1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục nhật bản thời minh trị (1868 1912)

78 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập để phát triển, vì thế nghiên cứu về giáo dục của Nhật Bản thời Minh Trị không chỉ tăng thêm sự hiểu biết về giáo dục của Nhật Bản mà thông qua đó c

Trang 1

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Hoàn

Người hướng dẫn : Nguyễn Văn Sang

Đà Nẵng, tháng 5/ 2013

Trang 2

có nền giáo dục hiện đại và đa dạng Những thành tựu của giáo dục Nhật Bản ngày nay

là sự cộng hưởng của rất nhiều yếu tố, nhiều thành tựu trong lịch sử phát triển giáo dục của Nhật Bản, trong đó có giáo dục thời Minh Trị Chính giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị đã đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của kinh tế và giáo dục của Nhật Bản ngày nay

Từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX, các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ và giành thắng lợi ở nhiều nước châu Âu và Bắc Mĩ đã lật đổ chế độ phong kiến, xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển Sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đặt ra nhu cầu về thị trường và thuộc địa

đã thúc đẩy các nước tư bản phương Tây tiến hành bành trướng và xâm lược thuộc địa Trước nguy cơ xâm lược của thực dân phương Tây, năm 1868 Nhật Bản đã tiến hành cải cách Minh Trị và trở thành nước đầu tiên ở châu Á tiến hành thành công duy tân đất nước để phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa Cuộc duy tân nửa sau thế kỷ XIX đã đưa nước Nhật từ một nước phong kiến trở thành một nước tư bản chủ nghĩa, làm cho nước Nhật thoát khỏi số phận của một nước thuộc địa hay nửa thuộc địa Thành công đó phải kể đến vai trò của giáo dục trong thời Minh Trị

Đối với một đất nước nghèo tài nguyên như Nhật Bản thì yếu tố “con người” và

giáo dục con người được xem như là đòn bẩy thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa đất nước Đầu tư cho giáo dục là con đường ngắn nhất để đuổi kịp và sánh ngang với các nước phương Tây Nhận thức được điều này các nhà lãnh đạo thời Minh Trị đã tiến hành xây dựng hệ thống giáo dục dựa trên cơ sở lấy nền giáo dục truyền thống làm nền tảng cho giáo dục hiện đại Đồng thời khuyến khích và tiếp thu giáo dục phương Tây,

mở rộng và phát triển giáo dục toàn dân, thực hiện cải cách và đổi mới hệ thống giáo dục,… nhằm xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu công cuộc hiện đại hóa đất

Trang 3

nước, làm nền tảng cho việc xây dựng Nhật Bản thành quốc gia “phú quốc cường

binh”

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập để phát triển, vì thế nghiên cứu về giáo dục của Nhật Bản thời Minh Trị không chỉ tăng thêm sự hiểu biết về giáo dục của Nhật Bản mà thông qua đó có thể rút ra một số bài học để tham chiếu, từ đó vận dụng một cách linh hoạt, khéo léo vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục nước

ta trong quá trình hội nhập

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, chúng tôi chọn vấn đề: Giáo dục Nhật

Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) làm khóa luận tốt nghiệp

- Thứ nhất, các công trình nghiên cứu Minh Trị (1868 - 1912) ở Nhật Bản,

tiêu biểu như: Nhật Bản cận đại (Vĩnh Sính, 1990); Tại sao Nhật Bản “thành công” -

Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản (Michio Morishima, 1991); Minh Trị Duy tân và Việt Nam (Nguyễn Tiến Lực, 2010); Nước Nhật Bản 30 năm sau duy tân

(Đào Trinh Nhất, 1936);… Nhìn chung, các công trình này đều khái quát tiến trình phát triển của Nhật Bản thời cận đại và Minh Trị Quan trọng hơn, các công trình còn nghiên cứu về công cuộc cải cách của Minh Trị và những thành công của nó Ở một mức độ nhất định, các công trình cũng đã đề cập đến giáo dục Nhật Bản trong khuôn khổ chung của một cuộc cải cách Tuy nhiên, giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) chưa được coi là đối tượng nghiên cứu chính của các công trình này

- Thứ hai, các công trình nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị:

Nhật Bản - Cách tân giáo dục thời Minh Trị (Fukuzawa Ukichi, 1995); Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân (Nguyễn Văn Hồng, 1994); Hiện đại hóa giáo dục Nhật Bản (Hội Thông tin Giáo dục Quốc tế, 2002); Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lực - Bài học thực tiễn từ Nhật Bản (Đặng Thị Thanh Huyền,

2001),… Nhìn chung, các công trình này mới dừng lại trong khuôn khổ nghiên cứu về

Trang 4

cải cách giáo dục, lịch sử của giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị chứ chưa nghiên cứu về chính sách, mô hình, nội dung, phương pháp giáo dục… dưới thời Minh Trị một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống.

Bên cạnh các công trình sách chuyên khảo, một số bài viết và khóa luận tốt

nghiệp cũng bước đầu đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu như: Cải cách giáo dục ở Nhật

Bản trong thời kỳ Minh Trị và vai trò của nó (Trần Thị Tâm, Nghiên cứu Đông Bắc Á,

2009); Cải cách giáo dục thời Minh Trị Thiên Hoàng 1868 - 1912 (Trần Thị Minh,

Khóa luận tốt nghiệp, 2011)

Với những nguồn tư liệu tác giả tiếp cận được cho thấy rằng, các công trình, bài viết nghiên cứu về giáo dục thời Minh Trị (1868 - 1912) mới bước đầu nghiên cứu hoặc nghiên cứu về một vấn đề của đề tài chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các học giả, chúng tôi tiếp tục tổng hợp tài liệu, nghiên cứu và làm rõ hơn về vấn đề giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ về công cuộc Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản trong giai đoạn từ

1868 - 1912, các nhân tố tác động đến sự phát triển của giáo dục trong thời kỳ này Tìm hiểu về chính sách, mô hình, nội dung, phương pháp giáo dục dưới thời Minh Trị Thông qua chúng tôi muốn giúp cho người đọc đánh giá một cách chính xác hơn, chân thực hơn về vai trò, đặc điểm của hệ thống giáo dục Nhật Bản, cũng như thấy được những ưu điểm, hạn chế của hệ thống giáo dục trong thời kì này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, chúng tôi tập trung vào thực hiện các nhiệm

vụ sau:

- Thứ nhất: Nghiên cứu về bối cảnh lịch sử của Nhật Bản trước cải cách Minh

Trị và những nội dung cơ bản của cuộc cải cách đó

- Thứ hai: Phân tích các nhân tố tác động, chính sách phát triển giáo dục, mô

hình giáo dục cũng như nội dung và phương pháp giáo dục thời Minh Trị

Trang 5

- Thứ ba: Rút ra những đặc điểm chính và đánh giá vai trò, hạn chế của hệ thống giáo dục thời Minh Trị.

4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 ối tượng nghiên cứu

Đề tài coi giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị (1868 - 1912) làm đối tượng nghiên cứu chủ yếu Bên cạnh đó, chúng tôi còn nghiên cứu về bối cảnh, những nội dung cơ bản của Minh Trị Duy tân, đặc điểm, vai trò, hạn chế và tác động của giáo dục đối với sự phát triển của Nhật Bản thời Minh Trị để từ đó góp phần làm rõ đối tượng nghiên cứu chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian và không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu sự phát triển của

giáo dục ở Nhật Bản dưới thời Minh Trị trong giai đoạn từ 1868 - 1912 Ngoài ra, chúng tôi vẫn tìm hiểu về hệ thống giáo dục thời Tokugawa (1603 - 1868) để thấy được sự phát triển liên tục và có tính kế thừa của giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912)

- Về nội dung nghiên cứu: Chúng tôi đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về giáo dục

Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) Trong đó tập trung nghiên cứu và làm rõ các vấn đề sau: Bối cảnh lịch sử để đưa đến công cuộc duy tân ở Nhật Bản thời Minh Trị

và những nội dung chính của cuộc duy tân đó Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến

sự phát triển của giáo dục, chính sách, mô hình, nội và phương pháp giáo dục của Nhật Bản trong thời kì này Dựa trên cơ sở đó để chúng tôi đưa ra một số nhận xét về đặc điển, vai trò cũng như hạn chế của hệ thống giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị Đề tài còn nghiên cứu về sự phát triển của Nhật Bản thời kì Minh Trị để thấy được tác động của nó đối với hệ thống giáo dục trong thời kì này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Nghiên cứu đề tài, chúng tôi đứng trên quan điểm của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

về nghiên cứu lịch sử làm kim chỉ Nam định hướng cho các hoạt động nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài hoàn thành là kết quả của sự kết hợp chặt

chẽ cả hai phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành lịch sử là phương pháp lịch sử

và phương pháp lôgic Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng và kết hợp với các liên ngành

Trang 6

khác như: Phương pháp sưu tầm, xử lý tư liệu; phân tích - tổng hợp, thống kê - mô tả;

so sánh - đối chiếu

6 Nguồn tƣ liệu

- Các công trình sách chuyên khảo: Trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề

tài, chúng tôi đã khai thác từ nguồn tài liệu sách chuyên khảo nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản, về Minh Trị Duy tân, về cải cách giáo dục thời Minh Trị, tiêu biểu như:

Lịch sử Nhật Bản (J.G.Caiger & R.H.P Mason, 2008), Tại sao Nhật Bản thành công - Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản (Michio Morishuma, 1991), Nhật Bản - Cách tân giáo dục thời Minh Trị (Fukuzawa Ukichi, 1995), Lịch sử Nhật Bản (Phan

Ngọc Liên, 1997), Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân (Nguyễn Văn Hồng, 1994),

Minh Trị Duy tân và Việt Nam (Nguyễn Tiến Lực, 2010), Nước Nhật Bản 30 năm sau duy tân (Đào Trinh Nhất, 1936), Giáo dục phổ thông với phát triển chất lượng nguồn nhân lực - Bài học thực tiễn từ Nhật Bản (Đặng Thị Thanh Huyền, 2001),…

- Luận văn, khóa luận và tạp chí chuyên ngành cũng được khai thác một cách

hợp lí nhằm góp phần hoàn thiện thêm cho đề tài này: Hà Lan học và vai trò của nó

đối vơi sự phát triển Nhật Bản trong thời kì cận đại (Phạm Thị Hoàng Điệp, Luận văn

Thạc sĩ, 2005); Biến đổi Nhật Bản trong kỉ nguyên Minh Trị (1868 - 1912)(Hoàng Minh Lợi, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, 2003); Cải cách giáo dục ở Nhật

Bản trong thời kì Minh Trị và vai trò của nó (Trần Thị Tâm, Nghiên cứu Đông Bắc Á,

2009), và một số bài viết có liên quan khác

- Nguồn tư liệu internet: Hoàn thành đề tài này còn là kết quả của việc tham

khảo một số bài viết, tài liệu từ internet như: Vài nét về lịch sử phát triển giáo dục

Nhật Bản (Hương Lan, http://cjs.inos.gov.vn ); Nhật Bản và cải cách Minh Trị trong

nhận thức của Nguyễn Trường Tộ (Nguyễn Tiến Dũng, www.vanhoanghean.com.vn);

Minh Trị và tư bản Nhật, (Cao Huy Thuần, www.anhdao.org); Vai trò của giáo dục

đối với quá trình hiện đại hóa trong thời kì Minh Trị ở Nhật Bản” (Nguyễn Kim Lai,

Đặng Thị Tuyết Dung, vominhtap.bogspot.com);…

7 óng góp của đề tài

Đề tài nghiên cứu về hệ thống giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị (1868 - 1912) nên khi hoàn thành sẽ cung cấp nguồn tư liệu có tính hệ thống về giáo dục dưới thời Minh Trị (1868 - 1912) bao gồm chính sách, quan điểm, mô hình, nội dung và phương

Trang 7

pháp giáo dục Trên cơ sở đó, đề tài rút ra những đặc điểm, đánh giá vai trò, hạn chế

của giáo dục đối với sự phát triển của Nhật Bản trong thời kỳ “mở cửa” hội nhập của

Minh Trị Duy tân

Bài học về duy tân của Nhật Bản là sự thành công về hội nhập và mở cửa, trong

đó giáo dục là nhân tố then chốt Khi nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị,

đề tài sẽ đề xuất một số bài học kinh nghiệm về nhận thức và sự linh hoạt trong việc xây dựng hệ thống, chính sách phát triển giáo dục của nước ta trong giai đoạn hội nhập hiện nay

Ngoài ra, vấn đề nghiên cứu cũng là một nội dung quan trọng trong học tập và giảng dạy lịch sử thế giới cận đại, cho nên đề tài hoàn thành còn là nguồn tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập, đối với sinh viên ngành Lịch sử, Đông Phương học

và những ai quan tâm về vấn đề này

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm ba chương:

- Chương 1: Giáo dục Nhật Bản trong bối cảnh Minh Trị (1868 - 1912)

- Chương 2: Hệ thống giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị (1868 - 1912)

- Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá về hệ thống giáo dục Nhật Bản dưới thời

Minh Trị (1868 - 1912)

Trang 8

NỘI DUNG

Chương 1:

GIÁO DỤC NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH MINH TRỊ

(1868 - 1912)

1.1 Khái quát về Nhật Bản thời Minh Trị

1.1.1 Bối cảnh Nhật Bản tiến hành cải cách Minh Trị

Từ thế kỉ XVI - XVIII, các cuộc cách mạng tư sản lần lượt diễn ra và giành thắng lợi ở các nước Âu - Mĩ như: Hà Lan, Anh, Pháp, 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ,… đã mở đường cho kinh tế tư bản phát triển Chủ nghĩa tư bản với tư cách là một hình thái kinh tế xã hội mới xuất hiện đã có những tác động to lớn đến tình hình kinh

tế và chính trị thế giới Bước sang thế kỉ XIX, các quốc gia tư bản sau một thời gian phát triển trong điều kiên tự do cạnh tranh đã chuyển dần sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa Trong khi đó, các nước châu Á vẫn đang trong tình trạng lạc hậu về kinh tế, chế

độ phong kiến tồn tại dai giẳng đang trên đà suy thoái, vì thế đã nhanh chóng trở thành

mục tiêu trong sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây: “bằng nhiều cách

thức và mức độ khác nhau, các dân tộc châu Á và nhiều quốc gia trên thế giới đã từng bước trở thành thuộc địa và phụ thuộc nặng nề về kinh tế, chính trị vào các nước tư bản phương Tây” [54] Sự xâm nhập và quá trình đẩy mạnh xâm lược của chủ nghĩa

thực dân phương Tây đối với các nước châu Á không chỉ đặt các nước này trước nguy

cơ trở thành thuộc địa, phụ thuộc mà còn làm thay đổi hệ tư tưởng của tầng lớp trí thức tiểu tư sản, tư sản dân tộc và quý tộc mới ở các quốc gia châu Á, góp phần vào thúc đẩy sự chuyển biến về chính trị, xã hội của các quốc gia châu Á lúc bấy giờ Trong bối cảnh đó, yêu cầu các quốc gia châu Á phải có sự lựa chọn hợp lý để tìm ra giải pháp cho sự phát triển của đất nước phù hợp với thời đại

Ở Nhật bản, cho đến giữa thế kỷ XIX, sau hơn 200 năm thống trị, chế độ Mạc phủ Tokugawa đứng đầu là Shogun đã lâm vào tình trạng suy yếu trầm trọng, không đáp ứng được sự phát triển trước những yêu cầu của xã hội Có thể nói, đây là thời kỳ

mà trong lòng xã hội phong kiến Nhật Bản chứa đựng nhiều mâu thuẫn tạo ra những

tiền đề cần thiết chuẩn bị cho một sự kiện lịch sử lớn, đó là: “việc lật đổ nền thống trị

của Tokugawa trả lại quyền lực cho Thiên hoàng mà thực chất là đưa Nhật Bản phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa” [45, tr.84]

Trang 9

Lúc này, nền kinh tế nông nghiệp vẫn dựa trên quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, chế độ thuế khóa nặng nề Việc nộp tô thuế bằng tiền khiến cho những người nông dân ngày càng lệ thuộc hơn vào thương nhân, những người cho vay nặng lãi và những phú nông giàu có Tình trạng mua bán ruộng đất gia tăng ngày càng phổ biến, bất chấp lệnh cấm của chính quyền Tokugawa đã làm cho diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp Nếu như ở nông thôn, nông nghiệp ngày càng lạc hậu và sa sút thì ở các thành thị, hải cảng, kinh tế hàng hóa và quan hệ hàng hóa - tiền tệ ngày càng phát triển Các công trường thủ công xuất hiện ngày càng nhiều hình thành nên các vùng chuyên môn sản xuất những mặt hàng thủ công nhất định đã làm cho thợ thủ công ngày càng tăng lên về số lượng lẫn tay nghề [33, tr.38], điều này đã làm nảy sinh những mầm mống của chủ nghĩa tư bản trong lòng chế độ phong kiến Đẳng cấp thương nhân có số lượng đông đảo và giàu lên nhanh chóng, trở thành chủ nợ của các Daimyo địa phương và cả Mạc phủ Họ có vai trò ngày càng lớn, quyết định đến sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp Họ là người định đoạt giá cả, tạo ra mức giá tương

đối ngang bằng giữa các vùng “đem lại sự phát triển đồng nhất và bước đầu đặt cơ sở

cho sự ra đời của một thị trường kinh tế thống nhất ở Nhật Bản” [41, tr.164] Trước sự

phát triển mạnh mẽ của đẳng cấp công thương cùng những mầm mống của chủ nghĩa

tư bản, chính quyền Mạc phủ đã dùng nhiều biện pháp để kiểm soát hoạt động của các

công trường thủ công làm cho tầng lớp công thương ngày càng chán ghét chính quyền

Tokugawa - rào cản chính thức cho sự phát triển của họ Chính điều này đã dẫn đến nhu cầu cần phải xác lập quan hệ kinh tế mới để tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa phát triển

Đến giữa thế kỉ XIX, Nhật Bản về cơ bản vẫn là quốc gia phong kiến Thiên hoàng có vị trí tối cao nhưng quyền lực thực tế lại thuộc về Shogun dòng họ Tokugawa Tuy nhiên, càng về cuối của thời kỳ Tokugawa, thiết chế chính trị có xu hướng phân ra thành ba cực: Triều đình Thiên hoàng, Mạc phủ và lãnh chúa các địa phương Thực tế cho thấy rằng, quan hệ giữa Mạc phủ Edo và lãnh chúa ở địa phương vốn luôn hàm chứa những mâu thuẫn không thể điều hòa đang đứng trước nguy cơ tan

rã Uy thế và ràng buộc chính trị giữa Mạc phủ Edo và lãnh chúa các Phiên ở địa

phương cũng không còn được như trước Trên thực tế, Mạc phủ “đã mất dần đi uy lực

chính trị và cũng không còn khả năng lãnh đạo đất nước nữa Cùng với sự đe dọa của

Trang 10

các nước phương Tây, sự rối loạn về chính trị trong nước và tình trạng suy kiệt về tài chính đã đẩy chính quyền Tokugawa lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc” [23, tr.59]

Từ đó, phong trào chống lại sự thống trị của Mạc phủ ngày càng lan rộng ra khắp Nhật Bản Từ 1850 - 1867, trong khoảng thời gian 278 năm đã diễn ra 2709 cuộc đấu tranh của nông dân, trong đó có 1192 trận xảy ra trong khoảng thời gian 67 năm ngay trước khi Minh Trị Duy tân [32, tr.36 - 37]

Trong khi đó, về mặt xã hội, dựa trên quan điểm Khổng giáo, chính quyền Tokugawa chia các cư dân trong xã hội thành 4 thành phần: sĩ, nông, công, thương Vào cuối thời Tokugawa, mặc dù chính phủ Shogun đã cố gắng làm cho đất nước vươn lên nhưng lại muốn duy trì nguyên trạng các đẳng cấp Tuy vậy, sự phát triển của

quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa “đã làm xói mòn những giá trị tưởng chừng như bất

biến, làm thay đổi địa vị kinh tế của các đẳng cấp trong xã hội tạo nên sự phân hóa giữa các tầng lớp trong một đẳng cấp” [39, tr.11] Tầng lớp Daimyo là những lãnh địa

phong kiến lớn, quản lý các vùng lãnh địa trong nước, có quyền lực tuyệt đối trong lãnh địa của họ, có chế độ thuế khóa, luật pháp và quân đội riêng Càng về cuối thời Tokugawa, tầng lớp này phân chia thành hai thế lực: thế lực các Phiên ở phía Bắc kinh

tế kém phát triển nên họ trở thành lực lượng bảo thủ Ngược lại, các Phiên ở phía Tây Nam có nền kinh tế phát triển, có xu hướng cách tân, chống lại tính bảo thủ và sự hạn chế của chế độ quân chủ phong kiến Chính các lãnh chúa ở đây đóng vai trò quan trọng trong việc lật đổ chế độ Mạc phủ Tokugawa

Tầng lớp Samurai thuộc giới quý tộc hạng trung và nhỏ, không có ruộng đất, chỉ phục vụ các Daimyo bằng việc huấn luyện và chỉ huy các đội vũ trang để hưởng bổng lộc Nhật Bản thời cận đại, bộ phận này chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm tới 6% dân

số, tỷ lệ đó lớn hơn nhiều so với đẳng cấp quý tộc châu Âu và lớn hơn cả tầng lớp quan lại nho sĩ ở Trung Quốc [26, tr.379] Do một thời gian dài không có chiến tranh, địa vị của Samurai giảm sút, lương bổng thất thường, đời sống khó khăn dẫn đến không ít người đã đem bán những đồ gia bảo, kiếm hay những trang phục truyền thống của dòng họ đến các hiệu cầm đồ bán cho thương nhân với giá rất thấp Bên cạnh đó,

có một bộ phận võ sĩ muốn làm giàu bằng nghề buôn bán nhưng vì danh dự nên họ phải nhờ qua thương nhân vì thế phải phụ thuộc vào thương nhân từ giá cả đến lợi nhuận Hậu quả của tình trạng này là làm giảm sút sự tôn quý của tầng lớp võ sĩ vốn

Trang 11

được giữ gìn một cách thiêng liêng từ thế hệ này sang thế hệ khác, điều đó tạo nên tâm

lý bất mãn trong đẳng cấp võ sĩ

Ngược lại, tầng lớp tư sản công thương nghiệp ngày càng giàu có, mặc dù về kinh tế, họ là chủ nợ của các Daimyo và chính quyền Mạc phủ nhưng về địa vị xã hội, tầng lớp này bị xếp vào loại thấp nhất Họ bị sự chèn ép, kìm hãm từ phía chính quyền Shogun, điều này là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mâu thuẫn giữa họ với chính quyền Shogun, làm cho mâu thuẫn đó ngày càng gay gắt hơn Sự trổi dậy mạnh mẽ của các thương nhân thời Tokugawa vừa là hệ quả của sự phát triển tự nhiên theo quy luật vận động của kinh tế, vừa chịu sự tác động chi phối sâu sắc của cơ chế chính trị lúc bấy giờ

Giai cấp nông dân với 80 - 90% dân số, là lực lượng sản xuất chính lúc bấy giờ Mặc dù người nông dân có quyền canh tác trên mảnh đất cha truyền con nối của mình, nhưng trong quy định của pháp luật Nhật Bản thời kỳ này lại không cho phép họ chiếm hữu đất đai Họ phải nộp tô theo mức quy định là ½ hoa lợi thu hoạch nhưng còn phải chịu rất nhiều loại thuế phụ nặng nề, tình cảnh bị bóc lột khốn khổ của người

nông dân được thể hiện qua câu nói truyền miệng từ thời đó “nông dân như hạt vừng,

càng ép càng ra dầu” [45, tr.78] Càng về cuối thời Tokugawa, quan hệ kinh tế hàng

hóa càng xâm nhập vào nông nghiệp làm cho đời sống của nông dân khó khăn hơn vì phải nộp thuế bằng tiền thay vì nộp hoa lợi như trước đây Không những thế, thời kỳ này hiện tượng mua bán ruộng đất gia tăng bất chấp cả lệnh cấm của Mạc phủ đã làm cho người nông dân mất dần hết đất canh tác Nhiều người phải rời bỏ quê hương ra thành thị hoặc trở thành những kẻ lang thang, đó là nguồn cư dân cơ sở của thành thị

và cũng là nguyên nhân chính để dẫn đến các cuộc đấu tranh của nông dân trong thời

Trang 12

những hiểu biết về phương Tây, những người trí thức Tây học luôn trăn trở về vận mệnh dân tộc và họ nhận thấy rằng: không nên coi khoa học phương Tây gắn liền với Thiên chúa giáo Nền khoa học đó có ưu thế hơn so với khoa học Nhật Bản và việc tiếp thu nó sẽ có lợi cho dân tộc, văn minh phương Tây tiến bộ hơn cả văn minh Trung Hoa mà trong hàng thế kỷ người Nhật từng ngưỡng mộ và lĩnh hội Từ đó, họ quyết

tâm tiếp thu văn minh phương Tây: “Nhiều ấn phẩm của châu Âu đã được trí thức

hăm hở dịch sang tiếng Nhật và qua đó những tri thức, khoa học, thành tựu công nghiệp châu Âu được truyền bá vào Nhật Bản” [23, tr.57] Không chỉ đóng vai trò là

lực lượng truyền bá kiến thức phương Tây vào trong nước thời kỳ Nhật Bản “đóng

cửa” mà ngay cả trong thời kỳ “mở cửa”, lực lượng này cũng đóng vai trò lãnh đạo

trong công cuộc Minh Trị Duy tân, góp phần đưa Nhật Bản sánh ngang với văn minh phương Tây

Tóm lại, đến cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX thì Nhật Bản đã lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, Cùng với những chuyển biến nhanh chóng trong kinh tế - xã hội và sự suy yếu, bất lực của chính

quyền Mạc phủ “đã báo hiệu cho sự thay đổi lớn lao trong xã hội Nhật Bản sắp diễn

ra” [32, tr.43]

1.1.2 Nội dung cơ bản của cải cách Minh Trị

Trong hệ thống các Thiên hoàng của Nhật Bản, Minh Trị Thiên hoàng là vị Thiên hoàng thứ 122, tại vì 45 năm (1868 - 1912) Trong thời gian Minh Trị Thiên hoàng cầm quyền, lịch sử Nhật Bản đã gắn với nhiều chuyển biến trọng đại mà cuộc Duy tân Minh Trị là dấu mốc quan trọng nhất Nó đã đưa nước Nhật từ một xã hội phong kiến sang xã hội tư bản chủ nghĩa, sức sản xuất xã hội được nâng lên nhanh chóng Chế độ Thiên hoàng cận đại của Nhật Bản được thừa nhận trong Hiến pháp

1889 nhưng cuộc cải cách Minh Trị lại bắt đầu từ tháng 1 - 1868, theo đó đưa Meiji (Minh Trị) lên cầm quyền, chấm dứt sự thống trị của Mạc phủ kéo dài suốt hơn hai trăm năm

Về chính trị, ngay khi lên cầm quyền, Thiên hoàng tuyên bố thủ tiêu chế độ Mạc phủ để thành lập chính phủ mới trong đó đại biểu của tầng lớp quý tộc tư sản hóa đóng vai trò quan trọng Chính phủ mới đã từng bước khôi phục lại quyền lực của Thái chính quan Ban đầu Thái chính quan được chia làm ba viện: Chính viện (Nội các

Trang 13

chính phủ), Hữu viện (cơ quan tư pháp), và Tả viện (cơ quan lập pháp), các cơ quan này được cải cách nhiều lần vào các năm 1871, 1873, 1875, 1877 và duy trì đến năm

1885, khi chính quyền Minh Trị thực thi chế độ Nội các Cùng với tam viện, chính quyền còn thiết lập sáu bộ: bộ Dân vụ, bộ Quốc phòng, bộ Tài chính, bộ Tư pháp, bộ Hoàng cung, bộ Ngoại giao Trong chính quyền mới, đại biểu của tầng lớp quý tộc tư sản hóa đóng vai trò quan trọng, đa số trong số họ có nguồn gốc từ các Phiên Tây Nam Trong số 162 người được chỉ định vào những chức vụ quan trọng trong chính quyền mới thì những người xuất thân từ các Han Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen chiếm đến 82 người, chiếm 51,6% tổng số quan chức trong chính phủ [33, tr.71 - 72] Ngày 11 - 2 - 1889, Hiến pháp đầu tiên của Nhật Bản được công bố Đây được xem là

bộ luật căn bản của nhà nước Nhật Bản trong suốt thời kì Minh Trị đến năm 1946 Hiến pháp quy định quyền lực tuyệt đối của Thiên hoàng, Quốc hội gồm có hai viện: Viện quý tộc và Viện dân biểu hay còn gọi là viện bình dân Quốc hội có khả năng phản ánh rộng rãi ý kiến của nhân dân thực hiện quyền bình đẳng giữa các công dân, ban bố quyền tự do đi lại,… Như vậy, Hiến pháp mới được ban hành xác lập một cách

rõ ràng thể chế chính trị mới của Nhật Bản đó là chế độ quân chủ lập hiến Nội dung

và tinh thần của Hiến pháp “là ví dụ điển hình của quan điểm xây dựng một mô hình

Nhà nước hiện đại theo kiểu phương Tây nhưng vẫn kết hợp, duy trì những yếu tố truyền thống” [41, tr.177] Để xóa bỏ tình trạng phân quyền và tập trung quyền lực vào

tay nhà nước, ngày 12 - 7 - 1871 chính phủ Minh Trị đã đưa ra mệnh lệnh “phế Han

lập Ken”, theo đó hơn 265 Han tồn tại từ trước đến nay bị xóa bỏ, thay vào đó là một

hệ thống chính quyền địa phương thống nhất với 3 phủ và 72 Ken Có thể coi đây là bước ngoặt trong cải cách thể chế chính trị ở Nhật Bản bởi sự kiện này đã chấm dứt vai trò của các Daimyo với tư cách là một lãnh chúa phong kiến

Về kinh tế, song song với cải cách chính trị để xây dựng một mô hình nhà nước mới, chính quyền Minh Trị cũng đã tiến hành sửa đổi, loại bỏ những rào cản phát triển kinh tế vốn tồn tại từ thời Tokugawa

Trong công nghiệp, năm 1870, chính quyền Minh Trị đã thành lập bộ Công nghiệp Năm 1874, bộ Tài chính cũng ra đời để phụ trách ngành công nghiệp, tài chính Trong lĩnh vực này, trước tiên chính phủ Minh Trị tăng cường cũng cố về mặt quân sự Trong vòng 20 năm từ 1875 - 1895, đầu tư cho công nghiệp của chính phủ

Trang 14

mới chiếm khoảng 30 - 40% tổng đầu tư quốc gia [32, tr.96] Cơ sở thiết bị và cơ sở công nghiệp được chú trọng xây dựng, bắt đầu mở rộng xu hướng xuất khẩu để chấn hưng sản nghiệp trong nước Luật khoáng sản được ban hành năm 1873 nhằm bảo hộ quyền khai khoáng, đưa những kỹ thuật khai khoáng vào sử dụng Ngoài công nghiệp nhà nước ra thì chính phủ Minh Trị cũng rất chú trọng phát triển công nghiệp tư nhân với số vốn cho vay tập trung từ năm 1873 - 1881 đạt 53 triệu Yên Năm 1882, ngân hàng Nhật Bản chính thức thành lập, những loại tiền tệ do một số lãnh chúa địa phương lưu hành trước đó bị thu lại và cấm lưu thông, Nhật Bản sử dụng một loại tiền

thống nhất do “cục Đúc tiền” phát hành để tạo điều kiện cho việc giao lưu buôn bán

trong nước Ngoài ra, chính quyền Minh Trị còn tiến hành thống nhất đo lường, thống nhất thị trường trong nước, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống để tạo điều kiện cho kinh tế phát triển

Trong nông nghiệp, nhà nước đã tiến hành cải cách địa tô nhằm hủy bỏ chế độ

tô thuế bất bình đẳng trước đây và thực hiện công bằng tô thuế, chuyển từ thuế hiện vật sang thuế hiện kim, hủy bỏ cấm mua bán ruộng đất và công nhận quyền sở hữu đất

đai Mặc dù còn mắc phải những hạn chế nhất định nhưng “phần lớn thuế đất và địa tô

được chuyển hóa thành tiền vốn một cách trực tiếp, góp phần giải quyết những khó khăn to lớn về tài chính và là nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [32, tr.83] Tăng cường phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông

thôn, đưa kinh tế nông thôn trở thành nơi cung cấp những mặt hàng xuất khẩu như: trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa

Về quân sự, thay vì chỉ dựa vào lực lượng quân sự các Han trước đó thì chính quyền nhà nước đã tiến hành cải cách quân sự nhằm tiến tới xây dựng một quân đội thống nhất, đủ sức đương đầu với các thế lực bên ngoài Để đạt được mục đích đó, chính phủ mới đã tiến hành tổ chức và huấn luyện quân đội theo kiểu phương Tây Dưới thời kì Omura làm Bộ trưởng của Binh bộ thì quân đội được xây dựng theo mô hình của Pháp Tuy nhiên, khi quân Pháp đại bại trong chiến tranh Pháp - Phổ (1870 - 1871), thì ông lại chủ trương tổ chức và huấn luyện quân đội theo mô hình của Phổ Người kế nghiệp ông là Yamagata đã nghiên cứu mô hình quân sự của các nước phương Tây và quyết định chọn nước Phổ làm kiểu mẫu để xây dựng cho lực lượng quân đội còn non trẻ của Nhật Yamagata còn đầu tư cho việc mở trường quân sự

Trang 15

Kyoto nhằm chuẩn bị cho đội ngũ quân sự kế tiếp, cho lập căn cứ quân sự lớn ở các nơi như Tokyo, Sendai, Osaka, Kumamoto nhằm tăng cường sự kiểm soát của chính quyền trung ương về mặt quân sự Thời kì này chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho chế

độ trưng binh thời kì Tokugawa Theo đó, tất cả con trai đủ 20 tuổi đều phải có nghĩa

vụ nhập ngũ trong 3 năm và 6 năm dự bị, học sinh được tạm miễn nghĩa vụ, những thanh niên có học vấn thì được giảm thời gian đi nghĩa vụ Bên cạnh đó, chính quyền Minh Trị cũng chú trọng việc thu mua vũ khí hiện đại của phương Tây, cho người ra nước ngoài học tập và nghiên cứu để có thể tự chế tạo vũ khí, thuê chuyên gia nước ngoài hướng dẫn đóng tàu chiến, tiến hành sản xuất vũ khí, đạn dược, đóng tàu,… Nhờ

những cải cách mà quân đội Nhật Bản từng bước phát triển và “chỉ trong vòng vài

chục năm ngắn ngủi, Nhật Bản đã xây dựng được một lực lượng quân sự hùng hậu và thiện chiến và thành quả lớn nhất là chiến thắng Trung Quốc vào năm 1894 - 1895”

[32, tr.88]

Về văn hóa - giáo dục, theo chủ trương tiếp thu văn minh phương Tây của nhà nước mới nhằm hiện đại hóa đất nước, thời Minh Trị khắp cả nước lan rộng phong trào văn minh khai hóa Phong trào đã làm thay đổi bộ mặt các đô thị với những ngôi nhà mới có kiến trúc theo lối phương Tây, dàn đèn có kiến trúc lạ được thắp bằng khí đốt Ngay cả người Nhật cũng thay đổi theo phong cách phương Tây, nhất là những người

có địa vị, họ mặc âu phục sang trọng, đội mũ phương Tây, đi những đôi giày da bóng loáng, cắt tóc ngắn, để râu trông rất sang trọng, không kém gì người phương Tây Thiên hoàng Minh Trị là người đi đầu trong phong trào cắt tóc ngắn, mặc âu phục phương Tây, ngay cả phụ nữ cũng mặc váy ngắn và uốn tóc theo kiểu phương Tây

Âm lịch cũng được bỏ để theo Dương lịch, ăn uống cũng sử dụng thịt bò thông dụng theo kiểu phương Tây Chính những điều này đã làm thay đổi dần diện mạo đời sống văn hóa Nhật Bản Để nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu tiếp thu kỹ thuật và phát triển xã hội, chính phủ Nhật Bản còn chú ý đến cải cách giáo dục và thi hành chế

độ giáo dục cưỡng bức Các nhà lãnh đạo Minh Trị đã sớm nhận thức rằng muốn xây dựng một nước Nhật mới thì không thể bắt đầu với số đông quần chúng mù chữ Vì thế, chế độ giáo dục bắt buộc được đưa vào thực hiện nhằm nâng cao trình độ dân trí

cho nhân dân “Từ nay trở đi, chúng thứ nhơn dân, không kể hoa tộc sĩ tộc, cùng là

các hạng cày ruộng, làm nghề, đi buôn, cho đến đàn bà con gái cũng vậy, tất sao

Trang 16

trong làng đừng còn một nhà nào không học, trong nhà đừng một người nào không học” [38, tr.121] Nhờ đó, năm 1873 mới chỉ có 28% tổng số cư dân đến tuổi đi học thì

năm 1882 con số này đã tăng lên 50%, năm 1895 là 67%, 1904 là 98% [41, tr.181] Kết quả này cũng góp phần phản ánh sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân đối với chế độ giáo dục bắt buộc của nhà nước Với những con số này, Nhật Bản trở thành một nước đầu tiên ở châu Á lúc bấy giờ có số lượng lớn quần chúng nhân dân biết đọc, biết viết -

là một ưu thế lớn của Nhật Bản tại châu Á vào nửa đầu thế kỷ XX

Trong nội dung giáo dục, chính quyền Minh Trị chú ý đến nội dung khoa học

kỹ thuật trong chương trình giảng dạy, nhà nước Nhật Bản cũng ưu tiên mở những ngành học thuộc những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến nhu cầu phát triển kinh tế quốc phòng và phòng thủ đất nước như kỹ thuật thương mại, ngân hàng, chế tạo vũ khí,…

Để tiếp thu một cách nhanh và hiệu quả nhất khoa học kỹ thuật của phương Tây, chính phủ Minh Trị đã chi rất nhiều tiền để mời các học giả và chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy và làm cố vấn điều hành tại các công trình xây dựng và các nhà máy Theo thống kê của chính phủ, cho đến năm 1890, ở Nhật Bản có khoảng 3000 chuyên gia làm cố vấn cho nhà nước trong đó có khoảng 170 chuyên gia được mời giảng dạy trong ngành giáo dục trong suốt thời Minh Trị Các giáo sư người Anh chiếm đa số trong bộ phận giảng dạy các ngành về luật pháp, khoa học tự nhiên, còn giáo sư người

Mĩ và người Pháp chiếm số đông trong các ngành khoa học xã hội Số chuyên gia giảng dạy ở Nhật Bản giảm dần theo từng năm vì chính phủ Nhật đã ý thức được tinh thần tự lực trong việc cử sinh viên đi du học nước ngoài để về thay thế họ

Để tạo nguồn nhân lực đáp những nhu cầu phát triển của đất nước trong tương lai, chính phủ Minh Trị đã cử nhiều học sinh giỏi đi du học ở các nước phương Tây

Số học sinh này được bộ Giáo dục giao cho các trường lựa chọn từ những học sinh giỏi, có đạo đức tốt để gửi đi du học Du học sinh cũng được chia làm hai loại: một loại được chính phủ tài trợ và một loại tự túc Năm 1873, tổng số du học sinh là 373 người bao gồm sinh viên nhận học bổng của chính phủ là 250, và số tự túc là 123 người [32, tr.91] Hai nước được chính phủ gửi sinh viên sang nhiều nhất là Mĩ và Anh, ngoài ra còn có Pháp, Đức, Hà Lan,… Các sinh viên này được đào tạo xong sẽ trở thành những giảng viên tại các trường đại học, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của Nhật Bản

Trang 17

Như vậy, với một chuỗi các cải cách rộng lớn trên tất cả các lĩnh vực, chính quyền Minh Trị đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt đất nước, con người Nhật Bản, tạo

ra những nền tảng căn bản cho việc thiết lập một nhà nước hiện đại theo hướng tư bản chủ nghĩa Đánh giá về những thành công đó, nhà nghiên cứu Đào Trinh Nhất trong

cuốn “nước Nhật Bản 30 năm sau duy tân” đã nhận xét “sự thay cũ đổi mới của Nhựt

Bổn mau lẹ quá chừng ai cũng phải kinh hoàng sửng sốt” [38, tr.92]

1.2 Các nhân tố tác động đến sự phát triển của giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị 1.2.1 Kế thừa giáo dục của Nhật Bản thời Tokugawa (1603 - 1868)

Dưới thời Mạc phủ Tokugawa, Nhật Bản vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu cùng với đó là chế độ phong kiến đã lỗi thời và ngày càng suy thoái Chế độ giáo dục trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc của văn minh cổ đại Trung Hoa

và Triều Tiên Cuối thời kì này, cùng với sự phát triển của các mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa thì việc học tập kiến thức phổ thông cũng được quan tâm như là một phương thức chủ yếu nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho nhân dân

Giáo dục thời Tokugawa là để khẳng định địa vị của con người trong xã hội, vì vậy hệ thống giáo dục thời kỳ này được tổ chức cho từng đẳng cấp khác nhau và giữa các đẳng cấp ấy cũng có sự phân biệt rõ nét Thời kì này, ở Nhật Bản tồn tạo song song hai hệ thống giáo dục: giáo dục của tầng lớp võ sĩ và giáo dục cho tầng lớp bình dân

Tầng lớp võ sĩ là đẳng cấp hùng mạnh nhất trong xã hội phong kiến Nhật Bản,

là người quản lý chính phủ trong thời kì này, vì vậy giáo dục cho tầng lớp này được nhà nước đặc biệt chú trọng Chương trình học tập của võ sĩ bao gồm cả giáo dục quân

sự lẫn giáo dục dân sự Giáo dục dân sự chủ yếu là các giáo lý của đạo Khổng mà phần

lớn được dạy theo lối ghi nhớ và thuộc lòng “Học về quân sự như đấu kiếm, bắn cung

hẳn đã bớt đi sự buồn chán cho hầu hết học sinh, sinh viên Vào cuối thời kì này, một

số trường trung học có dạy thêm một số môn học của Tây phương, đặc biệt môn bắn súng” [5, tr.283] Hầu hết, các trường học dành cho võ sĩ đều duy trì chế độ giáo dục

hà khắc, coi trọng sự khác biệt về đẳng cấp và mỗi loại võ sĩ thì có một chế độ giáo dục riêng nhằm xây dựng một đội ngũ những người có tư chất lãnh đạo và có khả năng

tư duy cao, hiểu biết sâu rộng Chính hệ thống giáo dục thời Tokugawa là nhân tố để cho giáo dục thơi Minh Trị kế thừa về thành tựu, về nội dung giáo dục trong một số

Trang 18

môn học tiếp thu từ phương Tây đặc biệt là về đường lối giáo dục phục vụ cho mục đích chính trị

Do điều kiện kinh tế, xã hội có nhiều chuyển biến sâu sắc dẫn đến vai trò của giáo dục cũng ngày càng được coi trọng Những người dân thường cũng muốn con cái mình được đến trường để học chữ, học tính vì thế giáo dục bình dân cũng từ đó mà ra đời Giáo dục cho tầng lớp bình dân nói chung có tính thực tiễn hơn Tức là nội dung giáo dục được tập trung vào việc cung cấp những kiến thức cơ bản về đọc và viết tiếng Nhật, học làm toán đơn giản và những điều cơ bản về lòng hiếu thảo và lòng trung

thành Người dân thường không được nhận vào học tại các trường hanko (các trường của tầng lớp võ sĩ) mà nhu cầu học tập của họ được tiến hành ở tại các trường chùa (terakoya) Ước tính cuối thời Tokugawa có khoảng 14000 ngôi trường như thế ở Nhật

Bản Đó thường là những ngôi trường tư thục có 1 phòng với 1 thầy dạy cho một nhóm học sinh gồm nhiều độ tuổi và năng lực khác nhau [21, tr.102] Cho đến khi chế độ Mạc phủ sụp đổ, những trường chùa này vẫn là khối học đường lớn nhất, phục vụ đắc lực cho nhu cầu học tập của nhân dân Chính giáo dục bình dân thời Tokugawa là cơ

sở cho sự ra đời của chế độ giáo dục bắt buộc trong thời kỳ Minh Trị Đồng thời cũng

là điều kiện để phát triển nhanh chóng dân trí và phổ biến tri thức trong công cuộc Minh Trị Duy tân Nhà nước Minh Trị cũng đã kế thừa hệ thống trường chùa, đội ngũ giáo viên, tính thực tiễn trong nội dung giáo thời Tokugawa đã đạt được để xây dựng chương trình giáo dục mang tính thực dụng trong thời Minh Trị

Từ nhu cầu học tập của người dân cũng như sự quan tâm và tạo điều kiện của chính quyền Tokugawa đã đem lại thành tích đáng nể trong giáo dục Vào năm 1800, tất cả các thành viên tầng lớp Samurai đều biết chữ từ lâu Nếu tính chung cho cả nước thì đến năm 1868 tỷ lệ người biết đọc biết viết ở Nhật Bản tương đối cao (có khoảng 43% nam giới và 10% nữ giới biết chữ) Điều quan trọng hơn là không chỉ có trẻ em

thuộc tầng lớp quý tộc và Samurai được đi học mà còn có “khoảng 40 - 50% và 10 -

15% trẻ em gái của tầng lớp bình dân trong độ tuổi đi học đã được đến trường” [20,

tr.103] Những con số này quả là phi thường đối với một xã hội đang đứng trước thềm của hiện đại, đồng thời nó cũng góp phần rút ngắn khoảng cách giữa các tầng lớp trong

xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ

Trang 19

Góp phần làm nên thành tựu to lớn trong ngành giáo dục thời Tokugawa ta

không thể không kể đến vai trò của các trường học tư thục (shijuku) Những trường

này dạy chuyên môn về một ngành khoa học hoặc quân sự cho thanh niên không phân biệt đẳng cấp Từ sau năm 1870, trên phạm vi cả nước có khoảng hơn một ngàn trường

tư thục tồn tại, nhưng chủ yếu vẫn là ở các thành phố lớn để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân

Từ những thành tựu đạt được của hệ thống giáo dục dưới thời Tokugawa, nó là tiền đề, là cơ sở cho chính quyền Minh Trị tiếp thu và học hỏi, trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống giáo dục phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản trong giai đoạn mới Có thể xem đây là bước chuẩn bị về nhân lực đầu tiên cho công cuộc hiện đại hóa giáo dục ở Nhật Bản để có thể đạt được những thành công rực rỡ như chúng ta thấy sau này

1.2.2 Tiếp thu mô hình của các nước phương Tây

Vào cuối thế kỷ XVIII, ở Nhật Bản tư tưởng “nông bản thương mạt”, “dĩ nông

vi bản” đã dần bị phá vỡ Thay vào đó, sự ra đời của những lý thuyết, hệ tư tưởng mới

tiến bộ chống lại tư tưởng lạc hậu So với các nước ở phương Đông thì người Nhật có tinh thần cầu thị, muốn học hỏi và biết hòa mình vào cộng đồng của nhân loại để đuổi

kịp, sánh ngang và vượt các quốc gia tiên tiến Âu - Mĩ với quyết tâm “học tập phương

Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây” Vì vậy, ngay trong những thập kỷ đầu

của kỷ nguyên Minh Trị, Nhật Bản đã không ngừng tìm kiếm học hỏi và chấp nhận những yếu tố của văn minh phương Tây phù hợp với lợi ích và sự phát triển của đất nước mình

Cùng với cải cách giáo dục nhằm xây dựng một nền giáo dục hiện đại là quá trình chính phủ Minh Trị tìm kiếm một mô hình và cách tổ chức tiên tiến phù hợp nhất Để biết được nên chọn mô hình và cách thức tổ chức của quốc gia nào ở phương Tây, chính phủ Minh Trị đã tiến hành nghiên cứu để biết được hệ thống giáo dục của nước nào tiên tiến nhất, có thể áp dụng vào Nhật Bản Công việc nghiên cứu được bắt đầu từ năm 1868 Đến năm 1870, các trường học ở Nhật Bản bắt đầu tổ chức theo ba cấp học là tiểu học, trung học và đại học Năm 1871, bộ Giáo dục Nhật Bản được thành lập theo mô hình của phương Tây Dựa trên cơ sở kết quả tham khảo, nghiên cứu mô hình giáo dục của các nước phương Tây, người Nhật đã chọn mô hình của

Trang 20

nước Pháp làm mô hình tham khảo Dựa theo hệ thống giáo dục của Pháp, Nhật Bản được chia ra làm 8 học khu Mỗi học khu bao gồm 32 khu trung học và mỗi khu trung học lại có 210 trường tiểu học Như vậy, trong 8 học khu có 256 trường trung học và

53760 khu giáo dục tiểu học với mỗi khu vực là khoảng 600 người [19, tr.12 - 13]

Năm 1872, luật Gakusei (Học chế - Trật tự giáo dục Chính phủ) được ban hành và xác

định các chi tiết cho hệ thống giáo dục Nhật Bản Học chế quy định hệ thống quản lý trường học áp dụng theo khuôn mẫu của Pháp với việc chia hệ thống nhà trường ra làm các cấp và đặt trọng tâm vào giáo dục tiểu học trong toàn bộ hệ thống giáo dục

Về phương pháp tổ chức dạy học, người Nhật cũng tiếp thu từ các nước có nền giáo dục tiên tiến ở phương Tây Phương pháp dạy học mới dựa trên cơ sở quan sát trực tiếp, khuyến khích trao đổi, thảo luận nhằm phát huy tư duy và khả năng sáng tạo của người học Phương pháp này thay thế cho phương pháp giảng bài và đọc sách giáo khoa trước đây Từ sau năm 1887, Nhật Bản tiến hành áp dụng phương pháp dạy học 5 bước của Đức Theo phương pháp này, giáo viên trước hết chuẩn bị tài liệu ở nhà, sau

đó lên lớp giới thiệu cho người học Người học sắp xếp lại các thông tin dưới hình thức tri thức có tổ chức theo nhóm nhỏ để người học có thể dể dàng chuyển hóa kiến thức đã được học dưới dạng kỹ năng Cách thức tổ chức dạy học này đòi hỏi cả giáo viên và người học đều phải hoạt động tích cực cả trên lớp cũng như ở nhà để có thể đạt được hiệu quả cao cho giờ học Không những vậy, cách thức tổ chức dạy học này còn phát huy được tối đa năng lực tư duy sáng tạo của người học, khuyến khích người học tăng cường trao đổi, thảo luận để cùng tìm ra những vấn đề quan trọng, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn cho các hoạt động của người học Giáo dục

Minh Trị “còn chủ động tiếp thu hình thức giáo dục trực quan của Mĩ, sử dụng các đồ

dùng trực quan trong dạy học như tranh ảnh, bảng biểu… để thay thế cho lối học

“tầm chương trích cú” trước đây” [48, tr.51] Những cách thức tổ chức trong dạy học

mà người Nhật học hỏi và áp dụng đều là những cách thức tổ chức hiện đại nhất ở các nước Âu - Mĩ mà ở phương Đông chưa có một quốc gia nào áp dụng Nhật Bản là quốc gia đầu tiên áp dụng cách thức tổ chức day học này, đây cũng là một trong những

lý do giải thích tại sao đội ngũ trí thức ở Nhật lại chiếm một tỷ lệ rất cao so với các quốc gia trong châu lục, góp phần hình thành nên nguồn nhân lực dồi dào cho Nhật Bản bước vào thời kỳ công nghiệp hóa

Trang 21

Do học hỏi từ mô hình và cách thức tổ chức của các nước phương Tây nên Nhật Bản đã xây dựng được một nền giáo dục mang tính thực dụng cao, trái với lối học thiên về hư học, giáo dục đạo đức Khổng giáo của các nước phương Đông lúc bấy giờ Chính nhân tố học hỏi phương Tây đã tạo ra động lực lớn, là cơ sở, tiền đề quan trọng trong sự phát triển giáo dục của Nhật Bản thời Minh Trị

1.2.3 ội ngũ trí thức ra đời từ phong trào Tây học

Đầu thế XVIII đã xuất hiện các phong trào Tây học cùng với đó là sự ra đời của đội ngũ trí thức Tây học mang những kiến thức, tư tưởng tiến bộ đóng góp vai trò quan trọng, là một nhân tố tác động mạnh mẽ đến nền giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị

Tiêu biểu cho phong trào Tây học trong giai đoạn này đó là phong trào Rangaku (Lan

học: nghiên cứu khoa học và kỹ thuật của phương Tây bằng tiếng Hà Lan) Rangaku là một trào lưu học thuật và tư tưởng phát triển mạnh ở Nhật Bản sau chính sách phát triển thông thoáng của tướng quân Yoshimune Đây là một phong trào hay một phái mang tính chất tiến bộ ra đời sau khi chính quyền Tokugawa nới rộng việc cấm lưu hành sách phương Tây vào năm 1720 Trong cải cách Kyoho của Yoshimune vào năm

1720 đã có sự nới lỏng đối với sách báo nước ngoài mà trước kia bị chính quyền Mạc phủ cấm Yoshimune cho rằng Nhật Bản phải quan tâm học hỏi khoa học kĩ thuật của phương Tây Sách vở phương Tây từ Nhật Bản đều do thương nhân Hà Lan mang vào

và được viết bằng tiếng Hà Lan, vì vậy muốn hiểu được thì phải học được tiếng Hà Lan Do đó từ năm 1741, Yoshimune khuyến khích việc học tập, nghiên cứu sách báo

và học tiếng Hà Lan Mặc dù mốc đánh dấu của phong trào này là năm 1720, tuy nhiên trước đó vào năm 1715 nhà chính trị kiêm sử gia Arai Hakuseki đã cho xuất bản cuốn

sách có tên là Tây dương kỷ văn dựa trên tài liệu thu thập được từ cuộc thẩm vấn giáo

sỹ người Ý có tên là Giovanni Sidotti bị bắt giam khi vào Nhật Bản truyền đạo Trong

cuốn sách này, Hakuseki “biểu lộ lòng hâm mộ khoa học Tây phương một cách thẳng

thắn, và với tư cách một cá nhân bày tỏ cộng cảm sâu sắc đối với ý chí sẵn sàng hi sinh tính mệnh cho lý tưởng của Sidotti” [45, tr74]

Cùng với cải cách Kyoho của Yoshimune vào năm 1720 thì vai trò của những người dịch tiếng Hà Lan sang tiếng Nhật Bản ở Nagasaki cũng là nhân tố quan trọng

góp phần đưa phong trào Rangaku phát triển và đạt kết quả cao Nhờ vai trò của họ mà cuốn từ điển Nhật - Hà được hoàn thành vào năm 1803, đồng thời các cuốn sách thuộc

Trang 22

các lĩnh vực khác như văn học và thực nghiệm phương Tây cũng lần lượt được tuyển chọn để dịch với số lượng khá lớn phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu về khoa học phương Tây của nhiều học giả Nhật Bản Nhờ có những người dịch sách từ tiếng Hà Lan sang tiếng Nhật Bản mà các học giả Nhận Bản hoạt động dễ dàng hơn, thuận lợi hơn trong

phong trào Rangaku

Dựa trên sự tiếp xúc của người Nhật với người Hà Lan ở trên đảo Nagasaki, từ sau năm 1720 một số học giả bắt đầu học tiếng Hà Lan để tìm hiểu về khoa học phương Tây Nhóm học giả này biên soạn từ điển tiếng Hà Lan, nghiên cứu các ngành thiên văn, vật lí, điện khí, thực vật, đồ họa, y học Thành tựu tiêu biểu cho nghiên cứu

của nhóm học giả này đó là Aoki Konyo hoàn thành cuốn Hà Lan văn tự khảo vào

năm 1758, Mạc phủ cho xây đài thiên văn ở Edo vào năm 1744, Ino Tadataka thừa

lệnh Mạc phủ bỏ 18 năm trường đo đạc đường biển để vẽ bản đồ Đại Nhật Bản duyên

hải thực trắc địa đồ hoàn thành năm 1802 Đây là một bản đồ mà độ chính xác của nó

làm đời sau vẫn còn phải thán phục Ngành nghiên cứu có ảnh hưởng nhất đó là y học Năm 1771, Maeno Ryotaku và Sugita Genpaku có dịp xem cuộc giải phẫu tử thi ở nhà

tù Họ rất đỗi ngạc nhiên và thán phục trước những gì họ quan sát được giống hệt như họa đồ và giải thích trong sách y học Hà Lan mà họ mang theo Ngay sau đó, họ bắt

tay vào dịch sách này ra thành tiếng Nhật lấy tên là Giải thể tân thư hoàn thành năm

1774 Từ đó, người theo học ngành y bằng tiếng Hà Lan ngày càng nhiều Năm 1823, một bác sĩ người Đức có tên là Philipp Franz von Siebold làm phụ trách cho thương quán Hà Lan tại Nagasaki, Siebold được phép mở phòng khám bệnh và trường dạy y khoa ở ngoại ô thành phố Tại đây, ông ta đã đào tạo 50 sinh viên người Nhật về lí luận y khoa căn bản và lâm sàng y học

Phong trào Rangaku không chỉ phát triển trong các đô thị mà nó còn được chú

trọng phát triển trong các Han Han Satsuma là một trong những lãnh địa đầu tiên phát

triển phong trào Rangaku Năm 1847 Satsuma đã thành lập một số cơ sở để dạy về vũ

khí kỹ thuật phương Tây Cũng từ năn 1854 Han này còn quan tâm đến việc xây dựng hải quân hiện đại nhằm trang bị thêm sức mạnh cho mình Không chỉ có Han Satsuma

mà cả Han Chosu ở phía Tây Nam Nhật Bản cũng chú trọng phát triển phong trào

Rangaku “Họ vừa cử người đi học trong nước đồng thời cử cả những người có khả năng sang các cơ sở đào tạo Âu học danh tiếng tu nghiệp” [16, tr.93]

Trang 23

Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX chính quyền Mạc phủ ở Nhật Bản bắt đầu bài trừ tất cả việc giảng dạy kiến thức của Hà Lan Điều đó làm cho các học giả

Rangaku ngày càng trở nên bất mãn với chính sách đóng cửa lỗi thời của chính quyền

Mạc phủ Dần dần đối tượng nghiên cứu của họ không chỉ dừng lại trong phạm vi là

nước Hà Lan mà đã mở rộng ra các nước châu Âu khác và từ đó phong trào Rangaku phát triển lên thành phong trào Yogaku (Dương học - ngành nghiên cứu Tây phương)

Phong trào Rangaku đã góp phần thức tỉnh một số học giả Nhật Bản là những

người đi tiên phong, dần dần tiến tới thức tỉnh dân chúng trong nước về những tiến bộ

ở phương Tây sau Cách mạng công nghiệp “Cũng nhờ họ mà dân chúng Nhật Bản

ngày càng ý thức về nhu cầu mở cửa để giao dịch với thế giới bên ngoài” [45, tr.75]

Phong trào này đã đem lại nguồn trí thức mới, tiến bộ cho nước Nhật, đồng thời nó cũng đem lại niềm đam mê, hứng thú cho người dân Nhật Bản trước những thành tựu tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật phương Tây, thể hiện tinh thần cầu học của

người dân Nhật Bản Khi phong trào Rangaku phát triển lên thành Yogaku có thể xem

như là nhân tố định hướng, đặt nền tảng hết sức quan trọng cho công cuộc cận đại hóa Nhật Bản, góp phần đưa Nhật Bản lên vị trí là hàng đế quốc thực dân đầu tiên ở châu

Á Qua phong trào này đội ngũ trí thức Tây học người Nhật đã học hỏi được ở phương Tây các thành tựu về khoa học kỹ thuật, về mô hình, phương pháp, cách thức tổ chức trong giáo dục Chính những nhân tố này đã ảnh hưởng và thúc đẩy giáo dục thời Minh Trị phát triển

Trang 24

Chương 2:

HỆ THỐNG GIÁO DỤC NHẬT BẢN DƯỚI THỜI MINH TRỊ

(1868 - 1912) 2.1 Chính sách giáo dục thời Minh Trị

2.1.1 Lấy giáo dục truyền thống làm nền tảng tư tưởng trong giáo dục

Trong văn hóa Nhật Bản, Nho giáo được coi là ý thức hệ chính thống được giai cấp thống trị sử dụng làm công cụ thống trị về mặt tinh thần đối với nhân dân dưới thời Tokugawa Nó còn là một trong những nhân tố ý thức xã hội có ảnh hưởng quyết định tới mục tiêu của chính sách phát triển giáo dục trong thời Minh Trị Thiên hoàng Nho giáo thời kì này được sử dụng tích cực trong việc tuyên truyền tư tưởng tôn trọng

kỷ luật xã hội, gia đình và thiết lập một tôn ti trật tự cứng nhắc trong gia đình cũng như xã hội Nó còn là công cụ để bài trừ dị giáo, đào tạo ra một tầng lớp thống trị xã hội được học tập chu đáo để phục vụ cho nhà nước, trung thành với Thiên hoàng Minh Trị một cách tuyệt đối

Quan điểm giáo dục hiện đại được hình thành dưới thời Minh Trị với khẩu hiệu:

“Học tập văn minh phương Tây và bảo trì truyền thống Nhật Bản” [20, tr.89] Với

khẩu hiệu này, nền giáo dục mới được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa nội dung, phương pháp của giáo dục phương Tây với tư tưởng giáo dục Nho học truyền thống

của Nhật Bản Trong đạo luật Minh Trị có nêu rõ: “Nước Nhật Bản lấy quân thần làm

đạo cả, lấy kinh thờ Hoàng gia làm tôn giáo của mọi gia đình, lấy tôn trọng chủ quyền gia trưởng cũng trọng đại như tôn trọng chủ quyền quốc gia, lấy hòa đồng nhà, ấy là nước, nước ấy là nhà làm quan niệm thiêng liêng” [20, tr.90] Từ quan điểm này của

Minh Trị cho thấy giáo dục Nhật Bản rất coi trọng giáo dục truyền thống cho mọi tầng lớp nhân dân Sử dụng truyền thống như là tiền đề cho hiện đại hóa, giúp cho quá trình nắm bắt sử dụng các thành tựu khoa học của phương Tây một cách có hiệu quả Nho giáo vẫn là đạo quân thần, tôn giáo của mọi gia đình là thờ kính Hoàng gia, đề cao quyền gia trưởng, Mặc dù tiếp thu các tư tưởng tiến bộ của phương Tây nhưng những đạo đức truyền thống của người Nhật vẫn được duy trì và đề cao nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp Nhà nước

Trong bản Kyogaku Taishi (Các nguyên tắc giáo dục) được công bố năm 1879

thể hiện nguyện vọng của Thiên hoàng có nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục

Trang 25

đạo đức “là nằm trong việc dạy cái thiện, tinh thần trách nhiệm, lòng trung thành, tính

trung thực, dạy cho học sinh nắm vững kiến thức và nghệ thuật để có thể phục vụ được cho dân tộc Nhưng hiện nay nhiều người chỉ đề cao tri thức và kỹ thuật vốn là sản phẩm của nền văn hóa khai sáng mà quên mất việc giữ gìn đạo đức và phá bỏ phong tục thói quen tốt đẹp” [13, tr.45] Nguyên tắc đầu tiên của canh tân là phá bỏ cái cũ và

tìm kiếm tri thức Những tri thức của văn hóa phương Tây đã được chấp nhận và có tác dụng tích cực đối với Nhật Bản dưới thời Minh Trị Thiên hoàng nhưng vẫn không thể bỏ qua những nội dung truyền thống đạo đức Nhật Bản trong nền giáo dục Bởi Thiên hoàng cho rằng nếu bỏ qua việc giáo dục cái thiện, tinh thần trách nhiệm của người dân đối với đất nước, đối với Thiên hoàng mà chỉ chú trọng hướng tới việc truyền bá lối sống kiểu phương Tây thì sợ rằng trong tương lai chẳng còn ai biết đến trách nhiệm giữa thần dân với Thiên hoàng nữa Mục đích hàng đầu của Thiên hoàng vẫn là giáo dục cho người dân Nhật Bản thấy được trách nhiệm của thần dân đối với vua và đất nước

Năm 1890, Thiên hoàng ban bố chiếu chỉ về giáo dục với tư tưởng trọng tâm là

“Trung quân ái quốc” Đây là sự kết hợp giữa tư tưởng Nho giáo truyền thống Nhật Bản với tư tưởng giáo dục phương Tây hiện đại Nho giáo Nhật Bản lấy “ngũ luân”

làm cơ sở đạo đức mới, còn chủ nghĩa yêu nước được tiếp thu từ phương Tây đã hòa

trộn với tư tưởng Nho giáo và “trung quân” trở thành đặc tính riêng của người Nhật

Đây chính là phương thuốc hiệu nghiệm trường sinh bất lão của chế độ chuyên chế Thiên hoàng

Chính sách giáo dục truyền thống là nền tảng của Thiên hoàng trong giáo dục nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị mà đứng đầu là Thiên hoàng Minh Trị

Nó cột chặt thần dân với Thiên hoàng bằng những nghi lễ, những phong tục, đạo đức của Nho giáo Chính sách này ảnh hưởng sâu sắc tới nội dung giáo dục Nhật Bản dưới thời Minh Trị Về cơ bản, nó chỉ phục vụ quyền lợi cho một bộ phận nắm quyền lãnh đạo trong bộ máy nhà nước thời Minh Trị chứ chưa phải vì quyền lợi của số đông quần chúng nhân dân Vì vậy, đây là một hạn chế trong chính sách giáo dục của Nhật Bản thời Minh Trị

Trang 26

2.1.2 Khuyến khích và tiếp thu giáo dục phương Tây trong xây dựng và phát triển giáo dục

Khi chuyển giáo chính quyền từ tay Shogun sang tay Thiên hoàng, Nhật Bản đang nằm trong tình trạng lạc hậu về kinh tế, xã hội mất ổn định Cùng với đó là sự xâm nhập của các nước tư bản phương Tây làm cho Nhật Bản đứng trước nguy cơ trở thành thuộc địa Các nhà lãnh đạo Nhật Bản thời kì này nhận thức được nguy cơ trở thành thuộc địa nếu không nhanh chóng hiện đại hóa đất nước để theo kịp các nước phương Tây Vì vậy khuyến khích và tiếp thu giáo dục phương Tây là một trong những chích sách quan trọng trong xây dựng và phát triển giáo dục thời Minh Trị Chính sách này được nhận định là một bộ phận then chốt trong việc hình thành hình thái ý thức, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản trở thành một quốc gia độc lập và hùng mạnh Giáo dục tiếp thu tri thức, kỹ thuật hiện đại của phương Tây sẽ tạo điều

kiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu hiện đại hóa đất nước Với tinh thần “học

tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây” [35, tr.6] trên nền tảng “kỹ thuật phương Tây, đạo đức Nhật Bản” để thông qua đó xây dựng một hệ thống giáo

dục kiểu mới đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Khi mới lên nắm chính quyền, Thiên hoàng Minh Trị đã cho công bố “Năm

điều thề nguyện” (4 - 1868), trong đó điều thứ năm có nêu rõ: “Phải thu thập kiến thức trên thế giới để chấn hưng cơ bản của hoàng triều” [32, tr.75] Tư tưởng này tạo nền

tảng cho việc xây dựng một nền giáo dục hiện đại dựa trên cơ sở học hỏi, tiếp thu kiến thức của các nước văn minh, tiến bộ trên thế giới Đây như là một mệnh lệnh, là kim chỉ Nam cho Nhật Bản tiến hành công nghiệp hóa thời cận đại Nó được thể hiện trong việc cử các phái đoàn ngoại giao đi tham quan học hỏi các nước phương Tây, gửi các học sinh và sinh viên xuất sắc đi du học, thuê chuyên gia nước ngoài về giảng dạy trong nước Tất cả những việc làm này của chính quyền Minh Trị nhằm hướng tới thực

hiện mục tiêu thứ năm trong “Năm điều thề nguyện” của Thiên hoàng

Dựa trên quan điểm của Thiên hoàng, khung chương trình giáo dục được xây dựng theo hướng xác lập theo mô hình của phương Tây rất phong phú và đa dạng trên

cơ sở thống nhật về sách giáo khoa Do đó, sách giáo khoa dùng trong các trường tiểu học của Nhật là dịch hoặc mô phỏng theo chương trình của các nước châu Âu và Mĩ Đến trung học và các bậc học cao hơn thì sách nước ngoài đã được dịch và nhập khẩu

Trang 27

nguyên văn Cùng với việc đổi mới chương trình, phương tiện dạy học cũng được trang bị gần giống với phương Tây Bàn ghế học tập cho học sinh được nhập khẩu nguyên chiếc từ châu Âu và châu Mĩ, điều này đã gây tốn kém rất nhiều về mặt chi phí cho việc nhập khẩu phương tiện dạy học Vì thế, đến giai đoạn sau Nhật Bản đã tiến hành tự sản xuất bàn ghế để sử dụng trong các trường học Bảng đen và phấn viết là do người Nhật tự sản xuất để trang bị chủ yếu cho các trường tiểu học Nhờ có những đổi mới bước đầu đã tạo tiền đề để Nhật Bản thực hiện nội dung và mục tiêu theo phương Tây

Hướng đến thực hiện mục tiêu “phú quốc cường binh”, chính phủ Minh Trị đã

trang bị biến thức khoa học kỹ thuật cho đội ngũ trí thức trẻ và đi sâu vào thực học Chính vì thế, chính phủ Minh Trị đã gửi các sinh viên trẻ, có đạo đức và năng lực học tập ưu tú sang các nước có nền giáo dục phát triển để tìm hiểu, nghiên cứu những kiến thức tiên tiến nhất về áp dụng cho nước Nhật Căn cứ vào ngành cần đào tạo, chính quyền Minh Trị đã biết lựa chọn các nước có ngành học ưu tú nhất ở các trường đại

học Âu - Mĩ để gửi lưu học sinh của mình đến đó học tập Cụ thể, “Nhật Bản đã gửi

sinh viên sang Anh để học về hải quân và hàng hải, sang Đức để học về bộ binh, y khoa và sang Mĩ để học về kinh doanh, sang Pháp để học về luật khoa…” [48, tr.51]

Các sinh viên được nhà nước cử đi học ở nước ngoài sẽ được hưởng học bổng từ ngân sách chính phủ Ngoài ra, chính phủ Minh Trị vẫn khuyến khích các công khanh triều đình và các quan chức chính phủ gửi con em của mình sang phương Tây du học Những sinh viên sau khi du học về sẽ là hạt nhân để xây dựng nền khoa học kĩ thuật và văn hóa mới cho Nhật Bản Không chỉ trực tiếp sang phương Tây học hỏi, Nhật Bản còn mời các giáo sư, giảng viên người nước ngoài sang giảng dạy, truyền bá kiến thức cho người Nhật, nhất là về kĩ thuật Mục đích của chính phủ Minh Trị khi mời chuyên gia nước ngoài về giảng dạy không chỉ đơn thuần là sử dụng chất xám của chuyên gia

mà muốn các chuyên gia nước ngoài đào tạo ra những chuyên gia người Nhật để Nhật Bản nhanh chóng tự lập trong việc phát triển hóa đất nước Trong việc sử dụng chuyên

gia nước ngoài, với tư cách là “chủ nhà mời khách đến dạy”, Nhật Bản đã không bị ám ảnh bởi mặc cảm họ là “nạn nhân” của làn sóng văn hóa du nhập từ phương Tây - là

một mặc cảm khá phổ biến ở các châu Á trong giai đoạn này

Trang 28

Như vậy, với mong muốn nhanh chóng hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhật

Bản thành một quốc gia “phú quốc cường binh”, Nhật Bản đã lựa chọn con đường tiếp

thu giáo dục phương Tây trong xây dựng và phát triển giáo dục Tuy nhiên, trong chính sách khuyến khích và tiếp thu giáo dục phương Tây, người Nhật đã có sự chọn lọc những điều cần thiết cho mình, chọn những nước tiên tiến nhật nhất, chọn những ngành, những lĩnh phát triển nhất ở phương Tây để học hỏi và tiếp thu Nhật Bản coi

tiếp thu văn minh phương Tây “không phải là cứu cánh mà bất quá chỉ là phương

tiện” [45, tr.127] để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước

2.1.3 Sử dụng chuyên gia giáo dục nước ngoài và trí thức Tây học trong phát triển giáo dục

Một trong những chính sách đúng đắn, được đánh giá cao trong những nguyên nhân làm nên thành công của công cuộc Duy tân Minh Trị và phát triển giáo dục Nhật Bản là chính sách sử dụng chuyên gia giáo dục nước ngoài và trí thức Tây học trong phát triển giáo dục

Trước thời Minh Trị đã có nhiều chuyên gia nước ngoài đến Nhật làm việc, giúp Nhật Bản phát triển kinh tế, văn hóa Sau khi lật đổ chính quyền Tokugawa, các nhà lãnh đạo chính quyền Minh Trị đang đứng trước nguy cơ bị thuộc địa hóa, sự tụt hậu về kinh tế, khoa học, công nghiệp so với các nước châu Âu Trước thực trạng đó, chính quyền Minh Trị đã có quyết định sáng suốt là đẩy mạnh thuê chuyên gia nước ngoài để rút ngắn khoảng cách với các nước tiên tiến về khoa học kỹ thuật Chính sách

thuê chuyên gia nước ngoài được Minh Trị cụ thể hóa trong sắc lệnh “Các điều khoản

về việc tiếp nhận chuyên gia nước ngoài” ban hành tháng 2 - 1870 Sắc lệnh này đề

cập đến những vấn đề liên quan đến việc thuê chuyên gia như luật pháp, hợp đồng, chế

độ đãi ngộ, kinh phí, việc thực hiện và chấm dứt hợp đồng,…

Theo thống kê của chính phủ Nhật Bản cho đến năm 1890, ở Nhật Bản có tới

3000 chuyên gia làm cố vấn cho Nhà nước Riêng ngành giáo dục, số giáo sư đại học ngoại quốc Nhật Bản mời sang dạy trong thời Minh Trị (1868 - 1911) có khoảng 170 người, trong đó có 142 người đã sang Nhật trong khoảng 20 năm đầu thời Minh Trị [45, tr.124] Số chuyên gia này hoạt động trong tất cả các ngành, các lĩnh vực và cũng

có sự biến đổi về số lượng chuyên gia theo từng năm, từng ngành, từng nước Từ thập niên 80 của thế kỷ XIX, Nhật Bản tập trung thuê các chuyên gia giáo dục, đặc biệt là

Trang 29

các giáo sư bậc đại học nhằm thiết lập nền giáo dục tiên tiến cho Nhật Năm 1903, số giáo sư nước ngoài đến Nhật Bản lại tăng vọt do nhu cầu chuyển bị về khoa học kỹ thuật quân sự cho cuộc chiến tranh với Nga sắp tới Trong ngành giáo dục, bộ Giáo dục chủ yếu thuê chuyên gia giảng dạy ở các ngành y học, khoa học tự nhiên và ngôn ngữ học Ở bộ này, các chuyên gia người Đức chiếm 37,2%, Anh: 22,5%, Mĩ: 20,1%, Pháp: 13% [32, tr.226 - 227] Số chuyên gia này được sử dụng khác nhau theo từng

chuyên ngành “Chuyên gia giảng dạy trong ngành khoa học nhân văn, đông nhất là

giáo sư người Anh, thứ đến là người Đức, người Mĩ và người Pháp Trong ngành KHXH, đông nhất là người Đức và người Mĩ sau đến là người Pháp Còn các ngành KHTN, giáo sư người Đức đứng hàng đầu, tiếp đến là Mĩ và Anh” [34, tr.41]

Trong số các chuyên viên ngoại quốc giúp chính phủ Minh Trị trong việc thành lập một chế độ giáo dục cận đại, người có ảnh hưởng nhiều nhất đến nền giáo dục Nhật trong thời Minh Trị là giáo sư Davil Murray làm cố vấn cho Tanaka Fuijmaro thứ trưởng Bộ Giáo dục và là người soạn thảo Học chế giáo dục Ông Marion Scott người

Mĩ có công đào tạo giáo sư Giáo sư Ludwig Reiss người Đức giúp Nhật thiết lập trung tâm nghiên cứu lịch sử ở Đại học Đông Kinh, giáo sư Herman Roessler và giáo

sư Albert Mosse người Đức giúp soạn thảo Hiến pháp Minh Trị, luật sư Gustave Boissonade người Pháp làm cố vấn cho Nội các Nhật trong việc soạn thảo Luật pháp cho Nhật Bản

Nhận thức được vai trò của chuyên gia nước ngoài, chính phủ Minh Trị đã có chính sách khuyến khích đãi ngộ họ hợp lí bằng chế độ lương bổng thông qua việc bỏ

ra một khoản kinh phí rất lớn để trả lương, ước tính chi phí chiếm khoảng 14% ngân sách quốc gia Trong ngành giáo dục lương chuyên gia nước ngoài cao hơn lương người Nhật rất nhiều, lương của một giáo viên nước ngoài nhiều hơn học phí của học sinh toàn trường không phải là chuyện hiếm hoi Chi phí lương bổng cho chuyên gia nước ngoài là 534.493 triệu Yên, vài năm sau lên đến một triệu Yên chiếm một khoản lớn trong ngân sách giáo dục [35, tr.59] Với kinh phí bỏ ra như vậy cho nên khi sử dụng chuyên gia nước ngoài, chính phủ Minh Trị đã tận dụng triệt để Họ được mời tới Nhật Bản không chỉ làm nhiệm vụ giảng dạy, chuyên gia nước ngoài còn đóng vai trò

to lớn trong việc khuyến khích thanh niên Nhật Bản ra nước ngoài du học, giới thiệu các trường thích hợp và chuẩn bị ngoại ngữ cho sinh viên trước khi du học Khi các

Trang 30

sinh viên du học về nước họ sẽ từng bước bàn giao lại công việc của học cho các sinh viên làm quen và tiếp quản Các chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy tại Nhật Bản đã gây được ảnh hưởng to lớn đối với nền giáo dục Nhật Bản Ảnh hưởng của họ không chỉ gói gọn trong phạm vi về truyền bá kiến thức khoa học kỹ thuật phương Tây đến với người dân Nhật Bản mà còn tạo ra tầng lớp trí thức mới làm nền tảng cho việc xây dựng đất nước trong quá trình hiện đại hóa Nhật Bản

Song song với vai trò của chuyên gia nước ngoài thì tầng lớp trí thức Tây học cũng đóng một vai trò không nhỏ đối với công cuộc hiện đại hóa Nhật Bản Các nhà lãnh đạo thời Minh Trị nhận thấy rằng chính sách sử dụng chuyên gia nước ngoài để giảng dạy về khoa học kỹ thuật cho nhân dân trong nước chỉ là một biện pháp nhất thời Để có nguồn nhân lực dồi dào, tiếp thu về khoa học kỹ thuật thì phương pháp tốt nhất là gửi lưu học sinh của Nhật sang phương Tây để tiếp thu kiến thức và văn minh của phương Tây Chính vì thế, số học sinh này được bộ Giáo dục giao cho các trường lựa chọn từ những học sinh giỏi, có đạo đức tốt để gửi đi du học Du học sinh cũng được chia làm hai loại: một loại được chính phủ tài trợ và một loại tự túc Năm 1873, tổng số du học sinh là 373 người bao gồm sinh viên nhận học bổng của chính phủ là

250, và số tự túc là 123 người [31, tr.91] Hai nước được chính phủ gửi sinh viên sang nhiều nhất là Mĩ và Anh, ngoài ra còn có Pháp, Đức, Hà Lan,… Các sinh viên này được đào tạo xong sẽ đóng vai trò tích cực trong sự nghiệp giáo dục, phổ biến kiến thức tiên tiến cho nhân dân trong nước, góp phần thực hiện thành công cuộc phát triển đất nước Cống hiến quan trọng nhất của tầng lớp trí thức Tây học là đã góp phần đào tạo trí thức mới, bởi vì hầu hết lưu học sinh khi du học xong trở về nước sẽ trở thành những nhà khoa học đầu ngành của các trường đại học và trung tâm nghiên cứu Nhật Bản, cũng có nhiều người trở thành lãnh đạo các trường đại học, các cơ sở khoa học và các hội khoa học

Trí thức Tây học khi được tiếp thu tinh thần khoa học phương Tây, họ đóng vai trò xã hội một cách tích cực, giúp cho chính quyền mới thực hiện các chính sách phát

triển đất nước một cách tích cực, đúng đắn: “Bằng cách đó, họ cũng có đóng góp vào

quá trình dân chủ hóa xã hội Nhật Bản thời cân đại Năm 1873, lưu học sinh Nhật Bản

ở Mĩ cũng đã lập ra tổ chức Jinririsha với mục đích chủ yếu là luận bàn những vấn đề của Nhật Bản và thế giới, xúc tiến quá trình hiện đại hóa Nhật Bản Năm 1874, cựu

Trang 31

học sinh ở Anh đã thành lập ở Tokyo một tổ chức Kyozon Doshu chủ trương dân chủ hóa chính trị Nhật Bản” [32, tr.217 - 218]

Các hội khoa học, các tạp chí học thuật thì các trí thức Tây học cũng tham gia vào việc thành lập và điều hành hoạt động Tiêu biểu như là Hội toán học Tokyo (1877) do Kikuchi Dairoku sáng lập, Hội công học Nhật Bản (1879) do lưu học sinh các ngành kỹ thuật sáng lập, Hội địa chấn Nhật Bản (1880) do Yatabe Ryokichi sáng lập,… Trí thức Tây học cũng phối hợp tích cực với chuyên gia nước ngoài, từng bước tiếp nhận vai trò của họ trong việc phát triển khoa học kỹ thuật và văn hóa Nhật Bản thời cận đại, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của người dân Nhật Bản

Nửa sau thế kỷ XIX, nếu như du học sinh Trung Quốc sau khi đi du học về không có chỗ để sử dụng những kiến thức đã học được vì thái độ bài trừ học thuật phương Tây của nhà Thanh còn quá mạnh thì ở Nhật Bản lại ngược lại Chính quyền Minh Trị đã có những chính sách tích cực, đúng đắn để sử dụng tốt nguồn nhân lực từ đội ngũ trí thức Tây học bởi họ xem đây là nguồn nhân lực mũi nhọn cho quá trình hiện đại hóa Nhật Bản thời cận đại

Chính sách sử dụng chuyên gia nước ngoài và trí thức Tây học trong xây dựng

và phát triển giáo dục là một chính sách đúng đắn và sáng suốt của chính phủ Minh Trị, nó được xây dựng trên cơ sở nhạy bén về những chuyển biến của tình hình trong

nước và thế giới nhằm thực hiện mục tiêu: “học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây,

đi vượt phương Tây”

2.1.4 Mở rộng và phát triển giáo dục toàn dân

Để đuổi kịp và vượt các nước phương Tây thì cần có đội ngũ dân trí đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa đất nước Vì vậy, chính phủ Minh Trị đã thực hiện chính sách rộng và phát triển giáo dục toàn dân nhằm nâng cao trình độ cho quần chúng nhân dân

Việc thực hiện chính sách giáo dục cưỡng bức là một việc làm cần thiết để nâng cao trình độ học vấn của một dân tộc, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân tiếp thu, học hỏi và xây dựng một nền văn minh cao hơn Giáo dục thời Tokugawa đã có tổ chức hẳn hoi với hệ thống trường dành cho tầng lớp trên, trường chùa dành cho tầng

lớp bình dân và đạt được những thành tích đáng nể: đến năm 1686 “có ước chừng 48%

đàn ông và 10% đàn bà biết chữ Trong khi đó, ở nước Anh năm 1837, cứ mỗi 4 đến 5 người mới có một người đi học” [45, tr.122], trong đó vẫn nổi nhiều danh nho, nhà

Trang 32

nghiên cứu danh tiếng Tuy nhiên, thành tích này chủ yếu tập trung ở tầng lớp quý tộc,

còn tầng lớp thứ dân thì chỉ quanh quẩn xung quanh mấy trường học “thầy đồ lối xóm”

để học viết, làm toán, ngoài ra không học cao xa gì khác Nay, vua Minh Trị muốn tất

cả dân chúng đều có học thức như nhau Vì vậy, lệnh cưỡng bức giáo dục bắt buộc đã được ban bố, trẻ em bất luận trai hay gái phải học ít nhất ba năm Vua Minh Trị đã quy

định rõ: “Duy có môn học cao xa, là tùy theo tài năng của mỗi người, chớ như hạng

tuổi nhỏ trẻ con, thì không hạn trai gái, tất phải cho chúng theo tiểu học hết, nếu không thế thì trách lỗi ở những kẻ phụ huynh” [38, tr.121] Nhờ chính sách giáo dục

cưỡng bức mà thành tích trong giáo dục trong giáo dục nâng lên đáng kể Theo thống

kê: “năm 1873 mới chỉ có 28% tổng số dân cư ở tuổi đến trường đã đi học, nhưng đến

năm 1882, chỉ số này đã là 50%, năm 1895 là 67% và năm 1904 đạt 98%” [33,

tr.137] Những con số này cho thấy tính hiệu quả của chính sách giáo dục bắt buộc, qua đó cũng phản ánh nhu cầu học tập của người dân Nhật Bản Đồng thời cũng thấy được rằng quần chúng nhân dân đã ủng hộ mạnh mẽ các kế hoạch của chính phủ nhằm xây dựng một nhà nước hiện đại gắn với sự nâng cao của trình độ dân trí Nếu chính phủ Minh Trị không mạnh dạn thi hành chính sách giáo dục cưỡng bức của thì có lẽ đến thời điểm hiện tại, giáo dục vẫn chưa đạt được thành tích đáng nể như vậy

Với phương châm “học là chìa khóa thành công trong cuộc sống và không ai

không cần đến giáo dục” [48, tr.53], chính phủ Minh Trị đã xác định rõ đối tượng đi

học trong thời kỳ này là tất cả mọi người dân Nhật Bản, từ quý tộc cho đến tầng lớp bình dân, không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, miễn sao không có một

người nào thất học: “Không kể hoa tộc sĩ tộc, cùng là các hạng cày ruộng, làm nghề,

đi buôn, cho đến đàn bà con gái cũng vậy, tất sao trong làng đừng còn một nhà nào không học, trong nhà đừng một người nào không học” [38, tr.121] Như vậy, chính

sách giáo dục bắt buộc áp dụng cho mọi tầng lớp nhân dân nhằm đạt được kết quả cao nhất Đối tượng đi học không tính tới vị trí xã hội, lý lịch hay giới tính Qua đây cũng cho thấy sự quyết tâm của nhà nước trong việc nâng cao đội ngũ dân trí

Khi chính sách giáo dục cưỡng bức được ban hành, số trẻ em đến trường sẽ tăng nhanh Vì vậy, hệ thống trường lớp cũ thì không thể đáp ứng nhu cầu của người học Nắm rõ được vấn đề này, một mặt chính phủ Minh Trị vẫn tạm duy trì chính sách giáo dục thời Tokugawa, nghĩa là tận dụng các đình chùa làm nơi dạy học Mặt khác,

Trang 33

chính phủ cho cấp tốc xây dựng các ngôi trường mới Công việc này được tiến hành

khẩn trương và gấp rút: “Chỉ trong vòng ít tháng, toàn quốc đã mở ra trường học lối

mới đầy dẫy, cộng có 8 trường đại học, 256 trường trung học, 53.760 trường tiểu học”

[38, tr.121] Đây là một sự nỗ lực lớn của chính phủ và toàn thể nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của người dân mà không phải bất kì quốc gia nào cũng làm được như Nhật Bản Mới buổi đầu duy tân mà đã đạt được những thành tích đáng nể như vậy đủ biết chính phủ Minh Trị quan tâm tới giáo dục như thế nào

Có đối tượng đi học đông đảo, hệ thống trường lớp đầy đủ, vấn đề đặt ra lúc này là phải có đội ngũ nhân sự giảng đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng Đây cũng là một bài toán khó đòi hỏi chính phủ Minh Trị phải giải quyết song song với việc giải quyết hệ thống trường học Nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo viên giảng dạy, chính phủ đã quy định nếu ở đâu có cơ sở vật chất đầy đủ thì sẽ lập tại đấy những cơ

sở sư phạm để huấn luyện giáo viên Tùy theo nhu cầu mà chia làm hai khóa đào tạo: dài hạn và cấp tốc Khóa đào tạo giáo viên dài hạn tốn kém hơn nên nhà nước cung cấp kinh phí đào tạo, còn địa phương phải chịu kinh phí cho việc đào tạo ngắn hạn gọi

là địa phương sư phạm Chỉ trong vòng mười năm, từ 1872 - 1882, trên toàn quốc đã

có 76 trường sư phạm được mở ra nhằm đào tạo giáo viên phục vụ cho ngành giáo dục Việc thành lập các trường sư phạm ở cả trung ương và địa phương chứng tỏ sự phát triển rộng rãi của nền giáo dục, sự quan tâm của nhà nước và đóng góp của nhân dân để tạo điều kiện cho giáo dục phát triển

Như vậy, việc thực hiện chính sách mở rộng và phát triển giáo dục toàn dân đã được chính phủ Minh Trị triển khai một cách đồng bộ có kế hoạch rõ ràng, dứt khoát

và có sự kết hợp giữa nhà trường và các bộ phận khác trong xã hội nhằm đạt kết quả cao nhất Các chính sách giáo dục của Nhật Bản là pháp lệnh, là kim chỉ nam để cho các cơ sở ngành giáo dục căn cứ vào đó mà thực thi, không đi chệch hướng so với sự chỉ đạo của nhà nước Sự thành công của giáo dục Nhật Bản trong việc xây dựng hệ thống các chính sách giáo dục sẽ là bài học tham chiếu cho Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa đất nước Giáo dục Việt Nam muốn thành công, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước thì nhà nước phải xây dựng và ban hành các chính sách hợp lý, bám sát xu thế của thời đại để cho các cơ sở giáo dục căn cứ vào đó mà thực hiện, nếu không có chính sách cụ thể để làm kim chỉ nam cho ngành giáo dục thì e rằng sẽ

Trang 34

không có sự thống nhất trong quá trình thực hiện tại các cơ sở và kết quả đem lại trong giáo dục sẽ không cao

2.2 Hệ thống giáo dục dưới thời Minh Trị (1868 - 1912)

số học, vệ sinh, địa lý,… Còn tiểu học bậc cao dành cho các em từ 9 - 14 tuổi với các môn học đã được nâng lên về trình độ nhận thức phù hợp với lứa tuổi và bậc học như lịch sử, hình học, hội họa, tự nhiên, đạo đức, hóa học, sinh học,…

Thời kỳ này trường tiểu học cũng phân ra thành các loại trường phù hợp với từng hoàn cảnh, từng khu vực, từng đối tượng khác nhau:

Trường tiểu học nữ là trường dành cho các em gái trong độ tuổi học tiểu học Ở đây, ngoài các môn học chung của bậc tiểu học, các em được chú trọng dạy về nữ công gia chánh như là đan lát, may vá, thêu thùa, nấu ăn, … nhằm đào tạo ra những người phụ nữ có kiến thức về khoa học, đồng thời giỏi nội trợ trong gia đình Đây là truyền thống của phụ nữ Nhật chịu ảnh hưởng của nền giáo dục cổ truyền sở dĩ được đưa vào

là một môn học là nhờ có cuộc canh tân đất nước do Thiên hoàng Minh Trị đứng đầu

Tiểu học nông thôn là những trường dành cho các em nhỏ ở vùng nông thôn So với thành thị thì yêu cầu phát triển giáo dục ở vùng nông thôn bao giờ cũng thấp hơn

vì thế phương pháp và bài vở cũng được giảm bớt Đây là sự phân bố kiến thức hợp với từng khu vực và xã hội mà nhà nước căn cứ vào đó để áp dụng các hình thức giáo dục chứ không phải là một sự ưu tiên cho vùng nông thôn

Các trường tiểu học dành cho trẻ em nghèo được nhà nước tài trợ vì thế nhân dân không phải đóng học phí Đây là một chính sách tiến bộ của nhà nước thời Minh Trị nhằm nâng cao trình độ dân trí cho toàn thể nhân dân không phân biệt giai cấp, trái với giáo dục thời Tokugawa chỉ chú trọng ưu tiên con em các nhà lãnh chúa

Trang 35

Thời kỳ này còn có các trường tiểu học mở tại nhà riêng của các giáo viên có bằng sư phạm tiểu học gọi là tiểu học tư thục Đây cũng là nhu cầu nội tại của việc tiếp thu văn minh phương Tây và kết quả của chính sách giáo dục cưỡng bức thời Minh Trị

Chương trình học của học sinh tiểu học hoàn toàn giống với chương trình của các trường học phương Tây Do đó, sách giáo khoa dùng trong các trường tiểu học ở giai đoạn đầu phần lớn là dịch hoặc mô phỏng theo sách của các gia Âu - Mĩ Cũng trong giai đoạn đầu, bàn ghế cho học sinh ngồi được nhập nguyên chiếc từ châu Âu, sau đó người Nhật tự sản xuất Riêng bảng đen và phấn viết là do người Nhật tự sản xuất hoàn toàn mà không phụ thuộc vào phương Tây

Giáo viên trong các trường tiểu học ngoài những chuẩn mực cơ bản mà một người giáo viên cần có thì họ cần phải đảm bảo các yêu cầu như: trên 20 tuổi, tốt nghiệp trung học phổ thông và có bằng sư phạm tiểu học

Mô hình giá dục tiểu học thời Minh Trị rất đa dạng và phong phú Nó được xây dựng trên cơ sở căn cứ vào điều kiện của từng hoàn cảnh, từng đối tượng, từng địa phương Theo nhiều nhà nghiên cứu thì sự thành công của mô hình giáo dục kiểu này chính là chia giáo dục ở cấp quận với chương trình thiết kế riêng cho từng vùng Nhờ

mô hình này mà chính phủ đã lôi kéo được số trẻ em đến trường ngày càng đông đảo đưa Nhật Bản trở thành nước có tỷ lệ người mù chữ vào loại thấp nhất thế giới

2.2.2 Giáo dục Trung học

Nếu như giáo dục tiểu học được coi là giai đoạn xóa mù chữ, là “gốc rễ” của hệ

thống giáo dục Nhật Bản thời Minh Trị thì giáo dục Trung học lại là giai đoạn nâng cao nhận thức về các kiến thức khoa học, trang bị những kiến cơ bản cho người học

bước vào cấp học mới Vì vậy, giáo dục Trung học cũng có thể được ví là “thân” của

hệ thống giáo dục trong giai đoạn này

Đối tượng học trung học là mọi người dân Nhật Bản sau khi đã học xong tiểu học đều có thể học tiếp lên trung học Độ tuổi học trung học là 14 - 19 tuổi Theo đó, cấp Trung học cũng được phân chia thành hai cấp học: Trung học Sơ đẳng đành cho lứa tuổi từ 14 - 17, ở bậc này học sinh phải học 5 năm nhằm nâng cao trình độ hiểu biết phổ thông về các ngành văn hóa, giáo dục và Bậc Trung học Cao đẳng dành cho

Trang 36

học sinh có độ tuổi từ 17 - 19 tuổi, ở bậc này học sinh phải học 2 năm và chỉ học những môn căn bản để chuẩn bị kiến thức cho các em bước vào các trường đại học

Giáo dục Trung học thời Minh Trị các môn học được phân chia làm nhiều ngành để bắt đầu hướng học sinh vào những kiến thức cần thiết đồng thời phù hợp với khả năng và nguyện vọng của người học Các ngành nông nghiệp, công nghiệp và thông tin học được tách ra làm một ngành riêng và đào tạo một cách có hệ thống Ngoài ra, do nhu cầu phát triển đất nước một cách toàn diện nên học sinh trung học phải học thêm môn quốc ngữ, số học, ngoại ngữ, tốc ký,… Ở bậc Trung học Cao đẳng, học sinh còn học thêm các ngành về kinh tế, chính trị, luật,… để tạo nền tảng cho giai đoạn tiếp theo

Sách giáo khoa dùng cho học sinh Trung học được nước Nhật nhập từ các nước

có nền giáo dục tiên tiến ở phương Tây hoặc được dịch nguyên văn do chương trình học cũng mô phỏng theo chương trình của các nước phương Tây Những cuốn sách này đã góp phần phổ biến kiến thức về khoa học kỹ thuật và lối sống văn hóa phương Tây cho người học Dần dần do nhu cầu xây dựng một nền giáo dục mang đậm truyền thống của Nhật Bản nên người Nhật đã tự biên soạn sách giáo khoa để giảng dạy trong các trường học

Do chương trình học của học sinh Trung học ngày càng cao và có sự phân ngành nên giáo viên giảng dạy ở các trường Trung học phải có độ tuổi từ 25 trở lên và phải có bằng sư phạm Nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo viên của các trường Trung học nên chính phủ đã thành lập các trường Cao đẳng Sư phạm và sư phạm dành cho nữ sinh với thời gian đào tạo là 4 năm Ngoài ra, chính phủ còn thành lập các Trường Sư phạm với các khoa chuyên môn để chuyên giảng dạy những kiến thức về khoa học kỹ thuật và xã hội

So với các thời kỳ trước, giáo dục Trung học của Nhật Bản được xây dựng theo một trình tự hợp lý, có giai đoạn chuyển tiếp để chuẩn bị cho học sinh bước vào những giai đoạn giáo dục mới Việc đưa các nội dung giảng dạy vừa có môn học chung, vừa

có môn học chuyên ngành vào trong cấp Trung học giúp cho Nhật Bản có thể sử dụng ngay nguồn nhân lực mà mình đã đào tạo ra Nguồn nhân lực do nhật Bản đào tạo mới tốt nghiệp Trung học phổ thông nhưng cũng có thể sử dụng được ngay bởi họ đã được đào tạo về chuyên ngành, kiến thức khoa học họ được truyền đạt trong nhà trường luôn

Trang 37

gắn liền với nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động, trong khi đó nhiều quốc gia trên thế giới phải qua các lớp đào tạo nghề mới có thể sử dụng được Vì vậy, mô hình giáo dục Trung học của Nhật Bản có thể coi là một bài học tham chiếu cho những quốc gia nào muốn đào tạo nhân lực gắn với nhu cầu hiện đại hóa đất nước

2.2.3 Giáo dục chuyên nghiệp

Khi đã thực hiện chính sách “mở cửa” giao lưu với thế giới bên ngoài cũng là

lúc nền kinh tế tư bản của Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, chuyển từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp Lúc này, nhu cầu về lao động có tay nghề tăng cao Nếu như trước đây, dưới thời kỳ Tokugawa, người lao động không cần qua đào tạo mà vẫn làm việc tốt vì họ không làm việc với máy móc thì đến thời kỳ Minh Trị lại hoàn toàn ngược lại Lao động thời kỳ này nếu không qua đào tạo thì không thể làm việc với máy móc trong các công ty xí nghiệp Vì vậy, giáo dục chuyên nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên đội ngũ công nhân có tay nghề, phục vụ cho quá trình hiện đại hóa đất nước

Việc hình thành nên các trường giáo dục chuyên nghiệp là do yêu cầu về trình

độ và kỹ năng đối với người lao động Những học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông nếu không có nhu cầu học lên đại học thì có thể theo học các trường chuyên nghiệp để tìm kiếm việc làm phù hợp Các trường chuyên nghiệp có vai trò cung cấp những kiến thức và kỹ năng cần thiết của một nghề, làm cho người học hiểu được cơ

sở khoa học về vật liệu, công cụ, quy trình công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất Nhiệm

vụ của giáo dục chuyên nghiệp là giúp cho người học có thể thích ứng với sự dịch chuyển của cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề trong xã hội, nâng cao hiểu biết về an toàn lao động Ngoài ra, giáo dục chuyên nghiệp còn rèn luyện các kỹ năng sử dụng công cụ, gia công vật liệu, thao tác kỹ thuật, lập kế hoạch, tính toán, thiết kế và khả

năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực hành: “Đó là những cơ sở ban đầu để

hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo, hình thành thói quen lao động và

tư duy nghề nghiệp, hình thành ý thức đúng đắn đối với nghề nghiệp” [20, tr.74 - 75]

tạo điều kiện thuận lợi cho người học tự tin khi bước vào nghề

Do trường học chuyên nghiệp của nhà nước xây dựng không đáp ứng yêu cầu

về lao động có tay nghề cho các công ty, xí nghiệp nên tại các cơ sở sản xuất cũng có các trường riêng để đào tạo công nhân có tay nghề phục vụ cho công ty Để tránh hiện

Trang 38

tượng các công nhân di chuyển nơi làm việc do chế độ đãi ngộ tiền lương hay phúc lợi

xã hội ở các công ty có sự chênh lệch nhau làm mất đi đội ngũ lao động có tay nghề, các công ty đã tiến hành đào tạo tại nơi làm việc và thực hiện chế độ vừa học vừa làm nhằm nâng tay nghề và năng lực làm việc cho người lao động, tránh tình trạng thiếu lao động có tay nghề Đối với những công nhân lâu năm, có nhiều kinh nghiệm trong công việc thì các công ty cho chuyển từ lao động chân tay sang lao động không chân tay hoặc bằng công tác quản lý ở cấp độ trung hoặc thấp nhằm buộc người lao động phải dâng hiến trọn đời mình cho công ty

Khi công nhân thay đổi công việc của họ theo yêu cầu của công ty thì việc giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp lại cần thiết đối với việc phân bố lại lực lượng lao động

đã được thực hiện trong nội bộ công ty, xí nghiệp và mọi chi phí do công ty chi trả:

“Một số xí nghiệp lớn thậm chí có các trường riêng chuyên sử dụng các việc đào tạo

lực lượng lao động của xí nghiệp Từ đầu thế kỷ XX, các công ty lớn như công ty đóng tàu, công ty khai mỏ, đã xây dựng các trường dạy nghề của riêng mình” [33, tr.141]

Như vậy, mô hình giáo dục chuyên nghiệp của Nhật Bản dưới thời Minh Trị khá đa dạng và phong phú, phù hợp với thực tiễn yêu cầu hiện đại hóa đất nước Việc hình thành các trường chuyên nghiệp cả trong nội bộ xí nghiệp và bên ngoài công ty là xuất phát từ nhu cầu đào tạo nguồn lao động có tay nghề cho nền kinh tế Nhật Bản Điều này cũng cho thấy nền kinh tế thời kỳ này nền kinh tế Nhật Bản thời Minh Trị đã phát triển khá mạnh và vai trò của hệ thống giáo dục đối với công cuộc hiện đại hóa đất nước Một đất nước muốn có nền kinh tế phát triển thì giáo dục phải đi tiên phong trong việc cung cấp đội ngũ lao động chuyên môn đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Bài học từ Nhật Bản sẽ là tấm gương tham chiếu cho những quốc gia nào muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước bởi giáo dục chuyên nghiệp là biện pháp đạt hiệu quả nhất trong yêu cầu phát triển kinh tế của một đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa

2.2.4 Giáo dục ại học

Nếu như những giai đoạn trước, nhà nước chưa quan tâm đến giáo dục Đại học thì đến thời kỳ Minh Trị giáo dục Đại học cũng được nhà nước quan tâm, đặc biệt là vào giai đoạn cuối của thời Minh Trị với mục tiêu đào tạo ra đội ngũ cán bộ khoa học

kỹ thuật chất lượng cao để phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước

Trang 39

Giai đoạn đầu của thời Minh Trị, giáo dục Trung học chưa được phổ cập rộng rãi nên số lượng người có đủ trình độ vào đại học chiếm tỷ lệ không đáng kể do đó đại học chưa có điều kiện phát triển Ở giai đoạn này, cả nước chỉ có 3 trường đại học: đại học Quốc gia, đại học Chuyên môn và trường Cao đẳng Sư phạm Ngoài ra còn có thêm trường trung cấp Shoheiko, trường Kaiseito và trường Ygakujo từ thời Mạc phủ chuyển giao năm 1869, đến năm 1877 các trường này hợp thành trường Đại học Tokyo Về số lượng các ngành đào tạo trong trường đại học ở giai đoạn này còn chịu ảnh hưởng của phong trào Lan học từ thời Tokugawa lưu lại nên số sinh viên theo học ngành lý, hóa, công nghiệp kỹ thuật là đông đảo hơn cả, ngoài ra các ngành khác chưa phổ biến

Năm 1887, bộ Giáo dục dựa trên hai trường Đại học Kaiseito và Ygakujo để chia thành các khoa Y học, Vật lý, Văn khoa, Luật khoa và sử dụng ngay sinh viên tốt nghiệp làm cán bộ giảng dạy ngay sau khi ra trường Đây là thành công bước đầu của giáo dục đại học bởi nó đã phát huy vai trò của mình là đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa đất nước Đồng thời cũng chứng tỏ phương pháp giảng dạy và kiến thức ở các trường đại học tiến bộ không thua gì các nước phương Tây Năm 1886, bộ Giáo dục cho phép thành lập trường Đại học Nông nghiệp, đây là

cơ sở của trường đại học kỹ thuật sau này Đến năm 1890, trường Đại học Công nghiệp cũng ra đời Cả hai trường này đều có đủ các ngành đại học ngay từ giai đoạn phát triển đầu tiên

Nền giáo dục Đại học của thời Minh Trị chỉ thực sự phát triển từ năm Minh Trị thứ 30 trở đi do giai đoạn này các ngành kinh tế của Nhật Bản phát triển mạnh, có nhiều tiến bộ mới cần có nhiều cán bộ kỹ thuật cao cấp để đáp ứng nhu cầu về thị trường lao động có chất xám Vì thế, nhà nước đã cho thành lập các trường đại học để đáp ứng nhu cầu học tập của người và nhu cầu lao động có chất xám của các ngành kinh tế Nhà nước bỏ chính sách tự quản của các trường đại học và đặt chung dưới chế

độ thống nhất của đại học toàn quốc Việc nhà nước quản lý chặt chẽ hệ thống các trường đại học trong nước là bước thành công của nền giáo dục mới Nhà nước cũng

đã xác định trung tâm đại học chính của các nước là trường Đại học Quốc gia Tokyo Nhà nước lấy trường Đại học Tokyo là trung tâm đào tạo những người lãnh đạo nền giáo dục Nhật Bản và đào tạo đội ngũ giáo viên đại học Năm 1897, Đại học Kyoto

Ngày đăng: 23/05/2021, 21:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w