Vì vậy, với những nhận thức mới mẻ về ẩn dụ tri nhận, chúng tôi chọn “Ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” làm đề tài nghiên cứu của luận văn.. Mục đích và nhiệm vụ nghiên c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Từ Thị Mỹ Hạnh
ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
NƯỚC NGOÀI
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2Từ Thị Mỹ Hạnh
ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ một công trình nào khác
Người thực hiện
Từ Thị Mỹ Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Hai - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
đề tài này cho đến khi hoàn tất luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô giảng dạy chuyên ngành Ngôn ngữ học, những người đã quan tâm, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian theo học lớp Ngôn ngữ học khóa 24
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Sau đại học, Thư viện, cùng các phòng ban khác của trường Đại học Sư phạm TPHCM, những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã ủng hộ tôi rất nhiều khi tôi thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Từ Thị Mỹ Hạnh
Trang 52 Chuyện của Điệp Ngọn đèn không tắt NĐKT-CCĐ
3 Lý con sáo sang sông Ngọn đèn không tắt NĐKT-LCSSS
4 Nỗi buồn rất lạ Ngọn đèn không tắt NĐKT-NBRL
5 Ngọn đèn không tắt Ngọn đèn không tắt NĐKT-NĐKT
6 Ngổn ngang Ngọn đèn không tắt NĐKT-NN
7 Bởi yêu thương Giao thừa GT-BYT
8 Chuyện vui điện ảnh Giao thừa GT-CVĐA
9 Đời như ý Giao thừa GT-ĐNY
10 Giao thừa Giao thừa GT-GT
11 Làm má đâu có dễ Giao thừa GT-LMĐCD
12 Làm mẹ Giao thừa GT-LM
13 Lương Giao thừa GT-L
14 Một dòng xuôi mải miết Giao thừa GT-MDXMM
15 Một mối tình Giao thừa GT-MMT
16 Ngày đã qua Giao thừa GT-NĐQ
17 Ngày đùa Giao thừa GT-NĐ
Trang 624 Cải ơi ! Cánh đồng bất tận CĐBT-CO
25 Thương quá rau răm Cánh đồng bất tận CĐBT-TQRR
26 Hiu hiu gió bấc Cánh đồng bất tận CĐBT-HHGB
27 Huệ lấy chồng Cánh đồng bất tận CĐBT-HLC
28 Cái nhìn khắc khoải Cánh đồng bất tận CĐBT-CNKK
29 Nhà cổ Cánh đồng bất tận CĐBT-NC
30 Mối tình năm cũ Cánh đồng bất tận CĐBT-MTNC
31 Cuối mùa nhan sắc Cánh đồng bất tận CĐBT-CMNS
32 Biển người mênh mông Cánh đồng bất tận CĐBT-BNMM
Trang 748 Cảm giác trên dây Khói trời lộng lẫy KTLL-CGTD
49 Có con thuyền đã buông bờ Khói trời lộng lẫy KTLL-CCTĐBB
50 Hiểu lầm nhỏ về gia tài của
cô gái nhỏ
Khói trời lộng lẫy
KTLL-HLNVGTCCGN
Trang 853 Nước như nước mắt Khói trời lộng lẫy KTLL-NNNM
54 Osho và bồ Khói trời lộng lẫy KTLL-OVS
55 Rượu trắng Khói trời lộng lẫy KTLL-RT
56 Tình lơ Khói trời lộng lẫy KTLL-TL
57 Thềm nắng sau lưng Khói trời lộng lẫy KTLL-TNSL
58 Áo đỏ bắt đèn Đảo Đ-AĐBĐ
59 Bâng quơ khói nắng Đảo Đ-BQKN
60 Biến mất ở thư viện Đảo Đ-BMOTV
61 Coi tay vào sáng mưa Đảo Đ-CTVSM
62 Củi mục trôi về Đảo Đ-CMTV
63 Chụp ảnh gia đình Đảo Đ-CAGĐ
64 Đánh mất cô dâu Đảo Đ-ĐMCD
67 Đường về Xẻo Đắng Đảo Đ-ĐVXĐ
Trang 10Lời cảm ơn
Quy ước trình bày
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận 8
1.1.1 Ẩn dụ theo quan niệm truyền thống 8
1.1.2 Ẩn dụ tri nhận 10
1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 15
1.2.1 Bức tranh ngôn ngữ về thế giới 15
1.2.2 Bức tranh ngôn ngữ của người Việt 18
1.3 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư và ẩn dụ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 20
1.3.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư 20
1.3.2 Ẩn dụ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 20
Chương 2 ẨN DỤ CUỘC ĐỜI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ 22
2.1 Đặc điểm ẩn dụ CUỘC ĐỜI trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 22
2.1.1 ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH 23
2.1.2 ĐỜI NGƯỜI LÀ DÒNG SÔNG 32
2.1.3 ĐỜI NGƯỜI LÀ CÂY CỐI 42
2.1.4 ĐỜI NGƯỜI LÀ MỘT VỞ DIỄN hay CÂU CHUYỆN 45
2.2 Cơ sở ý niệm hóa ẩn dụ CUỘC ĐỜI trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 50
Trang 11Chương 3 ẨN DỤ TÌNH YÊU TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC
TƯ 56
3.1 Đặc điểm ẩn dụ TÌNH YÊU trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 56
3.1.1 TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH 57
3.1.2 TÌNH YÊU LÀ DÒNG SÔNG 64
3.1.3 TÌNH YÊU LÀ CUỘC CHIẾN 72
3.1.4 TÌNH YÊU LÀ NGỌN LỬA 76
3.1.5 TÌNH YÊU LÀ NGỌN GIÓ 78
3.2 Cơ sở ý niệm hóa ẩn dụ TÌNH YÊU trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 85
3.2.1 Văn hóa miền sông nước 85
3.2.2 Kinh nghiệm cá nhân 88
KẾT LUẬN ……….92
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 94
CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 101 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 12Bảng 2.1 Bảng tần suất và tỉ lệ phân bố ẩn dụ tri nhận ĐỜI NGƯỜI trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 23 Bảng 3.1 Bảng tần suất và tỉ lệ phân bố ẩn dụ tri nhận TÌNH YÊU trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư 58
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong ba thập niên gần đây, sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận đã mở ra cho ngôn ngữ học nhiều hướng nghiên cứu mới Ẩn dụ tri nhận là một bộ phận quan trọng của lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận Có thể coi ẩn dụ tri nhận là con đường ý niệm hóa về sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan thông qua các từ, ngữ gắn liền với văn hóa dân tộc Đây còn là phương tiện của tư duy để con người nhận thức thế giới, miêu tả thế giới cải tạo thế giới và sáng tạo tinh thần Như vậy, ngôn ngữ không chỉ là công cụ của
tư duy, giao tiếp mà nó còn là công cụ tạo ra các sản phẩm tinh thần của con người, mang những nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc
Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn chuyên viết về Nam Bộ Chị xuất hiện như một
“hiện tượng” trên văn đàn văn học hiện đại Việt Nam Nguyễn Ngọc Tư đã chứng minh tài năng bằng những sản phẩm văn học có giá trị và đạt được nhiều giải thưởng Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhà văn trẻ này Song hầu hết các nghiên cứu tập trung nhiều vào mảng nghiên cứu văn học hay chỉ điểm qua đặc điểm về ngôn ngữ, chưa có đề tài nào thực sự đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu ẩn dụ tri nhận trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Vì vậy, với những nhận thức
mới mẻ về ẩn dụ tri nhận, chúng tôi chọn “Ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư” làm đề tài nghiên cứu của luận văn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn thực hiện các mục đích và nhiệm vụ sau:
- Khảo sát và xác định những biểu thức mang tính ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư;
- Mô tả đặc điểm của những ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI, TÌNH YÊU và những ẩn dụ hệ thống của chúng;
- Lý giải sự hình thành trên các cơ sở văn hóa, tư duy
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 143.1 Phạm vi nghiên cứu
Nguyễn Ngọc Tư có sự nghiệp văn học không nhỏ với đủ các thể loại: tiểu thuyết, truyện dài, tản văn, truyện ngắn, thơ… nhưng trong đó đáng chú ý nhất ở thể loại truyện ngắn Đây là thể loại đã đưa Nguyễn Ngọc Tư đến gần với đọc giả và cũng là thể loại khẳng định được tên tuổi của chị trên văn đàn văn học Việt Nam hiện đại Trong phạm vi đề tài, chúng tôi khảo sát thể loại truyện ngắn, trong đó chủ yếu ở các tập truyện đã được xuất bản:
- Ngọn đèn không tắt, 2000, Nxb Trẻ, TP HCM;
- Giao thừa, 2003, Nxb Trẻ, TP HCM;
- Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, 2005, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP HCM;
- Cánh đồng bất tận, 2005, Nxb Trẻ, TP HCM;
- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác, 2008, Nxb Trẻ, TP HCM;
- Khói trời lộng lẫy, 2010, Nxb Trẻ, TP HCM;
- Đảo, 2014, Nxb Trẻ, TP HCM
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Sau khi khảo sát, chúng tôi nhận thấy, ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI và TÌNH YÊU có số lượng nhiều nhất Tuy hai loại ẩn dụ này có mặt trong nhiều nền văn hóa nhưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư có những đặc điểm riêng đáng chú ý Chúng tôi sẽ tiến hành đi sâu nghiên cứu hai ẩn dụ này để làm rõ đặc điểm và cơ sở hình thành của chúng
4 Lịch sử vấn đề
Khác với ngôn ngữ học truyền thống, ngôn ngữ học tri nhận mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới mẻ, trong đó có việc nghiên cứu ẩn dụ dưới góc nhìn tri nhận cũng đã mang lại những đột phá trong ngôn ngữ học
George Lakoff và Mark Johnson trong quyển Metaphors we live by [68] đã đưa
ra lý thuyết ẩn dụ ý niệm theo phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận
Trang 15Theo tác giả, ẩn dụ được xem là công cụ tạo nghĩa cho những phạm vi khái niệm mới gần với trải nghiệm sống trực tiếp của con người
Ở Việt Nam, ngôn ngữ học tri nhận là lĩnh vực tương đối mới mẻ Năm 2002,
Nguyễn Đức Tồn [49], đã đề cập đến ngôn ngữ học tri nhận một cách gián tiếp qua thuật ngữ “tri giác” Đến năm 2007, trong bài viết bàn về Bản chất ẩn dụ và ẩn dụ tri
nhận tác giả đưa ra khái niệm về ẩn dụ tri nhận Năm 2005, tác giả Lý Toàn Thắng
[41] đưa ra công trình Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng
Việt Trong công trình này, tác giả chủ yếu khai thác khía cạnh tri nhận không gian mà
chưa chú trọng đến vấn đề ẩn dụ tri nhận Chuyên luận tiếp theo về ngôn ngữ học tri nhận của Trần Văn Cơ [14] đã dành từ trang 292 đến trang 326 để bàn về ẩn dụ tri nhận Sau đó cũng chính tác giả Trần Văn Cơ đã dành hẳn một chuyên khảo để nghiên
cứu về vấn đề này với nhan đề: Khảo luận ẩn dụ tri nhận Tác giả cũng chỉ bàn về sự
ra đời của ẩn dụ, bản chất ẩn dụ và sự phân lọai các kiểu loại ẩn dụ tri nhận (gồm: ẩn
dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng và ẩn dụ kênh liên lạc)
Một số đề tài khoá luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng quan tâm tìm hiểu về ẩn dụ tri nhận trong thơ ca nói chung, trong các tác phẩm của một
nhà thơ nói riêng Đó là: Luận án tiến sĩ So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình Việt
Nam của tác giả Hoàng Thị Kim Ngọc; Luận án tiến sĩ Ẩn dụ tiếng Việt nhìn từ lý thuyết nguyễn mẫu của tác giả Võ Kim Hà, Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong ca dao của tác giả Bùi Thị Dung, Luận văn thạc sĩ Nghiên cứu ẩn dụ với các nhóm từ liên quan đến ngôi nhà theo lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận (có đối chiếu so sánh hai ngôn
ngữ Anh – Việt) của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn, Đại học khoa học xã hội và nhân
văn Hà Nội; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận, mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ
của Trịnh Công Sơn của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Đại học khoa học xã hội và
nhân văn T.P Hồ Chí Minh; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ Tố Hữu của Phạm Minh Châu, Đại Học Hải Phòng; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ
Nguyễn Duy của Nguyễn Thị Yến, Đại học Sư phạm Thái Nguyên; Luận văn thạc sĩ
Ẩn dụ tri nhận trong thơ Xuân Diệu của Nguyễn Thị Thùy, Đại học khoa học xã hội và
nhân văn Hà Nội; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ Chế Lan Viên của Phạm
Trang 16Thị Thu Thùy, Đại học Hải Phòng; Luận văn thạc sĩ Ẩn dụ tri nhận trong thơ Lưu
Quang Vũ của Phạm Thị Hoài, Đại học Hải Phòng,…
Công trình nghiên cứu về Nguyễn Ngọc Tư cũng có không ít, tuy nhiên chủ yếu
tập trung ở khía cạnh văn học và lý luận Trong đó, điển hình như bài viết Nguyễn
Ngọc Tư, đặc sản miền Nam của GS Trần Hữu Dũng, ông đã xem xét đánh giá các tác
phẩm Nguyễn Ngọc Tư ở cả hai mặt nội dung và nghê thuật, đặc biệt đánh giá cao khả năng sử dụng ngôn ngữ Nam Bộ một cách tinh tế Huỳnh Công Tín trong bài viết
Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn trẻ Nam Bộ cũng dành không ít lời khen ngợi tác giả
này; hay một số bài viết của một số tác giả khác như Không gian sông nước trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Thụy Khuê; Thị hiếu thẩm mỹ trong tuyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Trần Phỏng Diều; Luận văn thạc sĩ Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Nguyễn Thành Ngọc Bảo, Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí minh; Kiểu nhân vật cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Phạm Thị Thúy, Nghệ
các công trình này khai thác khía cạnh văn học đưa ra những đặc điểm về văn học hoặc ngôn ngữ theo quan niệm truyền thống
Tiếp thu hướng nghiên cứu mới của ngôn ngữ học tri nhận và kế thừa thành tựu
của những người đi trước, chúng tôi hy vọng với đề tài “Ẩn dụ tri nhận trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư” sẽ mang lại những ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nhất
định
5 Nguồn ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn ngữ liệu
Để khảo sát đề tài, chúng tôi sử dụng trực tiếp những truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư trong 7 tập truyện ngắn với 74 truyện ngắn sau:
Tập truyện Đảo gồm 17 tác phẩm: Áo đỏ bắt đèn, Bâng quơ khói nắng, Biến
mất ở thư viện, Coi tay vào sáng mưa, Củi mục trôi về, Chụp ảnh gia đình, Đánh mất
cô dâu, Đảo, Đi bụi, Đường về Xẻo Đắng, Lưu Lạc, Mùa mặt rụng, Mưa qua trảng gió, Sổ lồng, Tro tàn rực rỡ, Vị của lời câm, Xác bụi
Trang 17Tập truyện Cánh đồng bất tận gồm 13 tác phẩm: Biển người mênh mông, Cải
ơi, Cánh đồng bất tận, Cuối mùa nhan sắc, Dòng nhớ, Duyên phận so le, Hiu hiu gió bấc, Huệ lấy chồng, Mối tình năm cũ, Một trái tim khô, Nhà cổ, Nhớ sông, Thương quá rau răm
Tập truyện Giao thừa gồm 12 tác phẩm: Bởi yêu thương, Cái nhìn khắc khoải,
Chuyện vui điện ảnh, Đời như ý, Giao thừa, Làm má đâu có dễ, Làm mẹ, Một dòng xuôi mải miết, Một mối tình, Ngày đã qua, Ngày đùa, Người năm cũ
Tập truyện Gió lẻ gồm 10 tác phẩm: Ấu thơ tươi đẹp, Của ngày đã mất, Chuồn
chuồn đạp nước, Gió lẻ, Một chuyện hẹn hò, Núi lở, Sầu trên đỉnh Puvan, Tình thầm, Thổ Sầu, Vết chim trời
Tập truyện Khói trời lộng lẫy gồm 10 tác phẩm: Cảm giác trên dây, Có con
thuyền đã buông bờ, Hiểu lầm nhỏ về gia tài của cô gái nhỏ, Khói trời lộng lẫy, Mộ gió, Nước như nước mắt, Osho và bồ, Rượu trắng, Tình lơ, Thềm nắng sau lưng
Tập truyện Ngọn đèn không tắt gồm 6 tác phẩm: Cỏ xanh, Chuyện của Điệp,
Lý con sáo sang sông, Nỗi buồn rất lạ, Ngọn đèn không tắt, Ngổn ngang
Tập truyện Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư gồm 6 tác phẩm: Bến đò xóm Miễu,
Chiều vắng, Đau gì như thể, Lỡ mùa, Nửa mùa, Nước chảy mây trôi
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành làm luận văn chúng tôi sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
1)Phương pháp phân tích mô hình ẩn dụ:
Có nhiều phương pháp nhận dạng ẩn dụ trong thời gian gần đây Tuy nhiên, dưới dây chúng tôi giới thiệu phương pháp nhận dạng ẩn dụ (MID) của nhóm Pragglejaz [73] là công cụ nhận dạng ẩn dụ tương đối đơn giản nhưng hiệu quả
Bước 1: Đọc toàn bộ văn bản để hiểu khái quát ý nghĩa
Bước 2: Xác định các đơn vị từ vựng
Trang 18Bước 3: a) Tìm nghĩa ngữ cảnh của mỗi đơn vị từ vựng, tức là sự kết hợp giữa đơn vị từ vựng đó với một khách thể, một mối quan hệ hay một tình huống gợi lên từ văn bản
b) Tìm nghĩa cơ bản của mỗi đơn vị từ vựng Các nghĩa cơ bản này có khuynh hướng: cụ thể hơn, liên hệ đến hoạt động cơ thể, rõ ràng hơn, được biết đến trước khi xét
c) Nếu đơn vị từ vựng có một nghĩa phổ biến cơ bản hơn trong những ngữ cảnh hác hơn, phải xác định xem có thể hiểu ngữ cảnh khi so sánh với nghĩa cơ bản không Nếu có thể hiểu, thì đơn vị từ vựng đó là ẩn dụ
2) Phân loại – hệ thống hóa: Sau khi xác định được những ngữ liệu mang tính ẩn
dụ, chúng tôi sẽ tiến hành phân loại và hệ thống hóa chúng để thuận lợi cho việc phân tích sau đó
3) Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả các đặc trưng về ngữ nghĩa của
các biểu thức ngôn ngữ chứa ẩn dụ Ngoài ra, ở một số nội dung, chúng tôi có so sánh với ngữ liệu tiếng Anh, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức làm rõ những nét đặc thù của tiếng Việt
4) Phương pháp phân tích gồm những thủ pháp sau:
- Thủ pháp phân tích – tổng hợp: để có được một nhận xét có tính tổng hợp, chúng tôi phải tiến hành phân tích từng yếu tố ngôn ngữ để xác minh vấn đề
- Ngoài ra, thủ pháp phân tích văn cảnh (văn cảnh hẹp) cũng được dùng để tìm
những kết hợp tối thiểu, nhằm xác định ý nghĩa của từ hạt nhân
5) Phương pháp thống kê ngôn ngữ học
Chúng tôi xử lý các ngữ liệu thu thập được bằng phần mềm MS Excel, với các hàm thống kê (đếm, tính tổng, phần trăm), thao tác lọc, gắn nhãn, chuyển mã Từ đó đưa ra những kết quả liên quan tới tần số, độ phân bố v.v…
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Trang 19-Về mặt khoa học: luận văn góp phần xác định ẩn dụ tri nhận trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư, giúp người đọc có cái nhìn mới mẻ trong việc tiếp nhận văn học
- Về mặt thực tiễn: Luận văn không chỉ góp vào thực tiễn tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư mà còn thúc đẩy việc tìm hiểu các tác phẩm văn học theo hướng tiếp cận tri nhận mà cụ thể là việc tìm hiểu ẩn dụ tri nhận trong các tác phẩm văn học
7 Bố cục luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 Khái quát về ẩn dụ tri nhận
Chương 2 Ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3 Ẩn dụ TÌNH YÊU trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Chương 3: Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi cũng sẽ đưa ra số liệu, ngữ liệu
về ẩn dụ TÌNH YÊU Sau đó, chúng tôi tiến hành phân tích làm rõ ẩn dụ và cơ sở hình thành ẩn dụ TÌNH YÊU
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
trong chương XXI, tác phẩm Poetics [80] Theo Aristotle, ẩn dụ là phương thức
chuyển đổi tên gọi Từ những khái niệm cơ bản được Aristotle khai sáng đã có rất nhiều công trình kế tục và đạt được những thành tựu đáng kể Có thể nói, đây là phương thức chuyển nghĩa quan trọng nhất tạo nên hiện tượng biến đổi ý nghĩa của từ
Đó là phép sử dụng từ ngữ dựa trên cơ sở tương đồng giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói Nói cách khác, ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng
Có nhiều quan niệm và cách phân loại khác nhau về ẩn dụ
- Cù Đình Tú nhận định ẩn dụ là “cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu
thị đối tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng” [53, tr.279]
- Đỗ Hữu Châu cũng đưa ra nhận định: “Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật
này bằng tên một sự vật khác, giữa chúng có mối quan hệ tương đồng.” [3,
tr.54]
- Theo Đinh Trọng Lạc, ẩn dụ là “sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình
tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A” [32, tr 52]
- Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng: “Ẩn dụ là sự chuyển đổi tên gọi dựa
vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau”
[19, tr.162]
Trang 21Mặc dù những nhận định không giống nhau hoàn toàn nhưng hầu hết các nhận định đều có chung những đặc điểm sau: quan tâm đến sự giống nhau nào đó của sự vật hiện tượng; ẩn dụ từ vựng tạo ra nghĩa mới của từ và nghĩa này có liên hệ với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển trước đó, là một nghĩa của từ đa nghĩa; ẩn dụ tu từ ra các nghĩa lâm thời gắn với hoàn cảnh sử dụng cụ thể nhằm diễn đạt được hiệu quả tu từ Các đặc điểm này được sử dụng nhiều trong việc nghiên cứu hệ thống ẩn dụ trong thi ca Nó được xem là một công cụ trong phong cách học
1.1.1.2 Phân loại
Trong lý thuyết ngôn ngữ học truyền thống có nhiều cách phân loại ẩn dụ Những cơ sở khác nhau sẽ có các kiểu, loại ẩn dụ khác nhau
- Tác giả Cù Đình Tú [53] dựa trên cơ sở tương đồng phân loại ẩn dụ tiếng Việt
ra làm năm loại: tương đồng về màu sắc, tương đồng về tính chất, tương đồng
về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu
- Theo Đỗ Hữu Châu Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt [4, tr.134, 135] có sự
phân loại như sau: Ẩn dụ hình thức, ẩn dụ vị trí, ẩn dụ cách thức, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ kết quả
- Theo Đinh Trọng Lạc [32] căn cứ vào từ loại và chức năng định danh của từ
ẩn dụ, chia làm ba loại: ẩn dụ định danh, ẩn dụ nhận thức và ẩn dụ hình tượng
- Theo Nguyễn Thiện Giáp – Từ vựng học tiếng Việt [19, tr.163, 164]: Ẩn dụ có
sự giống nhau về hình thức, ẩn dụ có sự giống nhau về chức năng, ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng, chuyển tên các con vật thành con người, chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác
Sự phân loại trên, khi dựa vào chức năng, đều chia thành ẩn dụ từ vựng và ẩn
dụ tu từ Ẩn dụ từ vựng là phương thức phát triển nghĩa mới của từ, trong đó nghĩa mới tạo thành là một ý nghĩa từ vựng ổn định chứ không lâm thời Nhìn chung ẩn dụ
từ vựng là sự chuyển nghĩa mang tính chất xã hội, ổn định và cố định Bên cạnh ẩn dụ
từ vựng là ẩn dụ tu từ cũng được sử dụng phổ biến và rộng rãi Ẩn dụ tu từ có tính chất lâm thời làm tăng giá trị nghệ thuật trong các văn bản nghệ thuật
Trang 221.1.2 Ẩn dụ tri nhận
1.1.2.1 Khái lược về ẩn dụ tri nhận
Trước Lakoff và Johnson, Black đã nhận ra phép ẩn dụ không chỉ là một cách diễn đạt ý tưởng bằng phương tiện lời nói, mà là một cách tư duy về mọi vấn đề [56, tr.37] Thuyết tương tác của ông đã mở rộng giải thích về ẩn dụ Black cho rằng một
ẩn dụ được tạo thành từ việc chúng ta “lựa chọn, nhấn mạnh, loại trừ, và tổ chức các
đặc điểm của chủ thể chính bằng những câu ám chỉ về nó mà chúng ta thường áp dụng cho các chủ thể phụ” [56, tr.44-45] Quan niệm của Black đã đưa ẩn dụ từ cấp độ từ
ngữ lên cấp độ tư duy, phép ẩn dụ giữ nhiệm vụ như một phương tiện tri nhận
Lakoff và Johnson với cuốn Metaphors We live by đã đưa ra một hướng nghiên cứu mới về ẩn dụ Hai ông quan niệm: “Ẩn dụ xuyên suốt đời sống của chúng ta và
không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ mà còn cả tư duy và hành động Hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta, mà thông qua đó, chúng ta tư duy và hành động, về thực chất mang tính chất ẩn dụ…” [68, tr.8] Hai tác giả này cho rằng ẩn dụ là một hoạt
động thường xuyên của tư duy và ẩn dụ xuất hiện hằng ngày của chúng ta Chẳng hạn, Lakoff và Johnson [68] tả mối quan hệ giữa hai người yêu nhau như sau: “Mối quan
hệ đã đi vào ngõ cụt” (The relationship is a dead – end street)[68, tr 46] Trong
trường hợp này, TÌNH YÊU đã được ý niệm hóa thành một HÀNH TRÌNH Miền ý niệm NGUỒN trong trường hợp này là HÀNH TRÌNH và miền ý niệm ĐÍCH là TÌNH YÊU Điều này có nghĩa là các thành tố trong miền ý niệm tình yêu như đôi tình nhân, mục tiêu chung của họ, những khó khăn họ gặp phải,… sẽ có mối liên hệ với các thành tố tương ứng trong hành trình như: những người du hành, đích đến của hành trình, những trở ngại dọc đường,…
Ẩn dụ tri nhận (conceptual metaphor) là một trong những hình thức ý niệm hóa,
có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới, tri thức mới Ẩn dụ tri nhận nghiên cứu năng lực nắm bắt và tạo nên sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau của con người trong một không gian tư duy phức tạp Trong quá trình nhận thức, con người luôn xác lập mối quan hệ tương quan từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ không gian tư duy quan sát trực tiếp được chuyển sang không gian quan
Trang 23sát gián tiếp Như vậy, ngôn ngữ không chỉ xảy ra trong phạm vi ngôn ngữ mà ở cả phạm vi tư duy Ngôn ngữ học tri nhận đang muốn đưa lại một bức tranh mới sáng tỏ
và sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ - một phạm trù vốn nằm trong chính bản chất nhận thức của ngôn ngữ Trong hai biểu vật X và Y được tư duy nếu là tương đồng thì những đặc điểm, thuộc tính của X cũng có thể gán cho Y và ngược lại
Hai yếu tố cơ bản để tạo thành một ẩn dụ tri nhận là miền nguồn và miền đích Trong đó, miền nguồn là miền có tính cụ thể, gần gũi trong cuộc sống thường ngày Miền đích là miền được tri nhận thông qua miền nguồn
Kövecses đã mô tả phép ẩn dụ như sau:“Trong ẩn dụ tri nhận, một miền được
dùng để hiểu một miền khác… Chúng ta cố gắng hiểu miền đích bằng những đặc tính của một miền khác, miền đó gọi là miền nguồn”[65, tr.14]
Ông cũng đã đưa ra ví dụ cho ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH:
Anh ấy có một sự khởi đầu trong cuộc sống (He had a head start in life) Trong ẩn dụ
trên, đặc tính của miền nguồn HÀNH TRÌNH được phóng chiếu sang miền đích ĐỜI NGƯỜI Hành trình có sự khởi đầu, quá trình đi, kết thúc, gặp chướng ngại vật,…tương ứng đời người cũng có giai đoạn bắt đầu, quá trình sống, kết thúc hay những lúc gặp khó khăn,…
Theo lý thuyết của khoa học tri nhận, “ẩn dụ tri nhận là sự “chuyển di”
(tranfer) hay một sự “ánh xạ” (mapping) cấu trúc các quan hệ nội tại của một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận nguồn sang một lĩnh vực hay một mô hình tri nhận đích”
[41, tr.25] Ẩn dụ tri nhận về bản chất là một trong những hình thức ý niệm hóa với mục đích tạo ra những ý niệm mới hoặc làm sáng tỏ hơn những ý niệm mới trên nền tảng văn hóa và tri thức kinh nghiệm của người bản ngữ Trên cơ sở tri nhận những điểm giống nhau của đối tượng, ẩn dụ tri nhận được xem như việc hiểu biết đối tượng này thông qua một đối tượng khác
Chẳng hạn, do đồng nhất hóa thời gian là tiền bạc, nên rất nhiều đặc điểm vốn
chỉ của tiền bạc đã có thể được gán ghép cho thời gian và được dùng để nói về thời
gian Chúng ta có thể thấy cách sử dụng : lãng phí tiền bạc – lãng phí thời gian, tiết
Trang 24kiệm tiền bạc – tiết kiệm thời gian, mất tiền – mất thời gian, dành tiền cho con, dành
thời gian cho con,… Hay một ví dụ khác, do ta đồng nhất thời gian với dòng nước hay
dòng sông (Thời gian là dòng sông), cho nên những gì nói về dòng nước hay dòng sông được dùng để nói về thời gian : thời gian trôi, ngược dòng thời gian,…
Ẩn dụ tri nhận mang dấu ấn cá nhân của người sáng tạo lẫn người luận giải
Theo Mai Thị Kiều Phượng “Chính sự đồng nhất hóa các hiện tượng thiên nhiên,
động vật, thực vật, vật thể nhân tạo với con người đã làm cơ sở cho hàng loạt hiện tượng nhân hóa trong văn thơ nói chung.” [38, tr.111]
Theo Nguyễn Lai : Ẩn dụ tri nhận là hoạt động giao tiếp và nhận thức của con
người được định hướng vào đời sống thực tiễn thông qua ngôn ngữ [82]
Như vậy, ẩn dụ tri nhận đã mở ra một hướng nghiên cứu mới Ẩn dụ không chỉ
là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy Ẩn dụ không chỉ xuất hiện trong văn chương, đóng vai trò là một biện pháp tu từ mà còn là một vấn đề tư duy, xuất hiện trong đời sống thường ngày
1.1.2.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại ẩn dụ tri nhận:
- Phân loại theo tính quy ước
- Phân loại theo tính chất cấu trúc
- Phân loại theo mức độ khái quát
- Phân loại theo quy mô nhận thức
Ở đây chúng tôi giới thiệu cách phân loại theo quy mô nhận thức Đây là loại ẩn
dụ thường được các nhà ngôn ngữ học nhắc đến Trong cách phân loại này chia thành
4 loại: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ định hướng, ẩn dụ kênh liên lạc
a) Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor)
Đây là nhóm ẩn dụ được Lakoff và Johnson [68] xem là nhóm có số lượng nhiều nhất Đây là loại ẩn dụ khi nghĩa hoặc giá trị của một từ hoặc một biểu thức này được con người hiểu biết đánh giá thông qua các cấu trúc của một từ hoặc một biểu
Trang 25thức khác Kiểu ẩn dụ này thường sử dụng kết quả của quá trình biểu trưng hóa và quá trình liên tưởng về vật thể ngôn ngữ
Một ví dụ thường dùng để minh họa cho loại ẩn dụ này là ẩn dụ ý niệm
“TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH” (ARGUMENT IS WAR) được thể hiện qua một loạt cách diễn đạt sau:
- He criticsms were right on the target (Các chỉ trích của ông ta nhằm đúng ngay mục tiêu)
- He attacked every weak point in my argument (Ông ta tấn công mọi điểm yếu trong lập luận của tôi
- I demolished his argument (Tôi phá tan mọi lý luận của anh ta)[68, tr.4]
Các ví dụ trên cho thấy các hành động khi chúng ta tranh luận được ý niệm hóa
từ miền nguồn CHIẾN TRANH
Miền đích: TRANH LUẬN Miền nguồn: CHIẾN TRANH
Thể hiện ý kiến của mình Tấn công
Bảo vệ quan điểm Bảo vệ
Thất bại Thua cuộc
Ví dụ trên cho thấy sự ánh xạ những đặc điểm từ miền nguồn CHIẾN TRANH đến miền đích TRANH LUẬN tạo thành ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH
Ẩn dụ cấu trúc hoạt động nhiều trong phạm vi từ và ngữ cố định Ẩn dụ được tạo thành từ những miền có cấu tạo tương ứng Giữa miền nguồn và miền đích có sự tương đồng về cấu trúc
Trang 26b) Ẩn dụ bản thể (ontological metaphor)
Đây là phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng ranh giới của chúng trong không gian Nó được hình thành do kinh nghiệm của chúng ta trong việc tri giác những đối tượng Có nghĩa là con người nhận hiểu và đưa ra một cách khái quát chung
chứ không định ra một loại vật thể cụ thể nào Theo Trần Văn Cơ “Kinh nghiệm của
Một ví dụ khác của Lakoff và Johnson:
TƯ DUY LÀ MỘT CÁI MÁY (THE MIND IS A MACHINE) [71, tr10-15]
- My mind just isn’t operating today (Đầu óc tôi hôm nay không làm việc)
- We’re still trying to grind out the solution to this question (Chúng ta đã làm
việc với vấn đề này cả ngày và bây giờ chúng ta đang cạn kiệt sức lực
Miền đích TƯ DUY được nhận hiểu bằng những đặc điểm của miền nguồn CÁI MÁY
c) Ẩn dụ định hướng (orientationl metaphor):
Đây là loại ẩn dụ cấu trúc hóa một số miền hay việc định hướng trong không gian và tạo nên một hệ thống ý niệm hóa chung cho chúng Lakoff và Johnson [68] gọi nhóm này là ẩn dụ định hướng vì chúng có liên quan đến sự định hướng trong không
gian của con người như: “lên”, “xuống”, “trong”, “ngoài”, “trung tâm” hay “ngoại
biên” Theo Trần Văn Cơ [13] : “Mỗi chúng ta là cái chứa đựng bị hạn chế bởi bề mặt thân thể; cái chứa đựng này có khả năng định hướng kiểu “trong – ngoài” Đồng thời
chúng ta cũng khảo sát chúng như những vật chứa có không gian bên trong và tách
Trang 27biệt khỏi thế giới bên ngoài Thường thì ẩn dụ theo chiều “lên” có khuynh hướng tích cực, tốt đẹp, trong khi đó chiều “xuống” lại có khuynh hướng tiêu cực, xấu
Xét một số ví dụ sau của Lakoff và Johnson:
- I’m feeling up (Tôi đang thấy vui lên)
- My spirits rose (Tôi thấy hăng hái lên)
- I’m feeling down (Tôi đang xuống tinh thần)
Theo Lakoff và Johnson [68], các miền ý niệm “trên – dưới”, “trong – ngoài”
có thể cho những định hướng khác nhau ở những nền văn hóa khác nhau Chúng có trong tất cả các nền văn hóa, nhưng định hướng như thế nào, định hướng nào quan trọng hơn là còn tùy thuộc vào từng nền văn hóa cụ thể
d) Ẩn dụ ý niệm ống dẫn
Trong bài báo “The Contempory Theory of Metaphor” [71, tr.202-251] Lakoff
đã dành phần đầu tiên giới thiệu về Reddy và cho rằng thuyết ẩn dụ ý niệm ống dẫn của Reddy là một trong những thuyết có ảnh hưởng quan trọng đến các công trình về
ẩn dụ của Lakoff sau này Theo phân tích của tác giả thì: Ngôn ngữ như một ống dẫn,
có thể truyền từ người này sang người khác, khi nói và viết người ta đặt tư tưởng tình cảm vào trong từ ngữ,…
- His words carry little meaning (Lời nói của anh ta chẳng mang ý nghĩa gì)
- Your words seem hollow (Lời nói của bạn có vẻ trống rỗng)
Đây là sự vận động của nghĩa trong quá trình giao tiếp làm đầy các biểu thức ngôn ngữ theo kênh nối người nói với người nghe hay người nhận
1.2 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
1.2.1 Bức tranh ngôn ngữ về thế giới
Theo Trần Văn Cơ [13, tr.133]: “Những giá trị văn hóa nền tảng nhất tương
hòa với cấu trúc ẩn dụ của những ý niệm cơ bản của nền văn hóa này” Thật vậy, thế
giới khách quan thì vô hạn nhưng tri thức con người là có hạn Điều này có nghĩa rằng
Trang 28bức tranh thế giới của mỗi con người sẽ hẹp hơn rất nhiều so với bức tranh thế giới khách quan
Mỗi người đều tồn tại chung trong một thế giới khách quan, nhưng thông qua lăng kính chủ quan, dưới những yếu tố văn hóa xã hội, thế giới khách quan ấy lại được phản ánh một cách rất khác nhau Trong bản chất ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ đều có
sự phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa – bản
ngữ đó, thường được gọi là “mô hình thế giới” hay “bức tranh thế giới”, “hình ảnh
thế giới” và “biểu tượng thế giới”
Thế giới khách quan là thống nhất cho tất cả mọi người Nó tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người Song mỗi người nhìn cái thế giới khách quan đó bằng con mắt chủ quan mang tính cá nhân, do đó mỗi người tạo cho mình một bức tranh thế giới riêng mang tính chủ quan Nói theo thuật ngữ khoa học, mỗi người mô hình hoá thế giới theo kiểu của mình Người ta phân biệt hai loại bức tranh thế giới lớn: bức
tranh khoa học về thế giới và bức tranh ngôn ngữ về thế giới Bức tranh khoa học về
thế giới cung cấp những kiến thức phổ quát được gọi là kiến thức bách khoa, bức tranh ngôn ngữ về thế giới cung cấp những kiến thức đặc thù mang tính dân tộc được gọi là kiến thức ngôn ngữ
Bức tranh thế giới là hạt nhân hay thành tố cơ sở của thế giới quan con người
Trong các ngôn ngữ bức tranh này có thể biến đổi; mỗi bức tranh ngôn ngữ đều liên quan đến một lôgic nhìn nhận thế giới; hay nói đúng hơn, với một cách thức tri giác và nhận thức thế giới của người bản ngữ Do đó thông qua bức tranh ngôn ngữ về thế giới chúng ta có thể phác họa những con đường khác nhau trong cách nhìn thế giới bằng ngôn ngữ của con người, nhất là trong địa hạt rất đặc thù như không gian, nơi mà chúng ta có thể tìm thấy cách thức con người giải thích và miêu tả các thuộc tính và quan hệ không gian
Bức tranh ngôn ngữ về thế giới là biểu hiện thế giới quan của con người được
phác hoạ bằng những chất liệu ngôn ngữ Do ngôn ngữ có liên quan mật thiết với những đặc trưng văn hóa-dân tộc của người bản ngữ, nên bức tranh được vẽ ra phản ánh một mảng của đời sống người bản ngữ với những gam màu đặc trưng cho nền văn
Trang 29hóa dân tộc Mỗi mô hình thế giới, ngoài cái chung, cái phổ quát, có cái riêng, cái đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận thức về thế giới của dân tộc ấy, được gọi là “cách nhìn thế giới” Bức tranh ngôn ngữ về thế giới phản ánh bức tranh thế giới tồn tại cho tất cả mọi người và cho mỗi người Đối với tôi, với anh, hay đối với bất kì người nào trên trái đất, dù đó là người Việt, người Anh, người Pháp, người Nga, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, núi, sông, cây, cỏ, đều khách quan tồn tại như nhau, và ngôn ngữ nào cũng có những từ để chỉ những vật thể ấy Ví
dụ, tiếng Việt: mặt trời, tiếng Anh: sun, tiếng Pháp: soleil, tiếng Nga: солнце, và ai
cũng hiểu đó là "thiên thể nóng, sáng, ở xa Trái Đất, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ yếu cho Trái Đất" [37, tr.1992]
Xét ví dụ về không gian sau:
(1) Con chó nằm dưới gầm bàn
Diễn đạt ý tương ứng như trên, nhưng trong tiếng Anh lại không có đơn vị tương ứng
(2) The dog is lying under the table
Trong tiếng Việt có những từ biểu thị một bộ phận không gian không thấy có nhiều
trong ngôn ngữ khác Từ “gầm” chỉ ra khoảng không gian trống rỗng ở phía dưới một số
vật đáng kể từ đáy của nó đến mặt nền: như gầm bàn, gầm giường, gầm tủ,
(3) Once more into the beach, my friends (Một lần nữa vào bãi biển, hỡi các
bạn của tôi)
Tiếng Việt phải dịch trong trường hợp này là:
(4) Ra bãi biển một lần nữa nào, các bạn ơi
Hoặc cũng có sự khác biệt trong mức độ chi tiết hóa các thuộc tính không gian của đối tượng
(5) The house in/on the lake
(6) sẽ được dịch sang tiếng Việt với nhiều biến thể khác nhau như:
(7) Nhà ở bên/ven/cạnh/bên cạnh hồ
Trang 30Người Việt Nam không quen “nhìn” không gian một cách chung chung, trừu
tượng, mà nó phải được cụ thể hóa thành những khoảng, phần không gian nhất định,
có thể cảm quan được bằng mắt Đó là nét riêng, nét đặc thù
Bức tranh ngôn ngữ về thế giới được phản ánh trong vốn từ vựng của ngôn ngữ có
in đậm dấu vết của lối tư duy "dĩ nhân vi trung" Chẳng hạn, chân núi, miệng ống, đầu sông, đít chén, mũi thuyền, mắt bão, lưỡi lửa, ngón võ v.v Những từ chân, miệng, đầu,
đít, mũi, mắt, lưỡi, ngón là mượn của lớp từ chỉ thân thể con người, hay nói cách khác,
theo ngôn ngữ học tri nhận, hiện thực đã được tri giác thông qua các bộ phận cơ thể con người
1.2.2 Bức tranh ngôn ngữ của người Việt
Bức tranh ngôn ngữ của người Việt cụ thể và chi tiết hơn bức tranh ngôn ngữ về thế giới Ở bức tranh này tiếng Việt sẽ chia thành nhiều vùng phương ngữ Do đặc tính
về văn hóa, địa lý nên cách tư duy ngôn ngữ của mỗi vùng phương ngữ cũng có sự khác biệt nào đó tạo nên bản sắc riêng
Có nhiều quan niệm về việc phân vùng phương ngữ Việt Tuy nhiên chúng tôi tán thành với cách phân chia thành ba vùng phương ngữ của Hoàng Thị Châu:
- Vùng phương ngữ Bắc
- Vùng phương ngữ Trung (từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân)
- Vùng phương ngữ Nam (từ đèo Hải Vân trở vào đến Cà Mau) [23, tr.29]
Mỗi vùng phương ngữ do ảnh hưởng từ nguồn gốc, địa lý hay văn hóa mà có những đặc điểm ngữ âm và ngữ nghĩa khác biệt Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên ở mỗi nơi có điểm khác nhau Do vậy tính cách và lối tư duy của con người ở mỗi địa phương cũng khác nhau Vùng phương ngữ Bắc có bề dày văn hóa – lịch sử, đây cũng là đất kinh kì nên tất yếu việc sử dụng ngôn ngữ và cả lối tư duy cũng được trau chuốt kỹ lưỡng Vùng phương ngữ Trung ảnh hưởng không nhỏ bởi lối sống cần cù, chịu thương chịu khó chống chọi với thiên nhiên của những con người nơi đây Đây là vùng đất chịu nhiều thiên tại lụt bão, hạn hán hằng năm, thế nhưng con người nơi đây không khuất phục mà cố gắng vươn lên Họ vừa có nét sâu sắc của miền
Trang 31Bắc lại có nét dí dỏm, phóng khoáng của Nam Bộ Phương ngữ Nam Bộ thuộc một trong ba tiểu vùng của phương ngữ Nam Nam Bộ là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu hài hòa, sông ngòi kênh rạch chằng chịt Nếu Bắc Bộ với nét văn hóa làng khép kín, thì nơi đây có văn hóa sông nước tự do, phóng khoáng Con người nơi đây một phần ảnh hưởng bởi nguồn gốc, một phần ảnh hưởng bởi địa lý nên rất cởi mở Họ thường không chuộng suy tư, nội tâm mà bộc trực, thẳng thắn
Mỗi vùng miền đều có những đặc tính khác nhau làm nên nét đặc trưng riêng cho vùng miền họ Tuy họ cùng trên một đất nước, cùng có chung một văn hóa Việt, có chung chữ quốc ngữ, thế nhưng do có yếu tố văn hóa – lịch sử ít nhiều khác biệt đã ảnh hưởng đến lối tư duy không chỉ trong lối sống mà còn cả ở việc sử dụng ngôn ngữ Người dân Bắc Bộ thường nói năng lưu loát, ngôn ngữ được trau chuốt cẩn thận, trang trọng Người Trung Bộ lại mang nét hóm hỉnh vừa tinh tế lại vừa dí dỏm, sử dụng nhiều dấu vết của tiếng Việt cổ Người Nam Bộ lại ít suy tư, nội tâm mà lại rất cởi mở, thẳng tính, bộc trực, nên ngôn ngữ của họ thường ít trau chuốt, nhiều khẩu ngữ bình dân
Sự khác biệt giữa ba vùng mang đến sự đa dạng về màu sắc cho bức tranh ngôn ngữ của người Việt Nó thể hiện sự phản xạ của thế giới chủ quan qua lăng kính chủ quan của mỗi người Mỗi dân tộc, mỗi đối tượng sẽ có một bức tranh ngôn ngữ khác nhau, dưới sự tác động của các yếu tố văn hóa, xã hội, con người của chính dân tộc đó, đối tượng đó Chúng ta sẽ nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ chặt chẽ với con người và thế giới của nó Ngoài ra còn khảo sát những đặc trưng bản sắc dân tộc của
mô hình thế giới thông qua cách tri nhận của cộng đồng bản ngữ Phát hiện ra những nhân tố tiềm ẩn đứng đằng sau những khác biệt trong cách nhìn thế giới của các ngôn ngữ (có thể là do truyền thống văn hóa; cảnh huống xã hội và chức năng xã hội của giao tiếp; tâm lý học tộc người, sự có mặt trong vốn từ ngữ của cộng đồng đó những khái niệm đặc biệt nào đó, đặc điểm ngôn ngữ cộng đồng,…) Việc tìm hiểu về bức tranh ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta có chìa khóa bước vào thế giới nhận thức mới thông qua ngôn ngữ Và qua những bức tranh ngôn ngữ của mỗi đối tượng, mỗi dân tộc, ta sẽ hiểu thêm về những nét văn hóa đặc trưng của họ
Trang 321.3 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư và ẩn dụ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
1.3.1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Chị là một nữ nhà văn trẻ của Hội nhà văn Việt Nam Xuất hiện trên văn đàn lần
đầu tiên vào năm 2000 (với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt – giải nhất cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần II) đến nay Nguyễn Ngọc Tư đã cho ra đời hơn 8 tập
truyện ngắn (đã được xuất bản) Với sở trường là những truyện ngắn viết về con người
và vùng đất nơi miền cực Nam của Tổ quốc, Nguyễn Ngọc Tư đã dần chinh phục được tình cảm của đông đảo bạn đọc không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài
Qua những sáng tác của chị, độc giả không những được thưởng thức câu chuyện thắm đượm tinh thần nhân văn mà còn được cung cấp thêm những cứ liệu văn hóa về vùng quê sông nước đồng bằng sông Cửu Long rất bổ ích Sự hấp dẫn của truyện Nguyễn Ngọc Tư còn là kho từ vựng miền Nam dồi dào được sử dụng phương ngữ tối đa và đúng chỗ vào những câu chuyện thật “miền Nam”
1.3.2 Ẩn dụ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Theo quan niệm truyền thống, ẩn dụ là một biện pháp tu từ làm giàu giá trị
nghệ thuật của tác phẩm Việc tạo thành các ẩn dụ giúp cho việc mở rộng nghĩa của từ, cụm từ Quá trình này diễn ra trong suốt quá trình sử dụng ngôn ngữ của con người
Nó giúp cho việc phát triển những nghĩa mới và loại dần những nghĩa tối Theo quan niệm này, ẩn dụ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư được xem như một biện pháp tu
từ làm giàu giá trị nghệ thuật Hầu hết các ẩn dụ được tập trung khai thác dưới góc độ
từ vựng
Theo quan niệm tri nhận, ẩn dụ tri nhận thể hiện tư duy của con người, thông
qua đó tái hiện những đặc điểm văn hóa của người nói Thông qua việc sử dụng ẩn dụ trong ngôn ngữ, người đọc có thể nắm bắt được văn hóa của người viết Như vậy, dưới góc nhìn tri nhận, các ẩn dụ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư sẽ được xem xét ở một khía cạnh mới Qua đó, người đọc không chỉ biết được tư duy ngôn ngữ của tác giả mà còn biết được đặc trưng văn hóa nơi tác giả muốn đề cập đến
Trang 33Bằng tâm tư, tình cảm của một người phụ nữ Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư đã đưa tác phẩm của mình như một nhịp cầu nối đọc giả với miền đất Nam Bộ Cũng thông qua
đó, nội tâm, tư duy của tác giả cũng được thể hiện
Tiểu kết:
Trong Chương 1, chúng tôi đã cung cấp một số kiến thức cơ sở làm nền cho những phân tích ở những chương sau Bên cạnh việc làm rõ khái niệm ẩn dụ theo quan niệm truyền thống và ẩn dụ theo quan niệm tri nhận, chúng tôi còn cung cấp cách phân loại ẩn dụ của từng quan niệm Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng xác định mối quan hệ nhất định giữa ngôn ngữ và văn hóa để có thể xem xét toàn diện ngữ liệu cần phân tích Khi ứng dụng một lý thuyết vào một tác phẩm cụ thể, chúng ta cũng cần nắm được đặc điểm của ngôn ngữ trong văn chương Phần cuối chương, chúng tôi vạch ra những vai trò chủ yếu của ẩn dụ trong văn chương Trên đây là những lý thuyết làm cơ
sở, nó cung cấp cái nhìn ban đầu cho những nội dung chi tiết ở những chương sau
Trang 34Chương 2 ẨN DỤ CUỘC ĐỜI TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN NGỌC TƯ
2.1 Đặc điểm ẩn dụ CUỘC ĐỜI trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Theo Từ điển Tiếng Việt “cuộc đời” được định nghĩa là là “khoảng thời gian
sống của một sinh vật” [37, tr.34] Từ định nghĩa, ta thấy rằng cuộc đời là một ý niệm
rộng lớn, phức tạp Cuộc đời mỗi con người (gọi tắt là đời người) tương ứng với
khoảng thời gian con người sống, hoạt động Qua quá trình sống, con người tích lũy những kinh nghiệm thực tế, từ đó có những ý niệm cụ thể hóa khái niệm “cuộc đời” một cách cụ thể, gần gũi và dễ hiểu hơn
Qua quá trình khảo sát ẩn dụ tri nhận trong 74 truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi nhận thấy có hơn 300 biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI Trong đó, chúng tôi chia ra thành những ẩn dụ sau: ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH, ĐỜI NGƯỜI LÀ DÒNG SÔNG, ĐỜI NGƯỜI LÀ CÂY CỎ, ĐỜI NGƯỜI
LÀ VỞ KỊCH/CÂU CHUYỆN, ĐỜI NGƯỜI LÀ NGỌN LỬA, Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích 4 ẩn dụ có miền đích ĐỜI NGƯỜI chiếm số lượng lớn nhất Sau đây là bảng phân bố tần suất 4 ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI:
Bảng 2.1 Bảng tần suất và tỉ lệ phân bố ẩn dụ tri nhận ĐỜI NGƯỜI trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
SỐ
TỈ LỆ (%)
ĐỜI NGƯỜI LÀ VỞ DIỄN và CÂU CHUYỆN 14 5,7
Trang 352.1.1 ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
2.1.1.1 Tính phổ quát trong ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
Ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH là một ẩn dụ mang tính phổ
quát, đã được Lakoff và Johnson đề cập đến trong Metaphors we live by Ẩn dụ này
xuất hiện trong nhiều nền văn hóa, tuy nhiên ở mỗi nền văn hóa khác nhau sẽ có cấu trúc ánh xạ khác nhau Cùng là một ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH nhưng sẽ rất khác nhau ở cách thức, phương tiện cho từng chuyến hành trình Cơ chế của ý niệm gồm miền nguồn là CUỘC HÀNH TRÌNH ánh xạ lên miền đích là ĐỜI NGƯỜI Các thuộc tính về CUỘC HÀNH TRÌNH được ánh xạ, sao phỏng cho ý niệm ĐỜI NGƯỜI một số đặc trưng của CUỘC HÀNH TRÌNH được gán ghép cho ĐỜI NGƯỜI
Cấu trúc cơ bản của ẩn dụ này là một lược đồ đường đi bao gồm một điểm bắt đầu, con đường đi qua và đích đến Trong một bài viết của mình, Cristina Psomadakis, một tác giả thuộc đại học Oxford, đã trình bày ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH của tiếng Hy Lạp có so sánh với tiếng Anh để nhấn mạnh sự ảnh hưởng của
nền văn hóa Hy Lạp Tác giả nhấn mạnh: “Ẩn dụ này được tính từ thời điểm sinh ra
tương ứng thời điểm bắt đầu đến thời điểm chết tương ứng thời điểm đến đích” [74]
Trong đó, có đưa ra bảng biểu ánh xạ như sau:
MIỀN NGUỒN: CUỘC HÀNH TRÌNH MIỀN ĐÍCH: CUỘC ĐỜI
Hành trình Cuộc sống
Điểm đến/điểm dừng mục tiêu/thành tựu
Điều kiện thời tiết mức độ khó khăn
Những con đường khác nhau sự lựa chọn khác nhau
Kết thúc hành trình cái chết
Dựa vào bảng ánh xạ của Psomadakis, chúng tôi đưa ra bảng ánh xạ như sau:
Trang 36MIỀN NGUỒN: CUỘC HÀNH TRÌNH MIỀN ĐÍCH: ĐỜI NGƯỜI
Hành trình Quá trình sống
Người đi/du khách Con người
Phương tiện Cách thức
Điều kiện khí hậu (mưa, nắng, bão, ), điều
kiện lộ trình (đường bằng phẳng, đường
xấu,…)
Những khó khăn, thử thách trong cuộc sống
Những con đường Những định hướng, sự lựa chọn Điểm đến/ điểm dừng Thành tựu đạt được
Kết thúc hành trình Cái chết
Ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH cho phép chúng ta hiểu rằng
miền nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH có thể có những thuộc tính như: người đi, phương
tiện giao thông, chướng ngại vật trên các tuyến đường, khoảng cách đi được, tốc độ chuyển động, điểm mốc, điểm đến của hành trình, các ngã tư hoặc ngã ba, đường cùng, mục tiêu, khởi đầu, kết thúc; trạng thái của du khách như: mệt mỏi, chán chường, tuyệt vọng, phấn khởi… tương ứng với miền đích ĐỜI NGƯỜI Trong bảng trên ta thấy rằng hành trình tương ứng với quá trình con người sống trong suốt cuộc đời họ Người đi thực hiện chuyến hành trình chính là quá trình sống của mỗi con
người trong cuộc đời họ Phương tiện di chuyển là cách thức mà họ sống: đi tắt, chạy
mau mau, đi vòng, đi thẳng, Điều kiện khí hậu, điều kiện lộ trình là những khó khăn,
trắc trở mà họ gặp trong cuộc sống: trắc trở, chông gai,…Những con đường khác nhau
là những sự lựa chọn, những định hướng khác nhau trong cuộc đời: ngã rẽ, ngã ba,
ngã tư,…Điểm đến, điểm dừng là những thành tích đạt được trong hành trình cuộc đời
Kết thúc hành trình là cái chết của cuộc đời mỗi người
Trang 37Giống như hành trình, cuộc đời cũng được mô tả là có một sự khởi đầu, các điểm đến, chướng ngại vật và kết thúc Người đi tự định hướng hoặc được sự giúp đỡ của một hoặc một số người bạn đồng hành Trong cuộc hành trình, người đi sẽ đặt ra những mục tiêu, những mốc đạt được Những mục tiêu này thôi thúc, giúp con người dấn bước đạt được mục tiêu mình đặt ra Để đạt được mục tiêu, họ phải lựa chọn một con đường hợp
lý nhất, cách thức thuận tiện nhất để chạm đến đích Cũng như vậy, con người cũng phải lựa chọn cho mình một hướng đi nhất định, một cách thức để đạt được mục đích của mình về nghề nghiệp, hôn nhân, nơi ở,… Khi con người đứng trước nhiều lựa chọn thì cũng giống như người đi đứng trước ngã ba, ngã tư,
2.2.1.2 Ẩn dụ ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Từ Bảng 2.1, ta thấy có 91/238 biểu thức ngôn ngữ mang ẩn dụ ý niệm ĐỜI NGƯỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH chiếm 38,3% Loại ẩn dụ mang tính phổ quát này được Nguyễn Ngọc Tư vận dụng một cách linh hoạt trong những tập truyện ngắn của mình Ẩn dụ ĐỜI NGỜI LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư không tập trung mở đầu hành trình, kết thúc hành trình hay cách thức phương tiện, mà phần lớn nói về những khó khăn mà người đi gặp phải trên con đường của mình Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư là những người dân Nam Bộ hiền lành, chân chất Họ có cuộc sống tha hương, phiêu bạt, khai phá những vùng đất mới Các nhân vật này thường có cuộc sống bất định, luôn thay đổi từ nơi này sang nơi khác Họ là những con người của đồng khơi, của sông nước Tư tưởng phiêu bạc luôn
là nỗi ám ảnh trong tâm trí họ
- Tánh tôi ở đồng quen rồi, ngủ có gió mới ngon (CĐBT-CNKK, tr.56)
Hoặc có cuộc sống cố định, nhưng từ sâu xa, nhân vật vẫn ám ảnh bởi một cuộc
ra đi, vẫn ám ảnh sự chia ly, phiêu bạt Trong lòng họ, luôn đau đáu về hành trình cuộc đời mình
- Đời mày rồi không biết tới đâu (Đ-BMOTV, tr.9)
Trang 38Những người dân Nam Bộ hiền lành chân chất, luôn mở lòng, mở dạ với tất cả mọi người Họ quan tâm và yêu thương những người xung quanh một cách chân thành
- [ ]tôi quan tâm đến từng ngõ ngách của đời người (NĐKT-NN, tr.60)
Trong cuộc hành trình của cuộc đời mình, họ phải đối mặt với những khó khăn,
hứng chịu những “sương gió” Nhưng chưa bao giờ sự khó khăn khiến họ chùn bước,
ở các nhân vật này, cuộc sống cơ cực là đó, khó khăn là đó nhưng bao giờ trong họ cũng đầy hy vọng và yêu thương
- Sương gió cuộc đời không làm gì được ông (CĐBT-CMNS, tr.94)
- Có thể vì họ chưa bao giờ ngừng chiến đấu và hy vọng về một ngày tốt đẹp
hơn (GT-NĐQ, tr.145)
Truyện ngắn Ngày đã qua (Giao thừa) kể về tình bạn của các nhân vật Thi,
Nguyên, Tiệp, Hòa Chi trong một buổi họp mặt đầu năm Nhân vật Thi mắc chứng bệnh ung thư phổi thời kỳ giữa nhưng anh vẫn đang cố sống, cố chạy đua với thời gian
để làm những việc có thể làm cho người ở lại Đọc truyện, ta nhận thấy nhân vật vội vàng như lao đi trên con đường của cuộc đời mình, dù biết trước mắt là ngõ cụt, là đường cùng, vẫn muốn đạt được mục đích của cuộc đời Đối với những nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư, bao giờ họ cũng tranh đấu, cũng chạy đua với cuộc đời
- [ ]biết bao nhiêu chuyện bự bự vậy mà tụi mình cũng vượt qua hen
(GT-NĐQ, tr.145)
- [ ]đáng lý ra mình cũng phải chạy như vầy, phải guồng chân với dòng đời
như thế này (NĐKT-NN, tr.62)
Cuộc đời ở đây thường là trắc trở, các chướng ngại vật luôn bày ra trước mắt
Bằng những ngôn ngữ bình dị, giàu chất Nam Bộ: bự bự, hen, ổ gà, guồng chân, nhà
văn vừa thể hiện sự chân chất vừa thể hiện ý chí vượt khó của những con người nơi đây Miêu tả việc đi lại của con người để nói về việc diễn ra của cuộc sống Những định hướng của cuộc đời được hiểu như những lối đi, những con đường Sự thuận lợi trong cuộc sống được hiểu như sự rộng rãi, bằng phẳng của con đường Ngược lại, những khó khăn sẽ được thể hiện bằng những gập ghềnh trắc trở trên con đường xấu
Trang 39-[ ]dường như con đường có nhiều ổ gà sao nghe chông chênh quá
(GT-ĐNY, tr.67, 68)
-[ ]chúng tôi nắm tay kéo chị lên khỏi một vũng lầy để đẩy chị vào một vũng
khác (CĐBT-CĐBT, tr.198)
Cuộc đời có nhiều bất trắc cũng như hành trình có nhiều trở ngại Nhưng cho dù
có chướng ngại vật trước mặt, họ vẫn vùng vẫy tìm được con đường cho mình Thế nhưng, thử thách cuộc đời không dừng lại, bao giờ cũng như đang thử tính kiên trì của
họ Cho dù vậy, họ có vấp ngã vẫn tiếp tục đứng lên đi tiếp mà không lùi bước
- [ ]tôi muốn vấp chỗ nào thì đứng lên chỗ đó (Đ-CMTV, tr.128)
Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư thường có cuộc đời không bằng phẳng Những chông gai cuộc đời không làm họ nản lòng Họ vẫn mạnh mẽ sải từng bước chân dài
về phía trước mà không ngoái lại quá khứ Với họ những gì trải qua trong quá khứ là hành trang để họ vững bước cho hôm nay và cả sau này
- [ ]ngoái nhìn quá khứ nghĩa là tương lai, hiện tại không có gì để làm
(GL-STĐPV, tr.48)
Hành trình cuộc đời là một hành trình dài Người đi đôi khi mỏi chân dừng lại ở trạm dừng nào đó Cuộc đời cũng vậy, lao đao vì mọi thứ, rồi sẽ mệt nhoài muốn tìm một nơi nghỉ ngơi, hay khi cố làm mọi thứ để đạt được điều mình muốn, cũng có khi thấy mệt mỏi
- [ ] nghĩ tới con đường đời dài trước mặt (TNNNT-NM, tr.67)
Cuộc đời con người trải dài trên con đường họ đi Không ai biết trước được con đường đời của mình có may mắn là con đường bằng phẳng hay lắm chông gai Việc
lựa chọn con đường cho mình ảnh hưởng đến cả cuộc đời Biết rằng có thể “quay lại”
nhưng liệu với thời gian ngắn ngủi của cuộc đời, con người được bao nhiêu lần quay lại
- Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong đoàn ca múa nhạc (CĐBT-CO, tr.8)
Trang 40Truyện Cải ơi (Cánh đồng bất tận) kể về một người cha dượng đi tìm con gái
riêng của vợ Hành trình tìm con của ông là một quãng thời gian dài Trạm dừng chân
của ông là “đòan ca múa thành phố”, để trước giờ diễn hay sau giờ diễn, ông được cầm loa gọi “Cải ơi! Ba là Năm Nhỏ nè con ” Trên những con đường ông đi qua, có
biết bao nhiêu gương mặt lướt qua, nhưng rồi không tìm được Đến khi kiệt sức cũng
là lúc ông biết mình sắp đến cuối con đường mà vẫn không gặp được con, không về được nhà Mỗi cuộc đời là một hành trình, trong chuyến hành trình đó, mỗi người lựa chọn cho mình một hoặc một vài con đường Có những người đi cùng một con đường,
có những người đi cùng một đoạn đường, nhưng chỉ có những người chỉ lướt qua nhau rồi không để lại dấu ấn gì
- [ ]ông cũng thấy mình… như sắp đến cuối con đường rồi, mà không biết
chắc có nhà mình ở đó (CĐBT-CO, tr.14)
Hành trình tìm con vẫn chưa đến đích vì vẫn chưa tìm thấy đứa con gái, nhưng phía trước lại là cuối con đường Người du khách bắt đầu lo sợ sẽ bỏ dở chuyến hành trình của mình Cũng như hành trình, cuộc đời cũng đôi khi dở dang Cuộc hành trình
dở dang bởi con người bỏ cuộc vì nó quá khó khăn, gập ghềnh, bởi họ hết thời gian, bởi họ quên mục đích,… Cuộc đời con người cũng vậy, có những mục tiêu sẽ đạt được, những cũng có mục tiêu bỏ dở giữa chừng vì họ không còn thời gian, không còn sức lực vì họ thấy khó thực hiện và cũng vì họ có mục tiêu mới,… thế nên hành trình của họ luôn có những ngoặc trái, ngoặc phải bất định
- Hiên tưởng như mình đang đi trên con tàu cuộc đời ông và đã qua bao ngoặc
trái ngoặc phải,… (GT-NNC, tr.160)
Hoặc họ đi nhờ bạn đồng hành một đoạn đường:
- [ ]má tôi chỉ quá giang một khúc đời rồi đi (CĐBT-CĐBT, tr.168)
Trong chuyến hành trình đó, có những con đường rộng lớn, cũng có những con đường ghồ ghề, có những con đường vòng cũng có những con đường tắt Người đi muốn đi nhanh, về đích nhanh, họ có thể tìm đường tắt Tuy nhiên, đường tắt luôn ẩn chứa nhiều nguy hiểm vì ít người đi, nếu không khéo nó có thể là đường cùng