1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ việt nam nhật bản thời cận đại giữa thế kỷ xix năm 1945 đề tài khoa học cấp đhqg hcm b 2008 18b 03

266 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 266
Dung lượng 28,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết, công trình này lý giải một cách khoa học những mối liên hệ, quan hệ giữa hai nước trong quá trình Nhật Bản duy tân, trở thành một nước “phú quốc cường binh” và Việt Nam dần dầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐHQG – HCM

QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI

(GIỮA THẾ KỶ XIX – NĂM 1945)

(MÃ SỐ : B 2008-18b-03)

Chủ nhiệm đề tài : PGS TS Nguyễn Tiến Lực

TP.HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP ĐHQG – HCM

QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN THỜI CẬN ĐẠI

(GIỮA THẾ KỶ XIX – NĂM 1945) (Bản tóm tắt công trình NCKH) (MÃ SỐ : B 2008-18b-03)

Chủ nhiệm đề tài : PGS TS Nguyễn Tiến Lực Thành viên tham gia : Th.S Huỳnh Phương Anh

Phạm Lê Khánh Trang

TP.HỒ CHÍ MINH – 2010

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 21

VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX-NHỮNG MỐI LIÊN HỆ21 1.VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX 21

2 NHỮNG MỐI LIÊN HỆ GIỮA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN VÀO CUỐI THẾ KỶ XIX 43

CHƯƠNG 2 66

QUAN HỆ GIỮA PHONG TRÀO DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX VỚI NHẬT BẢN 66

1 Nhật Bản – cứ điểm hoạt động của phong trào dân tộc Việt Nam 66

2 NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM Ở NHẬT 77

3 Sự giúp đỡ của người Nhật đối với phong trào dân tộc Việt Nam ở Nhật 99

4 CHÍNH PHỦ NHẬT ĐỐI VỚI PHONG TRÀO DÂN TỘC VIỆT NAM Ơ NHẬT 120

CHƯƠNG 3 130

QUAN HỆ KINH TẾ-THƯƠNG MẠI VIỆT-NHẬT 130

TRONG GIAI ĐOẠN 1919-1945 130

1 QUAN HỆ KINH TẾ-THƯƠNG MẠI VIỆT-NHẬT TỪ NĂM 1919-1939 130

2 SỰ BIẾN ĐỔI QUAN HỆ KINH TẾ-THƯƠNG MẠI VIỆT-NHẬT TRONG GIAI ĐOẠN 1940-1945 164

CHƯƠNG 4 186

QUAN HỆ VIỆT CHÍNH TRỊ-QUÂN SỰ VIỆT NAM-NHẬT BẢN 186

TRONG GIAI ĐOẠN 1940-1945 186

1 Nhật xâm chiếm Việt Nam 186

2 Tập hợp lực lượng thân Nhật ở Việt Nam 199

3 Đảo chính và độc chiếm Việt Nam 204

4 KHÁNG CHIẾN CHỐNG NHẬT CỦA VIỆT NAM 223

KẾT LUẬN 233

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 238

Trang 4

Xem xét lịch sử của Việt Nam và Nhật Bản trong thời kỳ này chúng ta thấy rằng, đứng trước hành động xâm lược của thực dân Pháp, Việt Nam đã tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài và dũng cảm nhưng cuối cùng bị thất bại và đất nước rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Ngược lại, trước áp lực của các cường quốc phương Tây, Nhật Bản đã lực chọn con đường mở cửa (1854) và sau đó, kiên quyết tiến hành công cuộc Duy tân với khẩu hiệu “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt phương Tây”, cận đại hóa đất nước, thực hiện được sự nghiệp

“phú quốc cường binh”, trở thành một cường quốc duy nhất ở châu Á lúc bấy giờ Nói tóm lại, từ giữa thế kỷ XIX trở đi, Nhật Bản và Việt Nam đã đi trên hai con đường khác nhau của lịch sử

Trong quan hệ giữa hai nước, nhìn từ phía Nhật, Việt Nam là một nước thuộc địa của phương Tây nhưng là một nước thuộc phương Đông, thuộc vùng văn hóa chữ Hán, một nước thuộc địa của thực dân phương Tây Mặt khác, nhìn từ phía Việt Nam thì Nhật là một nước đồng văn, đồng chủng, đồng châu, một nước duy nhất ở châu Á cận đại hóa thành công nhưng cũng là một nước đi theo con đường đế quốc chủ nghĩa Việt Nam coi Nhật Bản cận đại là một mẫu hình cần học tập để tự cường, để khôi phục độc lập dân tộc nhưng trước hành động đưa quân đội vào đồn trú, rồi chiếm đóng và thống trị Việt Nam thì Việt Nam coi Nhật

là một nước thù địch, tiến hành cuộc đấu tranh chống Nhật, giải phóng dân tộc

Trang 5

Tóm lại, quan hệ Việt-Nhật thời cận đại là quan hệ gữa hai nước trong khu vực châu Á, quan hệ giữa hai nước thuộc vùng văn hóa chữ Hán, văn hóa Nho giáo nhưng cũng là quan hệ giữa một nước bị áp bức và một nước thống trị đế quốc chủ nghĩa

Nghiên cứu quan hệ Việt Nam và Nhật Bản trong thời cận đại giúp chúng

ta lý giải nhiều vấn đề quan trong trong lịch sử gần 100 năm đầy biến động và phức tạp của hai dân tộc

Trước hết, công trình này lý giải một cách khoa học những mối liên hệ, quan hệ giữa hai nước trong quá trình Nhật Bản duy tân, trở thành một nước “phú quốc cường binh” và Việt Nam dần dần biến thành một nước thuộc địa của thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX

Hai là, công trình này góp phần lý giải mối quan hệ của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trong quá trình chuyển đổi sang hình thức mới và Nhật Bản vào đầu thế kỷ XX Trong thời gian này, Nhật Bản như là một tiếp điểm đầu tiên của phong trào dân tộc Việt Nam trong quá trình vươn lên liên kết với phong trào dân tộc chủ nghĩa châu Á

Ba là, công trình góp phần làm sáng tỏ quan hệ nhiều mặt, phức tạp từ chính trị quân sự, đến kinh tế-thương mại của Việt Nam và Nhật Bản trong nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ II từ 1939-1945

Việc làm sáng tỏ quan hệ phức tạp trong thời đại phức tạp này không chỉ có

ý nghĩa giúp lý giải quan hệ giữa hai nước trong thời cận đại mà còn giúp phát triển mối quan hệ giữa hai nước trong tương lai Với ý nghĩa đó mà nói, nghiên cứu đề tài quan hệ Việt Nhật thời cận đại có ý nghĩa học thuật to lớn và bổ ích

1.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đây là công trình chuyên khảo về quan hệ Việt Nam-Nhật Bản trong thời cận đại, vừa mang tính tổng hợp vừa có tính chuyên sâu Tác giả đã tiếp nhận có chọn lọc quan điểm “dân tộc sử quan” và “cận đại hóa sử quan”, kết hợp những

Trang 6

điểm hợp lý của chúng lại và dựa trên một nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy

để làm sáng tỏ nhiều vấn đề chưa được lý giải một cách cụ thể và kỹ càng trong quan hệ hai nước thời cận đại nên có thể hy vọng có những đóng góp cho việc phát triển nghiên cứu về quan hệ Việt-Nhật cũng như nghiên cứu Nhật Bản ở Việt Nam

Công trình hoàn thành có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các nhiên cứu sinh, học viên cao học cho sinh viên khoa Đông phương học, Lịch sử và Quan hệ quốc tế, nhất là quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam nói riêng, giữa Nhật Bản và khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung

Công trình còn là một tài liệu góp phần lý giải quan hệ của Việt Nam và Nhật Bản trong thời cận đại, góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa học giả và nhân dân hai dân tộc, góp phần xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước trong tương lai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ngay từ cuối những năm 1950, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã chú ý tới quan hệ Việt Nhật Họ quan tâm nhất đến hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất là phong trào Đông Du của Việt Nam diễn ra trên đất Nhật Bản vào đầu thế kỷ XX và thời

kỳ thứ hai là thời kỳ Nhật Bản xâm chiếm, thống trị Việt Nam và phong trào kháng Nhật cứu nước của nhân dân Việt Nam 1940-1945

Về giai đoạn đầu thế kỷ XX: Ngay từ cuối những năm 1950 trong các công

trình Lịch sử tám mươi năm chống Pháp (1957) và Tài liệu tham khảo lịch sử cách

mạng cận đại Việt Nam (1957) do Trần Huy Liệu chủ biên (2) đã chú ý đề cập đến hoạt động của người Việt Nam ở Nhật Bản, chủ yếu là phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo Tiếp theo là hàng loạt các bài viết đăng trên Tạp chí

Nghiên cứu Lịch sử , chủ yếu là của Chương Thâu, đưa ra những kết quả mới

trong việc nghiên cứu về về quan hệ Việt-Nhật trong thời kỳ này (3)

Trang 7

Sau đó ít lâu, trong công trình lớn nhiều tập (1973-1975) Trần Văn Giàu đã

đi sâu vào phân tích những thành tựu về sự thay đổi tư tưởng của của Phan Bội Châu, đại biểu của tư tưởng cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX trong thời kỳ hoạt động ở Nhật(4) Các tập giáo trình Lịch sử Việt Nam cận đại của các trường đại học cũng viết nhiều về quan hệ hai nước Việt-Nhật trong thời kỳ này (5)

Vào thời kỳ này, ở miền Nam cũng đã có những nỗ lực trong việc giới thiệu

về hoạt động của người Việt Nam trên đất Nhật vào đầu thế kỷ XX, tuy nhiên về mặt học thuật thì chưa có những công trình nghiên cứu lớn (6)

Đóng vai trò to lớn thúc đẩy việc nghiên cứu về quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản đầu thế kỷ XX là nghiệp tích của Chương Thâu Năm 1982, ông cho

xuất bản cuốn Phan Bội Châu - Con người và sự nghiệp, công bố nhiều tư liệu

mới nhận thức mới về những hoạt động phong phú của Phan Bội Châu trên đất Nhật Sau đó, ông đã vào Nam ra Bắc, sang Nhật, liên hệ với các nhà nghiên cứu

nước ngoài, sưu tầm, biên dịch, đính chính để cho ra mắt Phan Bội Châu Toàn tập,

gồm 10 tập, một nguồn tư liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu về quan hệ Nhật

Việt-Từ những năm 1990, xuất hiện các bài viết đăng trên Nghiên cứu Lịch sử,

Nghiên cứu Đông Nam Á…liên quan đến hoạt động của người Việt Nam trên đất

Nhật của Nguyễn Tiến Lực Đặc điểm của những bài viết này là tác giả khai thác nhiều tư liệu mới ở Nhật, đưa ra nhiều thông tin mới về quan hệ Việt-Nhật trong những năm đầu thế kỷ XX Các bài viết đó, về sau, được tác giả biên tập và sửa

chữa cho in trong cuốn sách Những hoạt động của Phan Bội Châu ở Nhật Bản

1905-1090

Giai đoạn thứ hai trong thời cận đại được các nhà nghiên cứu tập trung nghiên cứu là giai đoạn 1940-1945, tức là giai đoạn Nhật chiếm đóng Việt Nam Ở

miền Bắc, ngay từ năm 1957, trong cuốn Xã hội Việt Nam trong thời Pháp-Nhật,

Tập I và II của Trần Huy Liệu-Nguyễn Khắc Đạm-Nguyễn Lương Bích đã đề cập đến sự biến đổi Việt Nam trong giai đoạn chiếm đóng của Nhật 1940-1945 trên

Trang 8

nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội Tiếp theo là hàng loạt các bài viết của nhiều nhà nghiên cứu đánh giá những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ Việt-Nhật

đăng trên Nghiên cứu Lịch sử và các tạp chí học thuật khác Các bài báo này, phần

lớn, đều đánh giá quan hệ Việt-Nhật theo quan điểm của Trần Huy Liệu có bổ sung thêm một số tư liệu cụ thể

Ở miền Nam, trước năm 1975, cũng đã có những nỗ lực trong việc nghiên

cứu quan hệ Việt-Nhât Nguyễn Phương với Sự quan trọng của Đông Dương

trước mặt quốc tế, xuất bản tại Sài Gòn năm 1957, đề cập đến vị thế của Đông

Dương trong quan hệ Mỹ-Nhật và ảnh hưởng của vấn đề Đông Dương đối với quyết định khai chiến của Nhật trong chiến tranh Thái Bình Dương Tác giả Phan

Khoang trong cuốn Việt Nam Pháp thuộc sử,1971, đã trình bày những vấn đề xung quanh cuộc đảo chính của Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945 Trong công trình Việt

Nam dưới thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh, xuất bản năm 1974 (tái bản

2002) trình bày khá chi tiết xâm nhập của Nhật vào Việt Nam

Sau ngày đất nước thống nhất, giới nghiên cứu Việt Nam có những bước tiến trong việc nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt-Nhật Năm

1985, trong công trình lớn Lịch sử Việt Nam, Tập II do Nguyễn Khánh Toàn chủ

biên, đã đề cập và đánh giá về sự xâm chiếm Đông Dương của Nhật và những chính sách của Nhật ở Việt Nam trong giai đoạn này

Từ khi đổi mới việc nghiên cứu về quan hệ Việt-Nhât có bước tiến nhảy vọt

Đã có sự kết hợp nghiên cứu, cộng đồng nghiên cứu giữa các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản về lịch sử Việt Nam và quan hệ Việt-Nhật Riêng thời cận đại

có những thành quả đáng chú ý sau : Năm 1995, Viện sử học công bố công trình

Nạn đói 1945 ở Việt Nam : Những chứng tích lịch sử doVăn Tạo và Futura Motoo

chủ biên Đây là công trình nghiên cứu công phu của học giả hai nước Việt-Nhật liên quan đến nạn đói năm 1945, trong đó các tác giả chỉ rõ trách nhiệm của Nhật đối với thảm họa nói trên

Trang 9

Năm 1996, Đỗ Đình Hãng-Trần Văn La cho xuất bản công trình Quan hệ

Nhật – Pháp ở Đông Dương trong chiến tranh Thái Bình Dương, xuất bản năm

1996, đề cập tương đối toàn diện mối quan hệ Nhật- Pháp ở Đông Dương trong chiến tranh Thái Bình Dương

Năm 1998, Viện KHXH tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa

học Sự hiện diện của người Nhật ở miền Nam Việt Nam giai đoạn 1940-1945

Trong Hội thảo này, các tác giả của những bài viết đã khai thác nguồn tài liệu có liên quan làm sáng tỏ sự chiếm đóng của Nhật có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1940-1945 như thế nào

Nguyễn Phan Quang công bố hai công trình : Góp thêm tư liệu Sài Gòn-

Gia Định (1998) và Thị trường lúa gạo Nam Kỳ 1860-1945 (2004), trong đó có

nhiều tư liệu cụ thể liên quan đến chính sách kinh tế-thương mại của Nhật tại Nam Bộ và sự biến đổi của kinh tế-xã hội Nam Bộ dưới thời Nhật chiếm đóng

Gần đây, Phạm Hồng Tung, công bố cuốn sách Nội các Trần Trọng Kim –

bản chất, vai trò và vị trí lịch sử” (2009) Dựa trên nguồn tư liệu phong phú, đa

chiều, không ít sử liệu có giá trị, tác giả đã dựng lại lịch sử hoạt động của Nội các

và việc đánh giá mới về bản chất, vai trò và vị trí lịch sử của Nội các Trần Trọng Kim

Ngoài các công trình lớn ra, có nhiều bài báo khoa học đáng chú ý liên quan đến quan hệ Việt-Nhật trong giai đoạn này được công bố Phan Ngọc Liên với “Chính sách thống trị của Nhật Bản đối với Việt Nam trong thời kỳ cánh mạng tháng Tám” (1995) và “Chiến lược cung cấp lương thực của Nhật trong thời kỳ chiếm đóng Việt Nam - một trong những nguyên nhân gây ra nạn đói 1944-

1945” (2001), đã nêu ra một số khía cạnh trong chính sách của Nhật đối với Việt Nam trong giai đoạn này Phạm Hồng Tung với “Về Cường Để và tổ chức Việt Nam phục quốc đồng minh hội trong thời kỳ thế chiến II”, (2003) ; “Về mối quan

hệ cộng tác - cộng trị Nhật - Pháp ở Việt Nam trong thế chiến II và nguyên nhân

của cuộc đảo chính ngày 9-3-1945”, (2004) ; và Nguyễn Tiến Lực với Hoạt động

Trang 10

của giới quân sự và ngoại giao Nhật Bản xung quanh chủ trương đảo chínhh ngày

9 -3-1945 (1995) ; Các cuộc thương thuyết về thương mại giữa Nhật Bản và Đông Dương 1940 - 1941 (2001) và Sự biến đổi trong quan hệ thương mại Nhật Bản – Đông Dương 1940 - 1945 (2003)

Ngoài ra có nguồn tài liệu rất quý để giúp tìm hiểu những khía cạnh khác nhau của quan hệ Việt-Nhật là các tập hồi ký của các nhân vật đương thời như

Phan Bội Châu : Phan Bội Châu Niên biểu, Ngục trung thư (1990) ; Trần Trọng Khắc, Năm mươi tư năm hai ngoại (1971) ; Cường Để: Cuộc đời cách mạng

Cường Để (1957); Hoàng Nam Hùng : Năm mươi năm cách mạng hải ngoại

(1960); Trần Trọng Kim : Một cơn gió bụi (1969) ; Phạm Khắc Hòe: Từ triều

đình Huế đến chiến khu Việt Bắc (1985) ; Vũ Đình Hòe, Hồi ký (1994)

2.2 Nghiên cứu ở Nhật Bản

Ở Nhật Bản, ngay trước chiến tranh, đã có nhiều công trình nghiên cứu quan hệ Việt Nhật đặt trong bối cảnh quan hệ Nhật với các nước châu Á láng giềng Tức là các tác giả khi nghiên cứu đến quan hệ Việt Nhật rất coi trong tư tưởng châu Á chủ nghĩa, coi trong các hoạt động của người Nhật ở Việt Nam hay cảm tình của dân chúng Nhật Bản đến phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam Điển hình của loại này là công trình của Kokuryukai xuất bản năm 1935 và của Oiwa Makoto xuất bản năm 1941 Hơn nữa liên quan đến quan hệ kinh tế thương mại những năm 1930-1940 đã xuất hiện nhiều bài nghiên cứu có giá trị

Năm 1966, với việc dịch và giới thiệu trước tác của Phan Bội Châu ra tiếng Nhật đã làm thay đổi nghiên cứu quan hệ Việt Nhật ở Nhật Bản Hai ông đã cho công bố nhiều tư liệu mới và phân tích tư liệu đó để đưa ra những kiến giải mới về Phan Bội Châu nói riêng và quan hệ Việt Nhật thời cận đại nói chung Hai ông vẫn

kế thừa quan điểm của những người theo châu Á chủ nghĩa nhưng đã kết hợp với những quan điểm lịch sử về phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam và đưa ra quan điểm mới về quan hệ giữa Nhật Bản cận đại và phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam

Trang 11

Năm 1979, nhà nghiên cứu lịch sử cận đại Đông Nam Á Tanikawa Saehiko

và nhà nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam Shimpo Junichiro đã lần lượt công bố công trình nghiên cứu của mình Trong đó, hai ông dã giới thiệu quan điểm của giới sử học Việt Nam khi nghiên cứu về quan hệ Nhật Việt Hơn nữa, hai ông đã không dựa theo quan điểm châu Á của nghĩa của người Nhật mà đứng hẳn trên quan điểm phong trào giải phóng dân tộc để lý giải quan hệ Việt Nhật

Từ những năm 1970, khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản dễ dàng có được công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt của những nhà nghiên cứu Việt Nam, thì việc nghiên cứu quan hệ Việt Nhật ở Nhật Bản phát triển mạnh Dựa trên những tài liệu tiếng Việt xuất bản ở Việt Nam, chịu ảnh hưởng của các công trình Âu-Mỹ, hai nhà nghiên cứu Shiraishi Masaya và Furuta Motoo đã cho công bố hàng loạt luận văn về quan hệ Việt Nhật Trong những năm 1980-1990, việc nghiên cứu về quan hệ Việt Nhât ở Nhật chủ yếu là nghiệp tích của hai giáo sư này

Từ những năm 1980, đã xuất hiện các bài viết của Shiraishi Masaya về lịch

sử quan hệ Việt-Nhật, chủ yếu là thời cận đại, qua những vấn đề cụ thể Từ đó về sau, bằng việc công bố hàng loạt các luận văn nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt-Nhật bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau (Nhật, Anh, Pháp), Shiraishi được thừa nhận như nhà nghiên cứu số một về về quan hệ Việt Nam-Nhật Bản thời cận đại ở nước ngoài Tuy nhiên, Shiraishi đặt trọng tâm nghiên cứu vào thời kỳ Đông Du, tức là thời kỳ hoạt động của Phan Bội Châu và các nhà hoạt động Việt Nam khác trên đất Nhật Ông đặt mối quan hệ này vào bối cảnh chung của quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ Đông Á vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX để lý giải nó Việc nghiên cứu như vậy đưa đến cho chúng ta một nhận thức mới mẻ về phong trào Đông Du và về vị trí của Nhật Bản trong phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX Ngoài ra tính hấp dẫn trong các công trình nghiên cứu của Shiraishi còn là ở chỗ, các luận văn của ông được khảo cứu cẩn thận dựa trên nhiều nguồn tư liệu khác nhau, ông cố gắng không áp đặt tư duy của người hiện nay cho các sự kiện quá khứ mà đặt mình vào tư duy của người đương thời, và dựa

Trang 12

trên nguồn tư liệu có được để tái hiện lich sử Nhưng các luận văn của Shiraishi đặt trọng tâm nghiên cứu về tư tưởng của cách mạng của Phan Bội Châu, chưa lý giải nhiều về quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ này

Shiraishi Masaya và Furuta Motoo đã công bố chung một luận văn rất có giá trị về chính sách của Nhật Bản đối với Đông Dương trong chiến tranh thế giới lần thứ II, trong đó hai ông chỉ rõ những đặc điểm của chính sách “duy trì hiện trạng” và “cộng trị” của Nhật Sau đó, Shiraishi Masaya viết một loạt bài về Việt Nam phục quốc đồng minh hội, về việc thành lập Nội các Trần Trọng Kim Các bài viết các ông đã sử dụng nguồn tư liệu hết sức phong phú, tiếp nhận quan điểm của những nhà sử học Việt Nam nên rất có giá trị tham khảo Futura Motoo,trong

công trình Betonamu no sekaishi (Việt Nam trong lịch sử thế giới) đã nhiều chỗ đề

cập đến quan hệ Việt-Nhật trong thời kỳ Nhật xâm chiếm, thống trị Việt Nam và cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống Nhật

Về quan hệ kinh tế-thương mại, các tác giả Kano Yoshiro, Adachi Hiroaki, Shibata Yoshimasa, Tabuchi Yukiaki đã công bố nhiều luận văn công phu xem xét nhiều khía cạnh khác nhau của quan hệ trên lĩnh vực này của hai nước Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu về chính sách thương mại của Nhật đối với Đông Dương chưa nắm bắt được nhiều quan điểm từ phía Việt Nam

2.3 Nghiên cứu ở Âu-Mỹ

Qua các bài viết của Shiraishi Masaya và các tác giả Việt Nam khác, chúng tôi biết được, các tác giả Pháp có những nghiên cứu rất có giá trị về quan hệ Nhật-

Pháp xung quanh vấn đề Đông Dương Ví như, André Gaudel với L' Indochine

FranÇaise en face du japon, xuất bản tại Paris năm 1947.Tiếp đó, Jacques Valette

với Indochine 1940-1945: FranÇais contre Japonais (Histoire Contemporaine) do

Sedes, Paris Ve xuất bản 1993 Đây là hai công trình đầu tiên tiếp cận đến mối quan hệ Pháp-Nhật trong giai đoạn Nhật chiếm đóng Đông Dương

Trang 13

Việc nghiên cứu về quan hệ Việt - Pháp - Nhật thời cận đại cũng thu hút

sự chú ý của các nhà nghiên cứu Mỹ từ rất sớm Năm 1971, David C Marr cho xuất bản công trình nghiên cứu về phong trào chống chủ nghĩa thực dân Pháp từ

1885 đến 1925, trong đó dành nhiều chương về nghiên cứu về phong trào Đông

Du Marr còn có các công trình liên quan đến cách mạng tháng Tám như World

War II and the Vietnamese Revolution in trong Southeast Asia under Japanese Occupation xuất bản năm 1981 Năm 1995, David C Marr cho xuất bản một công

trình khác tại California mang tên Vietnam 1945 : The quest of Power trình bày rất

chi tiết những sự kiện diễn ra tại Việt Nam trong năm 1945 và quá trình xác lập quyền lực giữa các lực lượng Nội dung phong phú, sự tiếp cận với các quan điểm của giới sử học Việt Nam và được xuất bản bằng tiếng Anh, nên các công trình của ông gây được ảnh hưởng rộng rãi trong các nhà nghiên cứu ở nước ngoài

Từ thập niên 1980 trở lại đây, việc nghiên cứu chính sách của Nhật ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng tương đối phong phú và đa dạng trên nhiều mặt Trước hết, James William Morley và các tác giả nghiên cứu châu Á của

Mỹ đã biên dịch từ nguồn tư liệu Nhật Bản Taiheiyo senso e no michi: kaisen

gaikoshi để biên tập sang tiếng Anh với tên gọi The Fateful Choice: Japan’s

advance in to Southeast Asia, 1939-1941 xuất bản năm 1980, trình bày khá chi tiết

về tiến trình xâm nhập của Nhật vào Bắc Việt Nam Furruta Motoo, Shiraisshi Masaya, Shiraishi Takeshi cũng có những bài viết bằng tiếng Anh liên quan đến quan hệ Việt-Nhật trong thời cận đại Một công trình dịch ra tiếng Anh đề cập đến

chính sách “Nam tiến” của Nhật Bản - The Japanese wartime Empire 1931-1945,

do Princeton University xuất bản năm 1996, tập hợp nhiều bài viết của các tác giả Nhật Bản về quan hệ Việt-Nhật thời cận đai

Mark R.Peattie trong bài Nanshin: The “Southward Advance”, 1931 – 1941,

as a Prelude to the Japanese Occupation of Southeast Asia in trong The Japanese wartime Empire 1931-1945 trình bày khá chi tiết về chính sách “Nam tiến” của Nhật từ ý tưởng, các giai đoạn phát triển của “Nam tiến” Kenichi Goto với

Trang 14

Cooperation, Submission, and Resistance of Indigenous Elites of Southeast Asia in the Wartime Empire, đề cập đến chính sách của Nhật Bản đối với phong trào dân tộc của Đông Nam Á Bài viết của tác giả người Mỹ gốc Nhật Nizt, Kyoko:

“Japanese Military Police Towards French Indochina during the Second World

War: The road to the Meigo Sakusen”, Journal of Southeast Asian Studies, (1983)

và “Independence without Nationnalist? The Japanese and Vietnam Nationalism

during Japanese period: 1940-1945”, Journal of Southeast Asian Studies (1984) rất

được các nhà nghiên cứu Việt Nam khai thác, trích dẫn Năm 1999, W.G Beasley

cho xuất bản Japanese imperialism 1894-1945 , trong đó trình bày khá chi tiết về

“Nam tiến” và “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” của Nhật

Như vậy có thể thấy ở Việt Nam, ở Nhật Bản ở Âu-Mỹ có không ít công trình nghiên cứu về quan hệ Việt-Nhật thời cận đại Các công trình đó góp phần vào việc làm sáng tỏ nhiều vấn đề trong quan hệ Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại Tuy nhiên có thể thấy các công trình nghiên cứu này có những khiếm khuyết nhất định Thứ nhất là các công trình chỉ tập trung vào hai thời điểm có nhiều vấn

đề trong quan hệ giữa hai nước là đầu thế kỷ XX với phong trào Đông Du của Việt Nam và thời điểm Nhật xâm chiếm và thống trị Đông Dương 1940-1945 nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ hơn, toàn diện hơn quan hệ hai nước xuyên suốt thời cận đại Thứ hai là, từ trước đến nay, trong việc nghiên cứu quan

hệ Việt-Nhật thời cận đại thì hoặc là đứng trên quan điểm giải phóng dân tộc để nghiên cứu hoặc là đứng trên quan điểm cận đại Nhật Bản mà nghiên cứu, rất ít sự

sự thử nghiệm kết hợp cả hai quan điểm trên để nghiên cứu về tất cả các phương diện của mối quan hệ này

Lần này, trong nghiên cứu của mình, để nắm bắt và lý giải được toàn bộ mối quan hệ giữa hai nước trong thời cận đại, chúng tôi dựa trên 3 điểm sau đây :

Một là, vì Việt Nam trong thời cận đại đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp nên nghiên cứu quan hệ Việt Nhật trong thời đại này thì phải bao gồm quan

hệ giữa Nhật Bản với chính quyền thuộc địa Đông Dương, và mặt khác là quan hệ

Trang 15

giữa Nhật Bản với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu quan hệ Nhật Việt thời cận đại không chỉ nghiên cứu giới hạn trong hai nước

mà phải xem xét từ mối quan hệ nhiều nước, nhất là quan hệ Nhật-Pháp-Đông Dương (Việt Nam)

Hai là, phải nghiên cứu mối quan hệ này từ nhiều góc cạnh Có thời điểm,

có phương diện, quan hệ giữa hai nước là đối tác, có phương diện, có thời điểm quan hệ giữa hai nước là quan hệ đối địch Việc nghiên cứu từ nhiều góc cạnh khác nhau giúp chúng ta thấy rõ hơn bức tranh đa sắc, đa dạng của mối quan hệ này

Thứ ba là, nghiên cứu toàn thể mối quan hệ Việt Nhật toàn bộ thời cận đại Đây là công trình tổng hợp, nghiên cứu quan hệ Nhật-Việt xuyên suốt cả thời cận đại Trong quan hệ Việt Nhật thời cận đại có thể phân chia thành các giai đoạn khác nhau nhưng chỉ tập trung vào nghiên cứu một giai đoạn thôi thì không thể nắm bắt toàn thể quan hệ Việt-Nhật được

Chúng tôi đã quan tâm và nghiên cứu vấn đề này trong một thời gian dài Chúng tôi cũng đi từ việc giải quyết những vấn đề cụ thể của mối quan hệ Việt-Nhật trong những giai đoạn cụ thể và cũng đã công bố những phần hoàn thành tại các hội thảo, tiếp nhận ý kiến phản biện rồi sau đó chỉnh sửa, cho công bố trên các

tạp chí học thuật trên Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu

Trung Quốc, Thông tin Khoa học Xã hội, Tập san Khoa học Xã hội của Đại học

Tổng hợp TPHCM liên quan về quan hệ Việt Nhật thời cận đại Lần này, khi tiến hành viết công trình lớn này, chúng tôi đựa trên những kết quả đó, bổ sung những vấn đề nghiên cứu mới, nghiên cứu một cách toàn diện và đầy dủ hơn về quan hệ Việt-Nhật thời cận đại

Công trình này là kết quả của sự kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chủ yếu là các nhà sử học hàng đầu của Việt Nam như Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu, Chương Thâu, Nguyễn Phan Quang, Phạm Hồng Tung

… và các nhà Việt Nam học hàng đầu của Nhật như Kawamoto, Furuta, Shiraishi,

Trang 16

Tachikawa, Tabuchi, Adachi và sự nỗ lực nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Trên

cơ sở nguồn tư liệu khá đầy đủ, tác giả đã tái xác nhận những sự kiện liên quan đến quan hệ Việt Nhật thời cận đại, không làm như những nhà nghiên cứu trước là chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề, một số giai đoạn hay chỉ dựa vào tư liệu một phía để nghiên cứu, mà là nghiên cứu toàn diện quan hệ Việt Nhật trong suốt thời cân đại Chúng tôi không coi quan hệ Việt-Nhật thời cận đại chỉ là quan hệ đối địch mà trong đó có nhiều quan hệ đan xen, phức tạp, sử dụng đến mức cao nhất các tư liệu có thể có được để nghiên cứu

Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi cũng đã cố gắng chú thích phần

tư liệu cho cẩn thận để các nhà nghiên cứu tiện tra cứu

Trong công trình này nguyên tắc phiên âm tên người, tên các tổ chức và tên đất Nhật Bản chúng tôi dựa theo cách đọc của người Nhật, nhưng vì trong các tác phẩm của các nhà nghiên cứu trước sử dụng âm Hán-Việt một cách phổ biên, vì vậy trong trường hợp cần thiết chúng tôi chú thêm âm Hán-Việt vào bên cạnh âm tiếng Nhật để cho người đọc tiện tra cứu Để tôn trọng các tác giả trước, các đoạn trích dẫn chứng tôi cứ để nguyên âm Hán-Việt như vậy Cách viết tên của người Nhật được nêu trong cuốn sách này chúng tôi dùng thống nhất viết họ trước, tên sau như kiểu Việt Nam chứ không viết tên trước, họ sau như Âu Mỹ Còn tên người và tên đất các nước Âu-Mỹ thì chúng tôi để nguyên như vậy

3.Nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nguồn sử liệu

Phía Việt Nam, chúng tôi dựa vào các tư liệu gốc sau đây:

- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tập 6 (1936-1939), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000

- Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Tập 7 (1940-1945), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000

Trang 17

- Trần Dân Tiên, Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984

- Phan Bội Châu Toàn tập, Chương Thâu biên tập, Tập 2, Tập 3, Tập 6, NXB Thuận Hóa, Huế, 1990

- Phan Chu Trinh Tuyển tập, Nguyễn Văn Dương biên tập, NXB Đà Nẵng

- Cuộc đời cách mạng của Cường Để, Tráng Liệt xuất bản, Sài Gòn, 1957

- Lệ thần Trần Trọng Kim, 1969, Một cơn gió bụi, NXB Vinh Sơn, Sài Gòn

- Trần Trọng Khắc, 1971, Năm mươi bốn năm hải ngoại, Sài Gòn xuất bản

- Nguyễn Khắc Hòe, 1985, Từ Triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, NXB TP Hồ Chí Minh

- Hoàng Nam Hùng, 1960, Năm mươi năm cách mạng hải ngoại, Phạm Đức Giật biên soạn, Sài Gòn

- Jean De Coux, 1964, Cầm lái xứ Đông Dương: Lịch sử phủ Toàn quyền của tôi, Bản dịch của Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội

Về phía Nhật, chúng tôi dựa vào nguồn sử liệu sau:

- Bộ Ngoại giao biên tập: Niên biểu ngoại giao Nhật Bản và các văn kiện chủ yếu 1840-1945, 外務省編 『日本外交年表竝主要文書 1840-1945』,Quyển Thượng, Hạ, Hara Shobo, 上下、原書房,1960

Đây là tuyển tập các hiệp định chủ yếu mà Nhật Bản ký với nước ngoài từ năm 1840 đến năm 1945 Trong cuốn sách này đăng nhiều văn kiện giữa Nhật và

Trang 18

Pháp, giữa Nhật và Đông Dương thuộc Pháp liên quan đến quan hệ giữa Nhật Bản

và Việt Nam

- Kajima Heiwa Kenkyujo: Nhật Bản ngoại giao sử Tập 22 Vấn đề Nam

tiến『日本外交史 第 22 巻 南進問題』, Kajima Heiwa Kenkyukai, 1973

Đây là bộ lịch sử ngoại giao đồ sộ, trong đó tập 22 chuyên đăng các văn kiện quan trọng và các hiệp định liên quan đến chính sách Nam tiến của Nhật Bản Trong tập 22 có rất nhiều văn kiện liên quan đến chính sách của Nhật đối với Đông Dương thuộc Pháp, chủ yếu từ năm 1936 đến năm 1945

- Trung tâm tư liệu lịch sử châu Á, アジア歴史資料センター: Japan Center for Asian Histrical Record、電子資料センター, Học liệu mở (Sử dụng liên quan)

Đây là trang website học liệu mở co thể vào xem các CD tư liệu liên quan đến quan hệ Nhật Bản đối với các nước châu Á trong đó có Việt Nam (Đông Dương thuộc Pháp)

- Ngoại giao sử liệu quán, 外交史料館: Văn kiện ngoại giao Nhật Bản

『安南人に関する件』Những sự việc liên quan đến người An Nam

Ngoại giao sử liệu quán là nơi lưu giữ nhiều tài liệu về quan hệ giữa Nhật Bản với các nước, trong đó khá nhiều tư liệu gốc, rất quý liên quan đến hoạt động của người Việt Nam ở Nhật đầu thế kỷ XX

Phần tư liệu tiếng Pháp: Do khả năng sử dụng tiếng Pháp hạn chế, chúng tôi chỉ tham khảo các tài liệu gốc qua bản dịch tiếng Việt Ngoài ra chúng tôi đã cố gắng sử dụng các tài liệu thống kê thương mại trong các tập:

- Annuraire Stastisque de L' Indochine, Hanoi, 1931

- Bulletin Economique de L' ndochine, Hanoi, 1939

Trang 19

Dựa trên nguồn sử liệu sưu tập đáng tin cậy, luận văn sẽ cố gắng hệ thống hoá sự xuyên suốt về quan hệ Nhật Bản-Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến 1945

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Đây là công trình nghiên cứu về lịch sử quan hệ song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản trong một thời kỳ lịch sử nên chúng tôi đã sử dụng những

phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp lịch sử xem xét, đánh giá những biến đổi trong quan hệ giữa hai nước trong hoàn cảnh lịch sử thời cận đại; sự biến đổi đó có nguyên nhân của

nó, có triển vọng của nó Phương pháp lịch sử cũng giúp chúng tôi khi xem xét đánh giá mối quan hệ giữa hai nước đều phải dựa trên những tư liệu có thực, đáng tin cậy, tránh võ đoán, quy chụp

Phương pháp lô-gíc giúp trình bày vấn đề một cách có hệ thống, có tính logic, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần làm rõ những vấn đề đạt được trong công trình này

Ngoài ra, vì quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại phức tạp có mối quan hệ mật thiết với nước thứ 3 là Pháp và các nước lớn khác như Trung Quốc, Mỹ … nên sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống: xem xét mối quan hệ Việt-Nhật trong mối quan hệ Việt-Pháp-Nhật và quan hệ giữa các nước lớn và các nước trong khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh thời cận đại

4 Cấu trúc công trình

Công trình nghiên cứu này, ngoài phần Dẫn luận, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính gồm 4 chương

Chương 1: Việt Nam và Nhật Bản cuối thế kỷ XIX-Những mối liên hệ

Trước hết, chúng tôi sẽ xem xét, vào cuối thế kỷ XIX, khi các nước phương Đông đứng trước nguy cơ xâm chiếm của các cường quốc phương Tây, Việt Nam

Trang 20

và Nhật Bản đã lựa chọn phương thức đối ứng như thế nào và dẫn đến kết quả ra sao?

Tiếp đến chúng tôi muốn xem xét, trong thời kỳ đó, giới trí thức Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã đánh giá Nhật Bản mở cửa, duy tân như thế nào,

và ngược lại, giới trí thức của Nhật Bản đánh giá về Việt Nam trong quá trình bị thực dân Pháp nô dịch ra sao? Qua đó, chúng tôi tìm ra những mối quan hệ, liên hệ giữa hai nước trong giai đoạn này – mối liên hệ gián tiếp nhưng rất có ý nghĩa

Chúng tôi chọn 2 trí thức tiêu biểu cuối thế kỷ XIX là Nguyễn Trường Tộ

và Nguyễn Lộ Trạch để nghiên cứu xem họ nhận thức về Nhật Bản đang cận đại hóa như thế nào và phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa họ khi đánh gia về Nhật Bản qua đó có cái nhìn tổng hợp và đầy đủ về nhận thức của giới trí thức Việt Nam đối với Nhật Bản Và về phía Nhật Bản chúng tôi chọn nhà khai sáng lớn nhất của Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX Fukuzawa Yukichi và những người theo tư tưởng châu Á chủ nghĩa để nghiên cứu xem họ nhận thức về Việt Nam như thế nào?

Chương 2: Quan hệ giữa phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX với Nhật Bản

Trong giai đoạn này, quan hệ giữa Nhật Bản với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam chủ yếu là những hoạt động của người Việt Nam ở trên đất Nhật Phong trào này gọi là phong trào Đông Du Đông là Nhật Bản, Du là du học cho nên cũng có quan điểm cho rằng phong trào Đông Du là phong trào đưa người đi

du học Nhật Bản Theo quan điểm này thì phong trào Đông Du chỉ là một phần của phong trào dân tộc Việt Nam ở Nhật Bản Tuy nhiên từ quan điểm giải phóng dân tộc thì phong trào Đông Du không chỉ đơn thuần là phong trào đưa thanh niên Việt Nam sang du học Nhật Bản mà là toan bộ các hoạt động của phong trào dân tộc Việt Nam ở Nhật Bản Bởi vì rằng, thanh niên Việt Nam sang Nhật du học không đơn thuần là đi du học mà là hoạt động cách mạng, hai là trong các hoạt động của người Việt Nam ở Nhật thì có nhiều hoạt động gây được ảnh hưởng đến

Trang 21

phong trào cách mạng trong nước hơn là du học như những hoạt động trước tác tuyên truyền cách mạng, hoạt động tiếp xúc, học hỏi với các nhà hoạt động cách mạng ở châu Á.v.v…

Trong phần này chúng tôi sẽ làm sáng tỏ: 1-Vì sau các nhà hoạt động Việt Nam lại lấy Nhật Bản làm cứ điểm cho hoạt động của phong trào dân tộc Việt Nam; 2-Những hoạt động cụ thể của phong trào dân tộc Việt Nam ở Nhật; 3-Thái

độ của nhân dân và chính quyền Nhật Bản đối với phong trào dân tộc Việt Nam ở Nhật như thế nào?

Chương 3: Quan hệ kinh tế-thương mại Việt- Nhật từ 1919 đến 1945

Từ cuối thế kỷ XIX, nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần thứ I, quan hệ kinh tế-thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã khôi phục và phát triển Mặc dầu ý thức rất rõ rằng, dưới chế độ thuộc địa những lợi ích của những mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản phần lớn nằm trong tay tư bản Pháp, nhưng mối quan hệ này có liên quan chặt chẽ đến quan hệ giữa hai nước trong những lĩnh vực khác và có liên quan đến quan hệ kinh tế-thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản sau này Vì vậy chúng tôi dành một chương để chuyên đi sâu vào mối quan hệ này giữa hai nước trong giai đoạn 1919-1945

Trong chương này, dựa trên những tư liệu sưu tầm được và những biểu bảng thống kê đáng tin cậy chúng tôi trình bày các chính sách của Nhật Bản và Pháp chính quốc cũng như Phủ Toàn quyền Đông Dương liên quan đến quan hệ kinh tế-thương mại hai nước, đặc biệt chúng tôi sẽ phân tích sự biến đổi về kim ngạch và cơ cấu thương mại giữa hai nước, phân tích những nguyên nhân của sự biến đổi đó Trong chương này, chúng tôi còn phân tích bản chất của quan hệ thương mại của Nhật với Việt Nam, đặt nó trong quan hệ kinh tế-thương mại giữa Nhật Bản với Đông Nam Á cùng kỳ để phân tích, so sánh

Trang 22

Chương 4: Quan hệ chính trị-quân sự Việt-Nhật từ 1940 đến 1945

Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, Nhật Bản quan tâm nhiều hơn đến vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Từ năm 1936, khi Nhật Bản dưa chính sách Đông Nam Á vào hàng “quốc sách” thì mối quan tâm của Nhật Bản đối với việt Nam càng tăng lên

Khi nghiên cứu mối quan hệ Việt-Nhật trong giai đoạn này, chúng tôi tích cực sử dụng nguồn tài liệu nhiều chiều, lý giải quan điểm của nhiều phía, nghiên cứu một cách chi tiết chính sách của Nhật đối với Việt Nam, vị trí của Việt Nam trong chính sách Đại Đông Á của Nhật, những hoạt động cụ thể của quân Nhật trong quá trình xâm chiếm và thống trị Việt Nam và cuộc kháng chiến chông Nhật của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương

Trong chương này, chúng tôi cũng lý giải nhiều vấn đề gay cấn như vấn đề nạn đói năm 1944-1945 và trách nhiệm của Nhật Bản đối với nạn đói đó

Nhân dịp bảo vệ đề tài nghiên cứu khoa học này này, chúng tôi xin bày tỏ

sự cảm ơn đặc biệt tới Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn đã cho phép chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này và tài trợ một phần kinh phí cho chúng tôi thực hiện đề tài này

Chúng tôi xin cám ơn Trường Đại học Ritsumeikan, Trường Đại học

Hiroshima Nhật Bản đã tạo điều kiện cho chúng tôi có các chuyến công tác tại Nhật Bản qua đó sưu tầm thêm các tài liệu bằng tiếng Nhật góp phần giải quyết sâu hơn vấn đề đặt ra Chúng tôi cũng xin cám ơn Japan Foundation và Viện khoa học Xã hội Việt Nam đã tổ chức hội thảo quốc tế về Nghiên cứu Nhật Bản ở Việt Nam để tôi có điều kiện trình bày những kết quả nghiên cứu của mình liên quan đến đề tài này

Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với GS Chương Thâu (Hà Nội) và GS Shiraishi Masaya ở Nhật Bản đã trao đổi, góp ý với chúng tôi xung quanh đề tài này và cung cấp cho chúng tôi nhiều tài liệu quan trọng để thực hiện Chúng tôi

Trang 23

xin cảm ơn PGS.TS Hoàng Thị Minh Hoa và TS Phan Hải Linh đã góp ý, giuwps

đỡ chúng tôi trong thời gian nhóm nghiên cứu khảo sát và trao đổi học thuật ở Huế

và Hà Nội

Và cuối cùng chúng tôi xin cám ơn đồng nghiệp của tôi ở Khoa Đông

phương và Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản của Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và hợp tác về học thuật và tinh thần cho nhóm tôi hoàn thành công trình này

Nhóm nghiên cứu

Trang 24

CHƯƠNG 1 VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX-NHỮNG MỐI LIÊN HỆ

1.VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN CUỐI THẾ KỶ XIX

1 1 VIỆT NAM “BỊ MỞ CỬA” VÀ TRỞ THÀNH THUỘC ĐỊA

1.1 1 Tình hình Việt Nam trước khi “bị mở cửa”

Sau khi đánh bại Vương triều Tây Sơn, tháng 07-1802, Nguyễn Ánh đã xác lập sự thống trị của triều Nguyễn trên toàn cõi Việt Nam Sự thiết lập vương triều nhà Nguyễn bằng việc tiêu diệt vương triều Tây Sơn, một vương triều có công lớn trong việc thống nhất đất nước và chống giặc ngoại xâm, tự nó đã đi ngược với truyền thống dân tộc và chứa đựng các yếu tố phản động

Nhà Nguyễn thực thi nhiều chính sách về kinh tế mang tính hai mặt, có chính sách mang tính tiến bộ, có chính sách mang tính kìm hãm phát triển

Về nông nghiệp: một mặt nhà Nguyễn duy trì chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến nhưng mặt khác cũng đã có những cố gắng trong việc chiêu tập dân nghèo, dân phiêu tán đi khai hoang, lập các ấp, đồn điền Tuy nhiên, mặt trái chính sách đó lại tạo điều kiện cho các thế lực quan lại, địa chủ chiếm đoạt làm tư hữu những diện tích ruộng đất lớn

Về công nghiệp, dưới triều Nguyễn đã có một số ngành công nghiệp hình thành và phát triển như đóng tàu, đúc vũ khí, đúc súng, đúc tiền… Tuy nhiên, những ngành đó đều do nhà nước quản lý, công nghiệp tư nhân không phát triển, không mang lại hiệu quả cho đời sông nhân dân Thủ công nghiệp còn rất phân tán, chịu nhiều ràng buộc về quy cách sản xuất, và thể lệ đóng thuế, cho nên các làng nghề, phường thủ công chưa phát huy hết tiềm năng để có đóng góp lớn hơn vào

sự phát triển nền kinh tế hàng hoá

Trang 25

Về hoạt động nội thương, từ thế kỷ XVII, XVIII, hoạt động kinh tế hàng hoá đã phát triển khá mạnh Nhiều thị trấn, đô thị mới cũng xuất hiện ở khắp nơi đặc biệt là các tỉnh Nam Bộ Nhà Nguyễn thống nhất đơn vị tiền tệ, mở mang hệ thống giao thông thuỷ bộ, tạo điều kiện giao lưu trao đổi giữa các vùng Tuy nhiên, nhà Nguyễn thực thi chính sách độc quyền trong thương nghiệp, độc quyền mua bán các nguyên liệu công nghiệp như đồng, thiếc, chì, kẽm, lưu huỳnh, diêm

tiêu… Hơn nữa, nhà Nguyễn còn đặt ra nhiều luật lệ khác, nắm độc quyền buôn bán các nông, lâm, hải sản quan trọng nên thương nghiệp tư nhân không thể nào

có cơ hội để phát triển Việc giao lưu buôn bán giữa các địa phương trong nước gặp nhiều trở ngại, thiếu thị trường thống nhất và tập trung

Về ngoại thương: nhà Nguyễn thực thi chính sách độc quyền, đóng cửa, hạn chế buôn bán với bên ngoài Nửa đầu thế kỉ XIX, thỉnh thoảng có tàu buôn phương Tây (Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Mỹ) đến buôn bán ở các hải cảng nhưng mọi yêu cầu lập thương điếm hoặc ký kết hiệp ước thương mại chính thức đều bị triều đình từ chối Thời Gia Long, thuyền phương Tây có thể vào buôn bán ở

nhiều cảng, nhưng đến thời Minh Mạng thì chỉ được cập bến Đà Nẵng Nhà

Nguyễn cũng nhiều lần phái quan lái sang Singapore, Ấn Độ, Indonesia,

Philippines, Xiêm để buôn bán nhưng chỉ chủ yếu là mua những vật dụng phục vụ cho triều đình Nhà Nguyễn nắm độc quyền ngoại thương, kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng xuất nhập khẩu Sản xuất trong nước không được thúc đẩy, các nhà buôn

tư nhân bị kìm hãm, thiếu hàng hóa để xuất khẩu, các thương cảng một thời sầm uất nay cũng suy tàn cùng với tính chuyên chế của nhà Nguyễn đã cản trở xu thế phát triển của công, thương nghiệp và ngoại thương

Về đối nội: Nhà Nguyễn đã tăng cường chế độ chuyên chế trung ương tập quyền, củng cố nền thống trị của mình Năm 1815, nhà Nguyễn ban hành Hoàng triều luật lệ, còn gọi là Luật Gia Long, một bộ luật tuyệt đối hóa quyền lực của nhà vua, củng cố trật tự phong kiến Nhà Nguyễn ra sức bình định Gia Định thành, Bắc thành, đàn áp tàn khốc phong trào nông dân khởi nghĩa, tự mình làm hao tổn nhiều

Trang 26

tài vật lực của đất nước và sinh mệnh của nhân dân, làm cho quốc lực suy yếu, hủy hoại khả năng đề kháng của dân tộc trước các thế lực bên ngoài

Về đối ngoại: Nhà Nguyễn thực hiện quan hệ với nhà Thanh trong thể chế

“sắc phong triều cống” Tuy nhiên, so với các nước xung quanh như Triều Tiên, Lưu Cầu hay thậm chí như là Xiêm, nhà Nguyễn không mặn mà với thể chế này1 Đối với phương Tây, nhà Nguyễn thực thi chính sách ngoại giao rất hạn chế Năm

1804, một phái bộ Anh xin lập thương điếm ở Trà Sơn, nhưng nhà Nguyễn không đồng ý Sau đó người Anh còn mấy lần đến nhưng triều đình vẫn không chấp nhận, lấy cớ là Anh Pháp là hai nước đối nghịch nhau, đã không cho Pháp thông thương thì cũng không cho Anh thông thương được Năm 1832, phái bộ Edmond Roberts đại diện chính phủ Mỹ đến trình quốc thư, xin thông thương, nhưng vua Minh Mạng không tiếp Bốn năm sau, Roberts trở lại, vua Minh Mạng cử người ra gặp nhưng Roberts bệnh nặng nên thuyền nhổ neo

Riêng đối với Pháp, vua Gia Long đã cố gắng giữ hoà hiếu, tiếp nhận một

số người Pháp vào làm quan trong triều vì người Pháp đã giúp khôi phục nền

thống trị của dòng họ Nguyễn Tuy vậy, vua Gia Long vẫn hạn chế tàu buôn Pháp với lí do là “bờ biển quan yếu”

Trước sức mạnh của các nước tư bản phương Tây, đặc biệt là sau khi phương Tây đánh bại Trung Quốc trong chiến tranh Nha phiến, nhà Nguyễn bắt đầu thay đổi đường lối cũ Minh Mạng đã cử một phái đoàn sang Pháp, Anh để trình bày ý định ký kết những hiệp ước bang giao, thương mại giữa hai nước,

nhưng không thành Minh Mạng cũng gửi hai tàu đi Calcutta và Batavia để thăm

dò động tĩnh của người Anh và người Hà Lan ở đó Nhưng Minh Mạng đã mất trước khi ông có thể làm được nhiều hơn cho phương hướng này Vua Thiệu Trị

và vua Tự Đức kế tiếp nhau trị vì một đất nước “đóng kín” Đến giữa thế kỉ XIX, sức ép xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã bao phủ và đè nặng lên

1

Xem Nguyễn Tiến Lực, Việt Nam trong quan hệ quốc tế thế kỷ XVIII-XIX, Hậu Choson và Triều Nguyễn Việt Nam, NXB Thế giới, 2009, tr 197-210.

Trang 27

nước ta Nhưng vua quan nhà Nguyễn vẫn đắm chìm trong sự tự mãn với những biện pháp đối phó tiêu cực của mình

Tóm lại, từ khi nhà Nguyễn xác lập địa vị thống trị của mình, dù đã thi hành một số chính về chính trị, kinh tế, xã hội nhưng đã không mang lại hiệu quả Bản thân nhà Nguyễn khi lật đổ triều đại Tây Sơn, cai trị đất nước bằng chế độ phong kiến chuyên chế cao độ, đã là một bước lùi trong lịch sử Xuất phát điểm không được lòng dân, cùng những toan tính chỉ nhằm mưu lợi cho giai cấp thống trị đã gây ra những bất ổn trong xã hội Dưới chế độ cai trị của nhà Nguyễn, đời sống người dân sau thời kỳ chinh chiến đã không được cải thiện lại càng bần cùng,

bi thảm hơn Sức dân không được bồi dưỡng Trong nước bất ổn định bởi những cuộc đấu tranh của nhân dân, nền kinh tế cạn kiệt; năng lực quản lý yếu kém, tư duy lạc hậu, bảo thủ của chính quyền nhà Nguyễn, làm cho sức đề kháng của dân tộc suy yêu và đó chính là những nguyên nhân dẫn đến tình thế “bị mở cửa” của đất nước ta

1 1 2 Việt Nam bị mở cửa và biến thành thuộc địa

1.1.2.1 Pháp chiếm Nam Kỳ

Vào ngày 31-8-1858, lấy cớ phản đối chính sách cấm đạo của triều đình Huế, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng vào Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược Việt Nam Trước sự chống trả kịch liệt, thực dân Pháp phải thay đổi kế hoạch, đưa quân vào đánh cửa Cần Giờ Quân Pháp triệt hạ lần lượt 2 đồn từ Cần Giờ đến Gia Định, và ngày 17-2-1859 thì công phá thành Gia Định Quân Nguyễn bị thua

to, Gia Định thất thủ

Ngày 23-2-1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự kháng cự quyết liệt của quân Nguyễn Sau hai ngày chiến sự ác liệt, quân Nguyễn bị tổn thất nặng, phải bỏ đại đồn Chí Hòa, rút về Biên Hòa Sau khi phá được đại đồn Chí Hòa, quân Pháp chiếm đánh lấy Định Tường (Mỹ Tho), đặt đồn lũy khắp nơi để kiểm soát Sau đó, Pháp đánh chiếm Biên Hòa (1861) và Vĩnh Long (1862) Triều

Trang 28

đình Huế ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp Đây chính là hòa ước bất bình đẳng đầu tiên của Việt Nam ký với Pháp, mở đầu cho “cuốn vong quốc sử Việt Nam” từ nửa đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trong lịch sử Việt Nam2

Hình 1: Lễ ký hiệp ước Nhâm Tuất 1862 tại Sài Gòn

Trong khi triều đình Huế nhường từng bước trước quân Pháp và sau đó là cắt đất cho Pháp thì phong trào chống Pháp nổi dậy mạnh mẽ trong dân chúng tiêu biểu của buổi khởi đầu chống Pháp là cuộc khởi nghĩa của Trương Định và

Võ Duy Dương

Trong khi nhân dân miền Đông đứng lên chống Pháp thì triều đình Huế cũng muốn đòi lại ba tỉnh đã mất, bèn cử một phái bộ do Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm phó sứ sang Pháp xin chuộc lại ba tỉnh đã mất Việc thương thuyết chưa ngã ngũ thì quân Pháp tiến hành cuộc đánh chiếm ba tỉnh miền Tây (6-1867) Sau khi mất ba tỉnh miền Tây, nhân dân miền Tây vẫn đứng lên chống Pháp mà điển hình là các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực và Thủ Khoa Huân nhưng đều bị thất bại Nam Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp

Từ sau khi mất Nam Kỳ, có nhiều nhà nho tâm huyết, phần nào nhận thức được tình thế quốc tế, muốn canh tân đất nước theo kịp với thời đại Họ đề nghị

2

Phan Văn Sơn, 1962, Việt sử tân biên, Quyển 5-Việt Nam kháng Pháp sử, Tập Thượng, Thư Lâm ấn

thư quán, Sài Gòn, tr 169

Trang 29

những biện pháp cách tân cùng vua Tự Đức và triều đình Huế Một số quan lại khuyên vua hủy bỏ chính sách bế quan tỏa cảng, mở cửa đón thuyền buôn nước ngoài, nhưng phương án này đều không được chấp thuận

Pháp mở cuộc xâm chiếm Bắc Kỳ

Trong khi Triều đình Huế chưa quyết được một biện pháp cứu nước hữu hiệu, thì quân Pháp thực hiện việc đánh chiếm Bắc kỳ Lấy cớ nhà Nguyễn không cho nhà buôn người Pháp là Jean Dupuis vận chuyển hàng hóa dọc sông Hồng sang Vân Nam, Francis Garnier đem một hạm đội ra Bắc Kỳ Garnier đòi Nguyễn Tri Phương phải khai thông sông Hồng Nguyễn Tri Phương không đồng ý với yêu sách ấy, cương quyết đòi Dupuis phải rời khỏi sông Hồng Ngày 19-11-1873, quân Pháp bất thần cho nã súng tấn công thành Hà Nội Tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy quân lính chống cự Nhưng chỉ non một giờ thì thành Hà Nội bị thất thủ Triều đình Huế điều quân ra Hà Nội phối hợp với quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc bao vây Hà Nội Chỉ huy quân Pháp là Garnier phải đem quân đi chống lại thì bị phục kích chết tại Cầu Giấy Sau cái chết của Garnier, phía Pháp đồng ý nghị hòa Nguyễn Văn Tường thay mặt cho Triều đình Huế ký với Philastre hiệp ước Giáp Tuất (1874), công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, mở cảng Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Phòng)) Pháp đồng ý trả lại Hà Nội và các tỉnh đã bị chiếm ở Bắc Kỳ nhưng Pháp được tự do đi lại, buôn bán và đặt cơ sở kinh tế, chính trị…ở Hà Nội và khắp các tỉnh của Bắc Kỳ Với Hiệp ước này, trên thực tế, Việt Nam trở thành “đất bảo hộ của thực dân Pháp”3

Vào những năm 1880, sau khi vượt qua những khó khăn sau chiến tranh Pháp-Phổ và Công xã Paris, Pháp tiến nhanh trên con đường đế quốc chủ nghĩa Trong khi ấy, Triều đình Huế không có những chính sách kịp thời để canh tân đất nước và cũng không thi hành một biện pháp hữu hiệu nào nhằm chặn đứng cuộc xâm lược của Pháp

3

Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), 1998, Đại cương lịch sử Việt Nam, T II, NXB Giáo dục, tr 44

Trang 30

Để nhanh chóng thôn tính toàn cõi Việt Nam, quân Pháp lại mở cuộc chiến tranh xâm chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 Ngày 26-3-1882, Henri Rivière đưa tàu chiến ra đóng gần Hà Nội rồi đến sáng ngày 25-4, H Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu, đòi phải nộp mở cửa thành đầu hàng Tổng đốc Hoàng Diệu khước từ yêu cầu của Pháp Quân Pháp công phá thành kịch liệt và chiếm được thành Hà Nội

Sau khi chiếm được Hà Nội, quân Pháp tiếp tục đi chiếm các tỉnh Hòn Gai, Cẩm Phả và Nam Định Lúc tình thế nguy cấp, ý định cầu viện nhà Thanh trong Triều đình Huế ngày càng mạnh Thực dân Pháp biết được điều đó nên tìm mọi cách để ngăn cản các phái đoàn cầu viện của Triều đình Huế sang Bắc Kinh Nhà Thanh muốn chứng tỏ vai trò thiên triều của mình nên năm 1882 đã điều động khoảng 10.000 quân đến biên giới và mùa thu năm đó, đã vượt biên giới Vào nước ta, quân Thanh chiếm đóng nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh…Trước sự gia tăng quân đội nhà Thanh, Toàn quyền Pháp tại Nam Kỳ đã gửi thêm quân cho H Rivière

Nhận được tin quân Thanh can thiệp, H Rivière trở về lại Hà Nội Quân Triều đình của Hoàng Tá Viêm phối hợp cùng toán quân Cờ Đen ở Bắc Ninh vây thành Hà Nội H Rivière đem quân chủ lực định vượt Cầu Giấy phá vòng vây nhưng bị pháo nã chận lại Quân Việt Nam tấn công, giết được H Rivière (19-5-1883) Cái chết của H Rivière không làm chùn bước xâm lăng của thực dân Pháp,

mà trái lại, nhân sự kiện này mà chính phủ J Ferry đã thuyết phục được Quốc hội Pháp phê chuẩn một ngân sách lớn cho việc đánh chiếm Bắc Kỳ

Tháng 7-1883, vua Tự Đức mất Triều đình bị chia rẽ thành 2 phe, một bên là phe chủ chiến, một bên là phe chủ hòa Chỉ trong mấy tháng, các phe phái

đã phế lập Hoàng đế đến ba lần Triều đình hết sức rối ren Lợi dụng tình hình ấy, quân Pháp tiến vào đánh Đà Nẵng và tấn công cửa biển Thuận An Ngày 18-8-

1883, quân pháp gửi tối hậu thư cho vua Hiệp Hòa đồng thời công phá thành đồn Thuận Hải Đồn vỡ, các quan giữ thành kẻ tử trận, kẻ tự tử chết Vua Hiệp Hòa

Trang 31

cho người đi gặp quân Pháp xin nghị hòa và chấp nhận những điều kiện của quân Pháp Hiệp ước Quý Mùi (Hiệp ước Harmand) được ký kết vào ngày 25-8-1883 thừa nhận quyền bảo hộ của nước Pháp trên toàn cỏi Việt Nam

Ngay sau khi hiệp ước được ký kết, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ

ở khắp nơi Các tướng của Triều đình như Hoàng Tá Viêm, Trương Quan Đản không chấp nhận việc đầu hàng, liên tiếp tấn công các đồn trại của Pháp ở Bắc Kỳ Chiến sự xảy ra ác liệt với sự hỗ trợ của quân đội chính quy của nhà Thanh Pháp tăng thêm viện binh công phá thành Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang Hoàng Tá Viêm thất trận phải theo đường thượng đạo trở về Huế Triều đình Huế một lần nữa phải ký hiệp ước Đó là hiệp ước cuối cùng, vẫn thường được gọi là hiệp ước Giáp Thân (Hiệp ước Patenootre-1884), công nhận sự đô hộ của Pháp “Nước Việt Nam thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp là nước sẽ thay mặt Việt Nam trong mọi việc giao thiệp với ngoại quốc và bảo vệ người Việt Nam ở nước ngoài”4 Theo Hiệp ước này, iệt Nam bị chia thành ba phần Nam Kỳ là thuộc địa, Bắc Kỳ nửa thuộc địa còn Trung Kỳ là đất bảo hộ Năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp gồm 5 kỳ bao gồm 3 kỳ của Việt Nam cùng với Lào và

Campuchia Cái tên Việt Nam (Đại Nam) bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới

Vào giữa thế kỷ XIX, trước sự đe dọa của các cường quốc phương Tây, trong sự suy yếu của đất nước, nhà Nguyễn không kịp thời nhận thức những thay đổi to lớn của tình hình châu Á sau chiến tranh Thuốc phiện, không có những quyết sách thức thời, tiếp tục chính sách đóng cửa

Thực ra, các vua Gia Long và Minh Mạng có nhận thức được những nguy

cơ từ phương Tây, thậm chí còn có thể biết rằng cuộc chiến tranh thuốc phiện những sự kiện ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng xấu đến việc bảo về nền độc lập của Việt Nam Vào cuối đời Minh Mạng, nhà Nguyễn có những hoạt động tích cực tiếp xúc với các cường quốc phương Tây và có ý định học tập phương Tây

4

Theo Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), 1998, Đại cương lịch sử Việt Nam, Sđd, tr 58

Trang 32

Đến thời vua Thiệu Trị, Tự Đức thì nguy cơ đe dọa độc lập của Việt Nam

là hiện hữu Vua Tự Đức vốn là người trọng sự học, ham văn chương nhưng nhút nhát, không dám đưa ra những quyết sách đúng đắn Vua cũng thấy được tình trạng của đất nước khi nhận xét những điều trần canh tân là “thực sự đã khám phá

ra sự tình” nhưng chỉ thực hiện những việc “nửa vời, mang tính chắp vá, lẻ tẻ, miễn cưỡng” như “cử người đi Luân Đôn mua tàu thuỷ, cử người đi Pháp thuê chuyên gia và mua sắm máy móc để thành lập trường Bách nghệ Huế” Tự Đức đã thiếu quyết tâm, quyết đoán của người chỉ huy tối cao, đúng hơn là bảo thủ, đối lập với cái mới và thiếu tầm nhìn chiến lược xa rộng Vì vậy, mặc dù những nhà canh tân của chúng ta cũng là những người đã từng đi Tây, đã từng tiếp xuc với phương Tây, nhưng những tư tưởng canh tân là quá nhỏ bé so với phe bảo thủ của nhà vua, “rốt cuộc những điều trần canh tân chỉ được các Bộ “sưu tập, giữ gìn cẩn thận” Đất nước chúng ta đã không thể chủ động tiến hành canh tân được, để rồi đành phải chịu tình cảnh những cường quốc hiện đại phương Tây đến mở cửa Trong khi đó, chính sách đóng cửa của triều Nguyễn đã làm Việt Nam mất thế cân bằng lực lượng giữa các cường quốc phương Tây, làm Việt Nam rơi vào thế chỉ phải đối đầu với một nước tư bản duy nhất là Pháp rồi từng bước bị Pháp dùng sức mạnh quân sự mở cửa Bị đặt trong tình thế đó, triều Nguyễn lại thực hiện chính sách đổi đất lấy hoà bình, chủ trương bằng con đường ngoại giao để đòi lại độc lập dân tộc Chính chính sách đối ngoại sai lầm, nhu nhược đó của triều Nguyễn đã làm nước ta mất đi cơ hội giành lại hoà bình, sửa đổi các Hiệp ước bất bình đẳng đã kí, để cuối cùng rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp Việc ký hiệp ước Patenôtre với Pháp chính là thủ tục ngoại giao cuối cùng để Pháp biến Việt Nam thành một nước thuộc địa

Trang 33

1.2 NHẬT BẢN “MỞ CỬA” VÀ DUY TÂN

1.2.1.Nhật Bản “mở cửa”

Trên con đường tìm kiếm các thị trường nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho sự phát triển của tư bản chủ nghĩa, cũng giống như Việt Nam và các nước Đông Á khác, Nhật Bản đang trở thành đối tượng của các nước phương Tây Vào nửa đầu thế kỷ XIX, các nước Anh, Hà Lan và Nga đã liên tiếp gửi các phái đoàn

tới Nhật đòi chính quyền bakufu mở cửa cho các thương thuyền của họ vào Nhật Bản buôn bán Trước những đòi hỏi của các cường quốc, chính quyền bakufu vẫn

không chấp nhận mở cửa Khi thấy không thể giải quyết bằng biện pháp thuyết phục các nước phương Tây dùng đến biện pháp quân sự để buộc chính quyền

bakufu Tokgawa phải mở cửa đất nước

Năm 1853, Mỹ phái hạm đội hải quân hùng mạnh do Đô đốc M Perry dẫn đầu đến Nhật Bản với quyết tâm ép buộc Nhật Bản phải mở cửa M Perry tiếp

kiến với các quan chức bakufu và nhờ họ chuyển cho Shogun quốc thư của tổng

thống Filmore Ngày 17-7-1853, hạm đội của M Perry rời Nhật Bản với lời hứa sẽ quay trở lại nhận quốc thư vào mùa xuân năm tới

Hình 2 : Chiến hạm của M.Perry vào cảng Uraga, Nhật Bản (1853)

Trước áp lực của các tàu chiến hiện đại của Mỹ và kinh nghiệm thất bại của nhà Thanh trước thực dân Anh, chính quyền Bakufu buộc phải từ bỏ chính

Trang 34

sách đóng cửa Sau một thời gian thương thuyết, tháng 3 năm 1854, chính quyền

bakufu đã buộc phải ký Nhật Mỹ hòa thân điều ước (Nichibei Washin Joyaku) hay còn

gọi là Hiệp ước Kanagawa với Mỹ

Sau khi kí hiệp ước với Mỹ, trước sức ép của các nước phương Tây, chính quyền Edo đã lần lượt kí hiệp ước với nhiều nước trên thế giới Ngày 14.10.1854, Nhật Bản phải kí hiệp ước với Anh; ngày 7.2.1855, Nhật kí hiệp ước với Nga; ngày 30-1-1856 kí hiệp ước với Hà Lan

Năm 1856, Tổng Lãnh sự đầu tiên của Mỹ là Townsend Harris đến

Shimoda, thương lượng với chính quyền bakufu về một hiệp ước thương mại toàn diện Trong khi nội bộ của bakufu còn bất đồng thì Ii Naosuke được bổ nhiệm làm Tairo (Đại lão) và ông quyết định kí điều ước thông thương mới với Mỹ; không

đợi sự chấp thuận của Thiên Hoàng Đó là Nhật-Mỹ tu hiếu thông thương điều ước

(Nichibei Shuko Tsusho Joyaku) vào tháng 7 năm 1858 Tương tự như vậy, trước

khi kí Hiệp ước 1858 với Mỹ, Nhật đã phải ký Hiệp ước chính thức với Anh ngày 26-08-1857 và một nghị định với Anh vào ngày 06-06-1862 và Mạc phủ cũng đã

kí những điều khoản bổ sung với Hà Lan ngày 16-10-1857 Trong khoảng thời gian đó Mạc phủ cũng chấp nhận ký Hiệp ước với Nga (19-08-1858), Pháp (09-10-1858)

Việc bakufu ký kết các hiệp ước bất bình đẳng với các cường quốc

phương Tây không chỉ do áp lực của các cường quốc mà đó cũng là kết quả của

những thất bại của bakufu trong việc giải quyết những khủng hoảng đang ngày càng gia tăng trong nước Điều này thể hiện sự bất lực của bakufu về khả năng giải

quyết vấn đề đối nội và đối ngoại, là tiếng chuông báo hiệu cho sự cáo chung của chính quyền Tokugawa

Trang 35

1.2.2.Sự sụp đổ của Tokugawa Bakufu

Sau khi mở cửa, Tokugawa Bakufu vấp phải sự chống đối quyết liệt của phong trào “Tôn Vương nhương Di” và sau đó là phong trào “Tôn Vương đảo Mạc”

“Tôn Vương nhương Di” (Sonno Joi) là một phong trào ủng hộ Thiên Hoàng, đánh đuổi các nước phương Tây

Sau khi Tokugawa ký với các nước phương Tây các hiệp ước mở cửa, các chí sỹ để hành động, “Tôn Vương nhương Di” thực thi các biện pháp mạnh như tấn công người nước ngoài và ám sát các quan chức của chính quyền Tokugawa và

cả những người theo phái Tây học (Yogaku)- Dương học Chính quyền bakufu cho

rằng việc làm đó là “sách động nhân tâm” và đàn áp tàn khốc những chí sĩ

“nhương Di” Vụ đàn áp này được lịch sử gọi là “Ansei Đại ngục” Chính việc đàn áp những người “nhương Di” đã làm chuyển biến từ “Tôn Vuơng nhương Di” thành phong trào “Tôn Vương đảo Mạc”

Để “đảo Mạc” thành công thì phải tổ chức lực lượng Người đầu tiên đề xuất ý tưởng liên minh Choshu và Satsuma làm lực lượng nòng cốt trong việc lật

đổ bakufu là chí sĩ của Tosa là Sakamoto Ryoma Ngày 12 tháng 11 năm 1866 liên minh Satsuma-Choshu đã chính thức được thành lập trong bí mật Cương lĩnh của liên minh này là một bản điều ước gồm sáu điều do chính Ryoma soạn thảo với sự đồng ý của cả Satsuma và Choshu Trên cơ sở hình thành liên minh Satsuma-Choshu thì một liên minh giữa Satsuma và Tosa cũng đã ra đời không lâu sau đó Với sự ra đời của hai liên minh Satsuma-Choshu và Satsuma-Tosa thì lực lượng nồng cốt trong việc lật đổ Tokugawa về cơ bản đã được thành hình

Sau khi liên minh Satsuma-Choshu được hình thành thì phong trào lật đổ Bakufu, khôi phục lại quyền lực cho Thiên Hoàng diễn ra mạnh mẽ Từ đầu năm

1867 đến tháng 10 năm 1867 thì phong trào này diễn ra theo hai khuynh hướng

khác nhau: một là khuynh hướng đánh đổ bakufu bằng phương pháp hòa bình

Trang 36

thông qua chính sách “Đại chính phụng hoàn”; hai là khuynh hướng đánh đổ Bakufu bằng bạo lực, gọi là “vũ lực đảo Mạc” Kết quả là vào ngày 13 tháng 10 năm 1867, Tướng quân Yoshinobu đã tuyên bố trao trả lại quyền lực cho Thiên Hoàng Ngày 8 tháng 12 năm 1867, Thiên Hoàng đã ban sắc lệnh “Vương chính phục cổ” chính thức tiếp nhận chính quyền từ Tướng quân Yoshinobu Sau

“Vương chính phục cổ”, quân đội Triều đình mà lực lượng chủ yếu là các han Tây

Nam đã đập tan ý đồ gây dựng lại quyền lực của nó thông qua một loạt các trận chiến diễn ra từ năm 1868 đến năm 1869 mà lịch sử vẫn thường hay gọi là cuộc chiến tranh Mậu Thìn (Boshin Senso)

Với “Vương chinh phục cổ” vào cuối năm 1867 và cuộc chiến tranh Mậu Thìn (1868-1869), Tokugawa Bakufu đã hoàn toàn bị đánh bại, chính quyền Minh Trị được thành lập, bắt tay ngay vào các cuộc cải cách toàn diện và rộng lớn mà

sau này goi là Minh Trị Duy tân Như vậy, có thể nói từ năm 1868, sự nghiệp duy

tân mới thực sự bắt đầu

1.2.3 Nhật Bản duy tân

1 2.3.1 Thiết lập chính quyền Minh Trị

Sau khi đánh bại hoàn toàn chính quyền Bakufu, chính phủ mới-chính phủ Minh Trị được thành lập

Chính phủ Minh Trị được tổ chức theo hình thức Thái chính quan

(Dajokan), do Hoàng thân Arisugawa no Miya đứng đầu và dưới Thái chính quan

là Nghị Định (Gijo) bao gồm 10 người với thành viên và dưới Nghị định là Tham

dữ (Sanyo) Tuy nhiên, quyền lực thực tế nằm trong tay thế lực Tây Nam như Saigo, Okubo đến từ Satsuma, Kido, Ito đến từ Choshu, Itagaki đến từ Tosa và Okuma đến từ Hizen

Trang 37

Hình 3: Duy tân tam kiệt

Từ phải sang trái: Saigo Takamori, Okubo Toshinichi và Kido Takayoshi

Sau khi được thành lập, tháng 4 năm 1868, Thiên Hoàng Minh Trị cho

công bố Năm điều thề nguyện (Gokajo no goseimon) làm cương lĩnh cho việc xây

dựng một nước Nhật Bản mới:

1 Nghị hội phải được mở rộng rãi và quốc sự phải do công luận quyết định

2 Trên dưới phải một lòng tích cực lo việc kinh luân

3 Từ bách quan văn võ cho đến thường dân, mọi người phải được phép theo đuổi chí nguyện của mình để trong nước không còn nổi bất mãn

4 Phải phá bỏ những tập quán xấu xa và mọi việc dựa trên công đạo (quốc

tế công pháp)

5 Phải thu thập kiến thức trên thế giới để chấn hưng của hoàng quốc5

“Năm điều thề nguyện” được coi như cương lĩnh cho công cuộc Duy tân, xây dựng đất nước Nhật Bản “phú quốc cường binh” và là cơ sở pháp lý để tiến hành hành loạt các cuộc cải cách trên tất cả cá lĩnh vực của đời sống xã hội Nhật Bản

5

Bản dịch này dựa theo Vĩnh Sính, 1991, Sđd, 109

Trang 38

1.2.3.2 Thực hiện “Bản tịch phụng hoàn” và “phế han lập ken”

Ngay từ thời Tokugawa Bakufu, dưới chế độ Baku-Han thì các han đã tồn

tại như những “tiểu quốc”, tương đối độc lập với chính quyền trung ương về kinh

tế, chính trị, quân sự Chính phủ mới chủ trương “Bản tịch phụng hoàn” và trên cơ

sở đó tiến hành “phế Han lập Ken”

Sau “Bản tịch phụng hoàn”, chính quyền Minh Trị còn tiến thêm một

bước trong cải cách chính trị và hành chính:“phế han lập ken” Ngày 14-7-1871, Thiên Hoàng triệu tập đại biểu các han tại Tokyo và đưa ra mệnh lệnh “phế han lập ken” theo đó hơn 265 han tồn tại từ trước đến nay đã bị phá bỏ và thay vào đó

là một hệ thống chính quyền địa phương thống nhất với 3 phủ (fu) và 72 huyện (ken-tương đương với tỉnh của Việt Nam)

Có thể nói chủ trương “Bản tịch phụng hoàn” và “phế han lập ken” đã

giúp cho chính phủ Minh Trị xóa bỏ được tình trạng cát cứ, xóa bỏ những đặc quyền đặc lợi của đẳng cấp phong kiến, củng cố sự thống nhất quốc gia và quyền lực của Thiên Hoàng, từng bước xác lập một nhà nước trung ương tập quyền trên phạm vi toàn quốc, đặt nền tảng cho việc tiến hành những cải cách tiến bộ và quan trọng sau này

1.2.3.3 Cải cách xã hội

Một trong những cải cách quan trọng nhất về mặt xã hội đó là xóa bỏ chế đẳng cấp (Mibun Seido) Như đã nêu trên, xã hội Nhật Bản trong thời Edo được phân chia thành nhiều đẳng cấp rất nghiệt ngã: sĩ, nông, công, thương (shi-no-ko-sho) Ngay năm 1869, chính quyền Minh Trị ra ra sắc lệnh xoá bỏ sự phân chia đẳng cấp sĩ nông công thương, xoá bỏ đặc quyền của tầng lớp võ sĩ và lập ra 4 tầng lớp mới nhưng không có đặc quyền là Hoa tộc (kazoku), sĩ tộc (shizoku), tốt tộc (sotsuzoku)6 và bình dân (heimin) và ra tuyên bố “tứ dân bình đẳng”

6

Năm 1872, tốt tộc bị phế bỏ Bộ phận cấp trên của tốt tộc gia nhập vào sĩ tộc, bộ phận dưới gia nhập vào tầng lớp bình dân

Trang 39

Công cuộc cải cách về mặt xã hội tước bỏ rất nhiều đặc quyền, đặc lợi của tầng lớp võ sĩ cũ nhưng nó giải phóng thân phận cho hàng chục triệu nhân dân lao động,

kể cả các tầng lớp trước đây không được coi là con người nên nó có sức giải

phóng mạnh mẽ sức lao động cho xã hội, tạo nên động lực to lớn cho công cuộc công nghiệp hóa, cận đại hóa đất nước

1.2.3.4 Cải cách giáo dục

Dưới thời Tokugawa, giáo dục Nhật Bản cũng đã phát triển và có được những thành tựu to lớn Ngoài các trường công lập dành riêng cho võ sĩ và quý tộc thì trên khắp cả nước các trường tư thục Terakoya cũng đã được xây dựng Chính nhờ những bước đi tích cực này của chính quyền Tokugawa mà đến năm 1868 tỉ lệ người biêt đọc biết viết ở Nhật Bản tương đối cao (có khoảng 43% nam giới và 10% nữ giới biết chữ) đồng thời tạo ra một mặt bằng dân trí khá cao so với nhiều nước trong khu vực

Tuy nhiên, nền giáo dục thời Tokugawa mang nặng tính “hư

học”(kyogaku), Ít chú trọng giáo dục “thực học”(jitsugaku) và chưa phổ cậo cho toàn dân Năm 1871, thành lập Bộ Giáo dục để quản lý và phát triển giáo dục trong cả nước, hướng tới một nền giáo dục cho toàn dân Tháng 8 năm 1872, Ủy

ban này đề xuất lên chính phủ sơ thảo Học chế, tháng 12 năm 1872 ban hành Học

chế Học chế là luật giáo dục, hướng tới mục tiêu là xây dựng một nền giáo dục

cho mọi người dân và xây dựng xã hội học tập, làm nền tảng cho việc xây dựng Nhật Bản thành quốc gia “phú quốc cường binh”

Hình 4: Fukuzawa Yukichi(1835-1901)

Trang 40

Những tư tưởng của Học chế chịu ảnh hưởng rất nhiều từ kiến nghị của Fukuzawa Yukichi trong tác phẩm “Khuyến học” được phát hành vào tháng 2 năm

1872

Theo Học chế, chính phủ đã học tập hệ thống giáo dục của Pháp, lập nhiều

khu Đại học, Trung học và Tiểu học khắp cả nước Cả nước có 8 khu đại học, mỗi khu đại học có 32 khu trung học, mỗi khu trung học có 210 khu tiểu học Và Bộ Giáo dục thực hiện thống nhất quản lý giáo dục trong cả nước Chính phủ Minh Trị cũng coi trọng giáo dục ở hệ thống các trường chùa Terakoya ở nông thôn

Chính phủ Minh Trị chủ trương cử các sinh viên ưu tú theo học ở các trường đại học nổi tiếng ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan…Các sinh viên này sau khi tốt nghiệp về nước sẽ trở thành các giảng viên của các trường đại học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực quý giá cho sự nghiệp công nghiệp hóa, cận đại hóa Nhật Bản

Đầu thời Minh Trị, chính phủ đã chi rất nhiều tiền để mời các giáo sư nước ngoài đến giảng dạy tại các trường Các giáo sư người Anh chiếm số đông trong bộ phận giảng dạy các nghành luật pháp, khoa học tự nhiên, còn các giáo sư

Mỹ và Pháp chiếm số đông trong các nghành khoa học xã hội Các giáo sư này ngoài việc phụ trách giảng dạy ở các trường đại học còn tích cực giới thiệu nền văn hóa, tư tưởng kỹ thuạt của nước họ cho người dân Nhật Bản, vì thế không chỉ

có giáo dục mà các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, kỹ thuật của Nhật cũng rất phát triển

Từ năm 1868 các trường đại học được tổ chức theo kiểu đại học phương Tây lần lượt được thành lập ở Nhật Bản Năm 1870, ở Tokyo có 6 trường đại học mới được thành lập và đến năm 1877 trường đại học nổi tiếng nhất ở Nhật - Đại học Tokyo được thành lập (đến năm 1886 được đổi tên thành Đại học Đế quốc Tokyo) Điều đáng chú là vào thời kỳ này, ngoài hệ thống trường công rất phát triển thì các trường tư thục, dân lập rất phát triển và rất được khuyến khích nhằm đem lại kiến thức cho mọi người dân Nhật Bản

Ngày đăng: 23/05/2021, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm