1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ẩn dụ tu từ trong kinh diệu pháp liên hoa

89 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 894,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu khảo sát và lý giải được phương tiện này thì chúng ta có thể hiểu sâu hơn về kinh Phật đại thừa nói chung, kinh Diệu pháp Liên hoa nói riêng; từ đó có thể hiểu thêm giá trị tu từ của

Trang 1

-

NGUYỄN TIẾN TRINH

ẨN DỤ TU TỪ TRONG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2018

Trang 2

-

NGUYỄN TIẾN TRINH

ẨN DỤ TU TỪ TRONG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học

Mã số: 60.22.02.04

Người hướng dẫn khoa học:

TS HỒ VĂN HẢI

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Tiến Trinh, cam đoan rằng:

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là công trình của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Hồ Văn Hải

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn đều có trích dẫn đầy đủ

Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Trinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn được sự giúp đỡ của Nhà trường và các Phòng, Ban, tôi đã hoàn thành

chương trình đào tạo Cao học

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng sau Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện và hoàn

thành luận văn Cao học

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân

thành tới TS Hồ Văn Hải đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu và hoàn thành luận

văn này

Tôi vô cùng biết ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình, bạn bè và các đồng

nghiệp trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Nguyễn Tiến Trinh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài 4

3 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài 7

7 Cấu trúc của luận văn 7

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ẨN DỤ TU TỪ VÀ KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 9

1.1 Các quan điểm về ẩn dụ và việc phân loại ẩn dụ 9

1.1.1 Các khái niệm về ẩn dụ 9

1.1.2 Các quan điểm phân loại ẩn dụ 10

1.1.2.1 Quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp 10

1.1.2.2 Quan điểm của Đỗ Hữu Châu 11

1.1.2.3 Quan điểm của Đinh Trọng Lạc 11

1.1.2.4 Quan điểm của Nguyễn Thái Hòa 13

Trang 6

1.1.2.5 Quan điểm của Nguyễn Văn Đường 13

1.1.3 Pháp dụ - thí dụ trong kinh văn Phật giáo 14

1.2 Sơ lược tiểu sử Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, pháp sư Cưu-ma-la-thập và hòa thượng Thích Trí Tịnh 16

1.3.1 Phật tổ Thích Ca Mâu Ni 17

1.3.2 Pháp sư Cưu-ma-la-thập 18

1.3.3 Hòa thượng Thích Trí Tịnh 19

1.3 Bối cảnh xuất hiện và nội dung kinh Diệu pháp Liên hoa 21

1.4 Tiểu kết 23

CHƯƠNG 2 Ý NGHĨA CỦA CÁC ẨN DỤ TU TỪ TRONG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 24

2.1 Ẩn dụ về hoa sen từ tiêu đề kinh Diệu pháp Liên hoa 24

2.2 Ẩn dụ về ngôi nhà lửa (cuộc đời khổ) 28

2.3 Ẩn dụ về người con trai cùng khổ (chúng sanh) 35

2.4 Ẩn dụ về những cây cỏ thuốc (tâm lành của chúng sanh) 41

2.5 Ẩn dụ về thành phố được hóa hiện (hạnh phúc và sự chứng ngộ) 44

2.6 Ẩn dụ về châu báu trong áo (tri kiến Phật) 46

2.7 Ẩn dụ về sự đào đất trên một cao nguyên (con đường tìm đạo) 47

2.8 Ẩn dụ về áo (lòng nhẫn nhục), tòa (không tính – như nhứt) và nhà (tâm từ bi) của Như Lai 48

2.9 Ẩn dụ về viên minh châu ở đỉnh đầu (trí huệ) 50

Trang 7

2.10 Ẩn dụ về những đứa con của vị lương y (chúng sanh mắc bệnh khổ) 53

2.11 Ẩn dụ về pháp tu Quán Âm 59

2.12 Ẩn dụ về pháp tu Duy thức 63

2.13 Tiểu kết 64

CHƯƠNG 3 CÁCH THỨC SỬ DỤNG VÀ GIÁ TRỊ GIÁO DỤC CỦA ẨN DỤ TU TỪ TRONG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 65

3.1 Cách thức sử dụng ẩn dụ tu từ trong kinh Diệu pháp Liên hoa 65

3.1.1 Ngôn ngữ cụ thể 65

3.1.2 Ngôn ngữ tượng trưng 67

3.2 Giá trị giáo dục của ẩn dụ tu từ trong kinh Diệu pháp Liên hoa 69

3.3 Tiểu kết 75

KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giá trị kinh Phật đại thừa giúp ích rất lớn trong đời sống tâm linh và trong xử

nhân giao tiếp xã hội nhưng để hiểu sâu những giá trị lý kinh là điều rất khó Bởi vì, bên cạnh nội dung triết lý sâu sắc về cuộc đời, về con người dưới góc nhìn của đạo thì các giá trị đó chủ yếu được hàm chứa trong những lớp phương tiện ẩn dụ tu từ Những phương tiện này không chỉ góp phần bộc lộ sự thâm thúy, sâu sắc của kinh Phật mà còn chuyển tải được một cách hình ảnh, gần gũi, dễ hiểu cho người đọc

Ẩn dụ (còn gọi là so sánh ngầm) là phương thức thay thế tên gọi, có chức năng chuyển nghĩa, dùng để chuyển đổi tên gọi của đặc điểm, thuộc tính, sự vật, hiện tượng này sang đặc điểm, thuộc tính, sự vật, hiện tượng khác Ẩn dụ đem đến ý nghĩa bổ sung cho cách diễn đạt thông thường Nếu khảo sát và lý giải được phương tiện này thì chúng ta có thể hiểu sâu hơn về kinh Phật đại thừa nói chung,

kinh Diệu pháp Liên hoa nói riêng; từ đó có thể hiểu thêm giá trị tu từ của phương

thức ẩn dụ sử dụng trong triết lý Phật giáo qua bộ kinh này

Chính vì thế, theo chúng tôi, việc nghiên cứu ẩn dụ trong kinh Phật đại thừa

là một hướng đi mới và rất thiết thực

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Kinh Diệu pháp Liên hoa được gọi tắt là kinh Pháp Hoa Đây là bộ kinh rất

được xem trọng trong truyền thống Phật giáo đại thừa Ở Trung Hoa, kinh Pháp Hoa được dịch từ Phạn ngữ sang Hán ngữ từ rất sớm và có rất nhiều bản dịch khác

nhau Chi Khiêm, người nước Ngô thời Tam Quốc (225-253 TL) đã dịch riêng phẩm Thí-dụ gọi là Phật Dĩ Tam Xa Hoán Kinh Tiếp sau đó, các nhà dịch thuật đã dịch 6 bản khác nhau :

1 Pháp Hoa Tam Muội Kinh, 6 quyển, ngài Cương Lương tiếp đời Tôn

Lương (225 TL) dịch

2 Tát Vân Phần Đà Lỵ Kinh, 6 quyển, ngài Trúc Pháp Hộ dịch phần đầu,

đời Tây Tấn (265 TL)

Trang 9

3 Chánh Pháp Hoa, 10 quyển, cũng do ngài Pháp Hộ dịch lần cuối, đời

Tây Tấn (286 TL)

4 Phương Đẳng Pháp Hoa Kinh, 5 quyển, ngài Chi Đạo Căn dịch, đời

Đông Tấn (335 TL)

5 Diệu pháp Liên Hoa Kinh, 7 quyển, sau đổi thành 8 quyển, ngài

Cưu-ma-la-thập dịch năm 406 đời Dao Tần

6 Thiêm phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, 7 quyển, do hai ngài hốt-đa (Jnànagupta) và Đạt-ma-cấp-đa (Dharmagupta) cùng dịch vào đời Tùy (601

– Giai đoạn 1 : Pháp Hoa mang tính đại chúng được viết bằng tiếng Prakrit,

phần trùng tụng xuất hiện trước

– Giai đoạn 2 : Được thêm vào phần văn xuôi để làm cho phần kệ tụng được

rõ hơn (sau này ta tưởng là phần kệ tụng tóm tắt phần văn xuôi)

– Giai đoạn 3 : Phát triển thêm phần văn xuôi Khi so sánh các bản Phạn thì các bản cổ văn xuôi ngắn hơn, các bản về sau văn xuôi lại dài hơn

– Giai đoạn 4 : Phát triển thêm bản mới, bản Phạn cũ chỉ có 27 phẩm, sau thêm phẩm Đề Bà Đạt Đa thành 28

Hiện nay, có nhiều bản Phạn ngữ kinh Pháp Hoa được tìm thấy từ Tây Tạng,

Népal, Kotan,… Đại tạng Hán ngữ nay còn ba bản Bản của ngài La Thập dịch thì được ưa chuộng hơn và phổ biến hơn Ngoài bản dịch ra Hán ngữ còn có các bản dịch khác của Mông Cổ, Mãn Châu, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam rất phong phú

Sự nghiên cứu và lưu truyền kinh Pháp Hoa rất sâu rộng:

Tại Ấn Độ, ngài Long Thọ (Nagarjuna) khi trứ tác Đại Trí Độ Luận đã dẫn chứng kinh Pháp Hoa và ngài có một tác phẩm giải thích Pháp Hoa là Pháp Hoa

Trang 10

Thích Luận Ngài Thế Thân, một Luận sư nổi tiếng có lược dịch và giải thích Pháp Hoa qua bộ Pháp Hoa Luận

Tại Trung Hoa, những bản chú giải, sớ giải về Pháp Hoa của các nhà nghiên

cứu Phật học qua các thời đại rất nhiều, nổi bật là Trí Giả Đại sư (538) của tông

Thiên Thai với các tác phẩm nổi tiếng như Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn

Cú, Ma Ha Chỉ Quán v.v Đại sư Trí Khải đã giảng giải kinh Pháp Hoa một cách

hết sức sâu sát từng văn cú một của kinh Từ đó, ngài muốn giúp người đọc hiểu được những tầng nghĩa ẩn kín trong lời kinh tưởng chừng đơn giản

Tại Nhật Bản, trong Đạo Phật ngày nay – Một diễn dịch mới về ba bộ kinh Pháp Hoa của Nikkyo Niwano (1997) được Việt dịch bởi Trần Tuấn Mẫn, nghiên

cứu này đã chỉ ra rất cụ thể những ẩn dụ đã được dùng làm phương tiện thuyết pháp của đức Phật Từ đó, tài liệu giúp người đọc kinh có cái nhìn sâu hơn về các thí dụ

mà đức Phật đã nêu trong kinh

Tại Việt Nam, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa giảng giải của Hòa thượng Thích

Thanh Từ (2012) cũng đã chỉ ra cho người đọc từng ẩn dụ đã được dùng trong kinh

Pháp Hoa theo tinh thần của Thiền tông Ngoài ra, còn có Lược giải Kinh Pháp Hoa, Thích Thiện Siêu, Từ Đàm, 1997; Sen Nở Trời Phương Ngoại, Luận giải về Kinh Pháp Hoa, Thích Nhất Hạnh, Lá bối in, không thấy ghi năm xuất bản; Pháp Hoa thâm nghĩa đề cương, Thích Từ Thông giảng giải, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh, 2001; v.v [22]

Nhìn chung, kinh Pháp Hoa đóng một vai trò quan trọng không những ở Ấn

Độ mà còn ở Trung Hoa, Nhật Bản,Việt Nam và các nước theo truyền thống đại thừa Chưa có công trình nào đánh giá hết được tác dụng của kinh đối với xã hội nhân sinh ở các nước trên đến mức nào Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu nêu

trên đều chưa thực sự đề cập đến vấn đề “ẩn dụ tu từ” trong quá trình nghiên cứu kinh Phật Từ đó, chúng tôi có nguyện vọng nghiên cứu về kinh Diệu pháp Liên hoa

thông qua việc vận dụng lí thuyết về ẩn dụ tu từ để góp phần hiểu sâu hơn về lý

kinh là điều hết sức cần thiết Chính vì thế, việc chọn đề tài “Ẩn dụ tu từ trong

Trang 11

kinh Diệu pháp Liên hoa” để nghiên cứu, chúng tôi mong muốn có đóng góp nhất

định những hiểu biết của mình về ẩn dụ tu từ đối với kinh Diệu pháp Liên hoa

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là ẩn dụ tu từ trong kinh Diệu pháp Liên hoa (Bản Việt dịch từ Hán văn của Hòa thượng Thích Trí Tịnh)

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý thuyết về ẩn dụ tu từ nhằm làm cơ sở lý luận để vận dụng

vào thực tiễn nghiên cứu kinh Diệu pháp Liên hoa

- Khảo sát, phân loại các ẩn dụ tu từ có trong 28 phẩm của kinh Diệu pháp Liên hoa

- Phân tích, miêu tả ý nghĩa của các ẩn dụ tu từ trong bộ kinh; từ đó, rút ra

được đặc điểm của hình thức biểu đạt này trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn tổng hợp các quan điểm, các nhận định nghiên cứu về ẩn dụ nói chung; sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp trong khi lý giải ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ

trong kinh Pháp Hoa; từ đó rút ra những nhận xét liên quan đến đề tài

6 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Luận văn hệ thống một số quan điểm của các tác giả về ẩn dụ tu từ Vận dụng lý thuyết ẩn dụ tu từ để soi rọi vào quá trình giải mã 12 hình ảnh ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa; chỉ ra các giá trị giáo dục từ các hình ảnh này dưới góc nhìn triết lý kinh Phật

Về mặt thực tiễn, các kết luận từ kết quả của đề tài góp phần giúp người học

Phật nghiên cứu kinh Phật một cách khoa học và có hướng tiếp cận sâu hơn về “lý kinh”; đồng thời có giá trị tham khảo cho những ai quan tâm

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về ẩn dụ tu từ và kinh Diệu pháp Liên hoa

Trang 12

Chương 2: Ý nghĩa của các ẩn dụ tu từ trong kinh Diệu pháp Liên hoa

Chương 3: Cách thức sử dụng và giá trị giáo dục của ẩn dụ tu từ trong kinh

Diệu pháp Liên hoa

CH

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ẨN DỤ TU TỪ VÀ KINH

DIỆU PHÁP LIÊN HOA ẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN

1.1 Các quan điểm về ẩn dụ và việc phân loại ẩn dụ

Hay Nguyễn Đức Tồn: “Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng” [91, tr.438]

Với Đào Thản: “Ẩn dụ là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất, hoặc chức năng của hai đối tượng Nhưng khác với so sánh dung lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau,

ẩn dụ chỉ giữ lại phần để so sánh” [91, tr.438]

Kế đến, theo Nguyễn Lân: “Ẩn dụ cũng là một cách ví, nhưng không cần dùng đến những tiếng so sánh như: tựa, như, nhường, bằng,…” [91, tr.439]

Trang 14

Ở Phan Thế Hưng: “Ẩn dụ không đơn giản là phép so sánh ngầm mà chính là câu bao hàm xếp loại thuộc cấu trúc bề sâu của tư duy” [91, tr.440]

Và Nguyễn Văn Tu: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ đó, chúng ta phải

so sánh ngầm” (91, tr.441)

Tất cả các khái niệm về ẩn dụ vừa nêu trên mặc dầu có những cách trình bày khác nhau nhưng về bản chất nội dung là tương đối giống nhau, bổ sung cho nhau trong nhận thức về ẩn dụ Cụ thể là hầu hết các khái niệm đều thống nhất ẩn dụ có hai đặc điểm sau: so sánh ngầm và quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng

Kế đến, từ việc tìm hiểu về các khái niệm ẩn dụ nói chung, chúng ta có các khái niệm về ẩn dụ tu từ như sau:

Theo Nguyễn Văn Đường: “Ẩn dụ nghệ thuật là phép tu từ ngữ nghĩa nhằm xây dựng hình tượng thẩm mĩ (không chỉ gọi tên lại, mà quan trọng hơn, gợi ra những liên tưởng có liên quan chủ yếu đến đời sống tình cảm của con người) [19; 325] Còn theo Cù Đình Tú: “Ẩn dụ tu từ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” [96, tr.179]

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng quan điểm của Cù Đình Tú trong việc

phân tích ý nghĩa của ẩn dụ tu từ trong kinh Diệu pháp Liên hoa Với tư cách là

biện pháp tu từ, ẩn dụ tu từ được phân tích trong những ngữ cảnh cụ thể, gắn liền với văn bản Nếu tách khỏi văn cảnh thì giá trị ngữ nghĩa của nó sẽ không còn tồn tại

1.1.2 Các quan điểm phân loại ẩn dụ

1.1.2.1 Quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp

Theo Nguyễn Thiện Giáp, ẩn dụ được chia thành các loại cụ thể như sau:

(1) Ẩn dụ hình thức, ví dụ: Mũi là bộ phận nhọ, nhô ra Phần đất nhô ra cũng được gọi là mũi đất

(2) Ẩn dụ chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật hoặc hiện tượng khác,

ví dụ: Giấy đỏ buồn không thấm,/Mực đọng trong nghiên sầu (Vũ Đình Liên)

Trang 15

(3) Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó, ví dụ: Tình cảm khô khan; Lời nói ngọt ngào

(4) Ẩn dụ chức năng, ví dụ: Bến trong bến xe, bến tàu điện,…không giống nhau về hình dạng, vị trí…với bến sông, bến đò; nó chỉ giống bến sông, bến đò ở

chức năng đầu mối giao thông

(5) Ản dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài, ví dụ: Người phụ nữ hay

ghen gọi là Hoạn Thư; Người đàn bà đẹp gọi là Tây Thi

(6) Ẩn dụ màu sắc, ví dụ: Màu da trời – màu xanh như da trời

(7) Ẩn dụ chuyển tên con vật thành con người, ví dụ: Bồ câu của anh

(8) Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng, ví dụ: Hạt nhân → cái cụ thể chỉ phần bên trong của quả được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của một vấn đề [24, tr.163-164]

1.1.2.2 Quan điểm của Đỗ Hữu Châu

Theo Đỗ Hữu Châu, ẩn dụ được chia thành các loại cụ thể như sau:

(1) Ẩn dụ hình thức (như quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp)

(2) Ẩn dụ chức năng (như quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp)

(3) Ẩn dụ chỉ cách thức: Là ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức thực

hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng; ví dụ: Nắm tư tưởng → chỉ rõ cách thức nhận thức tư tưởng cũng giống như chúng ta nắm một sự vật cụ thể nào đó

(4) Ẩn dụ kết quả: Là ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự

vật đối với con người, ví dụ: Ấn tượng nặng nề, lời nói ngọt ngào [8, tr.54-55].

1.1.2.3 Quan điểm của Đinh Trọng Lạc

Theo Nguyễn Trọng Lạc, nhóm ẩn dụ được chia thành các loại cụ thể như:

Ẩn dụ, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, ẩn dụ tượng trưng, cải danh, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ và định ngữ nghệ thuật

(1) Ẩn dụ: Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên

sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hoặc tưởng tượng ra) giữa khách thể (hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) A được định danh với khách thể

Trang 16

(hoặc hiện tượng, hoạt động, tính chất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A

Ví dụ: Giá đành trong nguyệt trên mây / Hoa sao hoa khéo đọa đày bấy hoa

(Truyện Kiều – Nguyễn Du) [48, tr.52]

(2) Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Là ẩn dụ huy động mọi giác quan và dẫn đến

sự xuyên thấm, sự hòa đồng của mọi cảm quan, khiến cho thơ hóa thành nhạc, thành hoa, thấm vào tâm hồn, làm độc giả cũng có tâm hồn nghệ sĩ Và hiện thực hiện lên đầy đủ cả hình cả khối, cả màu sắc, cả âm thanh và sự vật dường như có thể ngửi

thấy được, sờ được, nếm được Ví dụ: Thu tới ngoài kia/ Nghe nhân thơm trong trái nặng/ Nghe mưa ấm trong cành thưa/ Nghe đưa đẩy tiếng gió ru lúa chin/ Xôn xao cuống lá rụng thay mùa (Huy Cận) [48, tr.59]

(3) Ẩn dụ tượng trưng: Là sự kết hợp của một khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm giác, là phương tiện tu từ đắc lực trong việc bộc lộ tâm hồn sâu

kín qua cái cảm quan kỳ diệu Ví dụ: Tai nương nước giọt mái nhà/ Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn/ Nghe đi rời rạc trong hồn/ Những chân xa vắng dặm mòn

lẻ loi (Huy Cận)

(4) Cải danh: Là một biến thể của lối nói chuyển nghĩa có tính chất ẩn dụ, trong đó người ta dùng tên riêng thay cho tên chung hoặc dùng tên chung thay cho

tên riêng Ví dụ: Hắn là một thằng Sở Khanh

(5) Nhân hóa: Là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gần gũi

dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ kín đáo tâm tư, thái độ

của mình Ví dụ: Vì sương nên núi bạc đầu/ Biển lay bởi gió hoa sầu vì mưa (Ca dao); Núi cao chi lắm núi ơi? / Núi che mặt trời chẳng thấy người thương! (Ca dao)

(6) Vật hóa: Là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta dùng một hình thức

di chuyển thuộc tính, dấu hiệu ngược chiều lại với nhân hóa, tức là lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của loài vật, đồ vật để biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người, nhằm mục đích châm biếm, đùa vui và nhiều khi qua đó để thể hiện

tình cảm, thái độ sâu kín của mình Ví dụ: Gái chính chuyên lấy được chín chồng, /

Trang 17

Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi / Chẳng may quang đứt lọ rơi, / Bò ra lổm ngổm chin nơi chin chồng (Ca dao)

(7) Phúng dụ: Là một biến thể của ẩn dụ, trong đó người ta dùng hình ảnh cụ thể, sinh động để biểu thị một ý niệm về triết lý nhân sinh hay một bài học về luân lí đạo đức, nhằm làm cho sự trình bày những nội dung đó trở nên sâu sắc, thâm thúy

Ví dụ: Con cò chết rũ trên cây/ Cò con mở sách xem ngày làm ma/ Cà cuống uống rượu la cà/ Chim ri ríu rít bò ra lấy phần (Ca dao)

(8) Định ngữ nghệ thuật: Là loại ẩn dụ nhận thức, trong đó từ ngữ (đặc biệt tính từ) giữ chức năng định ngữ cho danh từ đã được dùng theo lối chuyển nghĩa từ

cụ thể đến trừu tượng, do đó, mang một nội dung biểu cảm – cảm xúc nhất định Ví

dụ: Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh / Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy (Tố Hữu) [48; tr.66 – 67]

1.1.2.4 Quan điểm của Nguyễn Thái Hòa

Theo Nguyễn Thái Hòa, ẩn dụ được chia thành các loại cụ thể như sau:

(1) Ẩn dụ, ví dụ: Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền (Ca dao)

(2) Nhân hóa, ví dụ: Khăn thương nhớ ai/ Khăn rơi xuống đất/ Đền thương nhớ ai/ Mà đèn không tắt/ Mắt thương nhớ ai/ Mà mắt không yên (Ca dao)

(3) Vật hóa, ví dụ: Ba đồng một mớ đàn ông/ Ta bỏ vào lồng ta xách ta chơi

(Ca dao)

(4) Phúng dụ, ví dụ: Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ! Ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng…(Ca dao) [36,

tr.107]

1.1.2.5 Quan điểm của Nguyễn Văn Đường

Theo Nguyễn Văn Đường, ẩn dụ có thể phân thành bốn loại như sau:

(1) Ẩn dụ hình thức: Là ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về hình thức giữa các

sự vật hiện tượng Mô hình: Định danh (hoặc định tính) – Định danh (hoặc định

tính) Ví dụ: Từng chùm hoa phượng thắp lên ngọn lửa

Trang 18

(2) Ẩn dụ cách thức: Là ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về cách thức thực hiện hành động Mô hình: Hoạt động (quá trình) – Hoạt động (quá trình)

(3) Ẩn dụ phẩm chất: Là ẩn dụ dựa vào sự tương đồng về phẩm chất giữa các

thuộc vào trình độ, vốn sống, thái độ tình cảm của người cảm thụ [19, tr.325]

1.1.3 Pháp dụ - thí dụ trong kinh văn Phật giáo

Pháp dụ - thí dụ trong kinh văn Phật giáo chính là phương tiện trong quá trình thuyết pháp của đức Phật khi ngài còn tại thế Hình thức pháp dụ - thí dụ là cách dùng hình ảnh cụ thể mang tính ẩn dụ cao để diễn tả khái niệm trừu tượng, đôi khi là những câu chuyện xảy ra hằng ngày nhưng lại chứa đựng một triết lý nhiệm mầu Mỗi pháp dụ - thí dụ được đức Phật đề cập đến như là một thể cách đặc biệt của ngôn từ kinh tạng vừa sống động, đơn giản vừa sâu sắc thâm trầm vang vọng mãi trong tâm trí người nghe Hầu hết các thời thuyết pháp, đức Phật đều dùng các pháp dụ - thí dụ nhằm giúp người nghe pháp dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ suy niệm Đây

Trang 19

là hình thức đặc sắc được sử dụng phổ quát trong kinh văn Phật giáo Đức Phật đã vận dụng các hình ảnh trong pháp dụ - thí dụ một cách thiện xảo để nói lên sự thật của khổ đau – an lạc, của hư ngụy – chân thật trong đời sống tâm thức của con người, ngầm giới thiệu một cảnh giới giải thoát khỏi mọi lụy phiền trần thế

Pháp dụ - thí dụ trong kinh văn Phật giáo thực chất chính là những ẩn dụ tu

từ đã được đức Phật sử dụng trong quá trình thuyết pháp độ sinh Đức Phật rất tinh

tế khi ngài lấy những hình ảnh, câu chuyện cụ thể hằng ngày để diễn tả những khái niệm trừu tượng một cách sống động như là một thể cách phổ quát của ngôn từ kinh tạng Chính vì thế, đức Phật đã giúp người nghe pháp dễ hiểu, dễ nắm bắt và dễ suy niệm về những sự thật của khổ đau – an lạc, của hư ngụy – chân thật trong đời sống tâm thức của chúng sanh Từ đó, mỗi người phải tự thắp đuốc lên mà đi trên con đường diệt khổ Các cách thức của pháp dụ - thí dụ thường được sử dụng trong

kinh điển nhà Phật như sau: (1) Thuận dụ: Thuận theo lẽ thường ở đời, đi từ nhỏ đến lớn mà nói cho rõ ý (2) Nghịch dụ: Trái với cách trên, tức là đi từ lớn đến nhỏ

để nói ý mình (3) Hiện dụ: Lấy việc thường thấy trước mắt để thí dụ Chẳng hạn,

nói tâm của chúng sanh như loài vượn, ý như loài khỉ (tâm viên ý mã) là ví dụ để

chỉ tâm ý con người luôn động, không tĩnh tại (4) Phỉ dụ: Nêu giả thuyết không có

thật để thí dụ Chẳng hạn, nêu bốn quả núi để chỉ bốn nỗi khổ sinh – lão – bệnh – tử

của kiếp người (5) Tiên dụ: Nêu thí dụ trước, sau đó mới giảng giáo lý thích hợp

Chẳng hạn nói có người thích hoa lan, muốn hái lấy nên bị dòng nước cuốn đi Chúng sanh cũng thế, luôn mãi theo điều ham muốn nên bị dòng nước sinh tử dìm

chết (6) Hậu dụ: Thuyết giảng giáo lý trước, sau mới dùng thí dụ để làm sáng tỏ nghĩa của giáo lý đã nêu (7) Tiên hậu dụ: Trong khi giảng thuyết, cả trước lẫn sau

đều dùng thí dụ Chẳng hạn nói: Ví như cây chuối sinh quả rồi chết, người ngu được

nuôi dưỡng sẽ cũng như vậy (8) Biến dụ: Từ đầu đến cuối đều dùng thí dụ để làm

sáng tỏ điều muốn nói

Tám cách thức pháp dụ - thí dụ nêu trên đã được đức Phật dùng rất linh hoạt, tùy theo thời pháp thoại, trình độ, căn tính của hội chúng mà ngài dùng các loại

Trang 20

pháp dụ phù hợp Đức Phật lấy điều mà chúng sanh hiểu, biết, nghe, thấy trong sinh hoạt hằng ngày nhằm dẫn dắt đến những sự việc, hiện tượng của thế giới tâm linh

mà họ nhất thời chưa nhận ra Pháp dụ - thí dụ không chỉ phổ biến khi Phật còn tại thế mà về sau, hàng đệ tử của ngài cũng áp dụng hình thức này trong việc hoằng pháp độ sinh [10; tr.16-24]

Trong kinh Diệu pháp Liên hoa có nhiều pháp dụ - thí dụ Thống kê của

chúng tôi cho thấy có những hình ảnh ẩn dụ tương ứng với các pháp dụ - thí dụ, cụ thể như sau:

2 Ngôi nhà lửa Phỉ dụ

3 Người con trai cùng khổ Phỉ dụ

4 Những cây cỏ thuốc Hiện dụ

5 Thành phố được hóa hiện Phỉ dụ

6 Châu báu trong áo Phỉ dụ

7 Đào đất trên cao nguyên Hiện dụ

11 Viên minh châu ở đỉnh đầu Phỉ dụ

12 Những đứa con của vị lương y Phỉ dụ

13 Pháp tu Quán Âm Tiên hậu dụ

14 Pháp tu Duy thức Tiên hậu dụ

Qua bảng thống kê trên cho thấy, pháp dụ - thí dụ được xem là phương tiện

ẩn chứa các hình ảnh ẩn dụ cụ thể trong kinh Diệu pháp Liên hoa và sẽ được phân

tích sâu ở phần chương 2

1.2 Sơ lược tiểu sử Phật tổ Thích Ca Mâu Ni, pháp sư Cưu-ma-la-thập và hòa thượng Thích Trí Tịnh

Trang 21

1.2.1 Phật tổ Thích Ca Mâu Ni (624-544 trước Công nguyên)

Siddhārtha Gautama, tức Tất-đạt-đa, là một thái tử dòng họ Thích-Ca, tại

thành Ca-tỳ-la-vệ, sinh vào năm 624 (trước công nguyên) dưới cội cây Vô-ưu tại vườn Lâm Tỳ Ni, Nê-pan ngày nay Mẹ là Thánh mẫu Ma-da (mất sau khi sanh Thái tử được bảy ngày), mẹ kế của ngài là dì Ma-ha Ba-xà-ba-đề, còn cha là đức vua Tịnh-phạn nhân từ Ngài là con người xuất chúng về sự khỏe mạnh và thông minh Năm 16 tuổi, thái tử kết hôn với công chúa Da-du-đà-la và có một người con trai duy nhất tên là La-hầu-la

Dẫu sống trong cảnh quyền quý, cao sang nhưng thái tử bất nhiễm với đời Một hôm cùng với người thân cận là Sa-Nặc đi ra khỏi bốn cửa thành hoàng cung

để thăm các cảnh thật bên ngoài: đi về hướng Đông, thái tử gặp người già; đi về hướng Tây, gặp người bệnh; đi về hướng Nam, gặp người chết; và đi về hướng Bắc, gặp vị Khất sĩ Cảnh thật thứ tư là hình ảnh thái tử thích nhất và cũng là tâm nguyện

xuất gia của Ngài Năm 19 tuổi, thái tử bỏ trốn vào rừng, học đạo với hai vị đạo sĩ

Alara – Kalama và Uddaka – Ramaputta, trải qua sáu năm tu khổ hạnh với năm anh

em Kiều Trần Như Thấy lối tu và sự chứng đạo của họ thiên kiến, thái tử quyết định chọn cho mình lối tu không tham đắm dục lạc và không khổ hạnh ép xác, tức hướng đi Trung Đạo Ngài hoan hỉ dùng bát cháo sữa của nàng Su-dà-ta, nhận bó cỏ kiết tường của người nông phu, đi thẳng tới Bồ-đề đạo tràng Thái tử kiên quyết ngồi thiền định dưới cội Bồ-đề 49 ngày đêm cho tới khi thành Phật, hiệu là Thích

Ca Mâu Ni,năm 30 tuổi Khi ấy, Phạm thiên Sahampati ba lần thưa thỉnh đức Phật

đi giáo hóa chúng sanh và Ngài đã đồng ý

Tại vườn Lộc Uyển ở Sarnath, đức Phật nói bài pháp Tứ đế độ cho năm anh

em Kiều Trần Như chứng quả A-la-hán Từ đó, Tam bảo Phật-Pháp-Tăng được hình thành tại đây Đức Phật và đệ tử sống đời khất thực và thiền định tu chứng để làm khuôn thước giáo hóa chúng sanh Ngài có mười vị đệ tử nổi tiếng bậc nhất, đó

Trang 22

là Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề, Phú-lâu-na, diên, A-na-luật, Ưu-ba-ly, A-nan và La-hầu-la

Ca-chiên-Khi Niết-bàn, đức Phật mới thuyết kinh Diệu pháp Liên hoa Ngài đã thuyết

pháp trong 49 năm và nhập diệt, trụ thế 80 tuổi, khoảng năm 544 trước Công nguyên, tại rừng Sa-la, dưới cội cây song thọ, thành Câu-thi-na, Ấn Độ [72]

1.2.2 Pháp sư Cưu-ma-la-thập (khoảng 400 sau Công nguyên)

Pháp sư Cưu-ma-la-thập, gốc người Ấn Độ, sinh ra trong thời Diêu Tần, tức khoảng 400 năm sau Công nguyên (chưa rõ năm mất), tức gần 1000 năm sau khi đức Phật nhập diệt Ngài là người trí tuệ vô song, làu thông tam tạng kinh điển Cha ngài là Cưu-ma-la-viêm, bỏ ngôi tướng quốc, xuất gia tu Phật và xuất ngoại vào nước Cưu-ty, miền Tây-vực, Tân cương, Trung Hoa Quốc vương nước này rất kính mến, phong Cưu-ma-la-viêm làm Quốc sư và gả em gái là Kỳ-bà, từ đó sanh ngài Cưu-ma-la-thập Lúc lên bảy tuổi, Cưu-ma-la-thập theo mẹ vào chùa để xuất gia Ngài học-hạnh kiêm toàn, thông suốt tam tạng kinh điển, phát sinh đại trí huệ

Bấy giờ, ở Trung Hoa, vào đời nhà Đông Tấn, có vua Tần Phù Kiên của nước Tần vì nghe đại danh của ngài nên sai đại tướng Lữ Giang cử bảy vạn binh đánh vào Tây-vực, buộc vua nước Cưu-ty phải giao pháp sư cho họ Vua nước Cưu-

ty khước từ nhưng cuối cùng bị thất trận đành phải giao pháp sư cho vua Tần Khi vừa đến đất Lương Châu thì nghe tin vua Tần Phù Kiên bị ông Dao Trành giết chết,

Lữ Giang tự chiếm đất Lương Châu và tự phong mình làm vua là Tam Hà Vương, lập ra nhà Hậu Lương

Vua Dao Trành lập ra triều đại Hậu Tần mà kinh điển thường gọi là Dao Tần hay Diêu Tần Vua Dao Trành qua đời, con là Dao Hưng lên nối ngôi mới cất binh qua đánh vua Lữ Giang nhưng Lữ Giang vừa qua đời, con là Lữ Long lên thay chịu đầu hàng Nhà vua liền rước pháp sư về Tràng An, tôn làm Quốc sư và ngự tại Tiêu Diêu Viên và Tây Minh Các để kiểm duyệt lại tất cả kinh điển

Trang 23

Pháp sư Cưu-ma-la-thập xem xét lại kinh điển thì nhận thấy phần lớn đều sai lệch, chẳng đúng với Phạm-bản, liền cho mời các vị danh tăng như Tăng Triệu, Tăng Duệ, Tăng Lãnh, Đạo Sanh, Đạo Dung, Đạo Hằng, Huệ Quang, Huệ Nghiêm, Đạo Thường, Đạo Phiêu cùng với các vị đại đức khác tổng cộng trên 108 người cùng nhau dịch ra các bản kinh luật mới, trước sau hơn 390 quyển [98] Trong đó

đó, dịch phẩm nổi tiếng nhất là kinh Diệu pháp Liên hoa

Trước khi lâm chung, ngài Cưu-ma-la-thập cho mời tăng chúng đến dặn

rằng: “Sau khi Ta mệnh chung, hãy đem nhục thể của Ta hỏa thiêu Nếu quả thực các kinh điển do Ta phiên dịch không có điều gì sai lầm thì lưỡi của Ta không bị hoại Còn như nếu là sai với tâm ý của Phật thì lưỡi của Ta tất bị thiêu hóa” Sau

khi lửa tàn, thi thể cháy hết mà lưỡi của pháp sư vẫn giữ màu hồng tươi như khi còn sống Xem như vậy mới biết rằng tất cả các kinh do ngài Cưu-ma-la-thập phiên dịch hoàn toàn không sai lạc, thật đúng với tâm ý của Phật [98]

Trang 24

Dịch phẩm của ngài rất có giá trị Hòa thượng quí chuộng căn bản, dịch giải chính xác, rõ ràng mà không hoa dạng, chơn chất mà không quá quê kệch, người đọc tụng có thể nhận được nghĩa thú hiểu biết ý chỉ dễ dàng Kể từ năm 1948 đến nay, dịch phẩm và tác phẩm của ngài phiên dịch, soạn thuật có rất nhiều Dịch phẩm

như: kinh Diệu pháp Liên hoa, kinh Địa Tạng Bồ tát bổn nguyện công đức, kinh Tam Bảo, kinh Phạm Võng, kinh Đại Bát Niết Bàn, kinh Ma ha Bát nhã Ba la mật, kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bảo Tích, Ngộ tánh luận, Thiền Tịnh quyết nghi, Văn sám thập phương và Thập đại nguyện Phổ Hiền (dịch giải), v.v Còn trước thuật như: Pháp Hoa cương yếu, Đường về Cực Lạc, Văn phát nguyện tu thập thiện, v.v

Ngoài ra, ngài còn diễn giảng rất nhiều bộ kinh đại thừa, trình bày chỉ thú pháp

tướng, pháp tánh như: Pháp hoa thông nghĩa, Lăng Nghiêm trực chỉ, Viên giác, Phật tổ tam kinh, Kinh văn trích yếu, Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm – Duy thức chương, Bát thức qui củ tụng thích luận, v.v Nhìn chung, ngài giảng dạy tinh chỉ

của Duy thức học, Tịnh độ học và Thiền học,…một cách thâm thúy

Hơn nữa, Hòa thượng là thành viên sáng lập Giáo hội Tăng già Nam Việt, Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất Trước và sau 1975, ngài được suy cử đảm nhiệm rất nhiều trọng trách trong việc hoằng dương chánh pháp nhà Phật, chẳng hạn như: Tổng Ủy viên tổng vụ Tăng sự (1964-1974) ; Phó Viện trưởng viện Hóa đạo (1974) ; Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Viện Huệ Nghiêm; Khoa Trưởng Phật khoa tại Viện Ðại học Vạn Hạnh; Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1992); Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Trí Tấn do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Dương tổ chức (2004); Đường đầu Hòa thượng Đại giới đàn Thiện Hòa 4

do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức(2005); v.v

Thường ngày, Hòa thượng hành trì không bỏ sót thời gian, ít ngủ nghỉ, quá ngọ thời không ăn, thức ăn không quá phần đại chúng; giới hạnh tinh nghiêm, không nói chuyện ngoài sự đàm thuyết điển tịch Phật pháp Niệm châu không rời, không sót ngày Bố tát và An cư, dù lúc thân thể suy gầy Thân giáo, khẩu giáo

Trang 25

nghiêm minh, hoan hỷ đúng mực bậc danh tăng Hòa thượng viên tịch năm 2014, tại chùa Vạn Đức, ở Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, trụ thế 98 năm, hạ lạp 69 năm, nhục thân nhập Bảo tháp Phù Thi (khuôn viên chùa Vạn Đức) [5]

Tóm lại, kinh điển đại thừa nói chung, kinh Diệu pháp Liên hoa nói riêng,

được phổ cập trong tòa nhà Phật giáo Việt Nam, lưu thông trong quảng đại quần chúng, có thể nói, hòa thượng Thích Trí Tịnh là vị đứng đầu trong giới phiên dịch

Việt Nam hiện đại

1.3 Bối cảnh xuất hiện và nội dung của kinh Diệu pháp Liên hoa

Sau khi đức Phật nhập diệt một trăm năm, giáo đoàn bắt đầu phân phái Những quan điểm, giải thích giáo lý, giới luật có sự khác biệt giữa các nhóm, các phái và giữa các vùng khác nhau Sự phân chia tông phái ngày mỗi tăng, có đến hai mươi tông phái Tinh thần giáo lý Nguyên thủy được ghi nhớ và giải thích phần nào lệch lạc Tăng đoàn của mỗi phái cố gắng thiết lập cho mình một căn cứ địa về mặt địa lý cũng như về mặt tư tưởng để củng cố học thuyết và hệ phái của mình Đường lối sinh hoạt và tu tập của chư tăng ngày càng cách biệt với quần chúng và quần chúng cũng không biết theo ai Sinh khí của giáo lý thực tiễn cứu khổ thuở ban đầu

bị xói mòn, khô cứng, dần dần đi vào tư biện triết học Phật giáo Ấn Độ trong tình trạng như vậy bị co cụm với những lý thuyết khô khan Trong khi đó, triết lý Bà-la-môn đang có chiều hướng phát triển và tranh chấp ảnh hưởng với Phật giáo, nhu cầu phát triển đổi mới, tạo tác dụng thực tiễn của giáo lý vào đời sống xã hội là một nhu cầu bức xúc

Phật giáo đại thừa xuất hiện trong bối cảnh ấy Những người Phật tử trí thức

và đầy tâm huyết muốn thấy Phật giáo có sự sống sinh động và có tác dụng tích cực như thời đức Phật, họ đứng lên khởi xướng phong trào mới là đại thừa (Mahayana), tức cỗ xe lớn chứa được nhiều người đến nơi Phật quả Còn Phật giáo truyền thống được coi là tiểu thừa tức cỗ xe nhỏ, ích kỷ, chỉ thành tựu A-la-hán quả Sự va chạm giữa đại thừa và tiểu thừa đã xảy ra một cách mạnh mẽ, đến độ không ai chấp nhận

ai Những kinh điển đại thừa lần lượt xuất hiện phát dương lý tưởng đại thừa, giải

Trang 26

thích giáo lý mang tính tích cực và đại chúng hơn Bát Nhã là bộ kinh lớn xuất hiện

khá sớm, triển khai tư tưởng chân không tích cực đả phá tiểu thừa, cho rằng Thanh

văn và Duyên giác không phải là con của Phật Kinh Hoa Nghiêm chủ trương pháp giới duyên khởi, nhưng vẫn coi tiểu thừa là thấp kém hạ liệt Đến Duy Ma Cật thì

tiểu thừa bị chỉ trích thậm tệ Sự đả phá chỉ trích lẫn nhau đã dẫn đến không chấp nhận nhau làm cho Phật giáo suy yếu Đại thừa, mặc dù đã đưa ra đường lối tu tập sinh động hơn, nhưng bên cạnh đó tạo ra mối mâu thuẫn mới và lớn lao hơn Nhu cầu về con đường hòa giải trở nên cấp thiết, xu hướng phê phán sự xung đột và mâu thuẫn trong Phật giáo ngày càng mạnh, tạo áp lực nhất định vào tâm tư của thời đại,

kinh Bách Dụ, một tác phẩm xuất hiện vào thế kỷ thứ II, đưa ra chuyện ngụ ngôn:

Hai người đệ tử bóp chân thầy Họ thường ghét nhau nên hành hạ nhau bằng cách lấy đá đánh gãy chân thầy mà người kia đang bóp Người kia tức giận trả thù bằng cách cũng lấy đá đánh gãy chân thầy của người nọ Ngài Tăng Già Tư Na, tác giả

của Bách Dụ nhận xét: “Cũng như người học Phật, người nghiên cứu đại thừa bài bác tiểu thừa, người nghiên cứu tiểu thừa bài bác đại thừa, làm cho giáo pháp cả hai đều mất”

Trong bối cảnh đó, kinh Diệu pháp Liên hoa lại xuất hiện, chủ trương hòa

giải mọi mâu thuẫn gay gắt của các dòng tư tưởng đại thừa trước đó đối với giáo lý truyền thống, tạo sự thống nhất về tư tưởng và đường lối Phật giáo Mặt khác, kinh

Diệu pháp Liên hoa cũng tổng hợp những tư tưởng cốt tủy của Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Duy Ma, đồng thời mở ra chân trời mới cho mọi con người trong xã hội:

Ai ai cũng có Phật tánh, ai ai cũng có khả năng thành Phật Kinh Diệu pháp Liên hoa không trình bày chân lý theo khía cạnh triết học hoặc chuyên môn, mà theo

cách mới có tính đại chúng, thực tiễn và gần gũi Nhờ những đặc thù trên mà kinh

Diệu pháp Liên hoa được coi là vua của các kinh [22]

Toàn bộ kinh Diệu pháp Liên hoa có bảy quyển, hai mươi tám phẩm cốt khai

thị cho chúng sanh ngộ nhập Tri kiến Phật Phẩm đầu do Bồ-tát Văn-thù giải nghi cho Bồ-tát Di-lặc về việc phóng quang của đức Phật Đó là tượng trưng Trí căn bản đánh thức phát tâm Bồ-đề Phẩm cuối Bồ-tát Phổ Hiền phát nguyện bảo hộ người trì

Trang 27

kinh sau này Đây là tượng trưng Trí sai biệt làm lợi ích chúng sanh Câu then chốt

trong kinh này: "Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến", rất đồng nghĩa với

câu "Trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật" của Thiền tông Phẩm Tín giải và

phẩm Thọ ký của kinh này rất giống với việc "trình kiến giải" được "ấn chứng" của

Thiền tông Cho đến sự tu hành thủy chung đều không khác Sự dung thông giữa các tông phái đạo Phật thật kỳ diệu lắm thay [101, tr.874]

1.4 Tiểu kết

Trong những quan điểm về ẩn dụ, ẩn dụ tu từ , cách phân loại ẩn dụ và lý thuyết về pháp dụ - thí dụ của kinh văn nhà Phật, chúng tôi đã sử dụng khái niệm về

ẩn dụ tu từ của Cù Đình Tú và lý thuyết về pháp dụ - thí dụ trong kinh văn nhà Phật

để làm định hướng trong việc triển khai phân tích, tổng hợp ý nghĩa các hình ảnh

ẩn dụ tu từ trong kinh Diệu pháp Liên hoa

Đồng thời, ở chương này, chúng ta thầm biết ơn đức Phật Thích Ca Mâu Ni,

người đã thuyết kinh Diệu pháp Liên hoa tại núi Linh Thứu, Ấn Độ xưa, trước khi

nhập Niết bàn Đến khoảng 1000 năm sau khi đức Phật tịch diệt, ngài

Cưu-ma-la-thập, một dịch giả đại tài, đã dịch kinh Diệu pháp Liên hoa từ Phạn ngữ sang Hán

ngữ tại Trung Hoa và trở thành một trong những dịch phẩm nổi tiếng mọi thời đại

Đến giữa thế kỷ XX, hòa thượng Thích Trí Tịnh đã dịch kinh Diệu pháp Liên hoa

từ Hán ngữ sang Việt ngữ tại Việt Nam và cũng đã trở thành một trong những dịch phẩm nổi tiếng nhất được phổ biến trong nền Phật học Việt Nam

Hơn nữa, sự xuất hiện trở lại của kinh Diệu pháp Liên hoa khoảng 100 năm

sau khi Phật nhập Niết bàn có một ý nghĩa vô cùng tích cực trong bối cảnh có sự phân chia biệt lập tam thừa (đại thừa, trung thừa, tiểu thừa) với nhiều tông phái nhà Phật khác nhau tại Ấn Độ Trong đó, có sự bất đồng quan điểm về giáo pháp giữa

đại thừa và tiểu thừa là gay gắt nhất Và kinh Diệu pháp Liên hoa đã góp phần tích

cực trong việc xoa dịu và hàn gắn sự phân chia ấy, bởi nội dung của kinh này là vô cùng ưu việt và từ bi, cụ thể là, khẳng định mọi chúng sanh đều có Phật tánh, có Tri kiến Phật và đều có khả năng thành Phật

Trang 28

CHƯƠNG 2 Ý NGHĨA CỦA CÁC ẨN DỤ TU TỪ TRONG KINH

DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Trong kinh Diệu pháp Liên hoa có rất nhiều hình ảnh ẩn dụ Thống kê của

chúng tôi cho thấy có những hình ảnh ẩn dụ chính thể hiện ý nghĩa sâu sắc biểu trưng cho các quan niệm về Phật đạo, cụ thể như sau:

1 Hoa sen Sự thanh tịnh, giải thoát, tánh bất

nhiễm, tinh thần nhập thế, chủng tử bất hoại, pháp môn vi diệu, công quả công đức, vạn pháp

2 Ngôi nhà lửa Cuộc đời khổ

3 Người con trai cùng khổ Chúng sanh

4 Những cây cỏ thuốc Tâm lành của chúng sanh

5 Thành phố được hóa hiện Hạnh phúc và sự chứng ngộ

6 Châu báu trong áo Tri kiến Phật

7 Đào đất trên cao nguyên Con đường tìm đạo

9 Tòa Không tính – như nhứt

11 Viên minh châu ở đỉnh đầu Trí huệ

12 Những đứa con của vị lương y Chúng sanh mắc bệnh khổ

13 Pháp tu Quán Âm Quán Tâm Giác Ngộ

14 Pháp tu Duy thức Kiến Tánh Giác Ngộ

2.1 Ẩn dụ về hoa sen từ tiêu đề kinh Diệu pháp Liên hoa

Kinh Diệu pháp Liên hoa, gọi tắt là kinh Pháp Hoa, tiếng Phạn là Saddharma pundarika sutram (nghĩa từng chữ: saddharma = diệu pháp, pundarika

= sen trắng, sutram = kinh) tức “kinh Diệu Pháp sen trắng” là bản kinh Bắc tông

đã dành cho hoa sen một vị trí vô cùng tối thượng Hoa sen tượng trưng chung cho Phật tánh, là tính giác ngộ mà mỗi chúng sanh đều có sẵn, như hạt sen đã sẵn có

Trang 29

mầm hoa để khai nở, tỏa hương cho đời Ẩn dụ tượng trưng của hoa sen đã được đề

cập trong tiêu đề kinh Diệu pháp Liên hoa này:

Thứ nhất, hoa sen tượng trưng cho sự thanh tịnh Đặc trưng thanh tịnh này

thay đổi tùy thuộc vào bốn màu sắc khác nhau của hoa sen: (1) Hoa sen xanh

(Utpala) tượng trưng cho sự thanh tịnh của trí tuệ, được tôn xưng là hoa đại trí của

đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát và của đức Đại Thế Chí Bồ tát (2) Hoa sen hồng

(Padma) tượng trưng cho sự trong trắng của tấm lòng, của tình thương Đây là hoa sen đại bi của đức Quán Thế Âm Bồ tát Padma tức Padme (Tây Tạng) là một từ

quan trọng trong lục tự chân ngôn “Om mani padme hum”, chân ngôn có vô lượng nghĩa nhưng có vị tạm giảng là: “Ô! chân linh trong hoa sen” hay “Quy y châu ma

ni trên hoa sen”, cũng có thuyết cho rằng “padme” tức sen hồng tượng trưng cho

đại bi và ngọc ma ni tượng trưng cho đại trí, nên chân ngôn diệu nghĩa có thể là:

“Ô! chân Bi Trí nhiệm mầu” (3) Hoa sen trắng (Pundarika) tượng trưng cho sự

thuần khiết tối thượng chân thực của tâm linh, tức Phật tánh Theo quan niệm của Phật giáo Tây Tạng, hoa sen trắng còn tượng trưng cho lòng bi mẫn và đồng hóa

với White Tara (Bạch Đa La), một hóa thân sinh ra từ giọt nước mắt thương xót chúng sanh của Bồ tát Quán Âm (4) Hoa Hoa sen màu vàng kim (Mukula) là hiện

thân của Đức Phật, tượng trưng cho đức thanh tịnh tuyệt hảo Theo các nhà học giả Tây phương, sen Ấn Độ xưa nay chỉ có ba màu trắng, hồng và xanh (rất hiếm), còn màu sen vàng chỉ là màu tượng trưng nhằm tôn kính Phật nên không thực có [6, tr.80]

Thứ hai, hoa sen tượng trưng cho đặc tánh thăng hoa giải thoát Ý nghĩa này được gợi lên từ hình ảnh của những hạt sen từ bùn nhơ nảy mầm, vượt khỏi bùn, vượt khỏi mặt nước, ngoi lên không khí trổ hoa, tương tự như người hành giả

từ cõi Dục nhơ bẩn, vượt qua khỏi cõi Sắc và cõi Vô sắc, để nở đóa hoa trí huệ thơm ngát thành bậc giác ngộ

Thứ ba, hoa sen tượng trưng cho đặc tánh bất nhiễm Đặc tánh này của hoa sen cũng được đức Phật Thích Ca nhắc nhở nhiều lần trong các thời pháp Tính bất nhiễm còn thể hiện qua truyền thuyết, khi vừa đản sanh, từ hông mẫu hậu, thái tử

Trang 30

Tất-đạt-đa đã đi bảy bước và mỗi bước đều có hoa sen nâng đỡ chân ngài Truyền thuyết này hàm ẩn về khả năng sống trên cõi đời ngũ dục mà đức Phật không đắm nhiễm để vươn lên như hoa sen, tỏa ngát hương thanh tịnh giải thoát trao cho muôn loài Ngoài ra, hình ảnh hoa sen cũng khơi nguồn cho tinh thần nhập thế của Phật giáo Bắc truyền, theo đó Bồ tát thõng tay vào chợ, hội nhập vào thế gian đa sự mà không bị ô nhiễm, để tùy duyên giáo hóa cứu độ chúng sanh Hoa sen mọc trong bùn lầy nhơ nhớp mà không bị hôi tanh, vẫn đẹp thơm thanh khiết Hoa sen được người ưa quí, không phải ở sắc đẹp, mùi thơm như những hoa khác mà quí ở chỗ hoa mọc từ nơi bùn lầy nhơ nhớp mà vẫn giữ được sắc hương thanh khiết Cũng giống như thân năm uẩn này, nếu nhìn với con mắt giác ngộ thì nó rất ô uế bất tịnh

Tuy nó ô uế bất tịnh nhưng có cái hằng thanh tịnh sáng suốt, kinh Diệu pháp Liên hoa gọi đó là Tri kiến Phật Hoa sen có đặc điểm ở trong bùn không ô nhiễm; kinh Diệu pháp Liên hoa đã sử dụng đặc tính này của hoa sen để dụ cho Phật tính Phật

tính của hết thảy chúng sanh tuy ở trong phiền não nhưng không bị ô nhiễm Việc Đề-bà Đạt-đa phạm tội ngũ nghịch, đọa Vô gián địa ngục nhưng Phật tính nơi ông vẫn không mất, khi hội đủ nhân duyên thì Phật tính nơi ông vẫn hiển lộ nên ông được đức Phật thọ ký thành Phật trong tương lai và ở phẩm Đà-la-ni, loài quỷ nữ do nhiều đời tạo ác nghiệp nên đã đọa làm quỷ nhưng Phật tính nơi họ không mất khi

hội đủ nhân duyên thì Phật tính hiển lộ; vì vậy khi nghe kinh Pháp Hoa, Phật tính

nơi họ liền sinh khởi và họ đã phát tâm hộ trì kinh Pháp hoa Đây chính là hiển thị đặc điểm này [6, tr.85]

Thứ tư, hoa sen tượng trưng cho đặc tánh chủng tử bất hoại Ý nghĩa này được gợi lên từ hình ảnh của hạt giống sen ngàn năm không hoại, tương tự như hạt giống Phật đã gieo vào tàng thức đến tám đại vạn kiếp vẫn tồn tại và có lúc cũng nở hoa Trong kinh Nam truyền có ghi chuyện một ông lão khoảng chin mươi tuổi đến tịnh xá Kỳ Hoàn xin xuất gia, các vị A la hán đệ tử của đức Phật Thích Ca sau khi quan sát nhận thấy trong 80 vạn kiếp, lão chưa từng gieo trồng căn lành nên họ từ chối Đức Phật nghe biết sự việc trên, ngài cho ông lão xuất gia và sau khi được Phật khai thị, ông liền đắc Sơ quả Sau đó, đức Phật mới giải thích cho các đệ tử

Trang 31

hiểu là xa hơn 80 vạn kiếp về trước, có lần ông lão là một tiều phu bị cọp dữ rượt

phải trèo lên cây trốn tránh, trong cơn sợ hãi bỗng nhớ đến Phật liền niệm lớn “Nam

mô Phật!” Sau khi thoát nạn, gã tiều phu tiếp tục kiếp sống buông lung không hề

gieo trồng căn lành nào nữa trong 80 vạn kiếp về sau, không ngờ, căn lành niệm Phật ngày xưa giờ đây trở nên thành thục nên vừa được Phật khai thị, lão liền đắc

Sơ quả [6, tr.87]

Thứ năm, hoa sen tượng trưng cho pháp môn vi diệu Trong kinh Diệu pháp Liên hoa, đức Phật đã đưa ra thông điệp “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật

sẽ thành”; nguyên lý mọi chúng sinh đều có Phật tánh, đều có khả năng thành Phật,

thành người giác ngộ và giải thoát là một nguyên lý vĩ đại, nêu cao tinh thần bình đẳng tột cùng cho muôn loài Chính do đặc tánh vi diệu thù thắng này nên Tổ Thiên

Thai – Trí Khải đã y cứ vào kinh Pháp Hoa lập tông, đồng thời viện dẫn ba đặc điểm của hoa sen gọi là Pháp Hoa tam dụ là: a/ Vị cố liên hoa (vì hạt có hoa) b/

Hoa khai liên hiện (Hoa nở bày hạt) và c/ Hoa lạc liên thành (hoa rụng hạt thành)

để khai quyền hiển thật diễn giải ý nghĩa nhiệm mầu của kinh Diệu pháp Liên hoa

[6, tr.88]

Thứ sáu, đài của hoa sen tượng trưng công quả công đức Khi vừa kết hoa thì đài của hoa sen tượng hình và bắt đầu đơm hạt, tợ như khi người hành giả vừa phát tâm bồ đề thì quả công đức bắt đầu nảy mầm Chính nhằm thể hiện ý nghĩa này

mà các nhà nghệ sĩ tranh tượng Phật giáo xưa nay đã đồng loạt tạo dựng mô hình tôn kính chư Phật, chư Bồ tát bằng cách an vị quý ngài trên đài sen Điểm cũng nên lưu ý rằng, tùy theo hạnh nguyện và công đức thù thắng khác nhau mà đài sen của chư Phật, chư Bồ tát cũng có những chi tiết khác nhau Theo quan niệm của Tịnh độ tông, ngay khi một hành giả phát đại nguyện tu tập cầu vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc thì một đóa sen công đức tương ứng với họ liền hóa hiện ở cõi Tịnh

độ, hoa lớn dần theo công phu tu tập; ngược lại, sẽ teo nhỏ hay khô chết nếu hành

giả thối chuyển Và căn cứ vào kinh Quán Vô Lượng Thọ thì trên cõi Tây phương

Cực lạc thế giới của đức Phật A Di Đà có hoa sen chín phẩm, lớn nhỏ, màu sắc khác nhau, tùy theo công đức tu hành của hành giả sâu cạn như thế nào mà hóa sanh về

Trang 32

cõi ấy theo phẩm vị của mình: “Hoa sen chín phẩm làm cha mẹ / Sen nở thấy Phật ngộ vô sanh” là ước nguyện tối hậu của hành giả tu pháp môn Tịnh độ [6, tr.89]

Thứ bảy, hoa sen tượng trưng vạn pháp, tức vô lượng phương tiện tu tập Ý nghĩa này được gợi lên từ hình ảnh về cánh của hoa sen Sen bốn cánh tượng trưng cho giáo lý Tứ diệu đế Sen tám cánh tượng trưngcho Bát chánh đạo Sen mười cánh tượng trưng cho Thập thiện Sen mười hai cánh tượng trưng cho giáo lý Thập nhị nhân duyên Sen trăm cánh tượng trưng cho Bách pháp Minh môn Sen ngàn cánh tượng trưng cho Thiên pháp Minh môn Sen vạn cánh cho Vạn pháp Minh môn [6, tr.90]

Tổng hợp lại từ nghiên cứu về tiêu đề của kinh Diệu pháp Liên hoa, chúng

tôi có được bảy ý nghĩa tượng trưng Có thể thấy tất cả giáo lý trong kinh Diệu pháp Liên hoa từ đầu đến cuối đều lấy hoa sen làm biểu tượng Do đó, đạo Phật cũng gọi

là đạo Hoa sen

2.2 Ẩn dụ về ngôi nhà lửa (cuộc đời khổ)

Ẩn dụ về ngôi nhà lửa của kinh Diệu pháp Liên hoa được gợi lên từ nội

dung của Phẩm 3 - Thí dụ Bối cảnh là trong một nước kia, có một vị đại trưởng giả

đã già yếu Ông ta giàu có vô kể, nhiều ruộng đất, nhà cửa, nô lệ và tôi tớ Nhà ông rất rộng mà chỉ có một cửa vào, bên trong có nhiều người ở, các tiền sảnh và phòng

xá đều cũ kỹ, suy tàn, tường vách lung lay, nền cột mục rữa, xà, nóc xiêu nghiêng rất nguy hiểm Bỗng nhiên, lửa bốc cháy cùng một lúc từ mọi phía và ngôi nhà bị ngọn lửa bao phủ Tất cả những đứa con mà ông trưởng giả rất gắn bó đều đang ở trong ngôi nhà ấy Đứng bên ngoài, trưởng giả biết rằng lửa đã bùng cháy liền quay trở lại ngôi nhà và vô cùng lo sợ khi thấy các con vẫn mải mê chơi đùa Chúng không hiểu biết, ngạc nhiên hay sợ hãi gì cả Dù ngọn lửa đang lan về phía chúng,

dù đau đớn sẽ cực độ, chúng vẫn không quan tâm, sợ hãi và không gấp rút để thoát

ra khỏi ngôi nhà

“Ông Trưởng-giả đó lại nghĩ: thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt

áo hoặc dùng ghế đẳng từ trong nhà mà ra ngoài Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một

Trang 33

cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã

bị lửa đốt cháy, Ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ” [90, tr.114 - 115]

“Nhà này đã bị cháy phải mau ra liền, chớ để bị lửa đốt hại Nghĩ như thế theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa? Gì là nhà? Thế nào là hại? Chỉ cứ Đông Tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi” [90, tr.115]

“Bấy giờ, Trưởng-giả liền nghĩ nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không ra liền chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này

Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có, chắc chúng nó ưa đắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có khó được mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy sau chắc buồn ăn năn Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa nên mau ra đây tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con

Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau cùng đua nhau ruổi chạy tranh ra khỏi nhà lửa Khi đó Trưởng-giả thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đều ở trong đường ngã tư nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở” [90, tr.115 - 116]

“Bấy giờ, các người con đều thưa với cha rằng : “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu xin liền ban cho” [90, tr.116]

“Xá-Lợi-Phất! Khi đó Trưởng-giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe

đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau giồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rủ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ

Trang 34

để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó” [90, tr.117]

Không cần nói, vị trưởng giả là người cha - ẩn dụ chỉ đức Phật Ngôi nhà bị

hư hoại trỏ trạng thái nguy hiểm và khổ đau của con người ở thế giới Ta-bà Dĩ nhiên là đức Phật ở bên ngoài những ảo tưởng khổ đau của con người, nhưng ngài không bao giờ quên các con của ngài - tất cả các chúng sanh - đang ở trong tình trạng như thế Căn nhà bị hư hoại là ẩn dụ của tình trạng nguy hiểm của thế giới Tình trạng đau khổ của tâm người được minh họa một cách sinh động trong phần đầu của đoạn kệ cuối ở phẩm 3 kinh Pháp Hoa Tất cả các chúng sanh ác đều phải chạy rong khắp phía Có những nơi hôi thối phân và nước tiểu, tràn đầy đồ dơ, dòi

bọ tụ tập Chồn, chó sói và dã can cắn đạp nhau để gặm thây người, vung rải xương thịt người Sau đó, từng lũ chó đến vồ chụp những đồ thừa, gầy gò vì đói, lẻn đi tìm thức ăn ở khắp nơi Mặt khác quỹ Cưu-bàn-đồ chộp lấy chân chó, đánh chúng để chúng không kêu sủa được, vặn chân quanh cổ chúng và hành hạ chúng để vui đùa

Sự miêu tả này là một ẩn dụ về thế giới loài-người trong thời mạt pháp mà chúng ta đang sống

Lửa bùng cháy trong ngôi nhà cũ đang hư hoại này biểu tượng cho tất cả khổ đau của con người, gồm già, bệnh, chết Chúng sanh mải mê vui thú dục lạc, thỏa mãn vật chất mà không biết rằng những khổ đau này sẽ trút xuống họ sớm hay muộn nhưng thế nào cũng xảy ra

Đức Phật muốn đem chúng sanh ra khỏi ngôi nhà lửa Tuy nhiên, ngôi nhà chỉ có một cái cổng, và cổng thì quá hẹp đến nỗi họ không thể dễ dàng qua được Điều này nghĩa là chỉ có một cách để cứu loài Người và cổng dẫn đến sự cứu độ ấy thì quá hẹp không dễ gì vượt qua được Điều này dạy chúng ta rằng chân lý chỉ là một và chúng ta không thể đạt chân lý bằng một thái độ nghi ngờ hay thờ ơ

Đức Phật muốn đem các con của ngài ra khỏi ngôi nhà lửa bằng một chậu hoa, một cái ghế dài hay một cái bàn Điều này được diễn dịch rằng trước tiên Ngài nghĩ đến việc cứu tất cả chúng sinh bằng từ bi và năng lực siêu nhiên Nhưng dù

Trang 35

cho Ngài muốn làm như thế thì vẫn có khả năng là họ không được Ngài cứu độ, do

họ quá mải mê dục lạc và vật chất Lòng từ bi của đức Phật chỉ có ích khi tất cả các chúng sanh đều có thể nhận ra lòng từ bi ấy Vì lý do ấy, ngài chủ ý không sử dụng thần thông

Nếu chúng ta vào sâu hơn bên dưới ý nghĩa này, chúng ta có thể thấy rằng nếu đức Phật đưa chúng sanh thẳng đến giác ngộ thì họ sẽ không thể hiểu giáo lý của Ngài và sẽ bị sa ngã vì họ quá mải mê dục lạc và vật chất Do đó, Ngài muốn dẫn dắt họ từ bước đầu tiên khiến họ nhận thức được tình trạng kinh khiếp của thế giới này

Mặc cho mối quan tâm từ bi của đức Phật, chúng sanh vẫn thường chỉ liếc nhìn khuôn mặt của cha mình (giáo lý của đức Phật); họ không suy xét giáo lý này quan hệ đến cuộc sống của riêng họ như thế nào và không thiết tha lắng nghe giáo

lý ấy Chúng ta vẫn thường kinh nghiệm điều này vốn tỏ lộ rõ ràng tâm trạng của con người bình thường

Thế rồi, đức Phật dùng biện pháp cuối cùng là nêu bày các xe dê (Thanh văn thừa), xe nai (Duyên giác thừa) và xe trâu (Bồ-tát thừa) Giờ đây, lần đầu tiên tất cả chúng sanh đều được thu hút vào giáo lý của đức Phật Khi nghe Ngài dạy rằng

“Hãy nhận lấy bất cứ giáo lý nào trong ba giáo lý này mà ngươi thích; Ta sẽ trao cho”, họ chạy ra khỏi ngôi nhà đang cháy trong khi nghĩ đến những đồ chơi hấp dẫn

dành cho họ

Nghĩ đến các đồ chơi hấp dẫn cho mình nghĩa là người ta sẵn sàng nhập vào trạng thái tâm thức của Thanh văn, Duyên giác hay Bồ-tát Chạy ra khỏi ngôi nhà cháy nghĩa là người ta sẵn sàng cầu mong giáo lý của đức Phật Khi các chúng sanh

gỡ bỏ ảo tưởng khỏi tâm mình, họ có thể thoát ngay khỏi ngôi nhà lửa của khổ đau trên đời này

Tuy nhiên, họ chưa nghĩ rằng họ được cứu ra khỏi ngôi nhà lửa Tâm họ tràn đầy lòng ham muốn có được một trong những cỗ xe hấp dẫn - sự thể chứng của một Thanh văn, một Duyên giác, hay một Bồ-tát Thế rồi họ xin đức Phật những cỗ xe

Trang 36

này Điều này nghĩa là mỗi người xin sự chứng ngộ cho chính mình Thế rồi hoàn toàn bất ngờ, vượt ngoài sự chứng ngộ ba thừa, họ thấy được giáo lý tối thượng, tức

là, sự chứng ngộ Phật thừa duy nhất (cỗ xe trâu trắng lớn), chiếu sáng rực rỡ

Đức Phật thực sự mong muốn cho tất cả chúng sanh những cỗ xe lớn này Cho nên những ai đã tiến đến cái tâm cầu tìm sự chứng ngộ tối thượng thì Ngài không tiếc gì mà không cho họ cùng một thứ như nhau Quan điểm của đức Phật thật là tuyệt diệu ! Mọi người đều có thể đạt được sự chứng ngộ của đức Phật - đây

là tinh thần lớn lao của kinh Diệu pháp Liên hoa

Sau khi kể ẩn dụ về ngôi nhà lửa, đức Phật giảng giải đầy đủ ý nghĩa hàm chứa trong ẩn dụ này và rồi muốn giảng cùng một giáo lý như thế một lần nữa bằng những lời khác, Ngài thuyết kệ Sau đây là ý chính của những gì Ngài dạy:

“Xá-Lợi-Phất! Như-Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri-kiến, trí-lực, vô-sở-úy; có sức đại thần thông cùng sức trí huệ đầy đủ các món phương tiện Trí huệ Ba-la-mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loại mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa; sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sanh được vô-thượng Chánh- đẳng Chánh-giác” [90, tr.119]

“Ta thấy, các chúng sanh bị những sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục (9) tài lợi mà bị các điều thống khổ Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọï khổ địa-ngục, súc-sanh, ngạ-quỷ Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ Các món khổ như thế chúng-sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa Tam giới này, Đông Tây rảo chạy dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo” [90, tr.120]

Trang 37

“ Xá-Lợi-Phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí huệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi” [90, tr.120]

“Đức Như-Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sanh, nếu thấy có

vô lượng nghìn ức chúng sanh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi được sự vui Niết-bàn.” [90, tr.123] Những lời của niềm tin

vững chãi này thật lớn lao biết bao! Những lời này tràn đầy lòng đại từ bi biết bao !

Tuy vậy, “Đức Như Lai” không trỏ riêng đức Thích-ca-mâu-ni, đức Phật lịch sử đã

sống ở Ấn Độ cách đây khoảng hơn 2500 năm Đúng hơn, nó trỏ đức Phật trong

nghĩa “vị đã chứng ngộ chân lý” Do đó, những lời của đức Phật là sự tuyên bố

trọng đại rằng đối với những ai đã thể chứng chân lý, tất cả vũ trụ này là lĩnh vực của họ Chúng ta cũng cảm nhận được sự lớn lao của không gian và cảm thấy một

sự bình an nội tại

Khi ta thực sự nghĩ đến những ngôi sao cách xa hàng trăm triệu năm ánh sáng, những ngôi sao này lập tức bay vào tâm ta, và như thế thuộc vào sự sở hữu của ta Khi ta nghĩ đến các sự vật hàng chục ngàn năm trước hay hàng chục ngàn năm sau, ta hiểu rằng thế giới bao gồm những sự vật này; chúng trở thành một phần của chính tâm ta Chính tâm ta khiến ta không biết thời gian và không gian và ta đến được mọi nơi

Nếu ta có thể hiểu được sự thật về vũ trụ như đức Phật đã hiểu và hợp nhất được với cuộc sống vũ trụ thì thế giới này dễ trở thành của ta biết bao! Vấn đề ở đây không phải là xác định quyền sở hữu mà là cảm nhận rằng chúng ta hòa tan vào toàn bộ vũ trụ

Nhìn chung, điều ấy nghĩa là ta đạt đến trạng thái tâm thức “vô ngã” Nghĩa

là đã từ bỏ cái ngã nhỏ bé mà tìm thấy cái ngã sống với toàn thể

Ngay lúc ấy, cái ngã lan đầy khắp vũ trụ Vô ngã là phương cách duy nhất

mà ta có thể nghiệm ý tưởng “Tất cả vũ trụ là lĩnh vực của ta” Nếu ta đạt được

trạng thái tâm thức này thì tâm ta được hoàn toàn tự tại Ta sẽ tự tại với mọi sự vật,

Trang 38

và dù cho ta có hành động như ta muốn, mọi thứ ta làm đều cải thiện cuộc sống của người khác Đây là trạng thái tâm thức của đức Phật

Dù cho ta không thể đạt đến trạng thái tâm thức như thế trong một bước nhảy, chúng ta cũng phải nỗ lực cho được như thế bằng việc khởi sự noi gương đức Phật Chúng ta chỉ có thể đạt được Phật tâm khi chúng ta đi vào Phật đạo bằng cách noi gương Ngài Đọc kinh, nghe giảng, im lặng suy nghĩ và phục vụ tha nhân - Có thể bảo tất cả điều này là sự tu tập nhằm mục đích từ bỏ cái ngã của ta và hòa tan vào cái toàn thể Đây là tinh thần hài hòa

Nếu ta cứ duy trì việc tu tập như thế dù chỉ một giờ trong mỗi ngày thì ta có thể ở một mức độ nhẹ nhàng, tiến gần đến đức Phật; từng bước một và do kiên nhẫn, ta có thể thành Phật vào một lúc nào đó trong tương lai Chúng ta phải từ bỏ thái độ nhu nhược cho rằng chúng ta không thể đạt được Phật tánh Chúng ta sẽ

hiểu ngay tại sao điều này là quan trọng khi chúng ta đọc phẩm kế tiếp, “Tín giải” (Niềm tin và sự nhận thức)

Ở hình ảnh ẩn dụ về ngôi nhà lửa, người ta không cảnh giác đến ngọn lửa

khốc liệt thiêu đốt thân tâm họ khi họ vẫn ở trong cõi ngũ dục Họ chỉ tự xét mình khi họ cảm thấy đau đớn, khổ sở, lo âu và trống trải trong tâm Thế rồi họ suy nghĩ

về đời mình mà tự hỏi, “Đây có phải là một trạng thái tốt lành cho ta không ?” hay

“Ta sẽ ra sao nếu ta cứ ở mãi trong trạng thái tâm thức như thế ?” Sự cảnh giác

của họ về đau đớn, khổ sở lót đường cho sự giải thoát của họ trong tương lai

Cảm nhận khổ đau trong đời người là sự thông báo, chỉ trỏ cho chúng ta về

sự bất ổn của tâm thức và sức sống của chúng ta Nếu ta cảnh giác về tình trạng này

và hiểu rằng “Điều này không tốt cho ta” và nếu sau đó ta theo một giáo lý đúng

đắn, thì tự nhiên ta đặt tâm mình đúng hướng đưa đến chân lý Do đó, dù chúng ta không thể lành bệnh hay thoát khỏi nghèo khó ngay liền được, chúng ta cũng không đến nỗi cảm thấy những thứ ấy là khổ đau

Đây là sự cứu độ lớn lao của đức Phật Như thế, sự cứu độ của Ngài đôi khi thể hiện theo hình thức mà thoạt trông không có vẻ là sự cứu độ [56, tr.108-116]

Trang 39

Tóm lại, qua hình ảnh ẩn dụ “ngôi nhà lửa”, chúng ta thấy rằng, “ngôi nhà lửa” tượng trưng cho cuộc đời khổ của chúng sanh “Ngôi nhà lửa” ngầm chỉ cho

sự nóng bức, thiêu đốt, chết chóc, sự tàn phá và hủy diệt,…thì cuộc đời khổ của chúng sanh cũng phải trải qua biết bao cái khổ của sinh, lão, bệnh, tử, khổ vì oán thù gặp nhau, khổ vì biệt ly người mình yêu thương, khổ vì sự lo ngại, khổ vì bạo động, khủng bố, chiến tranh, v.v Chính vì có những nét tương đồng như thế nên

hình ảnh “ngôi nhà lửa” được mượn để chỉ chúng sanh khổ

2.3 Ẩn dụ về người con trai cùng khổ (chúng sanh):

Phẩm 4 - Tín giải trong kinh Diệu pháp Liên hoa đã nêu lên hình ảnh ẩn dụ về người con trai cùng khổ Một thanh niên rời bỏ người cha mà đi xa Ông ta sống ở

một xứ xa trong một thời gian dài và cuối cùng ông được năm mươi tuổi Càng lớn tuổi, ông càng trở nên nghèo Lang thang đây đó để tìm việc làm, cứ thế cho đến khi ông trở về quê hương Người cha, vốn rất đau khổ vì đứa con trai đã bỏ nhà mà đi,

đã tìm kiếm đứa con khắp xứ nhưng không gặp được Bấy giờ người cha đã lập nghiệp ở một thành phố nọ Ông trở nên rất giàu, hàng hóa và tài sản của ông không

kể xiết Ông có rất nhiều tôi tớ, người hầu kẻ hạ Trong khi đó, người con trai cùng khổ lang thang từ làng này qua làng khác và qua nhiều thành phố, xứ sở, cuối cùng đến thành phố mà người cha lập nghiệp Ông đang đứng trước cổng nhà cha ông mà không biết đấy là nhà của ai

Trong khi: “Người cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly hơn năm mươi năm

mà ông vẫn chưa từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ già nua và có nhiều của cải, vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái, một mai mà chết mất thì của cải tản thất không người giao phó Cho nên ân cần nhớ luôn đến con Ông lại nghĩ: Nếu ta gặp được con ủy phó của cải, thản nhiên khoái lạc không còn sầu lo” [90, tr.156 - 157]

Bấy giờ, người con trai nghèo khổ đã làm công đây đó, bất ngờ dừng lại trước nhà cha mình, hy vọng sẽ được thuê làm việc Đứng trước cổng, từ xa ông trông thấy một cụ già trang nghiêm đang ngồi trên giường sư tử và nhiều người có vẻ

Trang 40

trang trọng đang vây quanh và cung kính cụ Người con trai cùng khổ trông thấy người uy quyền kia thì đâm sợ hãi và nghĩ:

“Ông này chắc là vua, hoặc là bậc đồng vua, chẳng phải là chỗ của ta làm thuê mướn được tiền vật Chẳng bằng ta qua đến xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức

dễ được đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây hoặc rồi họ sẽ bức ngặt ép sai ta làm” [90, tr.158]

Rồi người con trai vội vàng bỏ chạy Bấy giờ, vị Trưởng giả đã nhận ra đứa con trai của mình từ khi thoạt trông thấy, liền rất vui mừng mà nghĩ:

““Của cải kho tàng của ta nay đã có người giao phó rồi, ta thường nghĩ nhớ đứa con này làm sao gặp được, nay bỗng nó tự đến rất vừa chỗ muốn của ta, ta dầu tuổi già có vẫn tham tiếc’” Ông liền sai người hầu cận đuổi gấp theo bắt lại Lúc ấy, kẻ sứ giả chạy mau qua bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu oan : “Tôi không hề xúc phạm, cớ sao lại bị bắt?” Kẻ sứ giả bắt đó càng gấp cưỡng dắt đem

về Khi đó gã cùng tử tự nghĩ không tội chi mà bị bắt bớ đây chắc định phải chết, lại càng sợ sệt mê ngất ngã xuống đất” [90, tr.158-159].

Nhưng các sứ giả túm lấy ông và bắt ông ta quay lại Người con nghĩ rằng dù ông vô tội, ông cũng sẽ bị giam giữ và điều này chắc chắn có nghĩa là ông sẽ phải chết Nghĩ như thế, ông sợ hãi đến nỗi bủn rủn và ngã xuống đất Người cha từ

trong thấy thế liền ra lệnh cho các sứ giả: “Không cần người đó, chớ cưỡng đem đến, lấy nước lạnh rưới trên mặt cho nó tỉnh lại đừng nói chi với nó” [90, tr.159]

Người cha biết rằng cung cách của con mình là thấp hèn do đã sống lâu trong nghèo túng và rằng địa vị cao trọng của ông đã làm cho con ông sợ Dù ông biết chắc rằng đây là con ông, ông vẫn không nói gì với ai mà quyết định sẽ từ từ lôi kéo con ông

Sau khi rảy nước lạnh vào mặt người con và làm cho ông tỉnh lại, một sứ giả

nói: “Nay ta thả ngươi đi đâu tùy ý” [90, tr.159] Người con trai cùng khổ mừng rỡ

ra đi, liên tục cúi mình kính cẩn Ông ta đến một làng nhỏ để kiếm thức ăn và quần

áo như lệ thường Thế rồi người cha muốn lôi kéo con mình, đã vạch ra một kế

Ngày đăng: 18/04/2021, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Aristotle - Thi pháp học. Tạp chí Văn học, số 1. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học". Tạp chí "Văn học
2. Thích Thuyền Ấn dịch (niên khóa 1972 – 1973), Duy thức tam thập tụng – Tài liệu học tập lớp Cao học Triết của Đại học Văn Khoa, Viện Đại học Vạn Hạnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Duy thức tam thập tụng
3. Ban hoằng pháp Trung ương (1999), Phật học cơ bản, tập 2, Nxb Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học cơ bản
Tác giả: Ban hoằng pháp Trung ương
Nhà XB: Nxb Tp.HCM
Năm: 1999
4. Thích Thông Bửu (2001), Kinh Pháp Hoa giảng luận, Tổ đình Quán Thế Âm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Pháp Hoa giảng luận
Tác giả: Thích Thông Bửu
Năm: 2001
5. Thích Phước Bổn, Sơ lược tiểu sử Hòa thượng Thích Trí Tịnh, http://vncphathoc.com/tieu-su-chu-to/so-luoc-tieu-su-hoa-thuong-thich-tri-tinh/, cập nhật ngày 09/9/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lược tiểu sử Hòa thượng Thích Trí Tịnh
6. Huỳnh Trung Chánh (2014), Thiền tông khảo luận – Diệu nghĩa hoa sen trong Phật giáo, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiền tông khảo luận – Diệu nghĩa hoa sen trong Phật giáo
Tác giả: Huỳnh Trung Chánh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
7. Thích Minh Cảnh, chủ biên (2003), Từ điển Phật học Huệ Quang, Nxb Tổng hợp Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phật học Huệ Quang
Tác giả: Thích Minh Cảnh, chủ biên
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp. HCM
Năm: 2003
8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
9. Đoàn Trung Còn (1966), Phật học từ điển, 3 tập, Phật học tùng thư xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Năm: 1966
10. Phạm Thị Kim Cúc (2013), Khảo sát từ ngữ ẩn dụ trong tác phẩm Khóa hư lục của Trần Thái Tông, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, ĐHQG TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát từ ngữ ẩn dụ trong tác phẩm Khóa hư lục của Trần Thái Tông
Tác giả: Phạm Thị Kim Cúc
Năm: 2013
11. Nguyễn Thị Duyên (2000), Ẩn dụ tu từ trong một số tác phẩm văn học được giảng dạy ở bậc phổ thông cơ sở dưới ánh sáng của kí hiệu học, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ tu từ trong một số tác phẩm văn học được giảng dạy ở bậc phổ thông cơ sở dưới ánh sáng của kí hiệu học
Tác giả: Nguyễn Thị Duyên
Năm: 2000
12. Hữu Đạt (2000), Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2000
13. Thích Như Điển dịch (1985), Đại thừa Ngũ uẩn luận, Đại tạng kinh quyển thứ 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại thừa Ngũ uẩn luận
Tác giả: Thích Như Điển dịch
Năm: 1985
14. Thích Như Điển dịch (2009), Kinh Diệu Pháp Liên Hoa văn cú, chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa văn cú
Tác giả: Thích Như Điển dịch
Năm: 2009
15. Thích Như Điển dịch (2013), Quan Âm huyền nghĩa, chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan Âm huyền nghĩa
Tác giả: Thích Như Điển dịch
Năm: 2013
16. Thích Như Điển (2013), Pháp Hoa huyền tán nghĩa, chùa Khánh Anh, Pháp quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp Hoa huyền tán nghĩa
Tác giả: Thích Như Điển
Năm: 2013
17. Thích Như Điển (2013), Pháp Hoa tông yếu, chùa Viên Giác Hannover, Đức quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp Hoa tông yếu
Tác giả: Thích Như Điển
Năm: 2013
19. Nguyễn Văn Đường (2011), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10
Tác giả: Nguyễn Văn Đường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
20. Thích Quảng Độ dịch (2014), Phật quang đại từ điển, Nxb Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật quang đại từ điển
Tác giả: Thích Quảng Độ dịch
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2014
21. Thích Quảng Độ dịch (1986), Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Nxb Viện Đại học Vạn Hạnh 1969 - Phật học viện Quốc tế, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận
Tác giả: Thích Quảng Độ dịch
Nhà XB: Nxb Viện Đại học Vạn Hạnh 1969 - Phật học viện Quốc tế
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w