Nghiên cứu triết học giáo dục là một vấn đề cần thiết và quan trọng, vì triết học giáo dục tìm hiểu các vấn đề giáo dục trên bình diện rộng và ở tầm cao của lý luận, cho phép chúng ta đi sâu vào bản chất của các hiện tượng giáo dục do đó đề xuất đúng những vấn đề then chốt, đúng trọng tâm là chìa khóa để giải quyết thành công các vấn đề về giáo dục.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nghiên cứu triết học giáo dục là một vấn đề cần thiết và quan trọng, vìtriết học giáo dục tìm hiểu các vấn đề giáo dục trên bình diện rộng và ở tầmcao của lý luận, cho phép chúng ta đi sâu vào bản chất của các hiện tượnggiáo dục do đó đề xuất đúng những vấn đề then chốt, đúng trọng tâm là chìakhóa để giải quyết thành công các vấn đề về giáo dục
Ngày nay, thời đại đang bước vào kỷ nguyên toàn cầu hoá, kinh tế trithức, hội nhập quốc tế Giáo dục đang giữ vai trò đặc biệt quan trọng cho sựphát triển xã hội, sự phát triển cá nhân, động lực của sự phát triển kinh tế xãhội Đầu tư cho giáo dục từ chỗ được xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu
tư cho phát triển Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra cuộc chạy đua quyết liệt
về mặt phát triển, tập trung vào phát triển kinh tế song chỉ có thể thắng trongcuộc chạy đua này hoặc ít nhất không bị tụt hậu trong cuộc chạy đua nếu pháttriển tốt giáo dục Tập trung và chăm lo cho phát triển giáo dục là giải pháphữu hiệu chống nguy cơ tụt hậu về văn hoá, khoa học, kinh tế Điều này đặcbiệt quan trọng đối với những nước đang phát triển, đang tiến hành côngnghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta hiện nay
Vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước pháttriển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổimới giáo dục mà trước hết là đổi mới tư duy giáo dục có nghĩa là phải đổi mớicách suy nghĩ, cách làm giáo dục hiện nay để có thể đáp ứng một cách năngđộng hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước
Muốn đổi mới tư duy giáo dục thì cần phải nhận thức lại từ các vấn
đề triết học, triết lý, các vấn đề phương pháp luận từ đó mới có cơ sở lý luận
và thực tiễn để đưa ra các giải pháp phù hợp trong giải quyết các vấn đề giáodục, mà muốn nhận thức được các vấn đề này thì cần thiết phải xây dựngđược hệ thống lý luận triết lý giáo dục Việt Nam phù hợp với văn hóa ViệtNam, với điều kiện thực tiễn của Việt Nam
Trang 2Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, các tư tưởng giáo dụckhác nhau được nảy sinh không chỉ trên những điều kiện kinh tế xã hội đươngthời, phản ánh trình độ phát triển khác nhau của xã hội, mà còn được nảy sinhtrên những quan điểm triết học, thế giới quan nhất định Việc nghiên cứu cơ
sở triết học của giáo dục có ý nghĩa to lớn về phương pháp luận trong quátrình nghiên cứu giáo dục và giáo dục học Nó giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn
và toàn diện hơn các tư tưởng giáo dục trong lịch sử, từ đó giúp chúng ta tiếpthu, kế thừa và phát triển một cách sáng tạo các tư tưởng giáo dục tiến bộ, cácthành tựu và kinh nghiệm trong lịch sử phát triển giáo dục của nhân loại, gópphần đổi mới lý luận giáo dục học cũng như sự nghiệp giáo dục đất nước
Chúng ta khẳng định: Việt Nam có triết học và có triết học giáo dục; Đảng,Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề phát triển triết học và triết học giáo dục,những quan điểm, tư tưởng cơ bản về giáo dục của Đảng, Nhà nước ta là kế thừa,tiếp thu có chọn lọc những vấn đề triết học của nhân loại, nhất là triết học Mác-Lênin, tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụngtrong quá trình phát triển nhiệm vụ giáo dục- đào tạo, nhưng do điều kiện lịch sửchi phối và qui định, nên chúng ta chưa hệ thống hóa được thành những tác phẩmtriết học lớn nói chung và triết học giáo dục nói riêng Như lời của GS, TSKHThái Duy Tuyên đã nói: Đây là nhiệm vụ đặt ra cho các nhà khoa học Việt Namhiện tại và tương lai, đó cũng là trách nhiệm mà cha ông ta giao cho hậu thế
Vận dụng những quan điểm triết học Mác- Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh về giáo dục, xuất phát từ thực tiễn của nền giáo dục Việt Nam, văn kiện
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định:“Đổi mới tư duy
giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến
cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công
Trang 3nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” 1 Đây chính là phương hướng đổi mới để phát
triển nhiệm vụ giáo dục- đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa vàhội nhập quốc tế được Đảng, Nhà nước ta khái quát thành lýluận mang tầm triết học trong lĩnh vực giáo dục Hiện nay, đất nước ta đang trêncon đường đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu thế toàn cầu hóa vàhội nhập của kinh tế thế giới, đất nước đang đứng trước những cơ hội và tháchthức lớn Vì vậy, việc vận dụng những tư tưởng cơ bản của triết lý giáo dục tronggiáo dục ở nước ta hiện nay là một vấn đề cấp thiết và mang tính chiến lược đểnâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo rút ngắn khoảng cách với các nước trongkhu vực và các nước phát triển trên thế giới và nhằm nâng cao dân trí, đào tạonguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội vàbảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam trong, thời kỳ mới của cách mạng
NỘI DUNG
I KHÁI LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRIẾT HỌC GIÁO DỤC
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của khoa học giáo dục đặt ra yêu cầu
cần phải có hệ thống những luận điểm “triết lý giáo dục” làm nền tảng
phương pháp luận cho khoa học giáo dục phát triển đúng đắn Đặc biệt tronggiai đoạn hiện nay, nghiên cứu triết học giáo dục là vấn đề cần thiết và quantrọng hơn bao giờ hết, đây là một vấn đề khó, mới mẻ, bỏ ngỏ trong lĩnh vựcnghiên cứu lý luận ở Việt Nam mà nó còn là vấn đề trừu tượng, phức tạp,nhạy cảm Tuy vậy, với những triết lý giáo dục truyền thống Việt Nam, nhất
là những tư tưởng, quan điểm giáo dục của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minhtrong việc chỉ đạo, xây dựng nền giáo dục Việt Nam suốt từ sau Cách mạngtháng Tám đến nay và thực tiễn phát triển giáo dục nước ta đã bước đầu kháiquát, hệ thống của triết học giáo dục Việt Nam như: bước đầu xác định một sốkhái niệm, phạm trù, đối tượng và phương pháp của triết học giáo dục ViệtNam; hệ thống hoá những triết lý giáo dục truyền thống trong lịch sử giáodục; khái quát những vấn đề cụ thể của triết học giáo dục như: Quá trình giáodục; hệ thống giáo dục quốc dân (cấu trúc, cơ chế, động lực…) và nêu lên
1 ĐCSVN, VKĐHĐB to n qu àn qu ốc lần thứ X, Nxb CTQG H 2006, tr 206- 207.
Trang 4những vấn đề đang được quan tâm hiện nay…làm cơ sở cho việc tổng kết lýluận và nâng tầm khái quát về hệ thống lý luận giáo dục cho sự phát triển củathực tiễn giáo dục cả trong nước, khu vực và thế giới.
Thực tiễn cho thấy, thời gian qua triết học giáo dục đã bắt đầu được đềcập trong các tài liệu giáo dục học Các nước trong khu vực, thuật ngữ nàyđược sử dụng khá phổ thông trong các tài liệu, các nhà trường… Đối với ViệtNam chúng ta, thuật ngữ này đã xuất hiện nhưng còn ít được đề cập một cách
có hệ thống, song dù thế nào đi nữa chúng ta đều thấy rằng vị trí, ý nghĩa củatriết học giáo dục (triết lý giáo dục) là vô cùng quan trọng, chìa khoá để giảiquyết thành công các vấn đề giáo dục bảo đảm cho giáo dục có tính hệ thống,tính nhất quán Nếu không có một triết học giáo dục vững vàng thì giáo dục
sẽ vận động trong vòng luẩn quẩn, không phát triển lên được
1 Triết học, triết học giáo dục
* Triết học: Nghiên cứu lịch sử phát triển của triết học chúng ta thấy
Triết học có từ rất sớm, khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước côngnguyên ở các phương Đông và phương Tây Qua nhiều thế kỷ, nhiều thời đại
và vùng miền khác nhau, triết học đã phát triển vô cùng đa dạng và đạt tớitrình độ cao như ngày nay Xoay quanh vấn đề triết học có nhiều định nghĩakhác nhau, nhưng nhìn chung đều có những điểm giống nhau Ở Việt Namtriết học thường được hiểu qua những khái niệm sau đây:
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là thế giới quan, là hệ thống tưtưởng và quan điểm đối với thế giới và vị trí của con người trong thế giới
Triết học là một khoa học nghiên cứu các qui luật chung nhất của sựphát triển tự nhiên, xã hội và tư duy
Triết học là phương pháp luận chung của nhận thức khoa học
Xuất phát từ thực tiễn xã hội, triết học có vai trò, tác dụng tích cực đến tồn tại
xã hội, có khả năng hình thành những tư tưởng mới, những chuẩn mực và giá trị vănhóa mới Thực chất vai trò, tác dụng của triết học là thế giới quan và phương phápluận (công cụ nhận thức và cải tạo thế giới) của mỗi con người và xã hội loài người
* Triết học giáo dục, là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu vận dụng
các phương pháp triết học để giải quyết các vấn đề giáo dục, là những
Trang 5nguyên tắc phương pháp luận chủ yếu chung nhất làm cơ sở cho việc nghiêncứu khoa học và cải tạo thực tiễn giáo dục.
Là một bộ phận của triết học, triết học giáo dục phải bảo đảm các tínhchất cơ bản sau đây khi nghiên cứu các vấn đề giáo dục:
- Tính bản chất: tức là phải tìm tòi, phát hiện những vấn đề bản chất của đối
tượng, nghĩa là những nội dung bên trong quan trọng nhất, những cái gốc gác, cộinguồn như cấu trúc, qui luật, những mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu của đối tượng
- Tính phổ quát: nghĩa là phải nghiên cứu đối tượng dưới một dạng tổng
thể với một phạm vi và qui mô rộng lớn, trong mối quan hệ nhiều chiều
- Tính nhất quán: bảo đảm tính hệ thống và chặt chẽ về mặt lôgic trong
tất cả các khâu của quá trình lập luận
- Tính qui luật: bảo đảm nghiên cứu đối tượng trong dạng luôn luôn vận
động và biến đổi không ngừng
- Trình bày vấn đề dưới một dạng lý luận có hệ thống, cô đọng và duy lý
* Mục đích của triết học giáo dục là xác định được những quan điểm chủ yếu
và lý giải được các vấn đề giáo dục một cách đúng đắn, rõ ràng, nhất quán và hệthống nhằm nâng cao chất lượng lý luận giáo dục, góp phần cải tạo thực tiễn giáodục
Để làm được điều đó, các nhà triết học giáo dục thường phải đi theo hai con đường:
Thứ nhất, phân tích luận điểm của các nhà triết học lớn trong quá khứ, vì
vậy có nhiều phần trùng với lịch sử giáo dục Việc nghiên cứu lịch sử triết học, tìmkiếm những mâu thuẫn lôgíc và lịch sử trên cơ sở đối chiếu với hiện tại để rút ranhững bài học kinh nghiệm sẽ làm cho các vấn đề lý luận hiện đại có độ tin cậy cao hơn
Thứ hai, khảo sát thực tiễn, làm rõ mối liên hệ giữa lý thuyết và thực
tiễn, quan tâm đặc biệt tới việc tìm kiếm các con đường ứng dụng lý luận vàothực tiễn, sao cho các quan điểm triết học giáo dục đi vào quần chúng, đượcnhững người bình thường, nhân dân lao động chấp nhận và vận dụng vàodạy dỗ con cháu trong cuộc sống thường ngày
2 Triết lý, triết lý giáo dục và triết học
* Triết lý, triết lý giáo dục
Trang 6Theo từ điển tiếng Việt, triết lý là: Quan điểm chung của con người về nhữngvấn đề nhân sinh và xã hội Theo từ điển Hán Việt, triết lý là: lý luận về triết học(triết= trí, lí=lẽ) Từ đó chúng ta có thể hiểu: Triết lý là những quan điểm được kháiquát từ cuộc sống, nhằm chỉ đạo sự suy nghĩ và hành động của con người.
Triết lý giáo dục là những quan điểm phản ánh những vấn đề của giáodục thông qua con đường trải nghiệm từ cuộc sống để chỉ đạo sự suy nghĩ vàhành động của con người về các vấn đề về giáo dục
Như vậy, triết lý và triết học có sự tương đồng với nhau, nhưng triết lý thường
đề cập tới một vấn đề cụ thể, còn triết học là một khoa học, được xây dựng từ một hệthống tư tưởng, quan điểm với các khái niệm, phạm trù, đối tượng và phương phápriêng
Thực tiễn cho thấy, để điều hành, lãnh đạo một sự nghiệp hay một lĩnhvực nào đó không phải chỉ bằng những triết lý cụ thể mà phải bằng những hệthống những định hướng tư tưởng và định hướng khoa học mang tầm triết học
Do vậy, vai trò của của triết lý và triết học có tầm quan trọng trong sự nghiệpphát triển giáo dục, vì nó là những tư tưởng cốt lõi tạo nên bản sắc cho sự pháttriển bền vững của nền giáo dục; là công cụ định hướng cho nhận thức và hànhđộng; là phương tiện, cách thức để tiến hành các hoạt động giáo dục của conngười
Nhận thức đúng đắn vấn đề trên, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạngĐảng ta và Chủ tịch Hồ chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục, những vấn
đề về triết lý, triết học giáo dục để xây dựng một nền giáo dục hoàn toàn mới,phục vụ tích cực và có hiệu quả cho công cuộc kháng chiến chống Pháp vàchống Mỹ, cho cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủnghĩa, cho công cuộc đổi mới và công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiệnnay
Hệ thống giáo dục Việt Nam được xây dựng theo những quan điểm, tưtưởng của Đảng và Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Những quan điểm ấy rất phong phú, đa dạng, đã được kiểm chứng qua thựctiễn giáo dục Việt Nam và hiện còn được lưu giữ lại trong các văn kiện của
Trang 7Đảng và Nhà nước Đặc biệt, những bài viết, bài nói… của Chủ tịch Hồ ChíMinh là những tài sản vô cùng quý giá.
Những thành tựu to lớn của nền giáo dục Việt Nam trong mấy chụcnăm qua là cơ sở thực tiễn chứng tỏ những quan điểm của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh về giáo dục là hoàn toàn đúng đắn
Theo quan điểm triết học, các vấn đề giáo dục sẽ được nghiên cứu trongdạng chỉnh thể, trong sự xem xét dưới sự tác động qua lại nhiều chiều giữacác yếu tố của hệ thống giáo dục với nhau và các yếu tố của môi trường tựnhiên và xã hội Sự nghiên cứu các vấn đề giáo dục trong mối quan hệ rộng
và ở tầm cao của lý luận sẽ cho phép đi sâu vào bản chất các vấn đề giáo dục
và đưa ra được những giải pháp có hệ thống đúng đắn và hiệu quả
* Các khái niệm và phạm trù cơ bản của triết học giáo dục
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về triết học giáo dục nói chung và triếthọc giáo dục quân sự nói riêng, chúng ta thường gặp một số khái niệm, phạmtrù cơ bản của triết học giáo dục đó là:
- Vật chất, ý thức, vận động, phát triển, mâu thuẫn, động lực…
- Phương pháp luận, hệ thống, cấu trúc, mô hình, di truyền, lịch sử…
- Số lượng, chất lượng, khách quan, chủ quan, nguyên nhân, kết quả…
- Nhân cách, quá trình hình thành và phát triển nhân cách, nhân tố xãhội, nhân tố sinh học…
- Lý tưởng, niềm tin, giá trị, định hướng giá trị, hệ thống giá trị xã hội
- Giáo viên (giảng viên), học sinh, học viên, nhà trường, sách giáokhoa, thiết bị dạy học…
- Giáo dục, giáo dưỡng, dạy học, quá trình giáo dục, quá trình dạy học,hoạt động, giao lưu, sư phạm, năng lực sư phạm, đào tạo…
- Mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, phương tiện, hìnhthức, kết quả…
- Đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục…
- Hệ thống giáo dục quốc dân, công bằng dân chủ trong giáo dục,nguyên lý giáo dục, tính chất giáo dục, phổ cập giáo dục, xã hội hóa, hiện đạihóa giáo dục, môi trường giáo dục…
Trang 8- Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp, giáodục đại học và sau đại học…
- Giáo dục chính qui và không chính qui, giáo dục thường xuyên, quốc lập, tư thục…
Đó là một số khái niệm, phạm trù chung nhất phán ánh những mặt,những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến nhất của các vấn đềgiáo dục nói chung và giáo dục học quân sự nói riêng Trong số các kháiniệm, phạm trù trên thì cần lưu ý đến một số khái niệm, phạm trù đặc biệtquan trọng như: nhân cách, quá trình hình thành và phát triển nhân cách, quátrình giáo dục, quá trình dạy học, hệ thống giáo dục quốc dân…
* Về phương pháp nghiên cứu của triết học giáo dục
Triết học giáo dục nghiên cứu, các vấn đề giáo dục trong một dạng chỉnh
thể và đưa ra một hệ thống các quan điểm, các giải pháp về chỉnh thể đó.
Trong quá trình nghiên cứu, triết học giáo dục luôn luôn quan tâm tới các
mối liên hệ giữa các yếu tố của quá trình giáo dục, của hệ thống giáo dục quốc dân,
sự tác dụng tương hỗ và nhiều chiều giữa chúng, và giữa chúng với môi trường
kinh tế- xã hội Đồng thời triết học giáo dục luôn luôn xem xét đối tượng trong
dạng vận động và biến đổi, và giải thích các vấn đề giáo dục chủ yếu bằng lý luận.
* Một số nhà triết học giáo dục tiêu biểu biểu ở phương Đông, phương Tây và Việt Nam
Phương Đông: Nghiên cứu triết học giáo dục phương Đông cho chúng
ta thấy ngay từ thời Cổ đại, phương Đông đã đóng góp cho loài người nhiều
nhà triết học kiệt xuất như: Khổng Tử, Mạc Tử, Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư,
Hàn Phi Tử, Phật Thích ca Mâu Ni…Đặc biệt là triết học giáo dục của Khổng
Tử có ảnh hưởng và vai trò rất quan trọng nhằm góp phần tìm kiếm conđường để xây dựng tư tưởng triết học giáo dục Việt Nam trong thời kỳ hiệnđại
Phương Tây: Nghiên cứu triết học giáo dục phương Tây ở các thời kỳ
lịch sử chúng ta thấy có những nhà triết học giáo dục nỗi tiếng như:
Pla-tông, Kô- men-xki, J Lốc- cơ, j Ru- xô,…
Ở Việt Nam: Nghiên cứu lịch sử giáo dục Việt Nam thời kỳ phong kiến
chúng ta tìm thấy những nhà triết lý giáo dục tiêu biểu như: Chu Văn An, Hồ
Trang 9Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu.
Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo, nhất là từ sau cách mạng tháng Támđến nay, triết lý, triết học giáo dục không ngừng được phát triển đáp ứng đượcyêu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong các giai đoạn phát triển củađất nước Trên cơ sở tinh hoa triết học giáo dục của nhân loại và những triết
lý giáo dục thời kỳ phong kiến Việt Nam đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ ChíMinh kế thừa, phát triển lên một tầm cao mới Tuy nhiên, triết học Việt Namnói chung và triết học Việt Nam trên các lĩnh vực nói riêng hiện nay đang làvấn đề còn gây tranh cãi của nhiều nhà nghiên cứu khoa học ở nước ta Song
trên lĩnh vực giáo dục lần đầu tiên xuất hiện cuốn sách: Triết học giáo dục
Việt Nam của GS, TSKH Thái Duy Tuyên, nhà xuất bản đại học sư phạm,
năm 2007 Có thể coi đây là cột mốc đánh dấu giai đoạn phát triển mới củatriết học Việt Nam nói chung và triết giáo giáo dục Việt Nam nói riêng
Hiện nay, hệ thống giáo dục của các nước trên thế giới đang tích cựcchuẩn bị nguồn nhân lực cho thế kỉ XXI Trong quá trình tìm kiếm con đườngnâng cao chất lượng nhà trường, nhiều vấn đề triết học giáo dục đang đượcchú ý trao đổi rộng rãi như: Những giải thuyết về sự học tập của con người;những lý thuyết điển hình về giáo dục nhân cách; những vấn đề vĩ mô Đặcbiệt là những vấn đề đang được quan tâm nhất, đó là giáo dục và vấn đề toàncầu hóa; giáo dục trong kinh tế thị trường ở các nước xã hội chủ nghĩa; vấn đềđộng lực trong giáo dục; vấn đề nhu cầu, cạnh tranh và hợp tác; quan điểm vềthành phần của tri thức; những hạn chế của giáo dục chính quy…
Những vấn đề triết học giáo dục mà các nước đang quan tâm là hết sứcphong phú và đang dạng Để xây dựng và phát triển triết học giáo dục ViệtNam cần phát hiện những vấn đề cấp thiết và quan trọng nhất mà nền giáodục phải làm trong điều kiện Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hóa- hiệnđại hóa đất nước khi đã gia nhập WTO, nhằm góp phần tích cực vào việc pháttriển con người và nền kinh tế- xã hội đất nước
II VẬN DỤNG NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ GIÁO DỤC
TRONG GIÁO DỤC HIỆN NAY
Trang 10Khi nghiên cứu vấn đề giáo dục người ta thường tập trung tìm hiểu haivấn đề lớn đó là: quá trình hình thành nhân cách và hệ thống giáo dục quốc dân.Quá trình hình thành nhân cách là quá trình vi mô, trong đó chủ yếu giải quyếtvấn đề tương tác thầy trò, nghĩa là hoạt động dạy học - giáo dục , mà các vấn đềchủ yếu là mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học -giáo dục và mối quan hệ thầy trò Vấn đề hệ thống giáo dục quốc dân là các vấn
đề vĩ mô trong đó chủ yếu giải quyết vấn đề quản lý hệ thống giáo dục quốc dân
mà các vấn đề có liên quan trực tiếp là mục đích, mục tiêu hệ thống, quy mô,mạng lưới, quan hệ giữa giáo dục và xã hội, mâu thuẫn và động lực giáo dục
Trong khuôn khổ tiểu luận chúng tôi chỉ vận dụng các tư tưởng triết học
giáo dục vào giải quyết một số vấn đề ở cấp vĩ mô đó là Quá trình giáo dục.
Quá trình giáo dục là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triếthọc giáo dục cũng như hoạt động giáo dục nói chung Một con người từ khi chàođời cho đến khi trở thành người có ích cho xã hội và có thể sống hạnh phúctrong cộng đồng xã hội cần phải trải qua một quá trình giáo dục và rèn luyện dàilâu và trải qua nhiều thăng trầm, nhiều thành công và thất bại kế tiếp Nhà giáo
dục cần nghiên cứu cái quá trình vận động biện chứng đó, cần nằm được cái bản
chất của quá trình giáo dụcvà các quy luật của nó để có những ứng xử hợp lý và
điều khiển nó có hiệu quả Muốn thế về mặt triết học giáo dục, cần xem xét quá
trình giáo dục trong dạy tổng thể, trong sự tác động nhiều chiều và tìm ra cái
huyệt, điểm then chốt trong toàn bộ quá trình và trong từng giai đoạn quan trọng
của quá trình, nhằm tạo ra sự điều khiển có trọng tâm và nhất quán
A Dạng tổng quát của quá trình giáo dục
Khi ta theo dõi bất kỳ hoạt động giáo dục nào cũng đều thấy quá trình giáodục chỉ có thể xẩy ra khi có sự tham gia của ít nhất là ba yếu tố đó là: người giáodục (thầy giáo); người được giáo dục (học trò); và sách giáo khoa (tài liệu dạyhọc), những yếu tố này cấu thành bản chất của quá trình giáo dục, nếu thiếu mộttrong ba yếu tố này thì quá trình giáo dục không thể xảy ra Ngoài ra, còn mộtyếu tố nữa không thể thiếu là môi trường nơi mà quá trình giáo dục xảy ra
1 Yếu tố người giáo dục (thầy giáo)
Trang 11Đây là đội ngũ cán bộ giảng dạy - giáo dục của nhà trường với tư cách vừa lànhà sư phạm, vừa là nhà khoa học và là nhà hoạt động chính trị- xã hội Hoạt độnggiảng dạy - giáo dục của người giáo dục không đơn thuần là người truyền đạt cáckiến thức mà còn là người tổ chức, điều khiển, kiểm tra quá trình nắm kiến thức, kỹxảo, kỹ năng và nghiên cứu khoa học của người học Trong quá trình giáo dục,người giáo dục luôn tồn tại với tư cách là một nhân tố quan trọng tạo nên hoạt độnggiáo dục, không có người giáo dục, thì không thể có hoạt động giáo dục.
Người giáo dục theo nghĩa rộng là nười tạo nên những ảnh hưởng nhấtđịnh, có mục đích đối với người được giáo dục, thúc đẩy người được giáo dụcphát triển cả về thể chất và tinh thần Người giáo dục theo nghĩa hẹp là ngườicắn cứ vào yêu cầu xã hội, lấy việc thúc đẩy sự phát triển về thể chất và tinh
thần của người được giáo dục làm nghề nghiệp của mình Người giáo dục
theo nghĩa hẹp bao gồm giáo viên và những người làm công tác giáo dục
trong trường học Trong quá trình giáo dục người giáo dục thường là giáo
viên Người giáo dục theo nghĩa rộng là bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, cán bộ
đoàn, đảng Trong quá trình giáo dục, người giáo dục có thể xuất hiện với tưcách cá nhân, cũng có thể là một tập thể
* Đặc trưng cơ bản của người thầy: Người thầy phải có đủ những đặc
điểm sau đây:
- Tính chủ thể của người giáo dục, trong quá trình giáo dục, người thầy
luôn luôn lấy học sinh làm đối tượng của mình, lấy ảnh hưởng giáo dục từhoạt động tự thân của mình làm phương tiện, từ đó thúc đẩy sự phát triển cả
về thể chất và tinh thần, phù hợp với mục đích giáo dục học sinh Đặc điểm
nổi bật trong hoạt động giáo dục là người thầy có địa vị chủ thể của quá trình
giáo dục Đây là một đặc điểm quan trọng nhất Vì người thầy với chức năng
cơ bản nhất, chức năng trội là dạy học Đó chính là chức năng tổ chức truyềnđạt các kinh nghiệm xã hội - lịch sử, cho người học Việc thực hiện có hiệuquả chức năng này là cơ sở quan trọng quyết định đến việc thực hiện các chứcnăng khác của người thầy Song song với chức năng trang bị kiến thức, kỹnăng, kỹ xảo cho người học thì việc xây dựng và hoàn thiện phẩm chất nhâncách là đòi hỏi tất yếu của quá trình giáo dục - đào tạo Đây chính là chức năng
Trang 12giáo dục phẩm chất nhân cách cho người học, là hoạt động hết sức cơ bản vàthiết thực của người thầy, thể hiện thông qua quá trình dạy học, cùng với việc
tổ chức các hoạt động thường xuyên và các mối quan hệ qua lại giữa dạy vàdọc nhằm hình thành ở người học thế giới quan khoa học, niềm tin cộng sảnchủ nghĩa cùng với những phẩm chất khác bảo đảm cho người học phát triểntoàn diện cả phẩm chất và năng lực theo mục tiêu, yêu cầu giáo dục - đào tạo,đáp ứng với yêu cầu của xã hội Thông qua việc tổ chức dạy học và giáo dục,kết hợp với quá trình định hướng dẫn dắt việc tìm tòi, nghiên cứu khoa học,người thầy giáo còn có vai trò phát triển năng lực trí tuệ và tư duy lý luận, tưduy nghề nghiệp cho người học, giúp họ có khả năng sáng tạo, linh hoạt trongquá trình học tập, rèn luyện tại nhà trường cũng như có khả năng thích nghi vớinhững điều kiện và tình huống khác nhau của thực tiễn cuộc sống
- Tính mục đích, tính kế hoạch, một trong những nét đặc biệt khác của
người thầy là ở chỗ hoạt động của họ là một hoạt động tự giác, là hoạt động
có mục đích, có kế hoạch Mục đích cơ bản của người thầy là thúc đẩy toàndiện sự phát triển cả về thể chất và tinh thần của học sinh Đây là một trongnhững tiêu chí quan trọng nhất để nhận thức và phân biệt người thầy với các chủthể khác như cha, mẹ, ông, bà Việc thiết kế kế hoạch trong hoạt động giảng dạy -giáo dục của người thầy có vị trí hết sức quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đếnkết quả công tác chuyên môn của người thầy Do đó, người thầy phải quán triệt tốtmục đích, mục tiêu của dạy học - giáo dục và thiết kế kế hoạch sát đúng, khoahọc, khả thi và thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch một cách nghiêm túc nhưnglinh hoạt
- Tính xã hội, tính xã hội của người thầy thể hiện ở chỗ:
Họ thay mặt xã hội để đề ra các yêu cầu nhất định đối với học sinh Bất
kỳ xã hội nào, cũng đều có những yêu cầu nhất định cho thế hệ trẻ, để thế hệtrẻ có thể trưởng thành theo những khuôn mẫu mà xã hội đặt ra; Truyền thụvăn hóa xã hội một cách có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức cho học trò Đó
là thứ văn hóa xã hội đã được khái quát và sàng lọc ở trình độ khá cao, khátoàn diện và hoàn chỉnh Trong quá trình truyền thụ văn hóa xã hội, ngườithầy phải biết tuân theo các quy luật thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh
Trang 13thần của học trò nhằm bảo đảm tính hiệu quả của dạy học - giáo dục; Giúp đỡ
và thúc đẩy thế hệ đang lớn lên từ chỗ là con người tự nhiên thành con người
xã hội khiến các em trở thành nhân cách như xã hội đòi hỏi
- Vị trí của người thầy trong quá trình giáo dục, trong quá trình giáo dục,
người thầy đóng vai trò chủ thể, là người đại diện cho xã hội điều khiển quá trìnhgiáo dục
Thừa nhận vai trò chủ đạo của người thầy hoàn toàn không phải là khẳng địnhquyền uy tuyệt đối của họ trong quá trình giáo dục, không quan tâm đến quy luậtphát triển thể chất, tinh thần và tính năng động chủ quan của học sinh và các nhân tốkhác Người thầy phải nhận thức được trình độ sinh lý và tâm lý, quy luật phát triểnthể chất và tinh thần của học sinh, bối cảnh xã hội, đặc điểm của nội dung, phươngpháp và môi trường giáo dục Chỉ có như vậy, mới có thể tiến hành giáo dục có hiệuquả, thể hiện tốt hơn nữa địa vị chủ thể của người thầy trong quá trình giáo dục
Nếu người thầy không có cách gì phát huy tính năng động chủ quan củamình, không thể phản ứng tương ứng với những khách thể khác nhau, thì sẽ đingược lại các quy luật cơ bản của giáo dục, công tác giáo dục sẽ không đạtđược mục đích dự kiến, người thầy sẽ dần dần mất đi ý nghĩa với tư cách làchủ thể Trong thực tiễn giáo dục, tình trạng này luôn luôn xảy ra Ví dụ: Một
số thầy giáo trong khi dạy học, rất ít quan tâm đến tình hình cụ thể của họcsinh, chỉ dựa vào kinh nghiệm trước đây và yêu cầu của chương trình mà tiếnhành dạy học, từ đó dẫn đến tình trạng việc dạy học xa rời trình độ, khả năngtiếp thu của học sinh, gây nên ở các em tâm lý chán học Học sinh chán họcchính là sự phủ định địa vị chủ thể của người thầy trong quá trình giáo dục
Vai trò chủ thể của người thầy trong quá trình giáo dục, chủ yếu thể hiệnở: khởi động quá trình giáo dục; điều khiển phương hướng hoạt động, trình tựthời gian, tốc độ phát triển của quá trình giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục.Việc phát huy vai trò chủ đạo của người thầy phụ thuộc vào những yếu tố như:
Mức độ cố gắng chủ quan của người thầy Người thầy càng cố gắng thìcàng phát huy được vai trò chủ đạo của mình
Trang 14Có năng lực người thầy, cụ thể là: Chẩn đoán được nhu cầu, nguyệnvọng, khả năng của học sinh; Tri thức chuyên môn vững vàng và sâu sắc; Cótrình độ văn hoá chung rộng rãi; Có năng lực nắm bắt và xử lý thông tin nhanhnhạy; Năng lực diễn đạt rõ ràng, ngôn ngữ lưu loát, năng lực kiềm chế bản thân;
Có năng lực tổ chức quản lý: động viên, kích thích học sinh tích cực hoạt động,xây dựng và phát triển kế hoạch, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
Phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt: yêu quí học sinh, hết lòng vì sựnghiệp giáo dục của nhân dân, nghiêm khắc với bản thân, luôn luôn gươngmẫu trong công việc và đời sống cá nhân
Có những tri thức khoa học giáo dục hiện đại như: quan niệm về dạyhọc, về quan hệ thầy trò trong điều kiện hiện đại, về nhân tài, về các giá trịgiáo dục trong điều kiện toàn cầu hoá và biết kết hợp và phát huy sức mạnhcác yếu tố nói trên
2 Người được giáo dục (học sinh)
Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục là một yếu tố quan trọngkhác Không có người được giáo dục, thì không tồn tại hoạt động giáo dục
Người được giáo dục có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Ngườiđược giáo dục theo nghĩa rộng là người tiếp nhận mọi hình thức giáo dục.Người được giáo dục theo nghĩa hẹp là người tiếp nhận ảnh hưởng giáo dục
trong nhà trường tức là học sinh
- Đặc trưng cơ bản của người được giáo dục
+ Tính tiếp nhận giáo dục
Sự phát triển về thể chất và tinh thần của con người, xét về bản chất, chỉ
có thể thực hiện được dưới sự ảnh hưởng của xã hội Đây là đặc trưng bảnchất của thể chất và tinh thần của con người và sự phát triển của nó
Xét về hình thái cấu tạo và cơ năng của con người, tính tiếp nhận giáo
dục của con người mang tính khả năng Tính tiếp nhận giáo dục của con
người là một trong những khác biệt lớn nhất giữa con người và động vật Con
Trang 15người phát triển thành thục và trở thành người dưới ảnh hưởng của các điều
kiện bên ngoài, điều này nói lên rằng con người có khả năng thay đổi khá lớn.
Xét về tính xã hội của con người, sự tiếp nhận giáo dục của con người cótính tất nhiên Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội Khi một ngườichỉ có đủ các nền tảng sinh vật để phát triển thành người, thì đó chỉ là con ngườidưới trạng thái tự nhiên, tức là con người tự nhiên, chưa trở thành con ngườitheo nghĩa thực sự, tức là con người xã hội Từ con người tự nhiên bước sangcon người xã hội, cần phải tiếp nhận sự đào luyện của môi trường xã hội nhấtđịnh, từ đó mới thu được tri thức mà loài người đã tích luỹ lâu dài, kỹ năng, quyphạm, hành vi của con người hiện hành và năng lực tư duy của loài người
Bất kỳ em học sinh nào cũng là người và phải có đầy đủ tính tiếp nhậngiáo dục của con người Chính vì con người có tính tiếp nhận giáo dục, nênhoạt động giáo dục của loài người mới tồn tại
+ Tính năng động chủ quan
Con người có ý thức, có vai trò năng động tích cực đối với thế giớikhách quan Tính năng động chủ quan trong quá trình giáo dục của học sinhđược thể hiện chủ yếu ở chỗ: Tiếp nhận có chọn lọc ảnh hưởng do người thầyđem lại Khả năng chọn lựa của các em đối với ảnh hưởng của người thầy cóquan hệ với kinh nghiệm vốn có của họ, với các nhân tố tâm lý, lúc tiếp nhậngiáo dục như: tình cảm, thái độ, trình độ trí lực
Các em có thể tích cực tự giác huy động sức mạnh các mặt về thể chất,tinh thần để tiếp nhận ảnh hưởng, từ đó thúc đẩy sự phát triển tự thân nhiều,nhanh, tốt, toàn diện, làm cho giáo dục phát huy hiệu quả lớn hơn Các emtiếp thu ảnh hưởng giáo dục càng tích cực thì hiệu quả giáo dục càng lớn,thậm chí có lúc còn vượt xa mục tiêu dự kiến của người giáo dục Ngược lại,thì hiệu quả giáo dục sẽ rất nhỏ
Sự phát triển, biến đổi của người được giáo dục có tính quy luật nhất
định Dù là có tiếp nhận giáo dục hay không, các em luôn luôn biến đổi
không ngừng theo quy luật phát triển của bản thân, sự thay đổi về thể chất,