1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quan niệm về tự do của con người trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

11 179 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 471,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là triết học phi duy lý, chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tính độc đáo của nhân vị và tự do của cá nhân đối lập với đoàn nhóm, với sự đồng dạng phổ biến và xã hội đại chúng đề cao duy lý. Triết thuyết này dựa trên quan điểm cho rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý nghĩa và khái niệm cuộc sống của mình, phải tạo ra được một bản sắc riêng cho mình.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

QUAN NIỆM VỀ TỰ DO CỦA CON NGƯỜI TRONG TRIẾT LÝ GIÁO DỤC CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN SINH

The notion of human freedom in educational philosophy of existentialism

ThS Trần Thị Thảo

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Tóm tắt

Là triết học phi duy lý, chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh tính độc đáo của nhân vị và tự do của cá nhân đối lập với đoàn nhóm, với sự đồng dạng phổ biến và xã hội đại chúng đề cao duy lý Triết thuyết này dựa trên quan điểm cho rằng tất cả mọi người phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý nghĩa và khái niệm cuộc sống của mình, phải tạo ra được một bản sắc riêng cho mình Giáo dục là phương thức hữu hiệu nhất để đào tạo ra những con người có bản sắc riêng Theo các nhà hiện sinh, giáo dục mang sứ mệnh khai phóng

ý thức và trách nhiệm của con người về chính nhân vị và sự tự do của họ Với những nhận định đó, bài báo nhằm mục đích làm rõ quan niệm về tự do trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

Từ khóa: chủ nghĩa hiện sinh, tự do, giáo dục

Abstract

Existentialism can be considered a type of irrationalism which emphasizes the individual’s uniqueness and freedom, in opposition to a group, common unity or mass society appreciating rationalism This school of philosophy relies on the notion that all people are thoroughly responsible for the meaning and concept of their own life Education is the most effective way to train people with their own identity Existentialists believe that education has the mission to launch people’s consciousness and responsibility for humanity and their freedom This paper is an attempt to clarify the notion of freedom

in existentialist educational philosophy

Keywords: existentialism, freedom, education

Đặt vấn đề

Chủ nghĩa hiện sinh là một trong

những trào lưu có ảnh hưởng nhất định của

triết học phương Tây thế kỷ XX, đặc biệt là

trong và sau Thế chiến thứ hai Đây là triết

thuyết chống lại triết lý truyền thống, đặc

biệt là chống lại những nỗ lực đã được thực

hiện để tạo ra các hệ thống tư duy trật tự và

trừu tượng

Xuất phát từ việc đề cao tự do của con người, các triết gia hiện sinh đem lại nhiều gợi ý về mặt giáo dục cho nền giáo dục hiện đại Vào những năm 50 của thế kỷ

XX, một số nhà giáo dục học phương Tây

đã vận dụng những tư tưởng triết lý giáo dục hiện sinh vào việc xây dựng triết học giáo dục, đánh dấu sự ra đời của một

trường phái mới trong giáo dục - Giáo dục

Trang 2

hiện sinh (Existentialist Education)

Nội dung

1 Từ quan điểm tự do đến triết lý

giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

Các nhà hiện sinh không viết về giáo

dục chính thức và toàn diện Người ta có

thể chỉ suy luận quan niệm của giáo dục

thông qua triết học của họ Đặc biệt, thông

qua cái nhìn của họ về tính chủ thể và sự

tự do lựa chọn và trách nhiệm, họ nhấn

mạnh đến tính tích cực của cá nhân, của sự

khác biệt về phương pháp giáo dục

Về tính chủ thể, dù khác nhau về lập

trường bản thể luận nhưng các nhà hiện

sinh đều gặp nhau ở chỗ đề cao chủ thể

tính của con người và xem đó là nền tảng

của tự do Theo Jean – Paul Sartre: “Điều

rắc rối là có hai loại hiện sinh […] Điểm

chung giữa họ chỉ là ở chỗ họ cho rằng

hiện hữu đi trước bản chất hay nói cách

khác, họ xuất phát từ tính chủ thể” (Sartre,

2015, tr 27 – 28)

Để giải thích về chủ thể tính, Sartre

khẳng định: “Con người không chỉ tồn tại

như nó được quan niệm, mà còn tồn tại

như nó muốn thể hiện; và vì nó được quan

niệm sau khi có sự hiện hữu, và nó muốn

tỏ ra sau khi có cái đà ấy hướng tới sự hiện

hữu, nên con người không là gì khác ngoài

những gì mà nó tự tạo nên Đó là nguyên

tắc đầu tiên của thuyết hiện sinh Đó cũng

là điều người ta gọi là tính chủ thể” (Sartre,

2015, tr 33)

Tính chủ thể là điểm xuất phát cho sự

tự do của con người Con người như một

tồn tại giữa vũ trụ, nhưng xét ở khía cạnh

văn hóa, nó có thể vươn vượt lên trên vũ

trụ Con người vừa gán cho vũ trụ những

giá trị như mình muốn, vừa tự quy định

một cách tự do Khi con người ý thức được

chủ thể của mình, thì vũ trụ trở thành thụ

động, không còn huyền bí, thần thánh nữa Hơn nữa, con người với tư cách là chủ thể còn có thể thấy rằng sự vật không có khả năng cưỡng bức con người phải công nhận

nó như thế này hay thế kia Thậm chí, tính chủ thể còn giúp con người không bị áp bức, thôn tính bởi tha nhân, giúp con người dám nhìn thẳng vào thực tế cuộc sống, bỏ vào ngoặc những ý tưởng trừu tượng phi thực tế

Về sự tự do lựa chọn và trách nhiệm đối với sự lựa chọn: Theo các nhà hiện

sinh, nếu cần định nghĩa người thì người đầu tiên không là gì cả, về sau có thành cái

gì thì là do sự lựa chọn của tự do Tự do là hữu, là bản thể của hiện hữu nhân loại, của

cá nhân Con người không thể chối bỏ được điều đó bởi lẽ như vậy là từ chối vị trí căn bản của đời mình Tự do là cái được phán quyết cho con người Do đó, con người không phải được tự do mà bị tự do

Trong tác phẩm kinh điển của mình, Hữu thể và vô thể, Sartre đã tuyên bố: “Thực ra,

chúng ta là một tự do để lựa chọn, nhưng chúng ta không chọn được tự do: chúng ta

bị lên án phải tự do (Sartre, 2014, tr 530)

Sự kết án ấy bắt nguồn từ thực tế rằng con người bị ném vào tự do Vì vậy con người hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn, lựa chọn hành vi, lựa chọn thái độ sống và

ý nghĩa cuộc đời của mình, bởi vì “Tôi là người, và mỗi người phải sáng tạo nên đường đi của chính mình” (Sartre, 1967, tr 127)

Nhà hiện sinh đích thực không cho phép họ đi theo một khuôn phép nhất định nào Mỗi một cá nhân đều có quyền lựa chọn cho mình một cách sống, một thái độ sống, một bản chất sống không giống bất

kỳ ai, tức có ý thức để trở thành hiện sinh - tôi phải tự định đoạt số phận của tôi Mọi

Trang 3

thứ luân lý đối với nhà hiện sinh đều là vô

nghĩa nếu như nó bị khước từ tự do Tự do

là động lực của mọi thay đổi khi con người

đã nhận ra tự do của họ Bản chất của con

người sẽ được khai lộ trong chính lựa chọn

của họ Trong từng hoàn cảnh, từng điều

kiện, từng giai đoạn sống con người sẽ có

những lựa chọn để tạo tác nên chính bản

thân mình

Tự do trong quan niệm của chủ nghĩa

hiện sinh là tự do lựa chọn, nhưng không

tùy tiện mà gắn liền với trách nhiệm Trách

nhiệm đối với sự lựa chọn tự do được xem

xét từ những giác độ sau:

Một là, con người khi đã hiện hữu, đã

lựa chọn thái độ hiện sinh của mình thì phải

chịu trách nhiệm về sự lựa chọn bản chất

hiện sinh của mình Người hiện sinh dùng

tự do để lựa chọn, định đoạt cuộc đời mình

Mỗi quyết định là mỗi giá trị hiện sinh vì

mỗi một quyết định đó đều đòi hỏi một tinh

thần trách nhiệm cao cả Người hiện sinh là

con người tự do siêu việt mà không một thế

lực nào có thể đe dọa, vây hãm Họ là

những con người tự do đích thực khi đã tự

đảm nhiệm hành động của mình

Hai là, khi đưa ra lựa chọn thì con

người không chỉ có trách nhiệm trước bản

thân, mà còn trước người khác và trước

toàn xã hội về sự lựa chọn đó Khi chúng

ta lựa chọn hành động như thế này hay như

thế khác, thì chúng ta đã khẳng định giá trị

của điều mà chúng ta đã chọn

Ba là, con người phải chịu trách

nhiệm đến cùng về sự lựa chọn của mình

cho dù kết quả của nó có như thế nào, là

thành hay bại Trách nhiệm đeo bám con

người suốt cả cuộc hành trình của cõi nhân

sinh, không vì cái gì mà từ bỏ nó, không vì

một sự thỏa hiệp nào mà chối bỏ nó, nó là

định mệnh của con người, gắn với tự do

của con người

Như vậy, có thể nói, trong tư tưởng tự

do của chủ nghĩa hiện sinh lựa chọn và trách nhiệm (đối với tự do) là yếu tố quan trọng nhất Trách nhiệm không phải là sự sao chép lại tự do Tự do là cái vốn có của mỗi người, hoàn toàn không nhất thiết phải được cấy ghép vào mỗi cá nhân riêng biệt

để rồi qua đó, cá nhân này bỗng dưng lại bị

cô lập khỏi những người khác Sartre đã lập luận: “Khi nói rằng con người tự mình lựa chọn, thì chúng tôi hiểu rằng mỗi người trong chúng ta tự mình lựa chọn, nhưng qua đó, chúng tôi cũng muốn nói rằng, trong khi tự mình lựa chọn ta lựa chọn tất

cả mọi người” (Sartre, 2015,tr.35) Với nghĩa đó, mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về mọi người, đều phải lựa chọn con người nói chung, lựa chọn mô hình con người Theo chúng tôi, điều quan trọng là, khi tiến hành sự lựa chọn của mình, con người không hành động một cách mù quáng, mà tuân thủ kết quả triết lý của mình Con người lựa chọn hình ảnh không những của bản thân mình, mà còn của những người khác nhờ chính kết quả triết

lý đó

Để con người có được tự do, Theo các nhà hiện sinh, giáo dục đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho con người nhận thức được tự do của mình và tự thiết kế mình thành con người tự do Theo Kierkegaard, giáo dục hiện sinh tập trung vào mục đích làm cho người trở thành chính bản thân nó, tự do, độc lập Muốn vậy các cá nhân chỉ có thể lấy sự lựa chọn tồn tại của riêng mình và sau đó ghi lại sự thật tồn tại hoặc chủ quan trong cuộc sống riêng của họ Vấn đề là cá nhân không thể sống bằng trải nghiệm của người khác Vì vậy chủ nghĩa hiện sinh đề cập một quan

Trang 4

điểm giáo dục hướng tới sự khai phóng tự

do con người cá nhân cụ thể

a Về mục đích giáo dục

Đối với các nhà hiện sinh, mục đích

của giáo dục là cung cấp trải nghiệm sâu

rộng và toàn diện với cuộc sống dưới mọi

hình thức, là cho phép mỗi cá nhân tự phát

triển tiềm năng đầy đủ nhất của mình để tự

hoàn thành Do đó, mục đích giáo dục hiện

sinh bao gồm những vấn đề sau:

Phát triển bản thân đích thực của

người học

Các nhà hiện sinh cho rằng con người

không chỉ là trí tuệ, mà còn là cảm giác và

cảm xúc Do đó, người học phải học cách

cảm nhận, để trở thành một “cá nhân được

chứng thực” Mối quan tâm chính của chủ

nghĩa hiện sinh là sự tồn tại của “bản thân”

Sartre giải thích hai dạng của tồn tại đó là

tồn tại tự thân và tồn tại vị thân Tồn tại tự

thân là dạng tồn tại trong chính hiện trạng

thực tế của nó còn tồn tại vị thân là dạng

tồn tại mà con người sẽ kiến tạo nên bản

thân mình bằng những nỗ lực Giáo dục sẽ

giúp người học phát triển bản thân mình

theo hướng tồn tại vị thân Do đó, mục tiêu

của giáo dục là phải giúp người học phát

triển một quy mô nhất quán các giá trị, xác

thực sự tồn tại của chúng bằng cách cam

kết với các giá trị này và hành động để đạt

được các giá trị đó

Hỗ trợ khả năng tự nhận thức ở người học

Giáo dục giúp người học đạt được sự

tự giác Theo quan điểm của các nhà hiện

sinh, một nền giáo dục tốt là một nền giáo

dục giúp mỗi chúng ta nhìn thấy chính

mình với những nỗi sợ hãi, thất vọng và hy

vọng, cũng như những cách chúng ta sử

dụng tri thức và đạo đức Bước đầu tiên

trong bất kỳ nền giáo dục nào đó là làm

cho con người phải hiểu được chính bản

thân con người Sartre đã tuyên bố rằng:

“Con người không là gì khác ngoài dự phóng của mình, nó chỉ tồn tại trong giới hạn nó hiện thực hóa bản thân, vì vậy con người không là gì khác ngoài toàn bộ các hành vi của mình, không có gì khác ngoài đời sống của nó” (Sartre, 2015, tr.58)

Do đó, giáo dục hiện sinh đảm nhận trách nhiệm đánh thức mỗi cá nhân về sức mạnh của bản thân mình (xác định bản thân

là hiện tượng của nhận thức về tính chủ thể) Hiện sinh đề cao phương pháp học tập trong đó đặc điểm và giá trị của bản thân được truyền đạt một cách có ý nghĩa

Chuẩn bị cho con người đối mặt với bi kịch của cuộc sống

Mỗi cá nhân phải đối mặt với nhiều tình huống bi thảm trong cuộc sống của mình Sự kiện bi thảm quan trọng nhất và không thể tránh khỏi là cái chết Theo Heidegger con người là một tồn tại hướng đến cái chết Một trong những mục tiêu chính của giáo dục chủ nghĩa hiện sinh là

thái độ đúng đắn đối với cái chết

Giáo dục cho cái chết có thể được đưa vào để hiểu rõ hơn về cuộc sống tốt đẹp và nghĩa vụ của một người trong cuộc sống Con người nên nhận thức được cái chết của mình trong từng khoảnh khắc của cuộc sống Việc nhận ra cái chết này sẽ giúp ích trong việc tận hưởng từng khoảnh khắc trong cuộc sống của con người do thực tế

là họ đã chuẩn bị cho cái chết Thomas Flynn đã nhận xét rằng: “Đối với Heidegger, chính sự cương quyết chấp nhận tồn – tại – hướng – đến – cái – chết của mình mới đưa những mối bận tâm rải rắc khác vào trong việc nhận biết ý nghĩa của tồn tại Đây là một cách trải nghiệm khác về sự bất tất của ta Một khi nhận ra rằng vào lúc nào đó tại nơi nào ta sẽ không

Trang 5

còn nữa, ta có thực nhận nào đó về ý nghĩa

của sự hiện hữu” (T Flynn, 2018, tr.134)

Hiểu được tầm quan trọng của sự lựa

chọn làm nên sức mạnh của bản thân

Giáo dục nên đào tạo con người để

đưa ra lựa chọn tốt hơn và nhận thức được

rằng vì sự lựa chọn không bao giờ hoàn

hảo, nên hậu quả không thể dự đoán được

Cuộc sống là một quá trình liên tục đưa ra

lựa chọn và tất cả các lựa chọn là riêng tư

và cá nhân

Phát triển năng lực cho sự lựa chọn tự

do bao gồm hai bước cơ bản: (1) trau dồi

khả năng đưa ra quyết định tự do và hợp lý

và (2) phát triển thiên hướng để đưa ra

quyết định như vậy ngay từ đầu Trong đó

bước thứ 2 là quan trọng hơn Mục đích cơ

bản của giáo dục theo chủ nghĩa hiện sinh

là phát triển ý thức cam kết lựa chọn tự do

Chuẩn bị cho người học thích nghi với

xã hội

Nhờ giáo dục nên con người có thể

nhìn xa hơn lợi ích và mục tiêu cá nhân

Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng giáo dục xã

hội nên dạy cách tôn trọng tự do của tất cả

mọi người Tôn trọng sự tự do của mình

cũng như những người khác là cần thiết

như nhau Giáo dục tốt sẽ chuẩn bị cho con

người ý chí tự do của mình, đồng thời đưa

đến tự do cho tất cả những người khác Khi

con người khẳng định giá trị của bất kỳ

hành động nào cũng là đang khẳng định

một giá trị với lời kêu gọi phổ quát “Tôi

chịu trách nhiệm cho bản thân và cho tất cả

mọi người” Sartre cho rằng:

Nếu chúng ta muốn hiện hữu cùng một

lúc với việc chúng ta nhào nặn nên hình

ảnh của mình, thì hình ảnh ấy có giá trị đối

với tất cả mọi người và đối với toàn bộ thời

đại chúng ta Như vậy trách nhiệm của

chúng ta lớn lao hơn nhiều so với những gì

mà chúng ta có thể nghĩ đến, vì nó liên quan đến toàn thể nhân loại […] Như vậy tôi chịu trách nhiệm với chính mình và với mọi người, và tôi đã sáng tạo ra một hình ảnh nào đó về con người mà tôi đã lựa chọn; khi chọn lấy chính tôi, tôi chọn con người (Sartre, 2015, tr.36 – 37)

Chính vì con người luôn sống cùng với những sinh mệnh khác cho nên giáo dục có trách nhiệm làm cho con người hội nhập vào các hình thức và cấu trúc, nhóm và thể

chế của xã hội

Phát triển ý thức trách nhiệm của người học

Giáo dục hiện sinh nhấn mạnh đến tầm quan trọng của trách nhiệm cá nhân, và cho rằng không có lối nào thoát khỏi trách nhiệm cá nhân Nhiệm vụ của giáo viên là

hỗ trợ học sinh tự chịu trách nhiệm, đối mặt với thế giới một cách có trách nhiệm Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng đối với tất cả các lựa chọn của mình, con người không thể đổ lỗi cho người khác, cho dù đó là cha

mẹ hay xã hội và họ thậm chí không thể đổ lỗi hoàn cảnh sống của mình Hơn nữa, không có gì để hướng dẫn họ trong lựa chọn của họ; không có nguyên tắc hay quy tắc nào có thể đảm bảo rằng bất kỳ sự lựa chọn nào là đúng Mọi người chỉ cần lựa chọn và chấp nhận hậu quả mặc dù hậu quả

có thể không lường trước được

b Về chương trình giảng dạy

Theo chủ nghĩa hiện sinh, chương trình giảng dạy biểu tượng cho một thế giới tri thức để khám phá Kiến thức sẽ cung cấp nội dung cụ thể để thực hiện phân tích

và phê bình tự do và thiết lập một nền tảng vững chắc cho nỗ lực sáng tạo cá nhân Chủ nghĩa hiện sinh thừa nhận “sự khác biệt cá nhân” hay còn gọi là nhân vị

“Nhân vị của con người chính là hiện sinh

Trang 6

của nó mang bộ mặt riêng biệt, đặc thù xa

lạ với mọi tính cách phổ quát” (Nguyễn

Tiến Dũng, 2006, tr.78) và nhấn mạnh vào

sự đa dạng chương trình giảng dạy phù hợp

với nhu cầu, khả năng và năng khiếu của cá

nhân Chương trình giảng dạy cần đáp ứng

nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài Nó

nên được thiết kế để người học có mọi trải

nghiệm tạo nên cuộc sống của mình

Chương trình giảng dạy nên được lựa

chọn, sắp xếp và sở hữu bởi người học vì

mỗi cá nhân có nhu cầu và sở thích cụ thể

liên quan đến sự tự hoàn thành của mình

Triết học hiện sinh có thể trang bị cho

người học cơ sở để lựa chọn tính chủ thể,

vì nó cung cấp cho họ cơ hội lớn hơn cho

sự phát triển và thể hiện cá nhân

Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh giáo

dục là để làm cho người học nhận ra những

đặc ân mà cuộc sống dành cho họ để thực

thi quyền tự do Triết thuyết này cũng đồng

thời phản đối bất kỳ loại hình đào tạo nghề

nào ở giai đoạn sớm vì nó không giúp

người học trở thành một cá nhân tự do, mà

ngược lại đào tạo họ trở thành một dạng

người cụ thể, mặc định nào đó

Về giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức

phải dựa trên những nguyên tắc đạo đức

mà người ta đã chọn một cách có ý thức

hoặc sắp chọn cho “chính bản thân mình”

vì sự phán xét đạo đức và tính cách cá nhân

có nguồn gốc từ bản thân chủ quan Điều

này có nghĩa là cá nhân phải được tự do lựa

chọn đạo đức và giá trị của chính mình

trong cuộc sống Do đó, trong chương trình

giảng dạy của chủ nghĩa hiện sinh cần bao

gồm tất cả những gì hỗ trợ cho sự xác lập

tự do cá nhân đích thực

c Về phương pháp giảng dạy

Theo chủ nghĩa hiện sinh, phương

pháp giảng dạy phải phát huy được khả

năng sáng tạo của người học Trong phương pháp dạy học, chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh vào việc áp dụng các kỹ thuật hướng dẫn thu hút cảm giác, cảm xúc, sáng tạo và ý nghĩa sâu sắc hơn của cuộc sống Chủ nghĩa hiện sinh ủng hộ phương pháp giảng dạy Socrates Đây là phương pháp đặt câu hỏi, lọc chỉnh câu trả lời, đặt nhiều câu hỏi hơn và đẩy vấn đề cho đến khi đạt được kết luận chấp nhận được Giáo viên tìm cách thu thập thông tin

từ học sinh bằng các câu hỏi được định hướng khéo léo Sinh viên tư duy bằng cách tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi của giáo viên Phương pháp này dựa trên giả định rằng kiến thức là bẩm sinh nhưng chúng ta khó có thể rút ra được nếu không

có sự trợ giúp của chuyên gia Sở dĩ chủ nghĩa hiện sinh ủng hộ cách tiếp cận Socratic trong giảng dạy là vì phương pháp Socrates là cá nhân, dễ gần và người học đạt được kiến thức và trí tuệ thông qua sự tương tác lẫn nhau giữa người dạy và người học Theo các nhà hiện sinh, bất kỳ phương pháp nào có khả năng kiểm tra đời sống nội tâm mà không can thiệp vào tính chủ quan của cả giáo viên và người dạy đều được chấp nhận Phương pháp Socrates bao gồm “phương pháp nêu vấn đề” Mặc dù ủng hộ phương pháp Socrates nhưng chủ nghĩa hiện sinh không khuyến khích phương pháp nêu vấn đề vì nó không mang tính cá nhân, không hiệu quả và thường có định hướng xã hội Tuy nhiên,

họ thừa nhận phương pháp vấn đề nếu vấn

đề bắt nguồn từ cuộc sống của người phải tìm ra giải pháp chứ không chấp nhận nếu vấn đề xuất phát từ nhu cầu của xã hội Chủ nghĩa hiện sinh không ủng hộ giáo dục đại chúng vì nó dẫn đến việc học vẹt nghĩa là người học lặp lại những gì

Trang 7

mình đã được dạy trong lớp Họ cũng từ

chối phương pháp nhóm vì trong hoạt động

nhóm, tính ưu việt của quyết định nhóm

nổi bật hơn so với quyết định cá nhân nên

cơ hội thể hiện sư độc đáo của cá nhân và

sự lựa chọn tự do bị mất Các nhà hiện sinh

cho rằng trước tiên giáo viên xem học sinh

như những cá nhân và cho phép họ có một

vai trò tích cực trong việc định hình giáo

dục và cuộc sống của chính họ, sống động

trong từng khoảnh khắc, theo Sartre: “Mỗi

khoảnh khắc chỉ xuất hiện để đưa dẫn

những khoảnh khoảnh khắc tiếp theo Tôi

đem hết lòng mình ra nâng niu từng

khoảnh khắc: tôi biết rằng mỗi khoảnh

khắc là độc nhất, không thể thay thế

được… Tôi cúi mình trên mỗi phút giây,

tôi cố tâm sống cho cùng kiệt nó, chẳng có

gì xảy ra mà tôi không nắm bắt lấy”

(Sartre, 1967, tr 74)

Đúng là nếu học sinh mang nền tảng

kinh nghiệm đến trường sẽ ảnh hưởng đến

quyết định cá nhân, nhưng nhìn chung, các

nhà hiện sinh cho rằng trường học và tổ

chức của họ là nơi tự do, nơi học sinh được

khuyến khích làm việc vì sự đa dạng trong

giáo dục, không chỉ trong chương trình

giảng dạy, mà trong cả cách dạy học

Khi người học được khuyến khích theo

đuổi các dự án họ sẽ phát triển các kỹ năng

cần thiết và có được kiến thức cần thiết

Phương pháp hiện sinh tập trung vào cá

nhân riêng biệt Học là tự học, tự học chỉ

đạo và bao gồm rất nhiều liên hệ của cá

nhân người học với giáo viên, người liên

quan đến mỗi học sinh một cách cởi mở và

trung thực

d Về trường học

Trong giáo dục, chủ nghĩa hiện sinh

tập trung vào cá nhân riêng biệt, tìm kiếm

sự hiểu biết cá nhân về thế giới Thông qua

cách giải thích này, mỗi cá nhân đặc trưng cho mình bằng các khái niệm về thực tế,

sự thật, lòng tốt và kết quả là các trường học tồn tại để giúp người học nhận thức được bản thân và vị trí của mình trong xã hội Trong trường phái hiện sinh thì con người phi lý trí, tức là bản thân thẩm mỹ, đạo đức và cảm xúc của con người thể hiện rõ hơn bản thân lý trí, khoa học Những người theo chủ nghĩa hiện sinh quan tâm nhiều hơn đến phát triển khía cạnh hiệu quả của con người - khả năng yêu thương, đánh giá cao và đáp ứng tình cảm với thế giới xung quanh

Mục đích của trường học là để nuôi dưỡng sự tự lập và trau dồi sự tự đánh giá Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng việc tiếp tục thử nghiệm sư phạm và tâm lý sẽ chẳng ích

gì nếu đứa trẻ không được nuôi dưỡng trong một trường học nhân hóa Nhà trường cần cung cấp môi trường nơi các cá nhân phát triển một cách lành mạnh Trường học chủ yếu là một nơi để có kinh nghiệm với cuộc sống từ đó chủ nghĩa hiện sinh, cũng như chủ nghĩa thực dụng bác bỏ lý thuyết học giả Vì vậy, các trường học nên hòa mình trong cuộc sống của học sinh Nhà trường phải là một diễn đàn nơi sinh viên có thể tham gia đối thoại với các sinh viên và giáo viên khác để giúp họ làm rõ tiến trình hướng tới sự hoàn thiện bản thân

Tư tưởng dân chủ được thực thi trong trường học Nó phải là nền dân chủ của những cá nhân độc đáo coi trọng sự khác biệt

và tôn trọng lẫn nhau Người học được tham gia lập kế hoạch và khuyến khích một bầu không khí tự do đặc trưng cho trường học Tuy nhiên, yếu tố môi trường gia đình được chủ nghĩa hiện sinh đề cao Các nhà hiện sinh khẳng định rằng phát triển giáo dục không thể diễn ra mà không có sự hỗ

Trang 8

trợ từ cuộc sống gia đình Ở trường, trẻ có

ý tưởng trở thành một đối tượng như trong

số nhiều người trong khi ở nhà, nó tự định

hình bản thân mình Trong gia đình, trẻ tìm

thấy điều kiện thích hợp để bồi dưỡng bản

thân đích thực Cũng Chính trong gia đình,

trẻ em trải qua tình yêu của cha mẹ và mối

quan tâm thường xuyên đối với lợi ích của

chúng mà nhân loại giúp chúng làm chủ

những khó khăn của cuộc sống hàng ngày

e Về vai trò của người thầy

Chủ nghĩa hiện sinh được xem là một

trường phái triết học xem giáo dục là sự

đánh thức lại sự quan tâm của con người

đối với bản thân, nhiệm vụ của giáo viên

là đánh thức sự tự do và trách nhiệm của

học sinh

Chủ nghĩa hiện sinh là một triết lý dựa

trên quan niệm rằng sự tồn tại của con

người là một kinh nghiệm nội tại, chủ

quan Nó cho rằng con người có thể vượt ra

ngoài sự tồn tại đơn thuần là bản chất, bằng

cách tích cực tìm cách khám phá tính mục

đích trong sự tồn tại của họ và gán cho ý

nghĩa cá nhân của nó Họ làm điều này

bằng cách xác thực, lựa chọn độc lập và

bằng cách nhận trách nhiệm về hậu quả của

những lựa chọn trong suốt cuộc đời của họ

Do đó, các giáo viên phải nhận ra rằng

thực tế được trải nghiệm một cách chủ

quan và sau đó họ phải tôn trọng và nuôi

dưỡng thực tế chủ quan của học sinh Họ

có thể làm điều này bằng cách áp dụng hai

nguyên tắc hiện sinh trong lớp học của họ

Đầu tiên, giáo viên phải hứng thú thay

vì ngăn cản sự trải nghiệm xác thực của

học sinh Thứ hai, họ có thể khuyến khích

học sinh của mình “can đảm để trở thành”

bằng cách nhận ra thực tế chủ quan của học

sinh, bằng cách tôn vinh sự chân thực và

bằng cách khuyến khích học sinh với cơ

hội để trở thành tốt nhất họ có thể

Giáo viên phải đảm bảo nguyên tắc tự thực hiện Đối với điều này, giáo viên phải thấy rằng cá nhân học sinh liên quan đến các vấn đề của họ bởi vì người ta không thể nhận ra chính mình mà không hoàn thành công việc theo cách riêng của mình Vai trò của giáo viên là hỗ trợ để họ sinh trở thành “bản gốc” và “xác thực” Giáo viên cần nỗ lực để thấy năng lực tự quản trị của học sinh để giúp họ trở nên tự do và linh hoạt

Giáo viên phải chủ động trong vai trò giảng dạy của mình Tác dụng của thầy đối với trò phải có “tính sản xuất” chứ không nên có tính “sao chép” hàng loạt tạo ra một mẫu người theo mô thức của thầy Dạy học trò “làm người là dạy phải vượt qua và vượt trên ông thầy Ông thầy nào biết dạy môn sinh như thế thực đáng gọi là ông thầy cao

cả, ông thầy dạy ta làm người, chớ không dạy ta làm môn sinh suốt đời” (Trần Thái Đỉnh, 2015, tr.149) Nietzsche viết: “Giờ đây ta ra lệnh cho các ngươi hãy đánh mất

ta và tìm chính bản lại diện mục của các ngươi; chỉ khi nào tất cả các ngươi đều chối

bỏ phủ nhận ta, lúc đó ta mới trở lại cùng các ngươi” (F.Niezsche, 2003, tr.159) Giáo viên phải khuyến khích sự sáng tạo, khám phá của người học, nhưng không nên cố gắng hướng sinh viên hoặc áp đặt ý chí của mình lên họ Trách nhiệm và nghĩa

vụ của giáo viên hiện sinh là rất khó khăn

vì trong cách đối xử với “tha nhân”, người giáo viên phải giữ sự chủ quan của chính mình đồng thời nhận ra sự chủ quan của người khác Theo Jaspers, nhà giáo dục thực thụ là người suốt đời tham gia vào quá trình tự giáo dục thông qua giao tiếp Giáo dục chỉ có thể trở nên đúng đắn nếu người tiếp nhận nó có được khả năng giáo dục

Trang 9

bản thân thông qua việc học tập nghiêm

ngặt và bền bỉ

f Về mối quan hệ giữa giáo viên và

học sinh

Chủ nghĩa hiện sinh nhấn mạnh rằng

mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh

của mình phải thân mật, gần gũi, sống

động và cá nhân hơn so với mối quan hệ

hiện có giữa hai người trong trường học

truyền thống Học sinh trước hết được xem

như một cá nhân, biết tự chịu trách nhiệm

về những suy nghĩ, niềm tin và cách cư xử

của chính mình Vai trò của giáo viên là

cung cấp các con đường để thăm dò học

sinh, tạo ra một môi trường mà họ có thể tự

do lựa chọn cách ưa thích của riêng mình

Tất cả các nhà hiện sinh lên án các mối

quan hệ mang tính hình thức Họ khẳng

định rằng mối quan hệ giữa giáo viên và

học sinh phải rất chặt chẽ liên quan đến sự

thân mật trong việc thông giao Giáo viên

cũng như học sinh trong mọi trường hợp

phải là một nhân cách tự do của riêng họ

Giáo viên phải giao thoa hài hòa, người

giáo viên hiện sinh là phải chia tâm hồn

mình thành hai thái cực: ngoan ngoãn và

nổi loạn nhưng giáo viên phải có sự chính

trực, hòa nhập với học sinh thông qua hành

động và thái độ của mình

2 Ảnh hưởng quan điểm tự do trong

triết lý giáo dục của chủ nghĩa hiện sinh

đối với giáo dục hiện nay

Tuy không trình bày một cách rõ ràng

và có hệ thống về giáo dục nhưng chủ

nghĩa hiện sinh là một triết lý mang tính

giáo dục Nó thể hiện sự tiếp nối một số

truyền thống của châu Âu và giải quyết các

vấn đề quan trọng của thời điểm đương đại

cho cả triết học và cuộc sống Việc đánh

thức sự quan tâm của con người đối với

chính mình là đặc điểm chính của giáo dục

hiện sinh Các nhà hiện sinh khẳng định rằng một nền giáo dục tốt sẽ khuyến khích con người nhận thức được rằng cá nhân con người là một sinh vật tình cảm và phi

lý hơn là một sinh vật vô cảm và duy lý Quan điểm tự do của chủ nghĩa hiện sinh đề cao tính chủ thể Đó là những trải nghiệm độc đáo của riêng cá nhân đến từ nhận thức của chính bản thân Nhận thức này không chỉ giới hạn ở lý trí hoặc trực giác mà bao gồm các trải nghiệm về cảm giác, đức tin, hành động có ý thức phản xạ trước các mối quan hệ Con người tách mình ra khỏi tập thể và bắt đầu quá trình thực hiện những khả năng do chính mình

đề xuất Cá nhân ý thức được rằng họ phải chịu trách nhiệm cho những gì đã làm Điều này có những đóng góp cho giáo dục,

nó giúp học sinh và giáo viên tạo ra ý nghĩa trong cuộc sống của họ, khám phá những ý tưởng về bản thân và thế giới của

họ Quan niệm này có thể làm sáng tỏ và mang lại nhiều yếu tố dân chủ hơn cho giáo dục Việt Nam, đặc biệt là mang đến cho giáo viên phương pháp giáo dục mới

để đào tạo nên những học sinh có tư chất độc lập, sẵn sàng thích nghi và ứng phó với tình huống bất trắc của cuộc sống

Xã hội hiện đại làm cho con người trở nên khách quan đến mức mối quan hệ của con người với bản thân bị phá vỡ Con người bị quy đồng trong những mẫu số chung của những định chế, quy ước của xã hội, luôn lo lắng và thất vọng Cá nhân trở thành con người phiến diện, con người một chiều kích Marcuse cho rằng: “khi sự phát triển của công nghệ hiện đại tạo ra những

“false needs” (những nhu cầu giả tạo), ví dụ như chủ nghĩa tiêu thụ, và là cái bóng khổng

lồ chế ngự sự đa dạng, tính sáng tạo, cái nhìn khai phóng trong đời sống con người”

Trang 10

(H Marcuse, 2007, tr.7) Hình tượng “một

chiều” ở đây ám chỉ việc con người đang bị

kẹt trong một kiểu sống mòn, khi các

phương tiện truyền thông cùng nhau truyền

tải lặp đi lặp lại một vài thông điệp và

quảng bá một vài giá trị nhất định trong khi

kiến thức ngày nay là đa chiều Bản chất

con người có nhiều mặt, phức tạp và liên

quan đến sự khác biệt cá nhân Do đó, quan

điểm tự do trong triết lý giáo dục hiện sinh

góp phần đáp ứng nhu cầu của thời đại mới,

dần dần đưa người học đến tính chủ thể Sự

quan tâm của chủ nghĩa hiện sinh hướng

đến “con người” - con người chân chính và

đích thực, những lựa chọn của con người

được thực hiện với toàn bộ trách nhiệm về

kết quả của sự lựa chọn để tự do Hay nói

cách khác tự do của chủ nghĩa hiện sinh

nhấn mạnh đến sự tồn tại của con người,

phẩm chất của từng cá nhân hơn là con

người trong trừu tượng của tự nhiên và thế

giới nói chung Cho nên, quan điểm giáo

dục của chủ nghĩa hiện sinh hướng đến làm

phong phú trí tuệ của con người để họ có

thể được tôn trọng trong mắt của chính

mình và của những người khác Chính điều

này thúc đẩy sự sáng tạo của người học, tạo

sự khai phóng trong giáo dục, không rập

khuôn, máy móc

Tuy nhiên, bên cạnh đó, quan niệm về

tự do trong triết lý giáo dục của chủ nghĩa

hiện sinh cũng có những hạn chế

Các mục tiêu, chương trình giảng dạy

và phương pháp theo chủ nghĩa hiện sinh là

phụ thuộc vào sự lựa chọn và tự do của cá

nhân Một chương trình giáo dục như vậy

rất khó để thực thi đại chúng; Mối quan hệ

cá nhân của giáo viên yêu cầu giáo viên

phải có sự hiểu biết sâu sắc về mọi tính

cách của học sinh sẽ đòi hỏi rất nhiều thời

gian và công sức

Các khái niệm về “tồn tại”, “nhân vị” vốn dĩ không được chủ nghĩa hiện sinh làm

rõ với tư cách là hệ thống phạm trù, bỡi lẽ chủ nghĩa hiện sinh luôn từ chối tính hệ thống Do đó, không dễ để xây dựng một chương trình giáo dục khi thuật ngữ cho các mục tiêu của quá trình giáo dục không

rõ ràng

Tư tưởng giáo dục hiện sinh hướng tới phát triển cá nhân quá nhấn mạnh tính cá nhân đến mực cực đoan cho nên con người khó đạt được sự hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên, tự do chỉ thực sự đạt được trong bối cảnh xã hội của cộng đồng Giáo dục phải làm cho cá nhân có trách nhiệm tập thể Giáo dục là một quá trình tương tác và con người chỉ có thể có kinh nghiệm khi làm việc cùng nhau trong

xã hội thông qua đối thoại, tương tác

3 Kết luận

Trái ngược với thế giới quan có trật tự

đã được trình bày bởi các triết lý truyền thống, chủ nghĩa hiện sinh cố gắng giải phóng con người khỏi thế giới các mô phỏng Chủ nghĩa hiện sinh làm nổi bật tâm lý con người, tự do cá nhân và trách nhiệm cá nhân, mạnh dạn định nghĩa con người là một cá nhân chịu trách nhiệm tự nhận mình trong lĩnh vực của đời mình Trong nỗ lực tiếp cận ban đầu, mọi người phải thấy được kết quả rằng họ tạo ra bản chất và giá trị của mình mà không sử dụng các tiêu chí bên ngoài Giáo dục hiện sinh coi tự do của con người là nhiệm vụ quan trọng nhất của nó Giáo viên hiện sinh nhấn mạnh tâm lý của cá nhân và cố gắng thúc đẩy sự tự nhận thức và ý thức trách nhiệm trong học sinh Thông qua các lựa chọn có ý nghĩa cá nhân, người học có thể

tự tạo cá tính cho riêng mình Mục tiêu của loại hình giáo dục này không thể được xác

Ngày đăng: 11/02/2020, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w