Khoảng 15% nhồi máu não có nguyên nhân từ huyết khối hình thành tại các mảng vữa xơ tại chỗ chia đôi động mạch cảnh.. Nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân bị vữa xơ động mạch cảnh liên quan mậ
Trang 110-Dec-14 1
DOPPLER ĐỘNG MẠCH NÃO NGOÀI SỌ
(DOPPLER US OF EXTRACRANIAL CEREBRAL ARTERIES)
"People only see what they are prepared to see."
Ralph Waldo Emerson
Dr NGUYỄN QUANG TRỌNG
website: www.cdhanqk.com (Last update, 10/12/2014)
IMAGING DEPARTMENT
FV HOSPITAL – HCM CITY
Trang 3ĐẠI CƯƠNG
Bệnh lý tim-mạch (cardiovascular disease) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phát triển
Đột quỵ (stroke) và các biến chứng của nó là biến cố tim-mạch
nghiêm trọng nhất với tỷ lệ tử vong khoảng 1/3 các trường
hợp, là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 ở Mỹ, Anh
và là nguyên nhân gây tàn phế đứng hàng đầu
75% đột quỵ là do nhồi máu não (huyết khối - thrombotic
hoặc thuyên tắc - embolic hoặc do cả hai) Trong đó, tắc đoạn
gần động mạch cảnh trong chiếm 5% nhồi máu não Xuất
huyết não chỉ chiếm 25%
Tại hệ cảnh thì mảng vữa xơ phát triển chủ yếu ở chỗ chia đôi động mạch cảnh (carotid bifurcation)
Trang 4 Khoảng 15% nhồi máu não có nguyên nhân từ huyết khối
hình thành tại các mảng vữa xơ tại chỗ chia đôi động mạch
cảnh Nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân bị vữa xơ động mạch cảnh liên quan mật thiết với độ hẹp Ở bệnh nhân không triệu chứng với độ hẹp < 75% (NASCET), nguy cơ đột quỵ hằng năm < 1%, nhƣng tăng lên 2%-5% ở bệnh nhân có độ hẹp > 75%
(NASCET)
Nguy cơ cao hơn nhiều ở nhóm bệnh nhân có triệu chứng
(bệnh nhân có tiền căn bị cơn thiếu máu thoáng qua – TIA – transient ischemic attacks), 10% cho năm đầu, tăng lên 30%-35% cho mỗi 5 năm tiếp theo
Trang 5 Mặc dù chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể, não lại nhận đến
15% cung lượng tim, sử dụng 20% lượng oxygen của cơ thể
Mô não không có dự trữ oxygen cũng như glucose, tế bào não
sẽ chết trong vòng 3-8 phút nêu không được cung cấp máu,
điều này nói lên tầm quan trọng của tưới máu não
Lưu lượng tuần hoàn não được điều hòa chủ yếu bằng nồng độ oxygen và carbone dioxide Carbone dioxide là chất gây giãn mạch (vasodilatation) làm tăng lưu lượng tuần hoàn não cho đến khi nào nồng độ oxygen đáp ứng đủ nhu cầu của não Cơ chế này hoạt động khi áp lực tưới máu não giảm, ví dụ như khi người ta thay đổi từ tư thế nằm sang tư thế đứng Tuy nhiên,
sự điều hòa tưới máu này sẽ hoạt động không hiệu quả khi
bệnh nhân bị vữa xơ động mạch nặng đưa đến triệu chứng
thiếu máu não
Trang 6 Trước đây chụp mạch máu kỹ thuật số xóa nền (digital
subtraction angiography - DSA) là phương tiện chẩn đoán
duy nhất và cũng là tiêu chuẩn vàng (gold standard) trong
chẩn đoán bệnh lý hệ động mạch
Ngày nay, với siêu âm, nhất là siêu âm Doppler (Doppler
ultrasound), người ta có thể khảo sát tốt các bệnh lý ở hệ
cảnh-cột sống Siêu âm không những đánh giá được độ hẹp mà còn đánh giá tốt hình thái và tính chất của mảng vữa xơ Siêu
âm có thể làm tại gường (bedside) giúp đánh giá các bệnh
nhân đang trong tình trạng nguy kịch
Ngoài siêu âm, chụp mạch máu bằng CT (CTA – CT
angiography) và chụp mạch máu bằng MRI (MRA – MR
angiography) là những phương tiện chẩn đoán mà ta có thể
chọn lựa
Trang 7GIẢI PHẪU
Các động mạch não ngoài sọ (Extracranial Cerebral
Vessels) theo cách gọi của các tác giả Âu-Mỹ bao gồm: các động mạch cảnh chung (common carotid arteries), các động mạch cảnh trong (internal carotid arteries), các động mạch cảnh ngoài (external carotid arteries), và các động mạch cột sống (vertebral carotid arteries)
Còn các tác giả Pháp gọi là các thân trên quai động mạch
chủ (Troncs Supra-Aortiques)
Trang 810-Dec-14 8
A: quai động mạch chủ, C:
động mạch cảnh chung, E:
động mạch cảnh ngoài, I: động mạch cảnh trong, In: động
mạch vô danh (thân động mạch cánh tay đầu), S: động mạch dưới đòn, V: động mạch cột sống
Trang 10 Động mạch cảnh trong không có phân nhánh nào ở ngoài sọ, phình nhẹ ở gốc Đây là động mạch chính cung cấp máu cho não, khoảng 85% lưu lượng máu lên não qua cặp động mạch cảnh trong Động mạch cảnh trong thường lớn hơn cảnh ngoài
vì nó chiếm 75% lưu lượng máu của động mạch cảnh chung
Động mạch này có thể dài ra (carotid elongation) liên quan đến tuổi tác (mắc phải) hoặc bẩm sinh (congenital) Cao huyết
áp được xem là yếu tố thuận lợi Khi động mạch này dài, nó có
thể uốn lượn tạo nên các kiểu: Looping (uốn cong, tạo góc > 900), Kinking (uốn gập góc, tạo góc < 900), Coiling (uốn
vòng, tạo vòng 3600, dạng này thường bẩm sinh, thấy cả hai
bên) Tần suất cao ở Nữ so với Nam (4:1), người già > 60 tuổi
Trang 11góc > 900
Trang 1410-Dec-14 14
KỸ THUẬT KHẢO SÁT
Đầu dò: Đầu dò linear tần số cao (7,5 -12MHz) lý tưởng cho
khảo sát lớp áo giữa, nội mạc và mảng vữa xơ Với động mạch cột sống đoạn V1, V3 ta có thể dùng đầu dò linear hoặc
convex (3,5-5MHz) tùy bề dày vùng cổ-vai của bệnh nhân
Đầu dò convex cũng được dùng khi động mạch cảnh trong uốn lượn
Khảo sát: lần lượt khảo sát động mạch cảnh chung, hành cảnh, động mạch cảnh ngoài, động mạch cảnh trong, động mạch cột sống Cố gắng khảo sát đến gốc của động mạch cảnh chung, động mạch cột sống, cũng như động mạch dưới đòn
Khởi đầu: Siêu âm 2D
Tiếp theo: Doppler màu (và B flow imaging nếu có)
Cuối cùng: Doppler xung
H.R.Tahmasebpour et al Sonographic Examination of the Carotid Arteries
Radiographics.2005;25:1561-1575
Trang 1510-Dec-14 15
Trang 1710-Dec-14 17
Khảo sát động mạch não ngoài sọ bao
gồm: Động mạch cảnh chung, động mạch
cảnh trong, động mạch cảnh ngoài, động
mạch cột sống và cả động mạch dưới đòn
(nếu có thể)
Trang 1810-Dec-14 18
Ở lát cắt ngang: ta trượt (sliding) chứ không phải quét (angling) đầu dò dọc theo trục mạch máu, hướng đầu dò vuông góc với mặt da (A: sai, B: đúng)
Trang 1910-Dec-14 19
Trang 21- Từ lát ngang tại hành cảnh bên phải ta xoay tròn đầu dò (rotating) theo chiều kim đồng hồ thì
ĐM đầu tiên mà ta thấy được theo trục dọc chính là ĐM cảnh trong phải Tiếp tục xoay tròn đầu dò theo chiều kim đồng hồ khoảng 15-20 0 , ta lấy được ĐM cảnh ngoài phải theo trục dọc
- Từ lát cắt ngang tại hành cảnh bên trái ta xoay tròn đầu dò theo chiều kim đồng hồ thì ĐM đầu tiên mà ta thấy được theo trục dọc chính là ĐM cảnh ngoài trái , xoay tiếp mới là động mạch
cảnh trong trái
Trang 22Virtual convex giúp ta mở rộng trường nhìn trong những trường hợp chỗ chia đôi (bifurcation) nằm quá cao
Trang 235 Dòng chảy tăng khi chèn ép ĐM
cảnh chung đối bên nếu ĐM thông
trước còn chức năng
Dòng chảy không thay đổi khi chèn ép
ĐM cảnh chung đối bên
6 Bờ trên đường viền phổ không thay
đổi khi chèn ép ĐM thái dương nông
Trang 2710-Dec-14 27
Trang 2810-Dec-14 28
Trang 2910-Dec-14 29
Đôi khi ĐM cảnh ngoài nằm ra phía trước, lúc này ở lát cắt dọc ta có thể thấy được cả ĐM cảnh chung, ĐM cảnh ngoài và ĐM cảnh trong
Trang 33Cũng có khi ĐM cảnh trong nằm ra phía trước, lúc này ở lát cắt dọc
ta cũng có thể thấy được cả ĐM cảnh chung, ĐM cảnh ngoài và ĐM
cảnh trong
Trang 34Rất hiếm khi ta thấy được động mạch cảnh ngoài nằm phía ngoài
(lateral) so với động mạch cảnh trong
Trang 36Đôi khi chỗ chia đôi động mạch cảnh choãi rộng, tạo góc gần 90 0 , điều này cần phải ghi nhận vào báo cáo kết quả nếu bệnh nhân bị hẹp vừa hoặc hẹp nặng động mạch cảnh trong
(không thể đặt stent)
Trang 38Linear hay Virtual convex hay Convex?
Đầu dò Linear truyền thống ta thường không khảo sát được gốc của động mạch cột sống, khi chuyển sang Virtual convex ta thường khảo sát thành công
Trang 40Khi mạch máu nằm sâu, không lấy được tín hiệu Doppler thì việc chuyển từ đầu dò Linear qua đầu
dò Convex là cần thiết
Trang 41CƠ CHẾ HÌNH THÀNH MẢNG VỮA XƠ
Do tác động của dòng chảy lên thành mạch, nơi tiếp xúc với dòng chảy cuộn xoáy
sẽ dễ bị tổn thương, hình thành mảng vữa xơ
Quá trình hình thành mảng vữa xơ là một quá trình lâu dài, các hình vẽ dưới đây sẽ minh họa cho ta thấy các bước hình thành mảng xơ vữa
Động mạch cảnh trong phình nhẹ tại gốc, hình thành một dòng chảy ngược, tác động vào thành mạch Đây chính là vị trí điển hình để hình thành mảng vữa xơ
Trang 4210-Dec-14 Dòng chảy đảo dòng ngay tại gốc: vị trí điển hình hình thành 42
mảng vữa xơ
Do chịu lực va đập của dòng
chảy, thoạt đầu lõi lipid thoái
hóa hình thành ngay dưới
lớp nội mạc, lõi này theo thời
gian sẽ to ra hình thành
mảng vữa xơ
Trang 43PHÂN LOẠI QUỐC TẾ VỀ MẢNG VỮA XƠ
(International Classification System)
Type 1: Hồi âm kém, đồng nhất
Type 2: Ưu thế hồi âm kém (> 50%)
Type 3: Ưu thế hồi âm dày (> 50%)
Type 4: Hồi âm dày, đồng nhất
Type 5: Không phân loại (unclassified) do vôi hóa tạo bóng lưng làm cho không khảo sát rõ
- Type 1 và 2 thường thấy với xuất huyết trong mảng vữa xơ và/hoặc mảng vữa xơ có ổ loét, được xem là mảng vữa xơ có tiên lượng không tốt
(unstable, vulnerable) hay tạo cục máu đông gây thuyên tắc mạch não
- Type 3 và 4: thường do xơ và/hoặc vôi hóa, chúng thường lành tính,
thường tiên lượng tốt, thấy ở bệnh nhân không triệu chứng Các type này chiếm khoảng 80% bệnh nhân được khảo sát
Trang 44(a) Plaque progression begins with intimal thickening
(b) Smooth muscle cell proliferation and collagen
deposition (c) Macrophages digest lipid causing cell
destruction and the development of a necrotic lipid core
(d) Plaque rupture through the thin fibrous cap
Andrew Nicolaides et al Ultrasound and Carotid Bifurcation Atherosclerosis Springer-Verlag London Limited 2012
Trang 45Mảng vữa xơ có ổ loét tiềm ẩn nhiều nguy cơ: Ổ loét dễ hình thành huyết khối, huyết khối có thể bong ra, trôi theo dòng máu gây nhồi máu não, huyết khối cũng
có thể đưa đến tắc hoàn toàn động mạch cảnh
Trang 46Mảng xơ vữa là vị trí rất dễ hình thành kết tập fibrin-tiểu cầu, từ đó gây thuyên tắc (thromboembolization), nhất là các mảng vữa xơ có ổ loét
Trang 5910-Dec-14 59
Hồi âm của mảng xơ vữa có thể là hồi âm trống, hồi âm kém, đồng âm hoặc hồi âm dày - có thể có bóng lưng nếu vôi hóa Hồi âm có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất Có thể có xuất huyết trong mảng vữa xơ
Nhưng quan trọng nhất là nhận biết mảng vữa xơ có ổ loét
Trang 6010-Dec-14 60
Điều chỉnh tăng vận tốc màu (từ 36 lên 86cm/s) chọn thì tâm trương: tín hiệu màu trong lòng mạch biến mất, bộc lộ rõ xảo ảnh lấp lánh (twinkle artifact) của Doppler
màu do mảng vữa xơ vôi hóa tạo nên
Trang 61Đánh giá mảng xơ vữa luôn luôn phải thực hiện trên hai mặt cắt dọc và ngang
Trang 62DOPPLER ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG
Động mạch cảnh trong: 85% lưu lượng máu lên não
Khảo sát động mạch cảnh trong là bắt buộc trước những trường hợp thiếu máu thoáng qua (TIA) hoặc có nguy cơ đột quỵ (stroke)
đoán chính nhưng xâm lấn
Điều trị: Nội khoa hoặc ngoại khoa
Lợi ích rõ ràng của phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh (carotid endarterectomy – CEA) hoặc đặt stent (carotid artery stenting):
theo dõi
năm theo dõi
Với các thế hệ máy siêu âm ngày càng hiện đại, siêu âm Doppler ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đánh giá độ hẹp của động mạch cảnh trong
Trang 63 Tuy vậy, cho đến nay, cũng mới chỉ có bảng tiêu chuẩn
đánh giá độ hẹp động mạch cảnh trong của các chuyên
gia siêu âm mạch máu Hoa Kỳ đƣợc đƣa ra vào năm
chúng ta cùng xem xét
From Grant EG, Benson CB, Moneta GL, et al: Carotid artery stenosis: Gray-scale and Doppler US diagnosis Society of
Radiologists in Ultrasound Consensus Conference Radiology 229:340–346, 2003
Trang 64Society of Radiologists in Ultrasound Consensus Conference San Francisco, Calif, October 22–23, 2002
Consensus Panel Gray-Scale and Doppler US Criteria for Diagnosis of ICA Stenosis
From Grant EG, Benson CB, Moneta GL, et al: Carotid artery stenosis: Gray-scale and Doppler US diagnosis Society of
Radiologists in Ultrasound Consensus Conference Radiology 229:340–346, 2003
1 Tất cả các khảo sát động mạch cảnh trong cần đƣợc thực hiện với siêu âm trắng-đen, Doppler
màu và Doppler xung PSV và sự hiện diện của mảng vữa xơ thấy trên siêu âm trắng-đen
và/hoặc Doppler màu là các yếu tố chính trong chẩn đoán và phân chia độ độ hẹp động mạch
cảnh trong Hai yếu tố phụ là tỷ số PSV của ICA/CCA và EDV của ICA
2 Độ hẹp xác định trên siêu âm trắng-đen và siêu âm Doppler cần đƣợc phân nhóm:
1 ICA bình thường khi PSV < 125 cm/s và không thấy mảng vữa xơ hoặc dày IMT
2 Hẹp < 50% khi PSV < 125 cm/s và thấy mảng vữa xơ hoặc dày IMT
3 Hẹp 50-69% khi PSV từ 125-230 cm/s và thấy mảng vữa xơ
4 Hẹp ≥ 70% đến gần tắc khi PSV > 230 cm/s và thấy mảng vữa xơ làm hẹp lòng mạch
5 Gần tắc khi lòng mạch hẹp rõ rệt thấy trên siêu âm Doppler màu
6 Tắc hoàn toàn khi không còn thấy lòng mạch trên siêu âm trắng-đen, không có tín hiệu
Doppler màu, không có phổ Doppler xung
3 Kết luận cần phân độ hẹp vào 6 nhóm như nêu trên, chứ không phải là một con số cụ thể
Độ hẹp tính theo đường kính (diameter stenosis) và theo phương pháp NASCET
Trang 65CÁCH ĐO ĐỘ HẸP NASCET VÀ ECST
Cả hai phương pháp này đều dựa trên nền tảng chụp mạch
máu (angiography) (trước đây) hoặc Chụp mạch máu kỹ
thuật số xóa nền (Digital Substraction Angiography – DSA)
(sau này) để đo đạc
DSA là một khám nghiệm xâm lấn (invasion) Nhưng ưu
điểm của DSA là cho ta có một cái nhìn toàn cảnh, thấy rõ
toàn bộ các mạch máu của hệ cảnh, thấy rõ chỗ hẹp và thấy rõ vùng hạ lưu bình thường sau hẹp
Ngày nay, chụp mạch máu bằng CT (CTA – CT
Angiography) và chụp mạch máu bằng cộng hưởng từ
(MRA – MR Angiography) là những khám nghiệm không
xâm lấn phần nào thay thế vai trò của DSA
Trang 66PHƯƠNG PHÁP ĐO ĐỘ HẸP ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG – NASCET vs ECST
Độ hẹp đo theo phương pháp Châu Âu (ECST) luôn luôn lớn hơn
độ hẹp đo theo phương pháp Bắc Mỹ (NASCET)
Trang 67Với DSA, phương pháp Bắc Mỹ (NASCET) rất dễ đo đạc, tương đối chính xác và khách quan Còn với phương pháp Châu Âu (ECST) thì sao? Trên DSA ta không thấy bờ ngoài của
thành mạch, do vậy ta phải tưởng tượng ra đường kính lòng mạch ước lượng tại chỗ hẹp nhất
(như hình chụp DSA minh họa ở trên), như vậy phương pháp Châu Âu khó đo đạc và kém
chính xác
Trang 68Tương quan giữa DSA (hình A) và MRA (hình B) khi đánh giá hẹp động
mạch cảnh trong
Trang 69 Trong một điều tra được đăng trên một tạp chí chuyên về phẫu thuật mạch máu của Châu Âu vào năm 2006 đã đưa ra những con số đáng suy nghĩ: Người ta đặt câu hỏi với 102 thành viên của Hội kỹ thuật mạch máu Anh và Ireland (Society of
Vascular Technology of Great Britain and Ireland)
Kết quả là 26% đo theo NASCET, 31% đo theo ECST và 43% không biết (did not know)!
Và dù đo theo phương pháp nào, cũng đều dựa vào bảng đồng thuận 2002 của Mỹ để đánh giá độ hẹp (trong khi bảng này chỉ dành cho phương pháp đo NASCET)
Walker J, Naylor AR Ultrasound based measurement of ‘carotid stenosis >70 %’: an audit of UK practice Eur J
Vasc Endovasc Surg 2006;31:487–90
Trang 70 Do tính cách xâm lấn của Angiography, từ thập niên 80s
và 90s, siêu âm Doppler bắt đầu được ứng dụng để đánh giá độ hẹp Vào thời điểm này, độ phân giải hình ảnh trên siêu âm trắng-đen không cao, người ta dựa chủ yếu vào Doppler xung để đánh giá hẹp Hình ảnh trắng-đen giúp đánh giá có mảng vữa xơ hay không?, ước chừng > 50% hay < 50%?
Ngày nay, với những thế hệ máy siêu âm hiện đại, những thông tin mà siêu âm Doppler có thể đem lại như sau