1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các đối tượng, mục tiêu, và cách thức trị liệu của phật giáo được thể hiện trong kinh diệu pháp liên hoa

10 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích các đối tượng, mục tiêu, và cách thức trị liệu của Phật giáo được thể hiện trong kinh Diệu pháp Liên hoa
Người hướng dẫn NS.TS.TN. Hương Nhũ, TS. Lương Thị Thu Hường
Trường học Học viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết Học Phật Giáo
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 264,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP HỒ CHÍ MINH  ĐỀ THU HOẠCH GIỮA HỌC KỲ MÔN PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU Đề tài Phân tích các đối tượng, mục tiêu, và cách thức trị liệu của[.]

Trang 1

GIÁO H ỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

H ỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI TP.HỒ CHÍ MINH



ĐỀ THU HOẠCH GIỮA HỌC KỲ MÔN: PHẬT GIÁO VÀ TRỊ LIỆU

Đề tài:

Phân tích các đối tượng, mục tiêu, và cách thức trị liệu của Phật giáo được

th ể hiện trong kinh Diệu pháp Liên hoa

& TS Lương Thị Thu Hường Sinh viên thực hiện: Đinh Văn Lễ Pháp danh: Thích Quảng Chánh

Mã sinh viên: TX 6200

Lớp: ĐTTX Khóa VI Chuyên ngành: Triết Học Phật Giáo

TP H ồ Chí Minh, năm 2023

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Từ khoảng 100 năm trước đây, khi các phương pháp khoa học phương Tây ứng dụng vào bản thể vô tri giác và tạo ra những thành tựu đáng kinh ngạc, đã bắt đầu áp dụng vào lĩnh vực nghiên cứu các hành vi con người Sự quan tâm sâu sắc và nghiêm túc

kết quả đó có liên hệ trực tiếp đến các mục tiêu của Phật giáo, người Phật tử có thể tìm thấy nhiều giá trị nhằm xem lại các phương pháp cụ thể đã áp dụng để đạt được những thành tựu như thế Trước hết, cần mô tả những đặc điểm giống nhau giữa Tâm

cạnh đan xen nhau.Các nhà nghiên cứu phương Tây đã thoải mái sát nhập các kỹ thuật phương Đông vào các chương trình nghiên cứu của họ Nhiều công trình đã được hoan nghênh và công bố rộng rãi Các công trình này bao gồm công trình nghiên cứu của Benson (1975, 1987) về lợi ích thể chất và tâm lý, của Csikszentmihalyi (1990) trong nghiên cứu sáng tạo, và của Levine (1994) trong nghiên cứu phân tích về cách thức giải quyết vấn đề Cũng vậy, các nhà nghiên cứu phương Tây hiện đang nghiên cứu về chức năng sinh lý trong các trạng thái thiền định (Davidson 2002; O’Connell and Alexander 1994) Ngoài ra, cũng như nhiều nghiên cứu khác đã kiểm chứng, các nhà tâm lý trị liệu đã bắt đầu tính tới việc gộp thiền định, thực tập chánh niệm, và thực

trò quan trọng trong công cuộc hàn gắn sự đổ vỡ của các trường phái Phật giáo Mặt khác đặt lại giá trị của mọi đường lối tu tập và nhất là giá trị tâm thức hướng thiện, hướng thượng của mọi chúng sinh Sự tồn tại của Đức Phật là vĩnh cửu, mọi hiện tượng dưới con mắt người giác ngộ đều là biểu hiện chân lý Ý tưởng này đã làm nền tảng cho tư tưởng Đại thừa và con đường thực hành Bồ-tát hạnh.Với một đường lối dung hòa, với tư tưởng phóng khoáng siêu thoát, Kinh Pháp Hoa đã đạt được mục đích của mình là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến Có lẽ cũng vì vậy mà kinh được tôn thờ quý kính, hành trì và phổ biến một cách sâu rộng Vì vậy cho nên vai trò của kinh Pháp Hoa rất lớn ở trong truyền thống Phật giáo Đại thừa.Do đó học viên

được thể hiện trong kinh Diệu pháp Liên hoa làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG

a Thời gian ra đời của kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn của hệ thống Kinh tạng Đại thừa Phật giáo, được các học giả phương Tây cho là một trong hai mươi Thánh thư phươngĐông Sự nghiên cứu về mặt lịch sử ra đời, cũng như khái quát bố cục nội dung kinh là điều cần thiết cho việc học tập, nghiên cứu kinh Pháp Hoa.Theo các tài liệu về lịch sử Phật giáo hiện đại như cuốn Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận của

Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ I trước Tây lịch cho đến thế kỷ thứ I sau Tây lịch, tức là vào khoảng 500 năm sau khi Phật nhập diệt Đại thừa Phật giáo phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ thứ II trở đi, sự phát triển Phật giáo Đại thừa là tất yếu để đáp ứng nhu cầu của thời đại Trước Pháp Hoa, các kinh điển Đại thừa khác đã xuất hiện khá phong phú như kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, kinh Duy Ma Cật vv Kinh Pháp Hoa xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ II, bằng chứng của sự xuất hiện là vào thời điểm này

có Bồ tát Long Thụ, tác giả của bộ Đại Trí Độ Luận, sống vào cuối thế kỷ thứ hai, đã trích dẫn kinh Pháp Hoa Sự xuất hiện của kinh Pháp Hoa là sự tổng hòa, dung hợp tư tưởng Đại thừa của các bộ kinh trên

b.Ngôn ngữ và cấu trúc kinh Pháp Hoa

Ngôn ngữ của con người chỉ biểu đạt được những thứ bình thường trong cuộc sống, có

ý nghĩa tương đối, mang tính cách phiến diện Trong khi đó chân lý thì toàn diện và siêu việt, có ý nghĩa tuyệt đối Cho nên dù sử dụng ngôn ngữ tinh xảo bao nhiêu cũng không thể chuyển tải hết sự thật của chân lý.Để biểu đạt, chuyển tải chân lý cho người nghe dễ hiểu, dễ linh ngộ, kinh Pháp Hoa sử dụng phương pháp truyền đạt chân lý cao siêu qua những thứ bình thường, thông dụng trong thế giới tương đối, gần gũi với đời sống con người.Ngôn ngữ kinh Pháp Hoa sử dụng để diễn đạt mục tiêu không phải là

sự kiện bên ngoài mà chính là sự thật chứa ở bên trong Đó là ngôn ngữ mang tính biểu tượng, nói cách khác, ngôn ngữ kinh Pháp Hoa là ngôn ngữ biểu tưởng.Bố cục của kinh Pháp Hoa được trình bày theo hình thức chương, hồi Toàn kinh có 7 quyển

và 28 phẩm: 1 Phẩm Tựa; 2 Phẩm Phương Tiện; 3 Phẩm Thí Dụ; 4 Phẩm Tín Giải;

5 Phẩm Dược Thảo Dụ; 6.Phẩm Thụ Ký; 7 Phẩm Hóa Thành Dụ; 8 Phẩm Ngũ Bách

Đệ Tử Thụ Ký; 9 Phẩm Học Vô Học Thụ Ký; 10 Phẩm Pháp Sư; 11 Phẩm Hiện Bảo Tháp; 12 Phẩm Đề Bà Đạt Đa; 13 Phẩm Trì; 14 Phẩm An Lạc Hạnh; 15 Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất; 16 Phẩm Như Lai Thọ Lượng; 17 Phẩm Phân Biệt Công Đức; 18

Bồ tát; 21 Phẩm Như Lai Thần Lực; 22 Phẩm Chúc Lũy; 23 Phẩm Dược Vương Bồ

Trang 4

tát; 24 Phẩm Diệu Âm Bồ tát; 25 Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát; 26 Phẩm Đà la ni; 27 Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự; 28 Phẩm Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát.[1]

1 Phần giới thiệu bao gồm: nơi chốn ở núi Kỳ Xà Quật (Linh Thứu) tại thành Vương Xá; chủ chúng hội là đức Phật Thích Ca Mâu Ni; hội chúng gồm nhiều thành phần trong xã hội và kể cả loài phi nhân

2 Đức Phật nói kinh Đại thừa vô lượng nghĩa giáo Bồ tát pháp Phật sở hộ niệm

3 Phật nhập chánh định vô lượng nghĩa xứ

4 Phật phóng hào quang chặng giữa chân mày

5 Sau đó, Phật im lặng

6 Bồ tát Di Lặc lấy làm lạ, thưa hỏi Bồ tát Văn Thù sự kiện trên Bồ tát Văn Thù trả lời qua việc kể lại một tích xưa

+ Có Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh

+Trước khi Phật xuất gia có 8 người con

+Tám người con nghe vua cha xuất gia, tu hành, thành đạo

+ Trước khi Phật nhập diệt, thọ ký cho Bồ-tát Đức Tạng

+ Bồ-tát Văn Thù nói: Bồ-tát Diệu Quang là ta, còn Cầu Danh chính là Di Lặc

7 Trùng tuyên nghĩa trên bằng một bài kệ

+ Với ánh sáng trí tuệ theo Phật những gì chúng ta đang hưởng hay gánh chụi điều do định luật nhân quả từ đó chúng ta phải nỗ lực chuyển hóa nghiệp chướng và phiền não của chính mình nhằm tịnh hóa tam nghiệp.Theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, hoa sen có

ba dụ: Vì có sen nên có hoa; Hoa nở thì sen hiện; Hoa rụng thì sen thành.Hoa sen sở

dĩ có ba dụ là vì Diệu Pháp nhiệm màu khó giải thích, phải mượn ví dụ để cho dễ

như Diệu Pháp là thể hiện Quyền (phương tiện) và Thật (chân thật) đồng một bản thể

Vì thế Đức Phật dùng hoa sen để dụ Quyền và Thật của Diệu Pháp.Vì có sen nên có hoa: gồm hai thí dụ:Dụ thứ nhất – vì Thật nói Quyền: Thật là pháp chân thật tức là Nhất Thừa và Quyền là pháp phương tiện tức là Tam thừa Sen ở đây là dụ cho Thật

và Hoa ở đây là dụ cho Quyền Đức Phật vì pháp chân thật của Nhất Thừa mà thiết lập pháp Quyền (phương tiện) của Tam thừa Cho nên Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Mặc dù

Trang 5

Bản Môn hiển bày Tích Môn: Bản Môn nghĩa là chỉ cho pháp Thân căn bản của đức Phật Thích Ca đã có từ vô thủy, đã thành Phật từ lâu xa, cũng gọi là Cổ Phật Tích Môn nghĩa là chỉ cho Hóa Thân của đức Phật Thích Ca, có dấu tích lịch sử đản sinh, xuất gia vv cũng gọi là Tân Phật Sen ở đây là dụ cho Bản Môn (Cổ Phật) và Hoa ở đây là dụ cho Tích Môn (Tân Phật) Pháp Thân của đức Như Lai thuộc Bản Môn đã thành Phật từ lâu xa, nhưng vì muốn độ chúng sinh nên mới sinh vào nơi nước Ca Tỷ

La Vệ làm Hóa Thân thuộc Tích Môn Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Đúng ra ta thật

sự đã thành Phật từ lâu xa, chỉ vì giáo hóa chúng sinh mà nói rằng, ta mới xuất gia và chứng đặng Tam Bồ Đề” Hoa nở thì sen hiện Cũng có hai ví dụ:Dụ thứ nhất – là khai Quyền hiển Thật Khai Quyền nghĩa là mở bày pháp phương tiện và Hiển Thật nghĩa

là thể hiện pháp chân thật Hoa nở ở đây là dụ cho Khai Huyền và Sen Hiệu ở đây là

dụ cho Hiền Thật Thí dụ này là biểu tượng Đức Như Lai quyền khai ba thừa để hiển bày pháp chân thật của Nhất Thừa Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Khai phương tiện môn để chỉ bày tướng chân thật”.Dụ thứ hai – khai Tích hiển Bản: Khai Tích nghĩa là

mở bày Hóa Thân thuộc Tân Phật và Hiền Bản nghĩa là hiển bày Pháp Thân thuộc Cổ Phật Hoa Nở ở đây là dụ cho khai mở Tích Môn và Sen Hiện ở đây là dụ cho hiển bày Bản Môn Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Tất cả thế gian đều cho ta nay mới đắc đạo Ta thật sự đã thành Phật từ vô lượng vô biên na do tha kiếp cho đến nay”.Hoa rụng thì sen thành Cũng có hai thí dụ:Dụ thứ nhất – bỏ Quyền lập Thật: Bỏ Quyền nghĩa là phế bỏ pháp phương tiện của Tam Thừa và lập Thật nghĩa là thiết lập pháp

cho lập Thật Thí dụ này là biểu tượng đức Như Lai phế bỏ pháp phương tiện của ba Thừa để kiến lập pháp chân thật của Nhất Thừa Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Đúng

nghĩa là phế bỏ Tân Phật thuộc Hóa Thân và lập Bản nghĩa là thiết lập Cổ Phật thuộc Pháp Thân Hoa rụng ở đây là dụ cho bỏ Tích (Tân Phật) và sen thành ở đây là dụ cho lập Bản (Cổ Phật) Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Các đức Như Lai, pháp đều như thế;

vì độ chúng sinh, thật sự không hư”.Như vậy, Hoa sen biểu tượng cho nguyên lý nhân quả đồng thời.Hoa sen có hai phần: Cánh và Nhụy của hoa thì thuộc về Nhân (hoa); Gương và Hạt thì thuộc về Quả (sen) Một đóa sen gồm có cánh nhụy và gương hạt đều thể hiện cùng một lúc gọi là nhân quả đồng thời, nghĩa là Quả không ngoài Nhân

và Nhân không ngoài Quả Quả tức là Nhân và Nhân tức là Quả Từ ý nghĩa này người tu Diệu Pháp là tạo nhân thì Thể Tướng Chân Tâm nhất định hiện bày là quả

ơn,tri ân họ

+ Hai vị Bồ tát Văn thù và Di lặc gợi chúng ta tên bước đường tu phải tu phước và tu huệ ,lấy đó làm hành trang giáo hóa độ sanh

Trang 6

Một thời Ðức Thế Tôn ngự giữa dân chúng xứ Ku Ru tại đô thị Kam Ma Sa Ðam Ma Tại đấy đức Phật dạy các Tỳ Khưu: Nầy các Tỳ Khưu, đây là con đường độc nhất dẫn đến thanh tịnh, vượt khỏi sầu não, đoạn tận khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn Ðó là bốn niệm xứ Phải nhìn thấy mục tiêu thứ yếu này trong bài kinh Niệm

xứ (Satipaṭṭhāna Sutta), là nhấn mạnh sự quán sát về thân (Kāyānupassanā), về các cảm thọ (Vedanānupassanā), về các tưởng (Cittānupassanā), và thiền định về các khổ

để an trú trên Tứ Thánh Đế (Dhammānupassanā) Những thực hành này hướng môn

đồ đến cái nhận thức về bản chất của chính mình, về bản chất của chúng sanh, và đến tình trạng của con người Nhận thức đó được hỗ trợ bởi một ý nghĩa lớn hơn là lòng từ (karuṇā)

 Phật thọ ký cho ngài Xá Lợi Phất đời sau sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai

 Đức Phật nói ví dụ “Hoả trạch” trong đó có Trưởng giả và 500 người con, và nhà lửa đang cháy

Ý nghĩa

đang sống

trâu)

khổ của chúng sanh, mà có thể nói đó là 10 kiết sử gồm:

năm dục lạc gồm: tài, sắc, danh, thực, thuỳ chúng ta phải biết tiểu dục tri túc,ít muốn biết đủ

niệm) hay Bát Chánhđạo và một cửa là Tam giải thoát môn (không, vô tướng, vô

người mà đóng góp lợi ích cho đời cho đạo

Mục tiêu này được mô tả như là sự dập tắt các tham ái (Taṇhākhaya) được thể hiện trong Thánh đế thứ ba Phải tu tập để giảm thiểu sự sân hận của chính mình, sự sợ hãi,

Trang 7

nghiệm và hành vi của chúng ta Phải tìm kiếm để đạt được một trạng thái trọn vẹn về đức tính của nhẫn và của xả Các thực hành về Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh niệm, và Chánh định - thật chất là Bát Thánh đạo nói chung - đều nhằm phục vụ hai mục tiêu này.Tâm lý học hiện đại cũng chứa đựng những mục tiêu như thế, mặc dù nó

có một hình thức khiêm tốn hơn nhưng vẫn bao hàm hai mục tiêu này Nó tìm kiếm để giúp con người trở nên vừa có chánh niệm hơn lại vừa ít ham muốn và ít bị kích động hơn Mục đích của tôi ở đây là mô tả một số các phương pháp sử dụng để đạt được hai mục tiêu chung này Vì mỗi mục tiêu đòi hỏi những cách tiếp cận khác nhau, thế nên mỗi mục tiêu sẽ được xem xét theo một cách thức riêng lẻ.Một kỹ thuật thông dụng nhất được đề cập ở đây đó là liệu pháp nội thị (insight therapy), hay nói theo cách thông thường là việc chữa trị bằng cách nói chuyện Nó liên quan đến hai người, thân chủ và nhà trị liệu Theo truyền thống phương Đông, nhà trị liệu giống với một vị thầy (guru) hay một vị thầy tu thâm niên Cũng như những nhà hiền triết đó, nhà trị liệu luôn khéo giữ chánh niệm và khéo theo đuổi cách thức tự chuyển hóa Thân chủ và nhà trị liệu thường đáp ứng các buổi làm việc với nhau một giờ một lần hoặc hai lần trong một tuần Cách đơn giản nhất về mặt truyền thống gọi là liệu pháp không hướng dẫn (non-directive therapy) Người thân chủ chỉ làm công việc tự làm giảm nhẹ bản thân; còn nhà trị liệu chỉ giải thích hay can thiệp theo một cách thức tối thiểu Trong suốt buổi trị liệu, thân chủ tự do bày tỏ bất kỳ ý kiến, suy nghĩ hay cảm xúc gì họ

lắng nghe một cách kiên nhẫn đối với những bộc lộ đó, và khuyến khích họ tìm hiểu nguyên nhân của những hành vi thù ghét đó Như nhiều nghiên cứu cho thấy, sự tự do

tham muốn, các giá trị, và các nhu cầu sâu thẳm nhất của họ Nó phục vụ như một loại thực tập chánh niệm ngoại hiện (externalized mindfulness practice).Phương pháp này, cách thức thân chủ nói chuyện một cách cởi mở mà không sợ bị phê phán hay chỉ trích, đã bắt đầu được áp dụng như một loại kỹ thuật trị liệu từ cách đây khoảng 100 năm Tuy nhiên, phương pháp và lợi ích của nó lại được mô tả sớm hơn và lần đầu bởi Nathanial Hawthorne (1850).Tóm lại, tiền đề của phương pháp này là bằng cách tự thăm dò và bộc lộ trong sự hiện diện của một cá nhân đồng cảm, không phán xét, và

có thẩm quyền, thì thân chủ sẽ mở rộng thêm sự tự hiểu biết của mình Bằng việc cảm nhận những tham ái, sợ hãi, và sân hận vi tế nhất, thân chủ sẽ đưa những “điều bí ẩn này ra ánh sáng”.Tầm quan trọng của tiến trình này dễ dàng được nhận ra trong một cuộc hội thoại mà tôi đã trải nghiệm về sự tức giận với một nhà phân tích tâm lý Tôi

đã mô tả quan điểm của Phật giáo rằng tức giận là nguồn gốc của khổ mà ta rõ ràng có thể sửa chữa được, và chúng ta có thể tự tin nỗ lực để giảm trừ sự tức giận trong tất cả các hình thái của nó Cô ấy đã nhận xét “Ông biết đấy, tôi không thể sử dụng bất cứ điều gì trong đây với hầu hết các thân chủ của tôi Vấn đề của họ là hãy biết cách cảm nhận sự tức giận của họ, để chấp nhận nó, và gắn nhãn cho nó.” Nói cách khác, cô ấy

Trang 8

nói rằng các thân chủ trước hết phải tự ý thức về những sân hận và thù ghét của họ Thủ tục tự thăm dò diễn ra trong tâm lý trị liệu chỉ thỏa mãn như thế

ha Mục Kiền Liên sanh tâm tín nhận vui mình rồi đây mình cũng sẽ thành Phật Sau

đó, để trình bày lại sự tin hiểu của mình

kiến

đầu với tư cách người cùng tử ,chúng ta tự xét thân tâm còn phiền não lậu hoặc phải lo dọn dẹp cho sạch

Nhiều nhà tâm lý, những người tự mô tả chính mình là những nhà liệu pháp nhận thức, nhấn mạnh rằng khổ đau của các thân chủ thường được tạo ra bởi những thói quen vi tế về thái độ và suy nghĩ khác nhau Nhà trị liệu sẽ giúp họ ý thức về và thay đổi những thói quen suy nghĩ đó.Sau đây là hai ví dụ:

1- Albert Ellis (Ellis 1973; Ellis and Harper 1977) đã đề xuất rằng mọi người có thể có các thái độ lạ lùng mà không có nhận thức gì đến nó chỉ như là thật kỳ lạ làm sao và

do đâu mà khổ đau này tạo ra Thông thường trong các thái độ này sẽ là: “Tôi phải hoàn hảo.” “Tôi phải được mọi người tán thành.” “Tôi phải thành công trong mọi thứ tôi làm.” Dĩ nhiên, mọi người sẽ không ý thức rằng họ chấp chặt những quan điểm này Tuy nhiên, các thân chủ sẽ tự bộc lộ trong lời nói và cử chỉ của họ Trong quá trình diễn đạt nỗi khổ của họ cho nhà trị liệu, các thân chủ có thể nói ra những điều như là:“Tôi phải đạt loại ‘A’ trong các khóa học của tôi Sẽ là tồi tệ nếu tôi không đậu vào trường y.”“Thật kinh khủng làm sao khi mà người bạn cùng phòng của tôi cứ làm

ra vẻ ta đây và hành động trịch thượng đối với tôi Tôi không thể chịu đựng được.”“Tôi đã không nên làm cha mẹ thất vọng Tôi không thể gặp họ bây giờ.”Những thái độ này được bộc lộ từ những phát biểu như thế sẽ có hai mặt Đầu tiên, chúng tiết lộ cho thấy cái taṇhā, là cái khát ái tức thì, vì sự thất vọng của họ đang gây ra đau khổ Vì vậy, ví dụ đầu tiên chỉ ra cái tham ái có cường độ cao đối với cái thang điểm và sự thành công; các ví dụ tiếp theo cho thấy cái nhu cầu về cái tôi cấp bách đang bị hụt hẫng (tức là, thân chủ cảm thấy đau khổ khi những người khác - người cùng phòng, cha mẹ - làm cho họ cảm thấy thấp hơn) Ngoài ra, những phát biểu kiểu này biểu hiện một phản ứng quá khổ sở Những thất bại hay lời lăng mạ không chỉ đơn thuần làm khó chịu hay thậm chí gây bực bội, mà còn là “khủng

Trang 9

một từ ngữ Ông lưu ý các thân chủ là, đang tạo ra thảm họa Bất kỳ một sự thất bại hay chán nản nào, dù cho nhỏ nhặt đến mấy, mà là “kinh khủng,” cũng là một “thảm họa.” Trong suốt quá trình tự thăm dò đó, nếu thân chủ biểu hiện bất kỳ quan điểm này, Ellis kêu gọi sự chú tâm của họ Sau đó, ông kêu gọi thân chủ hãy đặt câu hỏi cho tính giá trị của nó Một sinh viên đại học năm nhất, trong một buổi tư vấn bày tỏ nỗi đau khổ đối với thang điểm ‘C’ trong một vài khóa học của mình Điều đó là “khủng khiếp.” Anh ta không thể tự mình nói cho cha mẹ biết, và anh ta sẽ bị xấu hổ khi bạn

bè biết được Nhà trị liệu sẽ tìm hiểu xem tại sao anh ta lại thấy nó quá khủng khiếp như thế “Ok, bạn đang nhận thang điểm ‘C’ trong một khóa học Vậy thì điều gì khiến mọi người phải thất vọng? Tại sao lại quá “khủng khiếp” đến thế?Bằng cách này, nhà trị liệu sẽ giúp cho thân chủ điều chỉnh lại quan điểm nhìn nhận của mình về cái cảm tưởng dường như là nỗi kinh hoàng của những người đang tạo ra sự thất vọng đó; nỗi thất vọng tưởng tượng này trở nên ít chấn động hơn, ít hơn là một cội nguồn của khổ Với đủ các ví dụ như thế, thân chủ bắt đầu nhận ra cái mô hình đang gây ra thảm họa trong suy nghĩ của mình Nhận thức này, lần hồi, cho phép thân chủ trở nên

có ý thức hơn về những nhu cầu quá mạnh mẽ đã ăn sâu vào tâm khảm này, sự thất vọng đang gây cho họ quá nhiều đau khổ Giờ đây họ đã có thể bắt đầu công việc làm giảm nhẹ những nhu cầu này

nghĩ có thể góp phần tạo ra đau khổ Ông mô tả cái thái độ bi quan, nơi mà người bi quan thường phản ứng lại những thất bại bằng cách suy nghĩ theo những tính cách khái quát hóa sâu rộng (“Điều này luôn luôn xảy ra với tôi”; “Tôi chưa bao giờ có bất

kỳ may mắn nào”; “Tôi không tốt về bất cứ điều gì”; “Chẳng có gì giúp được cả”) Seligman phân tích những suy nghĩ tiêu cực này thành ba loại: vĩnh cữu (“Tôi sẽ chẳng bao giờ thành công với bất cứ điều gì”), phổ biến (“Mọi thứ luôn sai lạc”), và bản cáo trạng cá nhân (“Tôi là một người mẹ tệ hại”).Seligman diễn tả loại suy nghĩ ngược lại như là tính lạc quan (optimism) Người suy nghĩ lạc quan tập trung vào các tình huống cụ thể, nhìn thấy nó như là một vấn đề cần được giải quyết, và nhận thức

ra những đóng góp bên ngoài đối với sự việc này Ví dụ, hãy xem xét một sinh viên năm hai đại học nhận kết quả thất bại đầu tiên của mình trong một kỳ thi Phản ứng bi quan là: “Tôi không thể làm được công việc này” (vĩnh cửu); “Tôi luôn luôn làm một công việc khủng khiếp” (phổ biến); “Tôi không đủ tốt để theo học trường này” (cá nhân) Ngược lại, phản ứng tích cực là: “Đây là lần đầu tiên tôi thất bại trong một kỳ thi” (giới hạn về thời gian); “Tôi sẽ nói chuyện với giáo sư để tìm hiểu xem những gì tôi có thể làm để cải thiện nó” (tập trung, giải pháp định hướng); “Tôi không nên để Bill lôi kéo tôi khỏi buổi học tối qua” (xem xét bề ngoài).Seligman đã chứng minh rằng những người suy nghĩ bi quan có xu hướng ít thành công trong sự nghiệp, và có sức khỏe thể chất kém hơn Họ cũng có nhiều khả năng bị trầm cảm Điều trị chứng trầm cảm của anh ta bắt đầu bằng cách giúp thân chủ trở nên có ý thức hơn về cái cách suy nghĩ tiêu cực Chỉ bằng cách nhận thức đúng mới có thể khiến thân chủ bắt đầu

Trang 10

công việc thay đổi từ các thói quen suy nghĩ sai đến thói quen suy nghĩ đúng.Như vậy, các nhà trị liệu nhận thức mô tả thói quen suy nghĩ làm nguyên nhân gây ra đau khổ Nhà trị liệu bổ sung thêm truyền thống tự thăm dò của thân chủ bằng cách làm cho họ nhận thức về những thói quen cụ thể Các thân chủ sau đó được hướng dẫn tới một mô hình suy nghĩ ít gây rắc rối và đúng đắn hơn Trong ý nghĩa này, các nhà tâm lý trị liệu phải làm việc nhiều hơn là giúp thân chủ trở nên có ý thức Họ cũng giúp thay đổi cách suy nghĩ của họ Họ giúp thân chủ đi từ lối suy nghĩ sai đến những gì có thể được

mô tả như là một hình thức của Chánh tư duy [2]

PHẦN KẾT LUẬN Kinh Diệu Pháp Liên Hoa lấy Thật Tướng làm thể Trong kinh nói: “Thật Tướng vô tướng, vô sở bất tướng” Tất cả các tướng đều do “Thật Tướng” sinh ra Không chỉ tất

cả tướng, mà tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát, tất cả Thanh văn, Duyên giác cũng đều từ

“Thật Tướng” sinh ra, cho đến tất cả vạn sự vạn vật đều từ “thật tướng” sinh ra Thể của bộ Kinh này, chính là “chư Pháp thật tướng”; cho nên tất cả chư Phật, Bồ tát,

Pháp Hoa lấy Vô Thượng Đề Hồ làm giáo tướng Thánh nhân tỏ lòng dạy bảo gọi là giáo, phân biệt đồng dị gọi là Tướng Sự mầu nhiệm của kinh Pháp Hoa thì rất thuần nhất và tròn sáng, dung hợp tất cả Tam thừa về một Phật thừa duy nhất Nhưng sự khác biệt của nó là biến ra từng mảng các giáo lý của kinh, cũng như dụ cho chất Đề

Hồ Cũng như Đề hồ vậy, sữa lấy từ bò, rồi từ sữa làm ra lạc, từ lạc làm ra sinh tô, từ sinh tô làm ra thục tô, thục tô tinh luyện làm đề hồ Đề hồ mới là tinh túy nhất làm ra

từ sữa, là hơn tất cả Cho nên gọi Vô Thượng Đề Hồ làm giáo tướng

CHÚ THÍCH

[1] https://phatgiao.org.vn/tong-quan-ve-kinh-phap-hoa-d46167.html

[2] https://giacngo.vn/tam-ly-tri-lieu-gop-phan-thanh-tuu-nhung-muc-tieu-cua-phat-giao-post32665.html

Ngày đăng: 28/05/2023, 15:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w