự thay đổi nào trong đời sống Tinh thần thực dụng nói trên đây đã đưa tới những nguyên tắc cơ bản mà chủ nghĩa thực dụng tuân theo như: ýtưởng của ta thực sự có giá trị khi đã được thể nghiệm trong hoạt động thực sự của con người; kinh nghiệm là kết quả của sự tương tác giữa con người với nhau
và giữa con người với thiên nhiên; trong đời sống thì con người phải đối phó vớinhững tình huống "hoang mang, bối rối" trước vấn đề khác với kinh nghiệm đã từng trải qua, đó là sự trục trặc cần phải giải quyết và tư duy bắt đầu từ đó Tư duy như vậy hiển nhiên phải là tư duy khoa học gắn với thực nghiệm để thực thi Chính điều này đã thúc đẩy John Dewey tập trung bàn nhiều về tư duy, phương pháp tư duy, rèn tư duy, "rèn trí nghĩ" mà ông gọi là: "Cách ta nghĩ" ( How we think) Chính nơi đây Dewey đã cho ra đời bản lược đồ tư duy (có người gọi là phương thức tư duy toàn diện) hết sức quan trọng, gồm "năm bước tách biệt theo logic: (I) một cái khó được thâu nhận; ( II) phạm vi và định nghĩa của nó; (III) đề xuất cho một giải pháp khả
Trang 20dĩ; (IV) sự triển khai bằng cách lập luận cho những căn cứ của đề xuất; (V)
tiếp tục quan sát và thực nghiệm đi đến chấp nhận hoặc bác bỏ đề xuất, tức là một kết luận tin theo hay không tin theo" [27; tr.120-121]
Lược đồ trên đây là minh chứng cho quan niệm của các nhà thực dụng rằng: chủ nghĩa thực dụng là một phương pháp, triết học thực dụng là triết học khoa học, phương pháp khoa học Với Dewey, tư duy khởi đầu bằng một "sự hoài nghi" có thực, bằng một "nhu cầu cảm nhận được" Sự tra vấn triết học dấy lên từ những vấn đề thuộc về lương tri, gắn với những vấn đề mang ý nghĩa cá nhân, ở đó, việc tìm ra một giải pháp khả thi mới là quan trọng Hoài nghi ở đây
là "hoài nghi đích thực trong tâm lý" gắn vơi cảm giác bị kích thích thực sự thay cho cảm giác "hoài nghi giả vờ", "hoài nghi tất cả" trong truyền thống triết học Descartes Thứ đến (giai đoạn hai trong bản lược đồ của Dewey) là "sự cô lập" điều nghi vấn cần được giải quyết và làm rõ nó Ở đây, có việc cần phải loại trừ những nghi vấn giả bằng cách chuyển từ cảm giác đơn thuần bị kích thích sang thành một nghi vấn trí tuệ, xem xét những điều kiện có thực Giai đoạn thứ ba của bản lược đồ như chính Dewey phân tích: "Sự gợi ý chính là trung tâm của suy luận" Đó là "giả định", "phỏng đoán", "dự đoán", "giả thuyết"
"Việc nuôi dưỡng các gợi ý đa dạng và có thể thay thế cho nhau là một nhân tố quan trọng của việc suy nghĩ đến nơi, đến chốn" Giai đoạn thứ tư của bản lược
đồ là việc "phân giải chi tiết một ý kiến", tức là tìm phương thức giải quyết cho một giả thuyết Đây chính là sự "kiểm soát trí tuệ nghiêm ngặt", để đi đến giai đoạn thứ năm là "chứng thực bằng thực nghiệm"
Năm bước của "cách ta nghĩ" cho thấy trí nghĩ đã được rèn luyện là "trí óc nắm bắt được tốt nhất mức độ quan sát, việc hình thành ý kiến, lý giải và những kiểm nghiệm cần thiết cho bất cứ trường hợp đặc biệt nào, và nó tận dụng đượctối đa cho những suy nghĩ tương lai, những sai lầm đã phạm phải trong quá khứ"[27; tr.130] Theo Reginald D.Archambault [26; tr.34,35], lần đầu tiên, Dewey
đã sử dụng thuật ngữ quan trọng của khoa học, đó là
Trang 21thuật ngữ "giả thuyết" (Chúng ta cũng
dễ dàng nhận thấy năm bước trong
lược đồ tư duy của Dewey đã đi vào các công trình nghiên cứu của nhân loại,
dễ thấy nhất là ở các công trình luận văn thạc sĩ, tiến sĩ Chúng ta cũng đừng quên năm bước trong lược đồ tư duy của Dewey đã công bố cách đây hơn một thế
kỷ - cuốn " Cách ta nghĩ" xuất bản vào năm 1910 Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thấy một mô hình tư duy khoa học nào với các bước khác xa hơn)
Triết học của John Dewey đi vào đời sống học thuật và đời sống xã hội đã nâng Dewey lên địa vị vừa là nhà triết học, vừa là nhà tâm lý học, vừa là nhà tổchức xã hội Nhưng tên tuổi lẫy lừng John Dewey đặc biệt gắn với triết lý giáo dục của ông
1.1.2 Khái niệm "kinh nghiệm và tư duy" trong triết lý giáo dục của John Dewey
1.1.2.1 Kinh nghiệm
Theo John Dewey, kinh nghiệm trên phương diện chủ động nghĩa là "làmthử", còn trên phương diện thụ động, kinh nghiệm có nghĩa là "kinh qua" Mối liên hệ giữa hai mặt nói trên của kinh nghiệm là thước đo tính hiệu quả hoặc giá trị của kinh nghiệm "Học hỏi từ kinh nghiệm" có nghĩa là tạo ra mối liên hệ qua lại giữa hai điều: chúng ta tác động tới sự vật và việc làm đó đem lại hệ quả khiến chúng ta thích thú với các sự vật đó hoặc phải chịu đựng chúng Trong hoàncảnh như vậy, "làm" trở thành một sự làm thử; một thử nghiệm với thế giới này nhằm phát hiện xem nó như thế nào; sự "kinh qua"
trở thành sự truyền đạt kiến thức - tức sự khám phá mối liên hệ của sự vật
Ông cũng chỉ rõ vai trò của kinh nghiệm, đặc biệt là đặt trong mối tương quan với lý thuyết Một lượng thật nhỏ kinh nghiệm còn tốt hơn cả một tấn lý thuyết đơn giản chỉ bởi vì chỉ có trong kinh nghiệm thì lý thuyết mới có được ý nghĩa sống động và có thể kiểm chứng Một kinh nghiệm giản đơn, dù là một kinh nghiệm vô cùng tầm thường, cũng có thể sinh ra và chuyên chở mọi lý thuyết (hoặc nội dung trí tuệ), song một lý thuyết mà tách rời khỏi một kinh
nghiệm thì dứt khoát không thể lĩnh hội được, ngay cả xét nó như là lý thuyết
Trang 22Nó có khuynh hướng trở thành một công thức đơn thuần về ngôn từ, một tập
hợp những khẩu hiệu được dùng đến để biến tư duy, tức khả năng đích thực tạp
ra lý thuyết, trở nên không cần thiết và bất khả
Bên cạnh đó, Dewey cũng khẳng định: "Không có kinh nghiệm nào có ý nghĩa lại có thể tồn tại mà không có yếu tố nào đó của tư tưởng" [25; tr 175] Mọi kinh nghiệm của chúng ta đều phải trải qua một giai đoạn "mò mẫm" - cácnhà tâm lý học gọi là phương pháp "thử" và "sai" Chúng ta đơn giản làm điều gì
đó, và khi việc làm đó thất bại, chúng ta chuyển sang làm điều khác, chúng ta cứtiếp tục làm thử như vậy cho tới khi thành công, và sau đó chúng ta coi phươngpháp thành công đó như một thước đo kinh nghiệm cho lần hành động tiếp theo.Nhiều kinh nghiệm hầu như chỉ có lần duy nhất quá trình làm thử hú họa hoặc thành công nói trên
Trong kinh nghiệm mò mẫm, vai trò của tư tưởng, trong việc phát hiện cácmối liên hệ cụ thể giữa hành động và hệ quả sẽ xảy ra Lượng tư tưởng gia tăng lên để cho giá trị tương xứng của nó trở thành vô cùng khác biệt Vì thế, kinh nghiệm trở nên biến đổi về đặc tính, sự thay đổi này có ý nghĩa quan trọng đến nỗi chúng ta có thể gọi loại kinh nghiệm này là kinh nghiệm có tính suy tưởng
1.1.2.2 Tư duy và mối quan hệ của tư duy với kinh nghiệm
Tư duy tương ứng với sự biểu hiện rõ rệt của yếu tố "trí năng" trong kinh nghiệm của chúng ta Tư duy giúp chúng ta hành động bằng một mục đích giả thuyết Nó là điều kiện để chúng ta có mục tiêu Vì vậy, xuất phát điểm của mọi quá trình tư duy là điều gì đó đang diễn ra, tức điều gì đó chưa hoàn thành hoặc chưa được thực hiện, xét như nó đang tồn tại vào lúc đó Hiểu theo nghĩa đen, mục đích, ý nghĩa của quá trình tư duy nằm ở điều sẽ xảy ra, nằm ở việc nó
sẽ diễn biến như thế nào Dewey đã nói một cách đơn giản: "Xét về mối liên hệ
giữa sự việc đang xảy ra và sự việc có thể xảy ra tuy nó vẫn chưa
thực sự xảy ra, tức là tư duy" [25; tr.177]
Trang 23Mục đích của tư duy là giúp đạt được một kết luận, giúp dự phóng một
sự chấm dứt khả dĩ trên cơ sở điều đã có Tư duy là một quá trình tìm hiểu, xemxét kĩ lưỡng các sự việc, các quá trình của điều tra Đó là sự tìm kiếm, một sự truy tìm điều gì đó chưa có sẵn Tư duy của chúng ta, dù là tư duy chi tiết và nhất quán dựa vào lý trí vô cùng, cũng đều bắt buộc phải được thử nghiệm trong thế giới này và qua đó được chứng minh
Tóm lại, trong khi xác định vị trí của tư duy trong kinh nghiệm, chúng ta trước tiên nhận thấy rằng kinh nghiệm đòi hỏi phải có sự liên hệ giữa làm hoặclàm thử và điều đó được kinh qua do hệ quả của việc làm đó Một điều quan trọng là khi có "sự tách rời giữa giai đoạn hành động mang tính chủ động và giai đoạn kinh qua mang tính thụ động, tức là tiêu diệt cái ý nghĩa
sống động của một kinh nghiệm" [25; tr.182]
Tư duy là sự thiết lập chính xác và có chủ tâm các mối liên hệ giữa điều được làm và các hệ quả của việc làm ấy Tư duy không chỉ cho thấy rằng chúng có liên hệ với nhau, mà còn cho thấy những chi tiết cụ thể của mối liên hệ
đó Nó làm cho các mắt xích liên hệ hiện ra dưới dạng các mối quan hệ Chúng
ta thấy bị kích thích tư duy khi chúng ta muốn xác định ý nghĩa của hành động nào đó, dù hành động đó đã được thực hiện hay sẽ được thực hiện Sau đó, chúng
ta sẽ tiên liệu các hệ quả Tư duy bao gồm các bước sau: phán đoán vấn đề; quansát các điều kiện; dùng lý trí để hình thành và xây dựng một kết luận đề xuất; chủ động thực hiện để thử nghiệm kết luận đó Mặc dù mọi tư duy đều dẫn đến tri thức, nhưng rốt cuộc giá trị của tri thức lại phụ thuộc vào việc tri thức đó được sử dụng như thế nào trong tư duy Bởi vì chúng ta không sống trong một thế giới mà mọi người đều được an bài và kết thúc, mà chúng ta đang sống trong một thế giới đang phát triển liên tục, và công việc chính của chúng ta trong thế giới đó bao giờ cũng mang tính chất tương lai và hồi tưởng - có giá trị ở chỗ nó đem lại sự vững chắc, an toàn và phong phú cho những mối quan hệ của chúng tavới tương lai
Trang 241.1.3 Vấn đề vận dụng triết lý giáo dục của John Dewey vào giáo dục và dạy học ở Việt Nam
1.1.3.1 Bối cảnh giáo dục Việt Nam hiện nay và sự vận dụng tư tưởng triết lý giáo dục của John Dewey
Không thể không nhắc lại ở đây quan niệm về nhiệm vụ của triết học của Dewey: "Nhiệm vụ chính của triết học là tìm cách hiểu được nguyên nhân sâu xacủa sự rối loạn rất dễ nhận ra trong những thời điểm diễn ra sự biến động nhanh chóng của nền văn minh, hiểu được cái gì nằm ở đằng sau cái được bộc lộ ra bên ngoài, hiểu được chất đất nào nuôi dưỡng những gốc rễ của một trình độ văn minh cụ thể" Và "triết học nhất định phải tham gia vào việc khởi xướng những xu hướng vận động để rồi sau đó con người sẽ hoàn tất những xu hướng đó bằng hành động" "Bước trước tiên là phải thẳng thắn nhận ra thế giới mà chúng ta đang sống lúc này là gì và nó sẽ đi về đâu Ngay cả nếu chúng ta không làm được gì bằng sức lực đôi tay và cơ bắp thì chúng ta ít nhất cũng nhìn thẳng vào
nó Nhưng điều không nên làm là thêu dệt những bức màn chắn khiến cho chúng ta không nhận ra tình hình đang diễn ra thực sự" "Các nhà triết học ngày hôm nay có thể phân tích những vấn đề và đưa ra những giả thuyết phục vụ và gây ảnh hưởng tới nhiều người để rồi chúng có thể được trắc nghiệm bằng phương pháp duy nhất sau đây: Việc làm
thực tiễn."
Quan niệm về nhiệm vụ triết học của Dewey vừa nhắc lại trên đây có thểvận dụng cho giáo dục Việt Nam - một nền giáo dục đang bức thiết tìm đường thoát khỏi tình trạng lạc hậu đã kéo quá dài, bị kìm hãm trong quá nhiều năm Các nhà trí thức Việt Nam, các chuyên gia giáo dục, các cơ quan hữu trách Việt Nam đang cấp bách, "ráo riết" tìm kiếm các giải pháp "đổi mới căn bản, toàn diện" giáo dục Chưa bao giờ triết lý giáo dục khoa học của John Dewey lại có giá trị với giáo dục Việt Nam như hôm nay Nghiên cứu, vận dụng triết học giáo dục của John Dewey là phù hợp với nhiều điểm trong tư tưởng, nội dung
bản Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
Trang 25tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" [30] của Đảng - Nhà
nước - Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam
Nhiều công trình bàn về giáo dục của John Dewey có thể góp phần củng
cố cơ sở lý thuyết khoa học cho "Nhiệm vụ và giải pháp" giáo dục trọng tâm
mà bản "Đề án" nói trên đề ra, như: "đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc tư duy giáo dục"; "đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (mục tiêu, nội dung, phương pháp) theo hướng phát triển phẩm chất và nănglực người học"; "giáo dục con người vừa đáp ứng yêu cầu xã hội vừa phát triển cao nhất tiềm năng của mỗi cá nhân"; "tập trung dạy cách học, cách nghĩ và tự học"; "coi trọng sự phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình vàgiáo dục xã hội"
Nhưng điều đáng nói là cơ sở khoa học, tính nhân bản, nhân văn của triết lý giáo dục của John Dewey còn làm hậu thuẫn lâu dài cho nhiều nội dungđổi mới giáo dục Việt Nam Bởi vậy, chúng ta rất cần thiết tiếp tục nghiên cứu vận dụng một cách thích hợp
Việc vận dụng triết lý giáo dục của John Dewey cần được tiến hành một cách chuyên sâu, với các nội dung cụ thể đối với từng cấp độ của từng phương diện giáo dụcmới mong mang lại hiệu quả thực tiễn
1.1.3.2 Triết lý giáo dục của John Dewey với dạy học Ngữ văn ở nhà trường trung học phổ thông
Chúng ta đều biết cùng với công cuộc đổi mới giáo dục, đổi mới dạy học,việc đổi mới dạy học bộ môn Ngữ văn trong nhà trường trung học phổ thông đãđược phát động mấy chục năm qua Tuy vậy, công cuộc đổi mới dạy học Văn vẫn gặp nhiều bế tắc Nguyên nhân bắt nguồn từ hoàn cảnh xã hội, tư duy giáo dục lạc hậu, bảo thủ, trong đó có tư duy về dạy học Văn Tư duy về dạy học Văn lạc hậu một cách đồng bộ (chương trình, nội dung, phương pháp, quan niệm về họcsinh, về giáo viên, hoạt động thi cử, kiểm tra - đánh giá,) Chúng ta buộc phải đặt lại hàng loạt câu hỏi và trả lời các câu hỏi ấy
Trang 26bằng các giả thuyết và thực nghiệm để đưa vào thực tiễn tinh thần "thực
dụng" của Dewey mới mong đổi mới thực sự văn học trong nhà trường
Vận dụng nội dung triết lý giáo dục cụ thể của Dewey, chúng ta cần thiết phải đặt và trả lời những câu hỏi sau:
- Cần phải có một chương trình Ngữ văn trung học phổ thông như thế nàocho phù hợp với sự phát huy "kinh nghiệm" của người học trong "bối
cảnh học tập" ở Việt Nam trong xã hội hôm nay?
- Cần có một cách tổ chức như thế nào đê xây dựng một cộng đồng dân chủ
"đọc hiểu văn chương" trong dạy học Văn nhằm phát huy tối đa "tài
- Từ quan niệm dân chủ của Dewey về GV trong giáo dục và dạy học cần tiến tới xây dựng một nội dung quan niệm về người GV Văn học ở Việt
Nam trong thời đại ngày nay như thế nào?
Việc tìm ra được những câu trả lời thích đáng cho các câu hỏi này đòi hỏithời gian, công sức của rất nhiều thế hệ về sau nữa Thiết nghĩ rằng, triết học
và triết lý giáo dục của John Dewey là một hệ thống chứa đựng nội dung phong phú và sinh động, nên việc học tập và vận dụng triết lý này vào Việt Nam cần được tiến hành một cách bài bản, khoa học, đặc biệt phải được chuyên sâu hóa với từng phân ngành, từng bộ môn mới mong đạt được hiệu quả thực tiễn cao nhất
Trang 271.2 Đọc hiểu, phương pháp dạy học đọc hiểu, mô hình đọc hiểu TPVC
1.2.1 Khái niệm "đọc" và "đọc hiểu"
1.2.1.1 Xác định khái niệm "đọc"
Xuất phát từ những yêu cầu hoặc mục đích cụ thể mà người ta có thể phát biểu định nghĩa hay quan niệm khác nhau về "đọc"
"Đọc" là sự thu nhận thông tin có nội dung ý nghĩa nào đó Vì thế "đọc"
có liên quan đến khả năng nhận thức, đến nhu cầu sống và giao tiếp của con người với sự sáng tạo cuộc sống ngày càng cao "Đọc" không chỉ là hoạt động nhận thứcnội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động trực quan sinh động, giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong hoạt động nếm trải của con
người "Đọc" còn là hoạt động mang tính chất tâm lý, một hoạt động tinh thần của độc giả, bộc lộ rõ năng lực văn hóa từng người Mục đích của "đọc" có thể là thăm dò (để tìm tư liệu); đọc - hiểu (một quá trình - hình thức - hoạt động) tiếp nhận để nắm tường tận về nguồn gốc, cấu trúc, nội dung và ý nghĩa của văn bản; đọc có tính chất đánh giá (để nhận xét hoặc giới thiệu tài liệu đọc); đọc để giải trí (ngẫu hứng, đôi khi không có mục đích rõ ràng)
"Đọc" là khái niệm có tính lịch sử, là biểu hiện của sự tiến hóa ngôn ngữ của con người mang bản chất văn hóa nhận thức bằng ngôn từ giao tiếp và pháttriển cá thể cùng xã hội Đồng thời, đọc (thành tiếng) còn góp phần khôi phục vàphát huy những cảm giác tinh tế liên quan tới âm thanh ngôn ngữ Có thể nói, chính âm điệu, giọng điệu của người đọc sẽ tạo nghĩa tốt hơn việc đọc bằng mắt, đọc thầm
Trong lịch sử, việc đọc TPVC gắn với những cá nhân khác nhau hầu nhưluôn luôn tìm ra được một điều gì đó khác với ý đồ và nội dung bị buộc chặt trong tác phẩm Mỗi người đọc lại có một "cặp mắt xanh" để soi rọi đến các tầng nghĩa muôn màu của tác phẩm văn học Với một số người, tác phẩm là tấm gương phẳng, với người khác thì tác phẩm lại là tấm kính vạn hoa; người thì tìm thấy triết lý hạnh phúc, kẻ lại đồng tình với lối sống buông
Trang 28tuồng Mỗi người đọc tìm một thứ gì đó trong TPVC sau lần tiếp xúc đầu
tiên và sau đó, rất có thể nhiều người trong số họ sẽ tri ngộ ra nhiều bài học thấm thía cho đời sống của họ
Đọc văn trong nhà trường vừa mang những nét phổ quát của hoạt động trí tuệ nói chung, lại có những nét đặc thù bởi tính định hướng của môn học Đọc toàn bộ tác phẩm văn học để tìm hiểu một đời văn, một nghiệp văn như công việc của một nhà nghiên cứu là điều vô cùng khó; đọc một tác phẩm, một trích đoạn với hy vọng hiểu văn, hiểu người cũng chẳng mấy dễ dàng Tinh thần của thời đại, sự độc đáo của cá tính sáng tạo, đặc sắc của ngôn phong và hình tượng, sự gặp gỡ, giao thoa, kế thừa, phát triển mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng văn hóa luôn luôn đặt ra thử thách đối với
những ai có nhu cầu đi tìm lời giải đáp trong mỗi tác phẩm của nhà văn
Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, "mỗi lần đọc, mỗi cách đọc chỉ là một chặng trên con đường chạy tiếp sức của biết bao độc giả để đến với tác phẩm" Còn theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng, đọc TPVC là giải quyết vấn đề thế giới quan của các cấu trúc tồn tại trong tác phẩm, trước hết là cấu trúc ngôn ngữ, thứ đến là cấu trúc hình tượng thẩm mĩ, sau nữa là cấu trúc thẩm mĩ [10; tr.58] Trong cấu trúc ngôn ngữ, người đọc được tìm hiểu để nắm bắt các loại thông tin, tư tưởng hiện thực đời sống và tư tưởng thẩm mĩ Tư tưởng hiện thực trong tác phẩm gợi ra sự đa dạng trong kinh nghiệm sống của từng độc giả, đồng thời kéo tác phẩm gần hơn với hiện thực cuộc sống Đây là bức tranh đời sống vừaquen vừa lạ Quen vì dường như ta đã gặp ở đâu đó, còn lạ vì nó được phản ánh qua lăng kính chủ quan của người viết nên nó mang màu sắc cá nhân
Có thể nói rằng, ngay từ cấu trúc cụ thể, ngôn từ, tư tưởng và định hướng tư tưởng sáng tạo đã có mặt, góp phần giải quyết giá trị đích thực của tác phẩm Cấu trúc ý nghĩa của TPVC là sự tồn tại tất yếu với những nhà văn lớn, những nghệ sĩ tài năng, được nhận ra và đánh giá trên nền tảng của cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tượng thẩm mĩ Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng,
Trang 29sự lĩnh hội TPVC thông qua hoạt động đọc bao giờ cũng xen lẫn vào nó thiên
hướng chủ quan, không thể loại trừ "cái tôi" của người đọc ra khỏi quá trình tiếp nhận Vì vậy, ý nghĩa nội dung tư tưởng thẩm mĩ của TPVC là kết quả của
sự đồng thuận và nhượng bộ tỉnh táo hai chiều giữa nhà văn và người đọc về cấu trúc hình tượng thẩm mĩ
1.2.1.2 Xác định khái niệm "đọc hiểu"
Khi nói đến khái niệm "đọc" là đã bao hàm khái niệm "hiểu" trong đó
"Đọc" là tiền đề của "hiểu", "đọc" và "hiểu" có quan hệ phụ thuộc vào nhau và phối hợp với nhau để hiểu trọn vẹn tác phẩm trong quá trình đọc "Đọc hiểu" làphạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hành động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ Đọc chính xác thì hiểu đúng Đọc kĩ, đọc sâu thì hiểu sâu Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình
Xem xét hệ thống B.Bloom (gồm 6 mức độ theo thứ tự từ đơn giản đến phức tạp: nhớ - hiểu- áp dụng- phân tích - tổng hợp - đánh giá) thì hiểu và biết chỉ ở mức thấp, ở mức ban đầu của quá trình nhận thức Tuy nhiên, "hiểu" trong khái niệm "đọc hiểu' không có nghĩa chỉ là những thao tác tư duy bậc thấp mà đã bao gồm cả áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá Chỉ khi đạt được đầy đủ các mức độ nhận thức này, việc đọc hiểu mới đạt đến mục đích cuối cùng, mục đích cao nhất của quá trình dạy học
"Hiểu" không chỉ là tích lũy thông tin mà là biến đổi thông tin thành tri thức thông qua hoạt động sáng tạo của trí óc và kĩ năng đọc phù hợp Vì vậy, đọc hiểu một TPVC đồng thời cũng là phải hiểu một người khác trong mối liên
hệ mà người đọc biết là "có đi có lại" Hiểu TPVC là nắm vững ý nghĩa và vẻ đẹp của nó trong tương quan với những gì đã tiềm tàng trong tác phẩm và trong kiến văn của người đọc "Hiểu" là nhu cầu muôn thưở của con người nhằm khám phá thế giới và cuộc sống "Hiểu" là khát vọng nắm giữ tri thức
Trang 30nhân loại đã tích lũy qua thời gian để phát triển cá nhân và xã hội ngày càng tiến bộ hơn Vì vậy khái niệm "đọc hiểu" ra đời và luôn luôn được hoàn thiện
"Đọc hiểu" là một phạm trù khoa học có khái niệm và lý thuyết của nó
"Đọc hiểu" sinh thành từ hoạt động đọc nhưng không thể vì nó mà xem nó là mộtphương pháp đọc diễn cảm, cũng không nên quan niệm đọc hiểu là một giai đoạnđọc "Đọc hiểu" có mặt ở tất cả các giai đoạn của quá trình đọc tác phẩm văn chương "Đọc hiểu" là mục đích cuối cùng và là hiệu quả mong muốn để người đọc lĩnh hội được giá trị của tác phẩm Đương nhiên đọc hiểu TPVC trong nhà trường cần phải đào luyện và giáo dục thường xuyên cho HS với những yêu cầu
và mức độ phù hợp với từng cấp học Vì thế đọc hiểu còn có ý nghĩa phương pháp khi nó vận dụng các kĩ năng đọc để hiểu dần tác phẩm Nói "đọc hiểu" có nội dung khoa học mới, có ý nghĩa và giá trị phương pháp là vì vậy
Có nhiều quan điểm tiếp cận "đọc hiểu" khác nhau, trong đó quen thuộc nhất có thể kể đến: đọc hiểu gắn liền với việc sử dụng tranh ảnh, thiết bị nghe nhìn minh họa; đọc hiểu dựa trên những nghiên cứu phù hợp với năng lực và nhu cầu của từng cá nhân; đọc hiểu dựa trên khả năng huy động vốn ngôn ngữ, kinhnghiệm Dù trên cơ sở tiếp cận nào, việc đọc hiểu cũng dựa vào mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện người học, khơi gợi hứng thú và nhu cầu tìm hiểu sâu sắc các tầng ý nghĩa - giá trị của văn bản Đồng thời việc đọc hiểu cũng căn cứ vào nhu cầu khám phá, chiếm lĩnh và làm chủ kiến thức của HS: đọc để hiểu, để bộc
lộ chính mình, phát triển vốn liếng văn hóa và ngôn ngữ, đồng thời đọc để hiểu tốt hơn Việc đọc sẽ dần giúp chủ thể tích lũy kinh nghiệm (điều chỉnh tốc độ đọc, đọc đúng nhịp điệu, vừa đọc vừa tự giác tham gia quá trình đồng nhất giữa chủ thể với đối tượng, hóa thân vào tình huống, nhập vai vào nhân vật, hiện thực hóa chức năng biểu cảm của ngôn ngữ bên trong, tái tạo biểu tượng và kí ức địnhhình)
Quan niệm như vậy, "đọc hiểu" vừa là hành động vừa là kết quả của việcđọc "Đọc hiểu" bao hàm sự kết nối những biểu hiện khác nhau về ý
Trang 31nghĩa của tác phẩm và là kết quả cụ thể của
sự lý giải mới nhờ tính mở của tác
phẩm Bản chất của việc đọc hiểu văn bản chính là quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị của văn bản trên cơ sở phân tích đặc trưng của văn bản đó "Đọc hiểu" là hoạt động duy nhất để HS tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học, tránh sự áp đặt từ bên ngoài kể cả từ thầy cô, ngăn chặn được sự suy giảm năng lựcc đọc của HS trong điều kiện các phương tiện nghe nhìn ngày càng phổ biến Điều này rất phù hợp với quy luật tiếp nhận văn học và quy luật phát triển tư duy cũng như sự hình thành nhân cách
1.2.2 Phương pháp dạy và học đọc hiểu trong nhà trường THPT
Đọc hiểu là hoạt động đọc mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản, nó có cái hay là tập trung và tích đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân Đây là hoạt động thu nạp và ứng dụng những kinh nghiệm đời sống, lịch
sử và kinh nghiệm văn hóa của mỗi cá thể Đọc hiểu là lối đọc để tự học
suốt đời, nó vừa thúc đẩy ý chí vừa là biểu hiện thầm kín của lòng tự trọng
Trên báo Văn nghệ số ra ngày 14/02/1988, tác giả Trần Đình Sử thông qua
bài viết "Môn Văn - thực trạng và giải pháp" đã nhấn mạnh một trong ba mục tiêu của dạy học Văn là "rèn luyện khả năng đọc hiểu các văn bản, đặc biệt là văn bản văn học, là một loại văn bản khó nhằm tạo cho HS biết đọc Văn một cách có văn hóa, có phương pháp, không suy diễn tùy tiện, dung tục Năng lực đọc thể hiện ở việc HS tự biết mình đọc, hiểu, nắm được nội dung và nghệ thuật của tác phẩm", "Dạy đọc hiểu là dạy HS cách đọc ra nội dung trong những mối quan
hệ ngày càng bao quát trọn vẹn văn bản, từ đó hình thành được kĩ năng đọc và biết cách vận dụng chúng trong cuộc sống có hiệu quả"[15; tr.25]
Đọc hiểu trong nhà trường rất cần phải có bài bản, phải có cơ sở lí luận và phải luyện tập thành những kĩ năng cơ bản Cách đọc trong nhà trường vừa là tiền
đề đọc hiểu của HS, vừa là kết quả đọc hiểu của GV Văn học Điều đáng nói về cách đọc trong nhà trường là GV phải chú trọng cung cấp cho HS
Trang 32hệ thống tri thức đọc hiểu, mở rộng các hình thức đọc, phương pháp đọc, kiểu
đọc, mục đích, yêu cầu đọc giúp HS nâng cao hứng thú đọc, động cơ đọc
GV phải đưa ra nội dung, yêu cầu đọc hiểu vào các mức độ đọc văn như: đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm, cân nhắc những hình thức nào của đọc văn như đọc thầm, đọc to, đọc phân vai, đọc đối thoại, đọc bình chú, đọc tóm tắt, đọc
dự đoán Hơn nữa GV cũng cần trao đổi với HS mục đích đọc và những yêu cầu đọc hiểu để phát hiện ra những điều thú vị, hấp dẫn, đọc để tổ chức lại, xây dựng lại tác phẩm theo hình thức mới, đọc để lấy được thông tin cần thiết cho mình, đọc
để phán đoán trên cơ sở tư duy phê phán, đọc để ghi chép những nét chính cho quá trình thảo luận Một điểm quan trọng là người dạy cần phải có các hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp để kiểm chứng lại hiệu quả của việc đọc đó
Tác phẩm tự sự hay trữ tình sẽ có mô hình đọc hiểu tương ứng Chúng được thiết kế dựa trên đặc trưng của mỗi loại thể Mô hình đọc hiểu tác phẩm trữ tình sẽ nhấn mạnh đến những đặc trưng về ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, mạch cảm xúc Còn mô hình đọc hiểu tác phẩm tự sự sẽ chú trọng đến tầng cấu trúc ngôn
từ, tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật, hình tượng nhân vật,
Trang 33tầng cấu trúc tư tưởng Trong tự sự thì mỗi thể loại nhỏ hơn cũng có những
đặc trưng riêng Bởi vậy mà mô hình đọc hiểu truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch
sẽ có những nét không giống nhau
Hiện nay có thể kể đến hai mô hình tổ chức, hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản tiêu biểu là mô hình của GS Trần Đình Sử và mô hình của GS Nguyễn Thanh Hùng Mô hình của GS Trần Đình Sử chú trọng tới: đọc hiểu nghĩa từ ngữ, câu, đoạn trong văn bản; chọn thông tin quan trọng nhất trong bài văn, đoạn văn; phân tích, quy nạp nội dung cơ bản của đoạn, bài; phân tích, quy nạp quan điểm, tư tưởng của tác giả trong bài văn; phân tích, thưởng thức giá trị nghệ thuật của bài văn Còn theo GS Nguyễn Thanh Hùng, "đọc hiểu TPVC là phântích lí giải mối quan hệ hữu cơ giữa ba tầng cấu trúc của tác phẩm" [10; tr.32]
Mô hình đọc hiểu ông đề xuất bao gồm: đọc hiểu tầng cấu trúc ngôn từ; đọc hiểu tầng cấu trúc hình tượng thẩm mỹ; đọc hiểu tầng tư tưởng thẩm mỹ Khi nói tới
mô hình đọc hiểu thơ trữ tình, GV cần hướng dẫn HS nắm vững: chất liệu ngôn ngữ nghệ thuật và ý nghĩa tầng cấu trúc ngôn từ, sản phẩm nghệ thuật và ý nghĩa tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật, giá trị tư tưởng tác phẩm trong tầng cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ và ý vị nhân sinh
Trang 34Tiểu kết chương 1
Trong bối cảnh hiện nay của nước ta, trong bối cảnh Đảng, nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng và phát triển đề án: "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", việc dạy học Văn, nhất là khâu hướng dẫn HS đọc hiểu một văn bản phải được thay đổi một cách cơ bản, toàn diện Đối với giáo dục của Việt Nam hôm nay, nội dung triết lý của John Dewey, nhà triết học lớn nhất nước Mỹ đầu thế kỉ XX, người đã có những ảnh hưởng to lớn làm thay đổi nền giáo dục của Mỹ suốt thế kỉ
XX, vẫn là những giá trị đầy tính thời sự
"Kinh nghiệm và tư duy" là một trong những nội dung cốt lõi trong triết lý giáo dục của Dewey Nội dung này chỉ ra, việc dạy học phải tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm để tự xây dựng kiến thức cho mình, được "thử" và
"sai", tạo ra được các mối liên hệ giữa việc làm hoặc làm thử để rút ra hệ quả Mặt khác, các bước của một quá trình tư duy là phán đoán vấn đề, quan sát các điều kiện, dùng lý trí để hình thành và xây dựng một kết luận đề xuất, và chủ động thực hiện để thử nghiệm kết luận đó cũng được xem xét và vận dụng vào trong quá trình hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản
Trang 35CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP
2.1 Thực trạng về việc dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân
Quỳnh
2.1.1 Vài nét về tác giả Xuân Quỳnh và văn bản "Sóng"
2.1.1.1 Tác giả Xuân Quỳnh
Xuân Quỳnh (1942 - 1988), tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê
ở La Khê, thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) Xuất thân từ một gia đình công chức, mồ côi mẹ từ nhỏ, Xuân Quỳnh ở với bà nội Xuân Quỳnh từng là diễn viên múa Đoàn Văn công nhân dân Trung ương, là biên tập viên báo Văn nghệ, biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III
Một số tác phẩm chính của bà có thể kể đến như: thơ "Tơ tằm - Chồi biếc"(in chung, 1963), "Hoa dọc chiến hào" (1968), "Gió Lào cát trắng" (1974),
"Lời ru trên mặt đất" (1978), "Tự hát" (1984), "Hoa cỏ may" (1989), "Bầu trời trong quả trứng" (thơ viết cho thiếu nhi, 1982), truyện thơ "Truyện
Khi bàn về thơ, Xuân Quỳnh từng tâm sự: "Người ta làm thơ đầu tiên là
để tự thể hiện, là một hành động khẳng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng yêu cầu sáng tạo, nhu cầu nối liền mình với đồng loại, với các sự vật vũ
trụ, với thế giới" Nét nổi bật của hồn thơ Xuân Quỳnh là sự dung dị, hồn
nhiên, tươi tắn, nồng nhiệt và chân thành, vừa giàu trực cảm vừa lắng sâu suy tư
Trang 36Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỉ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình, hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tôn trọng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà rời xa đời sống Thơ bà là đời sống đích thực, đời sống của bà trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, nghèo nàn, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ
nữ, người phụ nữ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn Xuân Quỳnhkhông làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà bà viết như kể những gì mà bà đã sống, đã trải qua Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùngthời chính là ở khía cạnh nội tâm đó Thơ bà là thơ mang tâm trạng Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính bà, từ hoàn cảnh riêng của bà
Xuân Quỳnh có tài tỏa lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời sống một từ trường cảm xúc của nội tâm mình, biến các chi tiết đời trở nên thơ,
có sức gợi, sức ám ảnh kì lạ (Trời trở rét, Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa
hoa doi, Hoa cỏ may) Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế
nhưng lẩn khuất sau tình cảm ấy là tư tưởng có tính khát quát triết lí (Cơn mưa
không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài người, Những người mẹ không có lỗi) Đó là những triết lí nảy sinh từ đời sống,
có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lí việc đời, không phải thứ triết lí tự biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì
Đề tài, đối với Xuân Quỳnh không phải là quan trọng Điều Xuân Quỳnh quan trọng là chủ đề Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, Xuân Quỳnh dùng tứ để bộc lộ chủ đề Nhà thơ có năng khiếu quan sát bằng mọi giác quan và phong phú về liên tưởng Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ
Xuân Quỳnh ít phải bận tâm về việc đi tìm hình thức biểu hiện Xuân Quỳnh không mất công nhiều lắm trong việc lựa chọn hình ảnh, chải chuốt
Trang 37ngôn từ Bà có một quan điểm giản đơn:
"Cái hay bao giờ cũng mới" Vì vậy,
Xuân Quỳnh không có ý định trau chuốt ngôn từ thơ mình, và tìm đến các bài thơmột cách hồn nhiên nhưng khi tìm hiểu thơ Xuân Quỳnh sẽ nhận thấy đây là mộtnhà thơ có ngôn từ và kĩ thuật biểu hiện tương đối vững vàng và có bản lĩnh
Xuân Quỳnh có một giọng điệu thơ đặc sắc (giọng điệu của tâm hồn) Không kiểu cách mà luôn tự nhìn phóng khoáng, Xuân Quỳnh thường hay
chọn lời ru hoặc chuyển hướng từ lời ru làm giọng điệu cho thơ mình (Ru, Lời ru,
Hát ru, Lời ru của mẹ,) Vì vậy, Xuân Quỳnh có tâm hồn của một người mẹ nhân
hậu, một người yêu đằm thắm, giàu đức hi sinh, tiếng ru của Xuân Quỳnh là tiếng hát của một tâm hồn
Lời thơ Xuân Quỳnh như lời trò chuyện, tâm tình, khẽ khàng, nhỏ nhẹ, khiến người nghe phải chậm lại, suy nghĩ mới thấy được những gì mà nhà thơ muốn nói Xuân Quỳnh là nhà thơ đã sống và hòa nhập hết mình với thời đại Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ
Trang 38Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau
Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước
Ở ngoài kia đại dương Trăm ngàn con sóng đó Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Trang 39Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ
Bài thơ được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) Đây là một bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh
Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa
"sóng" và "em", bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người
Bài thơ "Sóng" thuần khiết viết về tình yêu đôi lứa trong khi nền văn học
ta lúc ấy thiên về ca ngợi những chiến công đánh Mĩ, ca ngợi những tấm gương hy sinh, bất khuất "Sóng" không lạc lõng, trái lại, làm "mềm" hơn, lãng mạn hơn giai đoạn "văn học đánh giặc" đó Xuân Quỳnh chỉ là một trong muôn triệu nỗi nhớ nhung của người vợ, người yêu hướng ra tiền tuyến Nói được điểm chung của người phụ nữ thời đại, của giai đoạn lịch sử nhất định nên
"Sóng" có sức cộng hưởng lớn, vừa động viên những ai đang chờ đợi lại vừa khích lệ được những ai đang cầm súng
Bài thơ "Sóng" được in và đưa vào trong tập Hoa dọc chiến hào
2.1.2 Thực trạng về việc dạy học đọc hiểu văn bản "Sóng" của Xuân
Quỳnh
2.1.2.1 Về hệ thống câu hỏi đọc hiểu
Bài thơ hay ở xúc cảm mãnh liệt về tình yêu trai gái nhưng chỉ là tâm trạng một phía, lại được thể hiện song hành trong hình tượng "sóng" và "em"
Trang 40Về âm hưởng, cảm giác chung khi mới đọc qua bài thơ là nhẹ nhàng, đằm thắm Đọc lại nhiều lần, suy ngẫm, bài thơ rất tinh tế, sâu sắc, giàu sức khái quát, đời thường mà triết lý Bài thơ sống mãi với thời gian bởi cảm xúc chân thành, mãnh liệt được thể hiện dưới ngòi bút tài hoa của nữ sĩ Xuân Quỳnh
Với một bài thơ thiên về cảm xúc trữ tình, sâu lắng như vậy, SGK Ngữ văn 12, tập 1, trang 156 - 157 đưa ra 5 câu hỏi đọc hiểu (trong đó có 4 câu hỏi thuộc phần "Hướng dẫn học bài" và 1 câu hỏi thuộc phần "Luyện tập") như sau:
1 Anh (chị) có nhận xét gì về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ? Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?
2 Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng Mạch liên kết
các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng Hãy phân tích hình tượng này
3 Giữa sóng và em trong bài thơ có mối quan hệ như thế nào? Anh (chị) có
nhận xét gì về nghệ thuật kết cấu của bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy
sự tương đồng giữa các trạng thái của tâm hồn mình với những con sóng Hãy chỉ
1 Biết (Knowledge)
2 Hiểu (Comprehension) 3 Vận
dụng (Application)
4 Phân tích (Analysis)