Công trình đã phác họa được diện mạo văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên và đisâu tìm hiểu một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu, trong đó có hát Soọng cô với các ti
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA BÁO CHÍ – TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HỌC
SO SÁNH TU TỪ VÀ ẨN DỤ TU TỪ
TRONG DÂN CA SÁN DÌU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn – T.STrịnh Thị Thu Hòa đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành đề tài Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoaVăn – xã hội, trường Đại học Khoa học – Đại học Thái Nguyên đã trang bịkiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại trường, giúp cho tôi có nền tảng
để thực hiện đề tài này Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn gia đình, bạn
bè đã luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình họctập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phùng Lan Anh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “So sánh tu từ và ẩn dụ tu từ trong dân ca SánDìu” là kết quả nghiên cứu của tôi và được sự hướng dẫn khoa học của T.STrịnh Thị Thu Hòa Nội dung đề tài có tham khảo và sử dụng các tài liệu,thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, các trang web theo danh mục tàiliệu tham khảo và các thông tin tôi thu được trong quá trình nghiên cứu đề tài.Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Phùng Lan Anh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BẢNG 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
3.1 Mục đích nghiên cứu 9
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4.1 Đối tượng nghiên cứu 10
4.2 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 10
5.2 Phương pháp thống kê- phân loại 10
5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp 11
5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu 11
6.1 Đóng góp về mặt lý luận 11
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 11
7 Kết cấu đề tài 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 12
1.1 Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ 12
1.1.1 Phương tiện tu từ 12
1.1.2 Biện pháp tu từ 13
1.2 So sánh tu từ và ẩn dụ tu từ 15
1.2.1 So sánh tu từ 15
Trang 51.3 Vài nét về dân ca Sán Dìu 23
1.3.1 Lịch sử dân ca Sán Dìu 23
1.3.2 Dân ca Sán Dìu 23
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 : SO SÁNH TU TỪ TRONG DÂN CA SÁN DÌU 26
2.1 Kết quả khảo sát so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu 26
2.2 Giá trị của so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu 29
2.2.1 Thể hiện màu sắc tộc người 29
2.2.2 Thể hiện tâm tư, tình cảm của con người Sán Dìu 32
2.2.3 Thể hiện cách nhìn nhận mang tính thẩm mỹ 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 37
CHƯƠNG 3: ẨN DỤ TU TỪ TRONG DÂN CA SÁN DÌU 38
3.1 Kết quả khảo sát 38
3.1.1 Về hình ảnh ẩn dụ tu từ 38
3.1.2 Về các dạng ẩn dụ 43
3.2 Giá trị của ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu 44
3.2.1 Giá trị nhận thức 44
3.2.2 Giá trị thẩm mỹ 51
3.2.3 Giá trị biểu cảm 58
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 65
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tần suất xuất hiện của so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu 26Bảng 2.2 : Kết quả thống kê chất liệu hình ảnh so sánh trong dân ca Sán Dìu 28Bảng 3.1 Kết quả khảo sát hình ảnh ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu 38Bảng 3.2 Kết quả các dạng ẩn dụ trong dân ca Sán Dìu 43
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gía trị của một tác phẩm văn chương không chỉ phụ thuộc vào nội dungphản ánh của tác phẩm mà còn được quyết định bởi yếu tố nghệ thuật cuat tácphẩm Bởi vậy, khi sáng tác, các nhà văn, nhà thơ thường lựa chọn cho mìnhnhững phương thức sáng tác và các biện pháp nghệ thuật phù hợp với nộidung tác phẩm và sở trường của bản thân Bên cạnh các yếu tố làm nên nghệthuật của tác phẩm như thi pháp, kết cấu, giọng điệu, nhịp… thì biện pháp tu
từ là một yếu tố có vai trò vô cùng quan trọng Việc sử dụng biện pháp tu từhiệu quả sẽ tạo cho tác phẩm có sức hút nghệ thuật lớn, hơn thế, nó cũng thểhiện được phần nào phong cách và cá tính sáng tạo của người sáng tác
So sánh tu từ và ẩn dụ tu từ là một trong rất nhiều biện pháp tu từ quenthuộc trong văn chương Từ khi con người biết đến văn chương để nuôidưỡng tâm hồn, so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ đã được dùng rất phổ biến
Đối với mỗi nền văn hóa của một dân tộc, những làn điệu dân ca luôn làlinh hồn để thể hiện đời sống tinh thần, văn hóa, tư tưởng, tình cảm và cảmxúc của người dân Mỗi bài dân ca đi theo mỗi người từ khi còn tấm bé chođến tận lúc trưởng thành và về già, nó có sức sống mãnh liệt cũng như sức lantỏa lớn, là đứa con tinh thần của mỗi dân tộc Những tư tưởng, tình cảm vàcảm xúc ấy được chuyển tải thông qua những hình ảnh giàu giá trị tạo hình vàqua một thế giới nghệ thuật lung linh sắc màu Cũng giống dân ca người Việt,dân ca Sán Dìu là mạch nguồn nuôi dướng tâm hồn tộc người Sán Dìu Hiệnnay, hát dân ca của người Sán Dìu vẫn còn tồn tại và phát triển trong cộngđồng bà con dân tộc Sán Dìu, tuy nhiên sự hội nhập văn hóa cũng như sự pháttriển của xã hội đang ảnh hưởng và khiến nét văn hóa đặc trưng này bị maimột dần
Dân tộc Sán Dìu có khoảng hơn hơn 150 nghìn đồng bào chung sốngtrên gần khắp các tỉnh trong cả nước, đặc biệt tập trung ở các tỉnh miền núiphía Bắc như Bắc Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên… Dân tộc Sán Dìuđược tạo lập từ thời nhà Minh tại Quảng Đông, Trung Quốc, sau đó dần dần
Trang 8di chuyển đến Việt Nam và sử dụng hệ ngôn ngữ Hoa nên mang hệ thống vănhóa rất đặc sắc và riêng biệt Lấy dân ca Sán Dìu làm đối tượng nghiên cứu,chúng tôi không chỉ mong muốn góp phần bảo tồn văn hóa dân gian của cộngđồng Sán Dìu mà hơn thế còn muốn khám phá lối tư duy ngôn ngữ nghệ thuậtcủa chủ nhân tiếng Sán Dìu
Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu dân ca của người Sán Dìu ởnhiều góc độ khác nhau nhưng nghiên cứu về nghệ thuật ngôn từ trong trongdân ca Sán Dìu vẫn còn là một khoảng trống lớn
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “ So sánh tu từ và ẩn dụ tu từ
trong dân ca Sán Dìu” với hy vọng sẽ bước đầu mở ra hướng nghiên cứu mới
cho nền văn học dân gian của một dân tộc thiểu số đang có nguy cơ mai một
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dân tộc Sán Dìu được các nhà dân tộc học quan tâm và nghiên cứu từ rấtsớm Trong những nghiên cứu về văn hóa, các nhà nghiên cứu cũng đề cậpđến văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Sán Dìu, trong đó có văn họcdân gian và hình thức diễn xướng Soọng cô Trong những năm gần đây, Đảng
và Nhà nước có nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh việc phát huy và bảo tồnvăn hóa, ngôn ngữ các dân tộ thiểu số nên dân ca Sán Dìu được đề cập vàquan tâm nhiều hơn Trên các phương tiện thông tin đại chúng, dân ca SánDìu được đề cập đến trong nhiều bài như:
- Đức Anh (8/4/2010), “Nam Hòa khôi phục hát Sọng cô”, trên báo Thái
Nguyên Online
- Phạm Ngọc Chuẩn (12/2/2014), “Độc đáo lối hát Soọng cô”, Báo
Nông Nghiệp Việt Nam
- Minh Hường (1/5/2017), “Người bảo tồn tiếng hát Soọng cô”, Vĩnh
Phúc Online
- Thanh Huyền, Quốc Chung (11/11/2017), “Hát Soọng cô – Nét độc
đáo của dân tộc Sán Dìu”, báo điện tử VOV.vn – Đài Tiếng nói Việt Nam
Có thể nói, phần lớn các bài báo viết về dân ca Sán Dìu mới chỉ bướcđầu giới thiệu về dân ca Sán Dìu cùng lịch sử hình thành của nó và đưa ra
Trang 9Thực tế hơn, Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao các tỉnh mật tập đông
cư dân Sán Dìu như tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên cũng có những dự ánnhằm Bảo tồn hình thức diễn xướng Soọng cô của dân tộc Sán Dìu Các đề tàinày chủ yếu chỉ sưu tầm lại các lời hát của các nghệ nhận, đưa ra kế hoạchxây dựng các câu lạc bộ hát Sọng cô của các xã, huyện…nhằm phát huynhững giá trị văn hóa phi vật thể của người dân tộc Sán Dìu
Gần đây, dân ca Sán Dìu cũng được giới nghiên cứu quan tâm nhiềuhơn Cụ thể là cũng đã có một số công trình nhỏ nghiên cứu về lĩnh vực này
Năm 2009, tác giả Kiều Thị Tuyết [26] đã bảo vệ khóa luận Tìm hiểu
dân ca Soọng cô của người Sán Dìu, xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Công trình đã bước đầu phân loại chủ đề dân ca, chỉ ra nguyên nhân
mai một của loại hình hát dân ca Soọng cô, đồng thời đề xuất một số giảipháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Soọng cô của người Sán Dìu ở
xã Đạo Trù, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Mai Phương [18] đã bảo vệ luận văn thạc
sĩ Khảo sát loại hình hát Sọng cô của dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên và
Tuyên Quang Công trình đã bước đầu đưa ra kết quả khảo sát vùng hát và
các nghệ nhân vùng hát ở Thái Nguyên và Tuyên Quang Đặc biệt, chương 3của luận án đã chỉ ra những giá trị nội dung và nghệ thuật; chỉ ra hiện trạngcủa hình thức diễn xướng và vấn đề bảo tồn hát Sọng cô ở hai vùng này
Năm 2014, tác giả Lâm Quang Hùng xuất bản cuốn Dân ca Sán Dìu
nhằm giới thiệu những nét đẹp văn hóa trong loại hình nghệ thuật hát Soọng
cô của người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc
Năm 2016, tác giả Trần Thị Thanh Tân [21] đã bảo vệ luận văn thạc sĩ
Văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở Thái Nguyên Công trình đã phác họa
được diện mạo văn học dân gian dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Thái Nguyên và đisâu tìm hiểu một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu, trong đó có hát Soọng
cô với các tiêu chí nghiên cứu về nội dung thể hiện và đặc điểm nghệ thuậttiêu biểu
Trang 10Gần đây, năm 2017, đề tài nghiên cứu cấp Bộ Nghiên cứu, đề xuất giải
pháp bảo tồn và phát triển giá trị dân ca trong cưới xin của dân tộc Sán Dìu
ở Việt Nam do PGS.TS Ngô Quang Sơn [20] làm chủ biên đã tiến hành khảo
về môi trường diễn xướng trong cưới hỏi của dân ca Sán Dìu và phân tích khátriệt để về những giải pháp bảo tồn loại hình này trong bối cảnh giao lưu vănhóa trong cưới hỏi hiện nay ở vùng dân tộc thiểu số ít người
Như vậy, công tác nghiên cứu về dân ca Sọng cô còn rất khiêm tốn vàhầu hết mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát nội dung và hình thức diễn xướng,chưa thật sự đi sâu vào khai thác nghệ thuật ngôn từ của loại hình dân ca này
Vì vậy, tìm hiểu đề tài “So sánh tu từ và ẩn dụ tu từ trong dân ca SánDìu” là hướng nghiên cứu mới với mong muốn lấp đầy hơn khoảng trốngnghiên cứu về nghệ thuật của dân ca Sán Dìu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, đề tài cần phải thực hiệnnhững nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, xác định những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn phục vụ choviệc nghiên cứu đề tài
Thứ hai, khảo sát, phân tích và thống kê các so sánh tu từ và ẩn dụ tu từđược sử dụng trong các bài dân ca Sán Dìu
Thứ ba, làm rõ và chỉ ra giá trị của so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ trongdân ca Sán Dìu, qua đó thấy được cái hay, cái đẹp của văn hóa, con người
Trang 114 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các so sánh tu từ và và ẩn dụ tu từtrong dân ca của người Sán Dìu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài “So sánh tu từ và ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu” giới hạn
phạm vi nghiên cứu là các bài dân ca có sử dụng so sánh tu từ và ẩn dụ tu từcủa người Sán Dìu trên các ngữ liệu sưu tầm và khảo sát được, gồm :
1 Diệp Minh Tài (2001), Nhất dạ xướng ca ( hát trọn một đêm trong
nhà) câu lạc bộ Soọng cô Sán Dìu, xóm Tam Thái, xã Hòa Thượng, huyệnĐồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2 Lâm Quang Hùng (2014), Dân ca Sán Dìu, Nhà xuất bản Văn hóa
giáo dục
3 Lê Đại Năm (2015), Sưu tầm – biên dịch Các bài hát thềnh Sèn Cô
của dân tộc Sán Dìu ra tiếng phổ thông và sáng tác hát giao duyên lời mới,
Nhà xuất bản Hội nhà văn
4 Lâm Quang Hùng (2011), Dân tộc Sán Dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc, Nxb
Khoa học và công nghệ
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Là phương pháp dựa trên các ngữ liệu và tài liệu tham khảo được công
bố trên các sách, báo, công trình nghên cứu để tham khảo các khái niệm,phạm trù, thiết lập và tính toán các số liệu thống kê được Thông qua phươngpháp này để xây dựng và phân tích cơ sở lý luận nghiên cứu cho đề tài
5.2 Phương pháp thống kê- phân loại
Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số lượng và tính toán cácđặc trưng của đối tượng nghiên cứu, những số liệu tìm thấy trong các ngữliệu để tính toán ti lệ, tần suất xuất hiện của những phạm trù cần nghiên cứunhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định
Trang 125.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này phân tích cứ liệu đã thống kê để làm rõ giá trị của sosánh tu từ và ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu
5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu
Sau khi khảo sát và thống kê, so sánh đối chiếu để tìm ra những nétgiống và khác làm cơ sở cho việc quy loại nhóm và phân tích Đây là phươngpháp quan trọng để làm nổi bật đặc trưng văn hóa, quan niệm thẩm mĩ vàtrình độ nhận thức của người sáng tạo
Đối tượng của so sánh đối chiếu là ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ trong vănhọc dân gian của người Kinh và ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ trong dân ca SánDìu để thấy được nét đặc sắc trong dân ca Sán Dìu so với các dân tộc khác để
từ đó thấy được giá trị của dân ca Sán Dìu
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Đóng góp về mặt lý luận
Đề tài này sẽ cung cấp cách nhìn hệ thống và cụ thể hơn về so sánh tu từ
và ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Đề tài là nguồn tư liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu của họcsinh, sinh viên và những người quan tâm, nghiên cứu đến dân ca và văn hóaSán Dìu Giúp tìm hiểu được từ khái quát đến cụ thể về so sánh tu từ và ẩn dụ
tu từ trong dân ca của người Sán Dìu
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội
dung chính của đề tài gồm có 3 chương sau :
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: So sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu
Chương 3: Ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Phương tiện tu từ và biện pháp tu từ
1.1.1 Phương tiện tu từ
1.1.1.1 Khái niệm
Bàn phương tiện tu từ, các nhà nghiên cứu có đưa ra quan niệm như sau:
Trong cuốn“99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng Lạc đã định nghĩa : Phương tiện tu từ là những phương tiện ngôn ngữ
ngoài ý nghĩa cơ bản ( ý nghĩa sự vật – logic ) ra chúng còn có ý nghĩa bổ sung, gọi là màu sắc tu từ, ví dụ như : phóng đại, nói giảm, nói tránh, nhân hóa, ẩn dụ…[13, tr 11]
Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong “Giáo trình phong cách học Tiếng Việt” viết: Phương tiện tu từ cũng chính là các phương tiện ngôn ngữ, ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp, nhưng được lựa chọn để sử dụng vào mục đích tu từ, hoặc được xem xét ở góc độ tu từ [9, tr 61]
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản phương tiện tu từ là những đơn
vị ngôn ngữ ngoài nghĩa sự vật còn có giá trị nghĩa bổ sung về sắc thái biểucảm và phạm vi sử dụng, tồn tại sẵn có trong kho từ vựng
sự đối lập với thanh trắc có giá trị mang âm hưởng trầm, buồn
b Phương tiện tu từ có tính khách quan vì nó tồn tại khách quan trong hệthống ngôn ngữ Nó tồn tại sẵn có trong kho từ vựng của dân tộc, là sản phẩmchung của cộng đồng được người nói lựa chọn sử dụng
c Phương tiện tu từ có tính tiềm ẩn, nghĩa là phương tiện tu từ chỉ đượcnhận biết qua sử dụng ngôn ngữ, khi đưa ngôn ngữ vào trong quá trình sửdụng những sắc thái biểu cảm hay hoàn cảnh sử dụng cụ thể ta mới nhận thấyđược giá trị tu từ của các phương tiện ngôn ngữ đó
Trang 14Ví dụ : Thanh điệu, hệ thống nguyên âm, âm tiết.
- Phương tiện tu từ từ vựng: Là những từ ngữ đồng nghĩa mà ngoài ýnghĩa của nó ra còn có những ý nghĩa bổ sung, mang màu sắc tu từ
Ví dụ : Lớp từ Hán – Việt, từ thi ca, từ mượn, lớp từ láy
- Phương tiện tu từ ngữ nghĩa : là những định danh thứ hai mang màu sắccủa sự vật, hiện tượng
Ví dụ : ẩn dụ, hoán dụ, nói mỉa, phóng đại
- Phương tiện tu từ cú pháp : là những kiểu câu ngoài nội dung thông tin
cơ bản ra còn mang phần thông tin bổ sung, có màu sắc tu từ do được cải biến
từ kiểu câu cơ bản, tức là những kiểu câu có thành phần được đảo trật tự
Ví dụ Phép điệp cú, phép đảo cú, phép chiết cú…
- Phương tiện tu từ văn bản: là các mô hình văn bản được thay đổi màngoài nội dung thông tin cơ bản còn mang nội dung thông tin bổ sung, còn cómàu sắc tu từ được thay đổi
Phương tiện tu từ được chia làm ba nhóm cơ bản : nhóm rút gon, nhómđảo trật tự và nhóm mở rộng
1.1.2 Biện pháp tu từ
1.1.2.1 Khái niệm
Tác giả Đinh Trọng Lạc cho rằng Biện pháp tu từ là những cách phối
hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không, trong một ngữ cảnh rộng để tạo ra hiệu quả tu từ ( tức gây ấn tượng về hình ảnh, cảm xúc, thái độ, hoàn cảnh” [13;142]
Trang 15Như vậy, biện pháp tu từ là cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữtrong ngữ cảnh cụ thể nhằm làm xuất hiện môt giá trị ngữ nghĩa bổ sung tạonên những nghĩa hàm chỉ để tăng hiệu lực của lời.
1.1.2.2 Đặc điểm
Trái với phương tiện tu từ, biện pháp tu từ mang tính chủ quan Các
phương tiện như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nói quá,… đều được sửdụng dựa trên mục đích và tùy thuộc vào sự chủ quan của người sử dụng
Biện pháp tu từ thể hiện sự cụ thể các phương tiện trong những văn cảnh
khác nhau
Biện pháp tu từ không mang tính hệ thống Trong một câu thơ hay một
đoạn văn, có thể tìm thấy nhiều phương tiện tu từ khác nhau
Giá trị của biện pháp tu từ nằm trong ngữ cảnh sử dụng, đặt trong
những ngữ cảnh khác nhau thì các câu từ lại có ý nghĩa và giá trị khác nhau
Biện pháp tu từ là không giới hạn, được sử dụng rất rộng rãi trong cả
văn chương và giao tiếp bình thường
Tóm lại, biện pháp tu từ mang tính chủ quan, tính cụ thể, không mangtính hệ thống, tuy thuộc vào ngữ cảnh sử dung và sử dụng không giới hạn.Giá trị của nó nằm ở sự tương đối trong sự vận dụng vào một ngữ cảnh thíchhơp để tạo ra giá trị ngữ cảnh
Bao gồm: Tượng thanh, tượng hình,…
- Biện pháp tu từ từ vựng: là cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ vựngtrong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn có khả năng đem lạihiệu quả tu từ do mối quan hệ qu lại giữa các đơn vị từ vựng trong ngữ cảnhBao gồm: Hòa hợp, tu từ vựng âm…
Trang 16- Biện pháp tu từ ngữ nghĩa:là cách kết hợp có hiệu quả tu từ, theo trình
tự nối tiếp của các đơn vị từ vựng tuy thuộc dụng ý của người sử dụng
Bao gồm: So sánh, phản ngữ, chơi chữ, nói lái,…
- Biện pháp tu từ cú pháp : là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câutrong một ngữ cảnh rộng nhằm đem lại ý nghĩa biểu cảm và cảm xúc chongười đọc
Bao gồm:Câu hỏi tu từ, đảo đối,…
- Biện pháp tu từ văn bản: là cách phối hợp sử dụng các bộ phận của vănbản để tạo ra hiệu quả tu từ
Bao gồm : Quy định, tương phản,…
Tác giả Bùi Tất Tươm trong cuốn “Giáo trình Tiếng Việt” định nghĩa so
sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác nhau, giống nhau một thuộc tính nào đó nhằm biểu hiện một hình ảnh, biểu cảm đặc điểm của một đối tượng” [27, tr 223]
Tác giả Đinh Trọng Lạc cũng nhận định trong cuốn “99 biện pháp tu từ
Tiếng Việt” : “So sánh ( so sánh tu từ ), so sánh hình ảnh là một biện pháp tu
từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả bằng hình tượng một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [13, tr 154]
Với định nghĩa trên, tác giả muốn nói đến hiệu quả biểu đạt của pháp sosánh tu từ tác động đến người tiếp nhận
Kế thừa và bổ sung cho những quan điểm trên, tác giả Nguyễn Thái Hòa
Trang 17chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật này có một nét tương đồng nào đó để khơi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [9, tr 190]
1.2.1.2 Đặc điểm
a/ Về hình thức: So sánh tu từ bao giờ cũng công khai phô bày 2 vế (A
và B) Trong đó: A là được vế so sánh; B là vế so sánh Ở dạng thức đầy đủnhất, so sánh tu từ gồm có bốn yếu tố:
- Yếu tố được đưa ra làm chuẩn so sánh
Vẫn sử dụng ví dụ ban đầu : “Anh ta nhát như cáy” ta có thể chỉ ra:
- Yếu tố được so sánh : Anh ta
- Yếu tố biểu hiện cơ sở so sánh : Nhát
- Yếu tố quan hệ so sánh : Như
- Yếu tố chuẩn so sánh : Cáy
Căn cứ vào việc xuất hiện của các yếu tố trong cấu trúc so sánh ta có 5dạng so sánh tu từ phổ biến:
+ Dạng 1: A như (hình như, tựa như, dạng như, tựa thể…) B
Ví dụ “Em(A) như cá chép kim thôi(B)”,
(Dân ca Sán Dìu) “Trẻ em (A)như búp trên cành(B)”
(Hồ Chí Minh) “Thiếp(A) như một cụm hoa hường (B),
Thấy xinh rờ đến mắc đường chông gai.”
(Ca dao)
Trang 18Hình thức so sánh này khá phổ biến, từ so sánh “như” mang tính chất giả định khi nói “A như B” nghĩa là nói A tương tự B chứ không hẳn là A giống
hoàn toàn B
+ Dạng 2 : A là B
Ví dụ “Người ta (A) là hoa đất(B)”
(Thành ngữ) “ Em(A) là con cá hóa long(B)
Chín tầng mây phủ nằm trong da trời.
Anh (A) là quân tử lỡ thời(B),
Nằm trong da trời úp cả hóa long.”
(Dân ca Sán Dìu) Hay : “Cha già (A) là vị cha chung
Là sao Bắc Đẩu(B), là vầng thái dương(B)”
(Tố Hữu)
Dạng so sánh này cũng thường hay xuất hiện trong so sánh tu từ nhưng
với tần suất thấp hơn so với dạng “A như B” Nhưng đối với dạng thức “A là
B” thì có tính chất khẳng định cao hơn dạng “A như B”, giữa A và B có xu
hướng đồng nhất hóa Điều đó không có nghĩa là A và B có sự tương đương
gần như tuyệt đối như so sánh logic Khi nói “A là B” thì so sánh vẫn nằm
trong phạm vi so sánh tu từ
+ Dạng 3 : A bao nhiêu B bấy nhiêu
Ví dụ :
“Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang,
Bao nhiêu tấc đất (A), tấc vàng (B) bấy nhiêu.”
(Tục ngữ) Hay “Mình đi mình lại nhớ mình,
Nguồn (A) bao nhiêu nước (A), nghĩa tình (B) bấy nhiêu.”
(Tố Hữu)
Khi sử dụng dạng thức “A bao nhiêu B bấy nhiêu”, người viết thường
Trang 19cái cụ thể là “tấc đất”, “ nguồn – nước” trong sự tương quan với cái trừu tượng mà “tấc vàng” và “nghĩa tình” Cũng chính vì vậy, so sánh tu từ
còn được gọi là so sánh hình ảnh Bởi những cái trừu tượng không thể cụthể hóa được bằng cách cân, đo, đong, đếm lại được so sánh với nhữnghình ảnh cụ thể
+ Dạng 4 : A,B
Ví dụ “Lời nói gió bay”
(Thành ngữ)
“Anh(A) , sông Hồng(B) sông Mã(B),
Gầm reo trong đạn lửa.”
(Lưu Quang Vũ)
Đối với dạng thức so sánh này thì bao giờ cũng có từng cặp đối ứng vớinhau và được ngăn cách bởi dấu phẩy , độ ngắt nhịp hay ngữ điệu của câu.Cần phân biệt dạng thức này với hình thức đối dựa trên cơ sở cân xứng, hàihòa về số lượng âm tiết, ngữ điệu, thanh điệu, ngữ pháp… Còn so sánh tu từdựa trên cơ sở so sánh những nét tương đồng
+ Dạng 5 : A hơn (hơn là, kém, không bằng, chưa bằng, chẳng bằng,
không tày…) B
Ví dụ : “Con đi trăm núi ngàn khe (A)
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm (B).”
(Tố Hữu)
Hoặc “Học thày (A) không tày học bạn(B)”
(Thành ngữ)
Đây là dạng so sánh không ngang bằng, người viết muốn hướng đến sự
so sánh hơn kém cụ thể giữa hai đối tượng, dạng so sánh này có tần suất xuấthiện ít hơn các dạng so sánh ngang bằng khác
Dạng so sánh ngang bằng bao gồm 4 dạng so sánh 1,2,3,4 như trên, dạng
so sánh không ngang bằng bao gồm dạng so sánh số 5 Các tác phẩm văn học
ở thể loại nào cũng sẽ thường xuyên sử dụng luân phiên 5 dạng so sánh tu từnày nhằm đạt được mục đích nghệ thuật mà tác giả hướng đến
Trang 20*/ Về nội dung: Các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại
có một nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ Nét giốngnhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ (cơ sở giống nhau) thì ta có so sánhnổi; Nét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ thì ta có sosánh chìm
1.1.1.3 Giá trị của so sánh tu từ
a/ Chức năng nhận thức:
So sánh là việc mang một đối tượng này đối chiếu với một đối tượngkhác nhằm tìm ra nét tương đồng và đối lập giữa chúng Do vậy, so sánh cógiá trị nhận thức, đem cái chưa biết đối chiếu với cái đã biết để từ đó nhậnthức, hình dung về cái chưa biết Nghĩa là thông qua những hình ảnh so sánh(vế B) người ta hiểu rõ hơn, sâu hơn đối tượng được so sánh vế A Biện pháp
tu từ này được sử dụng ở nhiều phong cách: khẩu ngữ, chính luận, thông tấn,văn chương…
b/ Chức năng biểu cảm:
So sánh tạo các sắc thái biểu cảm khác nhau Cách so sánh nhằm tạo racác cảm xúc cụ thể, sinh động, có tính hình tượng Nghĩa là những hình ảnhcủa vế B không những giúp ta hiểu rõ về đối tượng mà còn bộc lộ thái độ, tìnhcảm của người nói về đối tượng
c/ Chức năng thẩm mĩ:
So sánh tu từ cũng chứa đựng giá trị thẩm mỹ phong phú, trước hết là cáinhìn mới mẻ, đẹp đẽ trong cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng, trong sự lựachọn hình ảnh và các cảm xúc bất chợt hiện ra So sánh tạo nhiều chiều liêntưởng tạo ra sự thẩm mỹ cao trong tâm trí người đọc Nói cách khác, sự sosánh tạo nên những hình ảnh đẹp, làm cho lời nói trở nên sinh động sinh độnghơn Những hình ảnh đó gây cho người nghe những hiệu quả thẩm mĩ, từ đótạo nên những hình ảnh có giá trị khơi gợi những hình tượng đồng cảm hoặcphản cảm
Trang 211.2.2 Ẩn dụ tu từ
1.2.2.1 Khái niệm
Ẩn dụ tu từ là một biện pháp nghệ thuật độc đáo, là một phương diện diễnđạt hiệu quả trong ngôn ngữ nói và viết Chính vì vậy cũng có rất nhiều nhậnđịnh khác nhau về khái niệm ẩn dụ tu từ mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra
Tác giả Nguyễn Thái Hòa cho rằng “Ẩn dụ tu từ là phương thức chuyển
nghĩa bằng lối so sánh ngầm dùng tên gọi đối tượng được so sánh thay cho tên gọi so sánh khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương đồng nào đó, nhằm phát động liên tưởng rộng lớn trong lòng người đọc” [9, tr 107]
Tác giả Đỗ Hữu Châu lại quan niệm “Ẩn dụ là cách gọi tên môt sự vật
này bằng tên một sự vật khác, giữ chúng có mối quan hệ tương đồng” [3, tr
54] Ông giải thích cụ thể như sau “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là
những ý nghĩa biểu vật A vốn là tên gọi của X (Tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A) Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu như X và Y có nét nào đó giống nhau”.
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi
dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hiện tượng được so sánh với nhau”.
Nhìn chung mỗi tác giả đều có những quan niệm riêng về phương thức ẩn
dụ Nhưng tất cả đều có đặc điểm chung là : Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi các
sự vật, hiện tượng khác loại để tạo sự liên tưởng cho người đọc, người nghe
1.2.2.2 Đặc điểm
*/ Về hình thức: Ẩn dụ tu từ chỉ phô bày đối tượng dùng để biểu thị còn
đối tượng định nói đến thì dấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh tu từ
*/ Về nội dung: Ẩn dụ là một loại so sánh ngầm cho nên giữa hai đối
tượng so sánh cần phải rút ra được những nét tương đồng
Trong văn học cũng như đời sống, có rất nhiều dạng ẩn dụ khác nhauđược sử dụng tùy vào mục đích biểu đạt của tác giả, tuy nhiên có thể kể đến 4dạng ẩn dụ chính :
- Ẩn dụ hình thức ( tức là tương đồng về hình thức )
Trang 22Ví dụ :
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông
(Nguyễn Trãi)
Ở đây hoa lựu có màu đỏ như lửa, bởi vậy “lửa” (A) được dùng làm ẩn
dụ chi “hoa lựu” (B)
- Ẩn dụ cách thức : Thể hiện một vấn đề bằng nhiều cách, ẩn dụ này giúpngười đọc diễn đạt đưa hàm ý vào câu nói
Ví dụ : “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.
Ví dụ :
“Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
(Tục ngữ) “Cây” không chỉ là nói về cây cối mà còn ẩn dụ cho hình ảnh con
người, “hòn núi cao” không đơn thuần theo nghĩa đen của nó mà còn chỉ
những việc lớn lao có ý nghĩa của con người Cả “cây” và con người đều có
những điểm chung về phẩm chất như : nếu đoàn kết, hợp lại thì sẽ tạo ra sứcmạnh lớn và mạnh mẽ )
- Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : phép tu từ miêu tả tính chất, đặc điểm của
sự vật được nhận biết bằng giác quan này nhưng lại được miêu tả bằng từ ngữ
sử dụng cho giác quan khác
Ví dụ : “Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao”
(Trương Nam Hương)
Trang 23Ở đây “màu trắng” không phải để chỉ màu sắc thông thường mà là ẩn dụ
cho mái tóc của người mẹ qua thời gian và sương gió cuộc đời đã trở nên bạctrắng Hình ảnh ẩn dụ này gợi cho người đọc sự chuyển đổi cảm giác, nhữngliên tưởng sâu sắc, tạo nên dụng ý nghệ thuật có giá trị cho câu thơ
Tóm lại, dù là dạng thức ẩn dụ tu từ nào thì biện pháp nghệ thuật nàycùng có mục đích chung là đem lại cho người đọc sự suy ngẫm, chiêmnghiệm nhiều hơn về câu thơ, câu văn, nhằm tăng sự hiệu quả khi diễn đạtcho người nghe
1.2.2.3 Giá trị của ẩn dụ tu từ
a/ Giá trị nhận thức:
Ẩn dụ tu từ cho người đọc nhận thức được về ngữ cảnh, ý nghĩa và giátrị trong dụng ý của người viết
Ẩn dụ là phép so sánh ngầm, ẩn dụ phát sinh trong tâm trí của người đọc
để gợi những hình ảnh mới lạ, đẹp đẽ mà ý nghĩa cơ bản của nó không có Sovới so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ gợi liên tưởng rất sâu sắc, ẩn dụ gợi mối liên hệtương đồng cho người đọc tự tìm kiếm và cảm nhận vì vậ y, ẩn dụ tu từ có sứcgợi ta mạnh mẽ hình ảnh sinh động hơn mà diễn đạt lại ngắn gọn hơn
Ví dụ:
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng
(Nguyễn Khoa Điềm) b/ Giá trị biểu cảm:
Cũng giống như giá trị gợi cảm, giá trị biểu cảm trong ẩn dụ tu từ nhằmmục đích bộc lộ cảm xúc của người viết để từ đó khơi gợi sự đồng cảm vàliên tưởng sâu sắc từ phía người đọc Ẩn dụ chứa đựng sức gợi cảm phongphú trong những hình ảnh được ẩn trong ngôn từ :
Ví dụ :
“Thời gian chạy qua tóc mẹ
Một màu trắng đến nôn nao”
(Trương Nam Hương)
Trang 24Gắn thời gian với màu tóc của mẹ (thời gian càng trôi đi, tóc mẹ càngdần bạc), ẩn dụ tu từ đã gợi cho người đọc nhiều chiều liên tưởng và cảmnhận chứ không đơn giản là một chiều hướng Ẩn dụ đưa người đọc vào mộtthế giới nghệ thuật của sự liên tưởng, tạo ra giá trị gợi cảm cho văn học.
c/ Giá trị thẩm mỹ:
Ẩn dụ tu từ lấy hình ảnh, tính chất của sự vật này để ngầm ý biểu đạttính chất của sự vật kia Trong sự so sánh ngầm đều có chứa yếu tố thẩm mỹ,giá trị thẩm mỹ để làm nên cái đẹp cho câu văn, câu thơ
1.3 Vài nét về dân ca Sán Dìu
1.3.1 Lịch sử dân ca Sán Dìu
Theo truyền thuyết “truyện quả bầu” nói về nguồn gốc dân tộc Sán Dìu,
kể rằng thuở xa xưa trời đất còn gần nhau, có một làng quê đông đúc trù phúsoi bóng xuống dòng sông thơ mộng Bỗng một hôm ông trời nổi giận, chonước sông dâng cao làm chết muôn loài Trong làng có hai chị em họ nhanhchân chui vào quả bầu khô, nổi lên theo dòng nước nên sống sót
Khi nước rút, vì trong vùng không còn ai, họ bèn lấy nhau, sinh nhiềucon cháu làm cho người Sán Dìu hồi sinh trở lại Tuy làng đông người nhưngtoàn con cháu cùng huyết thống, không thể lấy nhau được nên phải sang làngkhác tìm hiểu Để bạn tình ở làng bên rung động họ dùng tiếng hát để diễn tảlòng mình Hát dân ca Sán Dìu (hay còn gọi là hát Soọng cô) ra đời từ đó vàtồn tại đến ngày nay
1.3.2 Dân ca Sán Dìu
Hát dân ca Sán Dìu (hay còn gọi là hát Soọng cô) Soọng cô phát âmtheo tiếng Hán nghĩa là xướng ca, tiếng Sán Dìu nghĩa là ca hát, được lưutruyền từ đời này sang đời khác, trở thành một nhu cầu tinh thần không thểthiếu được trong đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất của người Sán Dìu.Giống như làn điệu sli của người Nùng và sình ca của người Cao Lan,soọng cô là một thể loại dân ca trữ tình với lời hát đối đáp nam nữ Mỗi bài ca
là một bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt, ghi chép bằng chữ Hán và
Trang 25lưu truyền trong dân gian Làn điệu soọng cô bắt nguồn từ cuộc sống bình dị,chất phác, nói lên tâm tư, tình cảm, ước vọng của người dân lao động.
Dân ca Sán Dìu có hai dạng thức: Hát giao duyên gắn với đời sống sinhhoạt, lao động sản xuất (hị soon soọng cô), hát đối đáp trong lễ hội, lễ cưới(sênh ca chíu cô) Ở dạng thức thứ nhất, nội dung hát vừa để tìm hiểu, có khi
để trổ tài: Nếu hát trong nhà thì phải hát theo trình tự, còn khi hát ở ngoài trời
có thể ứng tác, lời ca phù hợp với hoàn cảnh cụ thể
Ở dạng thức thứ hai phải hát theo các bài bản giai điệu bắt buộc Dù ởdạng thức nào cũng đòi hỏi người hát phải hiểu biết, phải nhanh trí, thôngminh, tài ứng khẩu, giỏi đặt lời mới cho các bài ca
Nội dung của làn điệu dân ca Sán Dìu rất phong phú, thể hiện sự đa dạng
và độc đáo trong văn nghệ dân gian của người Sán Dìu Tùy từng hoàn cảnh
cụ thể mà dân ca Sán Dìu đã truyền tải những thông điệp văn hóa đến cho mọingười Lời hát càng phong phú, sinh động hơn khi hát ứng tác trong đời sốngsinh hoạt, lao động, sản xuất…
Hát Soọng cô là một làn điệu dân ca đặc trưng của dân tộc Sán Dìu Tuynhiên, hiện nay số người dân tộc Sán Dìu biết hát Soọng cô không nhiều chủyếu tập trung ở người lớn tuổi Mặt khác, số lượng sách cổ ghi lại các bài hátdân ca Sán Dìu còn rất ít, phần lớn các bài hát sưu tầm được đều do các nghệnhân truyền miệng lại
Trong những năm gần đây, việc bảo lưu các làn điệu dân ca của dân tộc
đã được sưu tầm, ghi chép, dịch nghĩa các làn điệu dân ca Sán Dìu nhằm giúpcho thế hệ trẻ hôm nay hiểu biết và trân trọng giá trị văn hóa trong suốt chiềudài lịch sử Tại tỉnh Tuyên Quang,Vĩnh Phúc, Thái Nguyên các hoạt độngnhằm bảo tồn và phát huy làn điệu này được đẩy mạnh
Tại nhiều địa phương thành lập những đội văn nghệ quần chúng; dàndựng nhiều tiết mục hát dân ca Sán Dìu; lồng ghép các tiết mục hát dân caSán Dìu vào các chương trình biểu diễn văn hóa, nghệ thuật phục vụ đời sốngvăn hóa, tinh thần của nhân dân các dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu, vùng
xa trong tỉnh, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa độc đáo
Trang 26TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi tập trung trình bày những cơ sở lí luận vềphương tiện tu từ và biện pháp với những vẫn đề về khái niệm, đặc điểm vàphân loại phương tiện tu từ và biện pháp tu từ Bên cạnh đó, các vấn đề líthuyết về so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ để cũng được trình bày chi tiết và cụ thể.nhằm giúp tìm hiểu rõ hơn về giá trị của so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ về mặt
nội dung, từ đó làm cơ sở để khảo sát và phân loại, phân tích “So sánh tu từ
và ẩn dụ tu từ trong dân ca Sán Dìu” trong chương kế tiếp.
Trang 27CHƯƠNG 2 : SO SÁNH TU TỪ TRONG DÂN CA SÁN DÌU
2.1 Kết quả khảo sát so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu
Căn cứ vào cơ sở lí luận đã trình bày về đặc điểm của so sánh tu từ ở
chương 1, chúng tôi tiến hành khảo sát 310 bài dân ca Sán Dìu, kết quả thu
được như sau:
Bảng 2.1 Tần suất xuất hiện của so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu
- Dạng “A như B” được sử dụng với tần suất cao nhất (11/19 bài) chứng
tỏ tư duy thơ luôn có xu hướng đối chiếu một cách rõ ràng, hơn thế người Sán
Trang 28Dìu thường có xu hướng sử dụng lối tư duy so sánh đồng nhất, ít dùng sosánh hơn, kém
Ví dụ : Em như cá chép kim thôi
Anh đâu chân chính mong ngồi cùng em
- Dạng thức so sánh tu từ “A là B” xuất hiện nhiều thứ 2 (2/17 bài) Đây
cũng là so sánh đồng nhất Kết quả cho thấy so sánh tu từ trong dân ca SánDìu thiên về nhịp điệu, nhịp điệu cũng góp phần tạo nên ý nghĩa và dụng ý nghệthuật của tác giả và người hát
Ví dụ: Ta là hà mã trên sông
Chàng là báo gấm đến cùng gặp nhau
- Dạng thức so sánh “A bao nhiêu, B bấy nhiêu” không xuất hiện lần nào
trong cả 322 bài dân ca Sán Dìu được khảo sát
- Dạng thức so sánh A,B xuất hiện 2 lần Đây là dạng thức so sánh không
có từ so sánh So với các dạng thức so sánh có từ so sánh, dạng thức này giàuhình ảnh và có giá trị biểu cảm cao
Ví dụ: Con người có tên và có tuổi,
Đám cưới có đầu và có cuối
- Dạng thức so sánh “A kém/không bằng…B” xuất hiện 2 lần Đây là
dạng thức so sánh không ngang bằng thể hiện tâm lý e dè hoặc sự khiêm tốncủa người nói
Ví dụ : “Em không dám sánh như rừng núi
Tình thì chưa có, đang chờ anh”
Nói tóm lại.kết quả khảo sát cũng phần nào phản ánh bản chất và tínhcách con người của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và người dân tộc SánDìu nói riêng: thật thà, chất phác và thẳng thắn Việc 95% số hình ảnh sosánh đều mang đầy đủ yếu tố so sánh tu từ thể hiện rõ đặc điểm tính cách này.Người đồng bào dân tộc Sán Dìu thường lựa chọn lối hát, lối đối đáp thẳng
Trang 29thắn, trực tiếp và đầy đủ để người tiếp nhận có thể thấy được rõ tâm lí, tìnhcảm và dụng ý của người hát một cách nhanh nhất.
Bảng 2.2 : Kết quả thống kê chất liệu hình ảnh so sánh trong dân ca Sán Dìu
Hình ảnh “Hoa” xuất hiện đến 5 lần trên tổng số 17 bài dân ca có chứa so
Trang 30sánh tu từ Tuy nhiên, sự xuất hiện các hình ảnh và chất liệu so sánh cũngphân bố không đồng đều Cụ thể:
Chất liệu thực vật và sự vật xuất hiện nhiều nhất với 9 lần chiếm 45%.Chứng tỏ tư duy so sánh của người Sán Dìu luôn hướng về thiên nhiên, lấythiên nhiên so sánh với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh nhằm biểu đạtdụng ý của người viết
Ví dụ : Ngận chiếu lập ra như hoa nở
Chất liệu con vật cũng là một chất liệu từ thiên nhiên, xuất hiện 5 lần với25% chứng tỏ tư duy gần gũi, thân thiện với môi trường và các loài động vậtxung quanh của người Sán Dìu
Ví dụ : Ai như tê giác nhìn trăng đêm rằm
Chất liệu liên quan đến con người tuy không nhiều, chi chiếm 25% tổng
số chất liệu so sánh khảo sát được nhưng cũng đã cho thấy người Sán Dìu cólối so sánh và liên tưởng phong phú Mọi sự vật, sự việc dù là trong thiênnhiên hay ở cuộc sống hằng ngày đều có thể được mang vào lời ca điệu hátdân ca Sán Dìu để bộc lộ tâm tình
Ví dụ : Hồn anh như đám mây trôi trên trời
Mỗi chất liệu so sánh và hình ảnh so sánh xuất hiện dưới một hình thứckhác nhau và tạo ra các giá trị tu từ khác nhau Kết quả khảo sát đã phần nàophản ánh được một phần tư duy cũng như cách nhận thức của người Sán Dìuthông qua dân ca của họ Giúp chúng ta bước đầu có cơ sở căn cứ để nghiêncứu về giá trị của so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu
2.2 Giá trị của so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu
2.2.1 Thể hiện màu sắc tộc người
Văn học là một thành tố quan trọng để biểu hiện nét văn hóa của mỗiquốc gia, dân tộc Văn học phản ánh lối tư duy, thói quen và tính cách củangười sáng tạo ra nó Dân ca Sán Dìu cũng không phải ngoại lệ Hình thứcvăn học dân gian này thể hiện một cách rõ nét màu sắc tộc người, đại diện chocon người Sán Dìu trong văn học
Trang 31Văn học dân gian của người Kinh là một nền văn học lớn trong nền vănhọc Việt Nam nói chung Trong đó, hình ảnh con người trong văn học củangười Kinh cũng sử dụng rất nhiều so sánh tu từ :
“Thân em như đóa hoa rơi
Phải chăng chàng thật là người yêu hoa”
“ Em là hà mã trên sông,
Chàng là báo gấm mong cùng gặp nhau”
Trong khi người Kinh sử dụng lối so sánh “A như B” thể hiện sự tương đồng thì người Sán Dìu lại sử dụng lối so sánh mang tính khẳng định “A là
B” – “Em là hà mã”, “chàng là báo gấm” Điều này một phần nào thể hiện
sự bộc trực trong suy nghĩ và lời nói của người Sán Dìu Người Kinh thíchnói sâu sắc, nói xong phải để người nghe lắng mình suy nghĩ thì người SánDìu luôn thẳng thắn bộc lộ ý nghĩ trong lòng mình cho người đối diện
“Hà mã” và “báo gấm” là những con vật to lớn và mạnh mẽ Việc ví
von chàng trai – với con báo gấm và cô gái – với con hà mã tạo cho ngườinghe ấn tượng mạnh Hà mã là con vật khá to lớn và xấu xí, chúng ta khôngthể bắt gặp bất kì hình ảnh so sánh người phụ nữ với một loài vật to lớn như
hà mã trong văn học của người Việt bởi theo quan niệm của người Việt, phụ
nữ là phải mỏng manh yếu ớt Chỉ trong dân ca Sán Dìu, ta mới bắt gặp đượcmột hình ảnh lạ và đầy tính tượng hình như vậy Hình ảnh cô gái – hà mã ởtrên sông gặp gỡ chàng trai – báo gấm ở rừng cũng là khoảng cách địa lí vàkhó khăn mà đôi trai gái phải trải qua để có thể gặp nhau
Trang 32Chỉ một hình ảnh so sánh khá đơn giản với cấu trúc “A là B” thôi nhưngngười đọc, người nghe cũng đã có thể nhận thức một phần nào về lối tư duyhình tượng của người Sán Dìu
Người Kinh có một câu ca dao rất phổ biến về tình cảm anh em tronggia đình :
“Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”.
Thì người Sán Dìu cũng có cách nói tương tự nhưng lại được bổ sungthêm màu sắc mới lạ hơn :
“Anh em như thể chân tay
Như gốc với rễ, như cây với cành”
Người Sán Dìu chủ yếu sống bằng nghề nông, thiên nhiên, cây cối đãgắn bó với họ như những người bạn thân thiết từ bao đời nay Nên trong sosánh tu từ của họ, cây cối cũng xuất hiện một cách rất tự nhiên và logic Gốckhông thể thiếu rễ, cây không thể thiếu cành, cũng giống như con ngườikhông thể thiếu tay chân để có thể làm việc một cách thuận tiện nhất Nếunhư câu trên người Kinh ví von anh em như thể tay chân, luôn đi cùng nhau
hỗ trợ cho nhau, câu dưới lại là sự dặn dò, răn dạy những người anh em phảiđùm bọc đỡ đần nhau trong cuộc sống thì người Sán Dìu lại cụ thể hóa mọithứ bằng hình ảnh Nói đến hình ảnh là người đọc, người nghe có thể nhậnthức rõ ràng ngay tính chất của sự việc mà tác giả cũng như người hát muốn
đề cập ở trên
Trong một chất liệu so sánh khác, lời ca Sán Dìu có câu :
“Con người có tên và có tuổi,
Đám cưới có đầu và có cuối”
Cấu trúc so sánh “A,B” sử dụng chất liệu so sánh là tên và tuổi của con
người để so sánh với “đầu – cuối” của đám cưới Hình ảnh so sánh này rất lạ
và độc đáo bởi theo cách so sánh thông thường, người ta thường so sánh sựvật, sự việc với con người để làm nổi lên hình ảnh con người, nhưng ở đây
Trang 33nổi lên hình ảnh “đám cưới” Lối tư duy ngược này cũng là một yếu tố rất
quan trọng để chứng minh giá trị về màu sắc tộc người mà so sánh tu từ trongdân ca Sán Dìu mang đến
Từ các ngữ liệu trên có thể thấy được các thành tố như hình ảnh so sánh,cấu trúc so sánh và lối tu duy cụ thể hóa, đơn giản hóa đã góp phần tạo nênmàu sắc tộc người cho dân ca Sán Dìu Bằng những hình ảnh và lối tư duyđặc sắc, người đọc, người nghe đã có những nhận thức, tư duy mới mẻ về dân
ca Sán Dìu Đó cũng là một trong những giá trị mà so sánh tu từ mang lại chodân ca Sán Dìu
2.2.2 Thể hiện tâm tư, tình cảm của con người Sán Dìu
Một trong những chức năng của văn học là thể hiện được cảm xúc, tâm
tư, tình cảm của con người Thông qua văn học, con người có thể bộc bạchmột cách nghệ thuật những điều mà lời nói bình thường khó có thể diễn đạtđược hết
Với chất liệu so sánh là các con vật, người Sán Dìu có những câu hátchứa đựng đầy tình cảm, tâm tư :
“Em như cá chép kim thôi
Anh đâu chân chính mong ngồi cùng em”
Hay:
“Có tình đến chơi với người tình
Ví như con bướm đậu hoa tiên”
Ở hình ảnh so sánh thứ nhất, chàng trai Sán Dìu ví cô gái với cá chép
kim thôi “Cá chép” cũng là một con vật khó thấy trong các so sánh tu từ của các nền văn học khác Tuy nhiên, “cá chép kim thôi” trong lời chàng trai lại
hiện lên đầy màu sắc, thể hiện tâm tư của chàng trai Nàng là người con gái
đẹp và quý giá đến mức hiếm có như “cá chép kim thôi” nên chàng trai tự ti,
không dám đến gần cô gái để bày tỏ nỗi niềm, đành thổ lộ nỗi niềm nhớthương mến mộ của mình qua lời ca câu hát
Hình ảnh đôi lứa đến chơi với nhau được so sánh cùng “con bướm đậuhoa tiên”, thể hiện tâm trạng vui tươi, phấn khởi của hai trái tim đang yêu
Trang 34được gặp nhau, được trao nhau lời ca câu hát, được tâm tình cùng nhau saubao ngày thương nhớ
Không chỉ có những phút giây vui tươi hạnh phúc, chàng trai Sán Dìucũng có lúc rơi vào phút tương tư, băn khoăn, lo lắng :
“Có tình đến chơi với người tình,
Không tình bên nhau như người ốm”
Tác giả dân gian đã rất khéo léo sử dụng hình ảnh con người để so sánhvới con người, nhằm diễn tả trạng thái của mình
Cũng diễn tả trạng thái “Tương tư”, Nguyễn Bính viết :
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một người chín nhớ mười mong một người
Gió mưa là bệnh của giời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”
Hình ảnh những người đang yêu và chưa thể gặp được nhau cũng giốngnhư trong người có bệnh, không có sức lực để làm việc khác, cả ngày cứquanh quẩn trong suy tư về người tình Hiểu theo một cách khác, việc đôi lứa
có tình cảm đến với nhau là sẽ thành đôi thành cặp, còn không có tình cảmvới nhau mà vẫn bên nhau cũng giống như người bị ốm, không có sức lực,không có sắc thái, cũng không có động lực để có thể vui sống với nhau Ở
đây, chàng trai so sánh việc “không tình bên nhau” như “người ốm” ngầm
nhắc nhở cô gái hãy tự tin đi theo tiếng gọi con tim của mình, nếu không được
mẹ cha ủng hộ mà muốn gả cho người khác thì cũng đừng vội chấp thuận, bởikhông có tình cảm thì ở bên nhau chỉ là khiên cưỡng, cố gắng tồn tại qua ngàynhư người bị ốm, cuộc sống sẽ chẳng còn ý nghĩa
Trong văn hóa của người Sán Dìu, trai gái có quyền tự do tìm hiểu, yêuđương nhưng hôn nhân phải do cha mẹ sắp đặt và quyết định, vậy nên nhữngchàng trai có câu hát ví von như vậy cũng là sự nhắc nhở cho cô gái hãy vượt
qua rào cản của hủ tục “cha mẹ đặt đâu, còn ngồi đấy” xưa nay để tự mình
tìm lấy hạnh phúc chân chính với người mình yêuSự so sánh nỗi tương tư như
Trang 35đó cũng chính là sự biểu cảm mà so sánh tu từ đã mang đến cho bài dân caSán Dìu.
So sánh tu từ không chỉ để các chàng trai thể hiện nỗi niềm, tình cảm củamình mà các cô gái Sán Dìu cũng có những câu hát :
“Em không dám sánh như rừng núi,
Tình thì chưa có, đang chờ anh”
Chất liệu so sánh là thiên nhiên mà cụ thể ở đây là rừng núi lại xuát hiện,nhưng lần này, cô gái sử dụng cấu trúc so sánh “A không bằng/ kém…
B” thể hiện sự e ấp, rụt rè của người con gái đang yêu Kiểu so sánh mà như
không so sánh này giúp cho người đọc, người nghe hình dung và đồng cảmđược với tâm trạng của cô gái, chỉ mong mình là thứ nhỏ bé, chờ chàng traiđến che chở cho mình
Với những cứ liệu trên, ta đã có thể phần nào thấy được những giá trịbiểu cảm mà so sánh tu từ mang lại trong dân ca Sán Dìu So sánh tu từ giúpcho tác giả trút bỏ nỗi niềm, tâm tư, tình cảm và cũng giúp cho người đọc từ
đó mà thêm hiểu, thêm đồng cảm với những tình cảm, cảm xúc của tác giảthông qua bài dân ca
2.2.3 Thể hiện cách nhìn nhận mang tính thẩm mỹ
Một giá trị quan trọng không thể không kể đến mà so sánh tu từ mang lạicho văn học chính là tính thẩm mỹ Tính thẩm mỹ là biểu hiện dễ nhận thấytrong những phép so sánh tu từ Cũng giống như so sánh tu từ trong dân caViệt, trong dân ca Sán Dìu, nhờ có so sánh tu từ mà các hình ảnh, chất liệu trởnên đẹp và mới mẻ hơn so với tầng nghĩa ban đầu của nó
Hình ảnh so sánh trong câu:
“Ai như tê giác nhìn trăng đêm rằm”
Khiến cho ta thấy con vật vốn xù xì xấu xí là tê giác trở nên đẹp và thi vịhơn Chỉ là tê giác không thì ta chưa thể thấy được nét đẹp trong câu hát dân
ca Nhưng sự so sánh trong bối cảnh “nhìn trăng đêm rằm” lại cho người đọchình dung về cả một khung cảnh rộng lớn Tê giác vốn là loài vật mạnh mẽnhưng rất hiền lành, và có đặc tính sống đơn độc, việc chàng trai tụ ví von
Trang 36mình với con tê giác còn phần nào thể hiện sự cô đơn của mình, và ngầm bày
tỏ mong muốn có được người bạn đời cùng đồng hành trong suốt những nămtháng dài rộng về sau Con tê giác tuy xấu xí nhưng chân chất, thật thà đứnggiữa khung cảnh “nhìn trăng đêm rằm” lại phảng phất chút dư vị lãng mạntrong lòng kẻ si tình
Một hình ảnh, một chất liệu nhiều nhất xuất hiện trong các bài dân caSán Dìu khảo sát được – “hoa” Chỉ một hình ảnh hoa, trong con mắt ngườidân tộc Sán Dìu, nó đã biến mọi thứ xung quanh trở nên đẹp hơn rất nhiều “
“Ngận chiếu tả tơi như hoa nở”
“Ở giữa lập ra như hoa nở”
“Hai đầu lập lại như nón hoa”
“Hai đầu tỏa ra như hoa nở
Ở giữa chụm vào là người hái chè”
Thông qua khảo sát có thể thấy rằng, người hát Soọng cô rất ưa chuộng
hình ảnh “hoa”, hình ảnh hoa được đưa vào so sánh tu từ đã cho người đọc,
người nghe biết thêm một tính cách rất đặc biệt của những đôi trai gái hátSọng cô người dân tộc Sán Dìu, đó là sự lạc quan Chỉ với một chiếc chiếutrải giữa nhà để trai gái ngồi hát ca, trò chuyện mà trong mắt những chàngtrai, cô gái ấy, cái ngận chiếu (góc chiếu), ở giữa chiếu hay hai đầu chiếu dù
bị rách “tả tơi” nhưng trông vẫn như những bông hoa nở Chỉ cần họ đượcgặp nhau, được tâm tình trao duyên, chỉ cần được cất lên lời ca tiếng hát là tất
cả những khó khăn trong cuộc sống đều trở thành những thứ tươi đẹp nhưhoa, họ có thể gặp, có thể đối diện và vượt qua khó khăn một cách lạc quan và
dễ dàng
Trong cả bốn hình ảnh so sánh này, các chàng trai cô gái Sán Dìu đều sử
dụng cấu trúc so sánh “A như B” thể hiện sự tương đối Cấu trúc so sánh “A
như B” là cấu trúc so sánh rất phổ biến không chỉ trong dân ca Soọng cô của
người Sán Dìu mà còn rất phổ biến trong các nền văn học khác, cấu trúc sosánh này thể hiện sự giản đơn, đơn thuần giống như con mắt của những chàng
Trang 37sáng trong Mọi việc diễn ra một cách tự nhiên, không cần màu mè mà vẫntạo ra sự thú vị trong cuộc sống.
Cũng vẫn là hình ảnh hoa nhưng với cấu trúc “A tựa B”, hình ảnh hoa lại
mang cho người đọc một cảm nhận mang tính thẩm mỹ mới lạ hơn :
“Làm nhà đẹp tựa hàm rồng hoa”
Đến cả việc làm nhà, với so sánh tu từ cũng trở thành một cảnh đẹp hiếmthấy “Hàm rồng” đã đẹp và quý, nhưng “hàm rồng hoa” lại càng cho người tathấy được nét đẹp và độc đáo hơn
Nếu như thơ khuyết danh của người Việt có sự so sánh :
“Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”
“Tranh” đã trở thành một vẻ đẹp thẩm mỹ mang tính chuẩn mực, đếnmức có cả thành ngữ “đẹp như tranh”, thì dân ca Sán Dìu cũng có hình ảnhđẹp như tranh :
“Núi sáng rừng xanh đẹp như tranh”
Bức tranh ở đây không còn là bức tranh của con người tạo nên nữa mà làbức tranh về thiên nhiên hùng vĩ, có núi, có rừng, có màu sắc, có trạng thái.Tất cả đã tạo nên một tổng thể mang tính thẩm mỹ cao mà cũng rất tinh tế Hát dân ca Sán Dìu tuy là hình thức đối đáp cần sự nhanh nhẹn nhưngkhông phải vì thế mà thiếu đi những nét nghệ thuật cần có trong một loạihình văn học dân gian Những chất liệu so sánh cùng các cấu trúc, hình ảnh
so sánh đã được người Sán Dìu kết hợp tạo thành những câu hát mang đầytính thẩm mỹ
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Trong chương 2, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tần suất xuất hiện của
so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu và chất liệu so sánh trong dân ca Sán Dìu
và đã thu được một vài nhận xét như sau:
Tần suất xuất hiện của so sánh tu từ trong dân ca Sán Dìu không nhiều.Tuy nhiên các phép so sánh đầy hình ảnh và mang những nét đặc sắc chứađựng tính nghệ thuật cao
Chất liệu so sánh trong dân ca Sán Dìu được sử dụng linh hoạt, kết hợpcùng các cấu trúc so sánh, tạo nên những hình ảnh so sánh mới lạ, độc đáo.Chính vì thế, so sánh tu từ đã làm tăng tính hiệu quả cho việc biểu đạtcủa chủ nhân tiếng Sán Dìu So sánh tu từ đã khẳng định được màu sắc tộcngười của người Sán Dìu, thể hiện tâm tư, tình cảm của người Sán Dìu cũngnhư đạt được tính thẩm mỹ nghệ thuật trong các bài dân ca
Trang 39CHƯƠNG 3: ẨN DỤ TU TỪ TRONG DÂN CA SÁN DÌU
3.1 Kết quả khảo sát
Căn cứ vào cơ sở lí luận đã trình bày về đặc điểm của ẩn dụ tu từ ởchương 1, chúng tôi tiến hành khảo sát 310 bài dân ca Sán Dìu, kết quả thuđược như sau:
Tích truyện 1 1,9 Ngưu Lang, Chức Nữ
Sự vật, sự việc 24 45,3 Ruộng, vườn, …
Nhìn vảo bảng 3.1, chúng tôi nhận thấy hình ảnh ẩn dụ về sự vật, sự việc
là cao nhất chiếm 45,3% cho thấy lối tư duy của người Sán Dìu đơn giản,hình ảnh ẩn dụ về con người xuất hiện ít nhất chỉ với 1 lần xuất hiện chiếm1,9% tổng số hình ảnh khảo sát được Hình ảnh ẩn dụ về động vật và thực vậtlần lượt chiếm 9,4% và 43,4% Các số liệu không đều và có sự chênh lệch kháđáng kể thể hiện lỗi tư duy, cách nhìn nhận về các sự vật, sự việc trong cuộcsống của người Sán Dìu cũng phong phú và có sự khác nhau Cụ thể như sau:a/ Về động vật: Theo kết quả khảo sát hình ảnh động vật được sử dụng trongdân ca Sán Dìu có giá trị biểu trưng là những hình ảnh vừa quen thuộc cũngvừa khá lạ lẫm so với những hình ảnh động vật được nói ẩn dụ trong vănchương người Việt Đó là:
- Uyên ương: là loài động vật sống phổ biến ở vùng Đông Á Loài độngvật này thường sống theo bầy đàn và không bao giờ bỏ rơi gia đình Trongquan niệm của người Sán Dìu, uyên ương còn để chỉ hình ảnh đôi lứa
Ví dụ : Ước làm bạn uyên ương
Trang 40Ba mươi sáu núi con đường đi qua
- Vịt trời: Là một loài vịt sống thành những đàn lớn, có thể bơi lội và baycao Trong quan niệm của người Sán Dìu, vịt trời còn để biểu trưng chonhững con người dám thay đổi, dám khác biệt
“Núi cao phủ lớp sương mù
Vịt trời vỗ cánh dưới hồ bay lên
Nước ngâm dây gió càng bền
Thấy chàng chân chính em liền tìm anh”
- Bướm và ong:là loài côn trùng có cánh, đều có chung đặc điểm là thíchhút mật hoa từ cây này sang cây khác Trong quan niệm của người Sán Dìu,bướm ong còn để chỉ sự không chung tình trong tình yêu
Ví dụ: Con đừng lêu lổng trăng hoa
Bướm ong trai gái ất là bất nhân
- Tê giác là loài động vật to lớn, hiền lành với bản tính độc lập nhưnghay sống đơn độc trong quan niệm của người Sán Dìu, tê giác là hình ảnhbiểu trưng cho chàng trai chung thủy chờ đợi cô gái của mình
Ví dụ : “Bước ra đưa mắt nhìn sang
Ai như tê giác nhìn trăng đêm rằm Quế trăng rụng lá một năm
Động đình tê giác vẫn nằm đó đây”
- Cá : là loài động vật sống dưới nước, gắn bó với cuộc sống sinh hoạt vàsản xuất của con người Trong dân ca Sán Dìu, hình ảnh con cá còn là biểutrưng cho cô gái yếu đuối cần được che chở
Ví dụ : “Rào quanh không để ai vào
Chờ ngày hoa nở trước sau ngại gì
Bờ ao hãy đắp cao đi
Đừng để nước cạn cá kia phơi mình”
b/ Về thực vật:
- Hoa : là một bộ phận của cây hay còn gọi là một dạng cành đặc biệt có