Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài này là hiểu rõ về khái niệm, cách thức, các kiểu, loại ẩn dụ quacác quan niệm của các nhà ngôn ngữ học, từ đó rút ra được phương pháp
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
PPL NCKH CHUYÊN NGÀNH
NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên đề: Phương pháp phân tích ẩn dụ và đặc
điểm ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu
ĐÀ NẴNG – 2021
Trang 2BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
PPL NCKH CHUYÊN NGÀNH
NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên đề: Phương pháp phân tích ẩn dụ và đặc
điểm ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Trần Văn Sáng
Sinh viên thực hiện: Trương Thúy Liên
Lớp: 20SNV1
Mã số sinh viên: 3170120172
ĐÀ NẴNG – 2021
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử vấn đề: 1
3 Mục đích nghiên cứu: 1
4 Nhiệm vụ nghiên cứu: 1
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
6 Phương pháp nghiên cứu: 2
7 Đóng góp của tiểu luận: 2
8 Bố cục bài tiểu luận: 2
NỘI DUNG 2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 2
1.1 VÀI NÉT VỀ KHÁI NIỆM ẨN DỤ, CÁC QUAN NIỆM ẨN DỤ: 2
1.1.1 Sơ lược về ẩn dụ: 2
1.1.2 Các quan niệm về ẩn dụ: 3
1.1.2.1 Ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa của từ: 3
1.1.2.2 Ẩn dụ là một biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ): 4
1.2 CÁC LOẠI, CÁC KIỂU TRONG ẨN DỤ: 4
1.2.1 Ẩn dụ ngữ pháp: 4
1.2.2 Ẩn dụ tri nhận: 5
1.2.3 Ẩn dụ từ vựng: 5
1.2.4 Ẩn dụ tu từ: 6
1.3 QUAN NIỆM CỦA ĐINH TRỌNG LẠC: 8
1.4 VÀI NÉT VỀ PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ: 11
1.5 CÁC BƯỚC PHÂN TÍCH ẨN DỤ TRONG CÂU: 12
1.6 SỰ KHÁC NHAU GIỮA ẨN DỤ TU TỪ, SO SÁNH TU TỪ, HOÁN DỤ: 13
1.7 SỰ KHÁC NHAU GIỮA ẨN DỤ TU TỪ VÀ ẨN DỤ TỪ VỰNG: 14
1.8 TÁC DỤNG CỦA ẨN DỤ TU TỪ: 14
Trang 4Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ẨN DỤ TU TỪ TRONG TẬP THƠ “DƯỚI SAO VÀNG”
CỦA XUÂN DIỆU 15
2.1 VÀI NÉT VỀ CON NGƯỜI VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU: 15
2.2 VÀI NÉT VỀ TẬP THƠ “DƯỚI SAO VÀNG” CỦA XUÂN DIỆU: 15
2.3 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM ẨN DỤ TU TỪ TRONG TẬP THƠ “DƯỚI SAO VÀNG” CỦA XUÂN DIỆU: 16
2.3.1 Thống kê, phân loại ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng”: 16
2.3.1.1 Số lượng phép ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng”: 16
2.3.1.2 Các kiểu ẩn dụ tu từ thường gặp trong tập thơ “Dưới sao vàng”: 16
2.3.2 Ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu: 17
2.3.2.1 Ẩn dụ hình tượng: 17
2.3.2.1.1 Ẩn dụ hình thức: 17
2.3.2.1.2 Ẩn dụ đặc điểm, tính chất: 17
2.3.2.1.3 Ẩn dụ cách thức: 18
2.3.2.2 Ẩn dụ bổ sung (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác): 18
2.3.2.3 Ẩn dụ tượng trưng: 18
2.3.2.4 Nhóm biến thể ẩn dụ: 19
2.3.2.4.1 Nhân hóa: 19
2.3.2.4.2 Vật hóa: 19
2.3.3 Tác dụng ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu: 20
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Xuyên suốt trên chặng đường thơ ca Việt Nam từ dân gian tới hiện đại, ẩn dụ là một thủ phápnghệ thuật đã góp một phần không nhỏ để tạo nên sự độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ củacác tác giả Ẩn dụ được cho là một hiện tượng vô cùng thú vị và phức tạp của ngôn ngữ học.Phép tu từ ẩn dụ được dùng rất nhiều trong thơ văn Việt Nam như một cách thể hiện phong cách
và đánh dấu tài năng thơ ca của tác giả
Ẩn dụ xuất hiện trong lời ăn tiếng nói thường ngày và đã được sử dụng trong văn học dân gian
từ xa xưa, với sự phát triển của nền văn học Việt Nam, đặc biệt là thơ mới, ẩn dụ ngày càngđược nghiên cứu rộng rãi để phân tích một cách chính xác nội dung cũng như dụng ý nghệ thuậtcủa tác giả Trong đó phải kể đến các bài thơ, tập thơ của Xuân Diệu
Xuân Diệu là nhà thơ đa tài, có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại.Cho nên để hiểu sâu hơn, toàn diện hơn về thơ ông là điều không dễ, chúng ta không thể hiểu rõmọi khía cạnh của thi nhân, do đó tôi chỉ khái quát một vấn đề nhỏ trong nghệ thuật thơ ca củaXuân Diệu, đó là phân tích đặc điểm ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của ông, qua đóthể hiện rõ ràng thế giới nghệ thuật độc đáo trong thơ Xuân Diệu, đồng thời góp phần nhìn nhận
và đánh giá đầy đủ hơn về những đóng góp của nhà thơ ở phương diện nghệ thuật
Những áng thơ viêt về đề tài kháng chiến, cách mạng của dân tộc là một đề tài muôn thuở,
“Dưới sao vàng” là một tập thơ mang dấu ấn thơ viết về Cách mạng, kháng chiến của “ônghoàng thơ tình” đầy thi vị và hào hùng, hi sinh
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài nói về “Phương pháp phân tích ẩn dụ và đặc điểm ẩn dụ
tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu” để nghiên cứu với mong muốn góp phần
nhỏ bé vào lĩnh vực nghiên cứu ẩn dụ và thơ của Xuân Diệu, từ đó đề cao biện pháp nghệ thuật
tu từ ẩn dụ trong thi ca và khẳng định vị trí của nhà văn Xuân Diệu trong nền văn học Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề:
Tìm hiểu về phương thức ẩn dụ đã được rất nhiều các tác giả, nhà ngôn ngữ học trong và ngoàinước nghiên cứu Các nhà Việt ngữ học như Đỗ Hữu Châu, Đinh Trọng Lạc, Hữu Đạt, NguyễnThiện Giáp,…đã đưa ra các quan niệm và các cách phân chia loai, kiểu ẩn dụ khác nhau
Ẩn dụ tu từ trong các tác phẩm của Xuân Diệu không phải là một đề tài xa lạ mà rất gần gũi vớigiáo viên và sinh viên
3 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là hiểu rõ về khái niệm, cách thức, các kiểu, loại ẩn dụ quacác quan niệm của các nhà ngôn ngữ học, từ đó rút ra được phương pháp phân tích ẩn dụ trongcâu, trong thi ca, sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ một cách rõ ràng, rành mạch và hiểu rõ vềđặc điểm nghệ thuật ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Dựa trên các quan điểm, cơ sở lý thuyết trong các giáo trình để khái quát và hệ thống hóa được
Trang 6khái niệm, các kiểu loại ẩn dụ, phương pháp phân tích ẩn dụ trong câu và áp dụng, khảo sát quatập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận là phương pháp phân tích ẩn dụ và khảo sát các đặcđiểm của ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu
Ở bài tiểu luận này, tôi tập trung nghiên cứu hiện tượng ẩn dụ, các quan niệm về ẩn dụ, các cáchphân chia ẩn dụ đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đề cập trong các giáo trình và khảo sátqua tập thơ “Dưới sao vàng” của nhà thơ Xuân Diệu
6 Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học văn học như khảo sát, thống kê,phân tích - tổng hợp, đánh giá - khái quát, phân loại, phương pháp so sánh – đối chiếu, phươngpháp hệ thống – cấu trúc
7 Đóng góp của tiểu luận:
Tiểu luận này nêu ra được khái quát và rõ ràng nhất những cơ sở lý thuyết, khái niệm về ẩn dụ,các cách phân chia các kiểu, loại của ẩn dụ, các ví dụ về các kiểu loại ẩn dụ, phương pháp phântích ẩn dụ trong câu và vận dụng để phân tích ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” củaXuân Diệu, qua đó có cái nhìn rõ hơn về nghệ thuật ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Diệu và thấyđược những đóng góp của ông trong nghệ thuật ngôn từ Đây là đóng góp có tính ứng dụng thựctiễn để hiểu rõ hơn về ẩn dụ và đặc điểm nghệ thuật ngôn tuwfcuar Xuân Diệu
8 Bố cục bài tiểu luận:
Bài tiểu luận gồm mục lục, tài liệu tham khảo, nội dung và kết luận Trong đó nội dung bài tiểuluận được chia làm 2 chương cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ẩn dụ tu từ trong tập thơ “Dưới sao vàng” của Xuân Diệu
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 VÀI NÉT VỀ KHÁI NIỆM ẨN DỤ, CÁC QUAN NIỆM ẨN DỤ:
1.1.1 Sơ lược về ẩn dụ:
Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau của giữa các sự vật, hiện tượng được sosánh với nhau Người ta thường coi ẩn dụ là hiện tượng sử dụng có tính văn chương một hìnhthức ngôn ngữ Cách hiểu này có từ thời Aistotle cho tới nay và được các nhà tu từ học và phêbình văn học chú ý Căn cứ vào tính chất của sự giống nhau có thể chia ẩn dụ thành nhiều kiểuloại khác nhau
Từ khi xuất hiện ngành Ngôn ngữ học tri nhận (cognitive linguistics) xuất hiện một cách hiểumới về ẩn dụ: Ẩn dụ không chỉ là một phương thức diễn đạt ý nghĩa bằng ngôn từ mà còn là mộtphương thức để tư duy về sự vật Người ta đặc biệt chú ý đến vai trò của ẩn dụ đối với nhậnthức Lakoff và Johnson nhấn mạnh đến liên kết hệ thống của ẩn dụ, đến chức năng của ẩn dụ
Trang 7trong việc xây dựng hệ thống nhận thức của con người trên cơ sở những kinh nghiệm đã tiếpnhận được Theo hai ông, hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta mà trong khuôn khổ của nóchúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ và do đó ẩn dụ phải được xem xét ở phạm
vi tư duy và hành động
Ẩn dụ phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta và là một cơ chế tri nhận không thểthiếu của con người Chúng được sử dụng rộng rãi và phổ biến, đặc biệt là xuất hiện nhiều trongvăn chương, đỉnh cao là trong vương quốc thơ trữ tình
1.1.2 Các quan niệm về ẩn dụ:
1.1.2.1 Ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa của từ:
Cho đến nay, ẩn dụ thường được coi là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầmgiữa hai sự vật có nét tương đồng hay giống nhau
Các nhà ngôn ngữ học trong nước như Nguyễn Văn Tu cho rằng: “Ẩn dụ là phép gọi tên một sựvật bằng tên gọi của một sự vật khác theo mối quan hệ gián tiếp Muốn hiểu được mối quan hệ
đó chúng ta phải so sánh ngầm Khác với hoán dụ, phép ẩn dụ, theo tưởng tượng của ta mà gọimột sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà biểu thị trước thôi Chính nhờ những dấuhiệu chúng gián tiếp ấy mà ta thấy mối quan hệ giữa các vật khác nhau” Đỗ Hữu Châu cũngquan niệm: “Ẩn dụ là cách gọi tên sự vật hiện tượng này bằng tên gọi của một sự vật hiệntượng khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng”1 Sau này, Đỗ Hữu Châu giải thích mộtcách cụ thể hơn: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa biểu vật A vốn làtên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy têngọi của A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau”2.Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữacác sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”3 Đào Thản đã giải thích khá rõ ràng, cụ thểkhái niệm ần dụ trong mối quan hệ với so sánh: “ Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sựgiống nhau về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất, hoặc chức năng của hai đối tượng.Nhưng khác với so sánh dùng lối song song hai phần đối tượng và phần so sánh bên cạnh nhau,
ẩn dụ chỉ để lại phần để so sánh” Theo quan điểm của Nguyễn Đức Tồn thì bản chất của ẩn dụlà: “phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện này sang sự vật,hiện tượng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tưởng đồng nhất hóa chúng theo đặc điểm, thuộc tínhnào đó cùng có ở chúng” Lần đầu tiên, trong sự phân tích ẩn dụ trong quan hệ với so sánh,Nguyễn Đức Tồn đã chỉ ra một cách cụ thể, rõ ràng cái mà lâu này người ta vẫn nói ẩn dụ là sosánh ngầm Và thực chất “ về logic, chỉ có sự đồng nhất hoặc tương đồng hoàn toàn giữa các sựvật thì mới cho phép có thể dùng cái này để thay thế cái kia được”
1.1.2.2 Ẩn dụ là một biện pháp tu từ (ẩn dụ tu từ):
1 [1; tr.54]
2 [1; tr.145]
3 [5; tr.162]
Trang 8Theo tác giả Cù Đình Tú “Ẩn dụ là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng nàydùng để biểu thị đối tượng kia trên cơ sở mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đốitượng”3 Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượngdựa trên sự tương đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hay tưởng tượng ra) giữa kháchthể (hoặc hiện tượng hoặc tính chất) A được định danh với khách thể (hoặc hiện tượng hoặc tínhchất) B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A”2 Theo Nguyễn Thái Hòa “phép ẩn dụ làphương thức chuyển nghĩa của một đối tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng cómột nét nghĩa tương đồng” Hữu Đạt cũng quan niệm “Ẩn dụ là kiểu so sánh không nói thẳng
ra Người tiếp nhận văn bản khi tiếp cận với phép ẩn dụ phải dùng năng lực liên tưởng để quychiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật hiện tượng tồn tại ngoài văn bản.Như vậy thực chất của phép ẩn dụ là dùng tên gọi này để biểu hiện sự vật khác dựa trên cơ chế
tư duy của ngôn ngữ dân tộc”3 Theo Nguyễn Đức Tồn “ẩn dụ tu từ được sử dụng như một biệnpháp tu từ nhằm tăng sức gợi cảm, gợi hình và giá trị thẩm mỹ cho sự diễn đạt, Cho nên có thểgọi nó là ẩn dụ lâm thời hay ẩn dụ tu từ…ẩn dụ lâm thời hay ẩn dụ tu từ mang tính sáng tạoriêng, do vậy mới có khả năng cùng chỉ một đối tượng nhưng mỗi người lại có thể có cách diễnđạt bằng hình ảnh ẩn dụ khác nhau trong các ngữ cảnh khác nhau”
Như vậy, qua các cách hiểu và định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng, trong Việt ngữ học, ẩn dụđược xem xét theo hai góc độ Thứ nhất, ẩn dụ là một trong những phương thức chuyển nghĩa
cơ bản của đơn vị từ vựng dựa vào mối tương đồng giữa sự vật - đối tượng Thứ hai, ẩn dụ làmột biện pháp tu từ nhằm tạo nên những biểu tượng trong nhận thức của con người
Ở bài nghiên cứu này tôi đưa ra cách hiểu về ẩn dụ như sau: Ẩn dụ là phép tu từ trong đó dùng tên gọi của sự vật, hiện tượng này để biểu hiện cho sự vật, hiện tượng khác khi mà giữa hai sự vật, hiện tượng đó có những nét tương đồng dựa trên một cơ chế liên tưởng nào đó Nói cách khác ẩn dụ chính là sự so sánh ngầm trong đó vế được so sánh bị ẩn đi Giá trị chủ yếu của ẩn
dụ là biểu cảm, nó được sử dụng nhiều trong ngôn ngữ và đặc biệt là trong các tác phẩm văn học
1.2 CÁC LOẠI, CÁC KIỂU TRONG ẨN DỤ:
1.2.1 Ẩn dụ ngữ pháp:
Ẩn dụ ngữ pháp thuộc ngữ pháp chức năng, chuyển đổi chức năng ngữ pháp của từ loại, hay còngọi là chuyển loại
Ví dụ: -“ra chợ”: không phải ẩn dụ.
-“ra tiền”, “ra trường”, “béo ra”, “đẹp ra”: chức năng của từ “ra” đã thay đổi
Halliday đưa ra hai loại ẩn dụ ngữ pháp trong cú: ẩn dụ thức (metaphor of mood) và ẩn dụ
chuyển tác (metaphor of transitivity) Mỗi loại ẩn dụ tương ứng với mô hình ẩn dụ liên nhân,
3 [17; tr.179]
2 [12; tr.52]
3 [4; tr.302]
Trang 9còn ẩn dụ chuyển tác ứng với hô hình ẩn dụ ý niệm Halliday tuyên bố rằng ngữ pháp chức năng
là một loại ngữ pháp được đặt trong hướng ngữ nghĩa học Theo hướng này, Halliday đưa ra ba loại nghĩa: nghĩa văn bản ứng với cú như một trao đổi, và nghĩa nội dung hay nghĩa ý niệm ứngvới cú như một sự thể hiện
1.2.2 Ẩn dụ tri nhận:
Ẩn dụ tri nhận (cognitive metaphors) hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm là phản ánh phương thức tưduy sáng tạo của con người qua hệ thống các ý niệm (conceptual metaphors), thuộc ngôn ngữ tưduy Ngôn ngữ học tri nhận là một bộ phận của khoa học tri nhận, gắn bó mật thiết với các khoahọc về tâm lý học tri nhận
Theo Lakoff, ẩn dụ ý niệm là các ánh phản xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miềnnguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phỏng chiếu vào miền đích là một miền trảinghiệm khác
Ví dụ: -Tình yêu là một cuộc hành trình ( Love is a journey) là mô hình tri nhận
Miền đích Miền nguồn
phỏng chiếu
-Cuộc đời là dòng sông: tất cả những gì liên quan đến dòng sông, thuộc về dòng sông nói
về cuộc đời là ẩn dụ tri nhận
1.2.3 Ẩn dụ từ vựng:
Theo Nguyễn Đức Tồn thì ẩn dụ từ vựng là khi hai biểu vật có cùng nét nghĩa nào đó như nhaunên được tư duy đồng nhất hoá với nhau nhưng chỉ có một biểu vật đã có gọi tên Ẩn dụ loạinày được cố định hoá trong hệ thống ngôn ngữ, được dựa vào từ điển và được toàn dân sử dụngđược gọi là ẩn dụ định danh ( hay ẩn dụ từ vựng) Ẩn dụ từ vựng là phương thức phát triểnnghĩa mới của từ, trong đó nghĩa mới tạo thành là một ý nghĩa từ vựng ổn định chứ không lâmthời Như vậy ẩn dụ từ vựng có chức năng từ vựng hoá là chủ yếu Nhìn chung ẩn dụ từ vựng là
sự chuyển nghĩa mang tính chất xã hội, ổn định và cố định Những hiện tượng chuyển nghĩa nàyđược cả cộng đồng sử dụng ngôn ngữ thừa nhận và sử dụng như nhau Đỗ Hữu Châu thì đã nêu
ra một số loại ẩn dụ từ vựng như sau:
- Ẩn dụ hình thức: là những ẩn dụ có được dựa trên sự giống nhau về hình thức giữa các vật
Ví dụ: những ẩn dụ trong các từ chân trong chân bàn, chân núi, chân tường, từ mũi trong mũi
thuyền, mũi đất, mũi dao; từ cánh trong cánh buồm, cánh đồng, cánh quạt là những ẩn dụ chỉ
hình thức
- Ẩn dụ vị trí: ví dụ: cổ lọ, sườn núi, mặt đất, lưng núi, ruột bút…
- Ẩn dụ cách thức: là ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động,
hiện tượng Ví dụ: cắt hộ khẩu, nắm tư tưởng, đừng có vặn nhau nữa…
- Ẩn dụ chức năng: Là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật Ví
dụ: cửa trong cửa sông, cửa rừng…
- Ẩn dụ kết quả: là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự vật đối với con
Trang 10người Trong ẩn dụ kết quả có một loại ẩn dụ được chú ý đặc biệt đó là ẩn dụ dùng tên gọicủa những cảm giác này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác hay những “ cảm
giác” của trí tuệ, tình cảm Ví dụ: chua, ngọt, mặn, cay, chát là những cảm giác vị giác
được dùng để gọi các cảm giác thính giác nói chua loét, lời nói ngọt ngào, nói cay quá
Sự phân loại các ẩn dụ theo cơ chế nét nghĩa đồng nhất không phải bao giờ cũng tách bạch, dứtkhoát Trong rất nhiều ẩn dụ không chỉ một mà thường là một số nét nghĩa cùng tác động Ví dụ
trong những từ như: mũi, chân cả hai nét nghĩa hình dáng và vị trí phối hợp với nhau tạo nên các
nét nghĩa ẩn dụ của chúng (trong chân bàn thì có nét nghĩa hình dáng nhưng trong chân núi thìchủ yếu là nét nghĩa vị trí)
Còn Nguyễn Thiện Giáp đã nêu ra tám loại ẩn dụ từ vựng:
- Ẩn dụ hình thức: Ví dụ: mũi là một bộ phận của con người có đặc điểm nhọn, có phần nhô
ra Vì thế phần đất nhô ra cũng được gọi là “ mũi đất”
- Ẩn dụ chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật hoặc hiện tượng khác Ví dụ:
“Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu”
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
- Ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó Ví dụ: Tình cảm khô
khan, lời nói ngọt ngào
- Ẩn dụ chức năng: Ví dụ: “Bến” trong bến xe, bến đò, bến sông… tất cả các từ này đều thể
hiện một chức năng giống nhau là đầu mối giao thông
- Ẩn dụ đặc điểm hình thức, dáng vẻ bên ngoài: Ví dụ: Người phụ nữ đẹp được gọi là Tây Thi
- Ẩn dụ màu sắc: Ví dụ: màu da trời - màu xanh như da trời; màu cánh sen - Màu hồng như
màu của cánh sen; màu cốm – màu xanh như màu của cốm
- Ẩn dụ chuyển tên gọi của con vật thành con người: Ví dụ : Cún con của mẹ, cún con của
anh,…
- Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng: Ví dụ: hạt nhãn là cái cụ thể chỉ phần bên trong của quả
được dùng để chỉ trung tâm quan trọng nhất của một vấn đề
1.2.4 Ẩn dụ tu từ:
Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn, ẩn dụ tu từ là khi hai biểu vật có cùng nét nào đó như nhau, đềuvốn đã có tên gọi riêng nhưng trên cơ sở tư duy liên tưởng đồng nhất hoá chúng có thể lấy têngọi của sự vật này thay thế lâm thời cho tên gọi của sự vật kia Ẩn dụ loại này được sử dụng nhưmột biên pháp tu từ nhằm là tăng sức gợi hình, gợi cảm và giá trị thẩm mĩ cho sự diễn đạt.Những ẩn dụ này được gọi là ẩn dụ lâm thời (ẩn dụ tu từ) và thường mang ý nghĩa biểu trưng
Ẩn dụ tu từ được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong thơ ca dân gian, nó gắn liền với phong cáchthời đại và phong cách dân tộc Còn theo Cù Đình Tú, trên lý thuyết, nếu như có bao nhiêu khảnăng tương đồng thì có bấy
nhiêu khả năng cấu tạo ẩn dụ tu từ Có thể nêu một số khả năng tương đồng được dùng làm cơ
sở để tạo ra các ẩn dụ tu từ:
Trang 11- Tương đồng về màu sắc:
“Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Lửa và hoa (lựu) có màu sắc như nhau (màu đỏ), lửa biểu thị của hoa
- Tương đồng về tính chất:
“Đất nước Việt Nam chìm trong bóng đêm kéo dài hàng thế kỉ bỗng bừng lên
buổi bình minh của thời đại”
(Lê Duẩn)
Bóng đêm và chế độ thực dân, phong kiến có tính chất như nhau (tăm tối), bóng đêm biểu thị
cho chế độ thực dân phong kiến
- Tương đồng về trạng thái:
“Cứ ngỡ hồn thơm lại tái sinh, Ngôi sao ấy lặn hóa bình minh”
(Theo chân Bác - Tố Hữu)
Ngôi sao lặn và Bác Hồ qua đời có trạng thái như nhau (không còn), sao lặn biểu thị Bác đã
mất
- Tương đồng về hành động:
“Thay mặt cho tất cả các tổ chức ấy chỉ có một mình anh ủy viên thường trực
trẻ tuổi Con sông nhỏ hứng đủ trăm dòng suối trút xuống.”
(Chu Văn)
Hứng đủ trăm dòng suối và nhận giải quyết mọi việc có hành động (tiếp nhận) giống nhau, hứng
đủ trăm dòng biểu thị giải quyết mọi việc
- Tương đồng về cơ cấu:
“Thầy quen nhẫn nại như một người đan rổ: tay bắt từng nan một, uốn nắn
cho khéo, vào khuôn vào khổ Nhiều nan bị gãy nhưng rổ vẫn thành rổ”
(Chu Văn)
Rổ có nhiều nan có cơ cấu tương tự lớp có nhiều trò, rổ biểu thị lớp học trò
Các nhà tu từ học khác như Định Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa phân loại ẩn dụ tu từ thànhnhững loại như: ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ Nguyễn Nguyên Trứ nêu rahai loại ẩn dụ tu từ là: nhân hóa và phúng dụ
*** Tác giả Hữu Đạt cho rằng: Trong thực tế ngôn ngữ chúng ta thường gặp các kiểu ẩn
dụ khác nhau và cụ thể có 3 kiểu loại sau đây Ẩn dụ nhân hoá, ẩn dụ tượng trưng và ẩn dụ ngụngôn
*** Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà gọi ẩn dụ nhân hoá là kiểu ẩn dụđược xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa người với vật Cụ thể đó là phép ẩn dụ được hìnhthành dựa trên cơ chế chuyển nghĩa giữa trường về con người và trường về sự vật Theo đó ẩn
Trang 12dụ nhân hoá bao gồm 2 quan hệ biện chứng đó là:
+ Gán cho con người những hành động cảm nghĩ như đồ vật
+ Gán cho đồ vật những hành động, cảm nghĩ giống con người
Ví dụ: “ Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh chồng đi chơi”
(Ca dao)Tác giả Hữu Đạt coi “ Ẩn dụ tượng trưng là ẩn dụ được dùng đi, dùng lại nhiều lần trở thành cáchình ảnh có giá trị hình tượng”
Ví dụ: + “Tùng”, “cúc”, “trúc”, “mai” để biểu thị cho người quân tử và vẻ đẹp cao quý
+ “Con ong”, “cái kiến”, “bèo mây” để biểu thị cho số phận con người nhỏ bé trong xã
hội
+ “ Mắt phượng”, “mày ngài”….biểu thị cho vẻ đẹp và nét mặt người con gái
+ “ Thắt đáy lưng ong”, “ dáng liễu” để biểu thị người on gái có dáng đẹp
+ “ Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”
(Ca dao)
Ẩn dụ ngụ ngôn: Đây là loại ẩn dụ dùng cách nói để nêu ra những giá trị, giáo lý về đạo đức vềcách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội Một số tác giả gọi đó là phúng dụ Ẩn
dụ ngụ ngôn là những triết lý nhân sinh đã được đúc rút từ nghìn năm Ví dụ:
“ Cà cuống uống rượu la đà Bao nhiêu ếch nhái nhảy ra chia phần”
(Ca dao)
Ẩn dụ ngụ ngôn tác động đến người đọc một cách rất thấm thía vì đó là sự kết hợp hài hoà giữayếu tố hiện thực của ngôn ngữ và chất suy tưởng Tác giả Hữu Đạt từng nhận định rằng: “ Trongthơ ca ẩn dụ ngụ ngôn xuất hiện chủ yếu trong ca dao Ẩn dụ là phương pháp tu từ mở ra nhiềucảm xúc và nhận thức cho con người”
1.3 QUAN NIỆM CỦA ĐINH TRỌNG LẠC:
Có rất nhiều tác giả với những quan niệm và có rất nhiều cách phân chia ẩn dụ khác nhau nêntrong đề tài này, chúng tôi chọn quan niệm của Đinh Trọng Lạc để đi sâu vào phân tích ĐinhTrọng Lạc chia ẩn dụ thành các kiểu nhóm sau: ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung và ẩn dụ tượng trưng.Ngoài ra, ông cũng coi nhân hóa và vật hóa là những biến thể của ẩn dụ
- Ẩn dụ hình tượng là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa Ví dụ:
“Hoa thơm bán một đồng mười Hoa tàn nhị rữa một bán đôi lạng vàng”
(Ca dao)
“Giá đành trong nguyệt trên mây Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa”
Trang 13(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
“Nàng rằng khoảng vắng đêm trường
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
“Phượng những tiếc cao, diều hay liệng Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi”
(Ở thế nhiều phen - Nguyễn Trãi)
Ở nghĩa gốc, từ hoa là tên gọi cơ quan sinh sản hữu tính của một loại thực vật thường có màu sắc đẹp và hương thơm Từ hoa khi thì dùng để ví người phụ nữ đẹp khi thì để ví người tình nhân hào hoa phong nhã, khi thì lại dùng để ví người có phẩm chất cao đẹp Như vậy, hoa đồng
nghĩa với tốt đẹp, cao quý…
Có thể nói, ẩn dụ hình tượng là phương thức bình giá riêng của cá nhân nhà văn, nhà thơ Bằngnhững sắc thái ý nghĩa, bằng ý nghĩa hình tượng tìm kiếm được, ẩn dụ hình tượng tác động vàotrực giác của người nhận và đem lại khả năng cảm thụ sáng tạo
- Ẩn dụ bổ sung ( ẩn dụ chuyển đổi cảm giác) là sự kết hợp của hai hay nhiều từ chỉ nhữngcảm giác sinh ra từ trung khu cảm giác khác nhau làm cho cảm giác phong phú, đa chiều, đa
vị, đa nghĩa Ẩn dụ bổ sung được chia ra một số loại như sau:
+ Thị giác + nhiệt: Cái màu xanh này mát quá
+ Thính giác + vị giác: Câu chuyện nhạt phèo
+ Thị giác + khứu giác:Thấy thơm rồi đó
+ Khứu giác + vị giác: Một mùi đăng đắng
+ Thính giác + xúc giác: Một tiếng sắc nhọn
Ví dụ: “Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn Hãy tự buông cho khúc nhạc hường Dẫn vào thế giới của du dương…”
(Huyền diệu - Xuân Diệu)
Khúc nhạc của nhà thơ không chỉ nghe bằng tai mà nghe bằng làn da, bằng lưỡi… thấm vào tâmhồn Lúc này mọi giác quan được huy động đến tột cùng và dẫn tới sự giao thoa, xuyên thấm.Phải là nghệ sĩ mới có cái nghe kì diệu đến vậy! Dường như ngôn ngữ đưa ta vào một thế giớimới, một thế giới huyền diệu hơn, phong phú hơn và đánh thức trong ta những cảm quan nghệ thuật hằng ấp ủ trong lòng mỗi người
- Ẩn dụ tượng trưng là sự kết hợp của một khái niệm trừu tượng với một khái niệm về cảm
giác Ví dụ:
“Cỏ cây một màu khổ não Xanh xe mãi lên một niềm hoài vọng
Màu đỏ giận dữ”