1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bìa thảo luận số 06 chứng cứ

11 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 24,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì theo quy định tại khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015 thì: Đương sự đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp trừ các trườn

Trang 1

GOOK LUCKY!

NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN TUẦN 5.

*Quy ước:

- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015

- Cơ sở pháp lý: CSPL

PHẦN I NHẬN ĐỊNH.

Câu 1: Đương sự đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ.

Nhận định sai

Vì theo quy định tại khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015 thì:

Đương sự đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp trừ các trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ lỗi của

tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà lúc này nghĩa vụ thuộc về người bị khởi kiện;

- Trường hợp 2: Người lao động trong vụ án lao động không thể cung cấp, giao nộp chứng cứ vì chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ;

- Trường hợp 3: Người lao động trong vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người

sử dụng lao động;

- Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh

Vậy nếu thuộc một trong các trường hợp trên thì đương sự đưa ra yêu cầu không có nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ

CSPL: khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015

Câu 2: Đương sự có quyền giao nộp chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

Trang 2

Nhận định sai.

Theo Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 thì thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm

Đương sự chỉ có quyền giao nộp, trình bày chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự như tại phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp:

Đương sự không giao nộp được chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp vì có lý do chính đáng nhưng đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó

Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm

=> Thuộc hai trường hợp trên thì đương sự mới có quyền giao nộp chứng cứ tại phiên tòa

sơ thẩm, phúc thẩm

CSPL: Điều 96 BLTTDS 2015

Câu 3: Chỉ có Tòa án mới có quyền trưng cầu giám định.

Nhận định sai

Trưng cầu giám định, yêu cầu giám định là biện pháp thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 102 BLTTDS 2015 Theo Khoản 2 Điều 102 BLTTDS 2015 thì

Theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.

Như vậy, có thể thấy trưng cầu giám định là việc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định Cụ thể ở đây là Tòa án và Thẩm phán có quyền trưng cầu giám định

Trang 3

CSPL: Điều 102 BLTTDS 2015.

Câu 4: Đối chất là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự

Nhận định sai

Vì Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015 thì theo yêu cầu của đương

sự hoặc khi xét thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng, Thẩm phán mới tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa đương sự với người làm chứng hoặc giữa các người làm chứng với nhau Nói cách khác, nếu không có yêu cầu của đương sự hoặc không thấy có mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng thì Thẩm phán không tiến hành đối chất Do đó, Đối chất không là thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự

CSPL: Khoản 1 Điều 100 BLTTDS 2015

Câu 5: Khi đương sự có yêu cầu chính đáng, VKS phải thu thập chứng cứ thay đương sự.

Nhận định sai

Vì Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật Viện kiểm sát thu thập tài liệu, chứng

cứ để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị của mình theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo Điều 21, khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2015

Theo Khoản 5 Điều 70 và Khoán 1 Điều 91 BLTTDS 2015 thì Đương sự có yêu cầu Tòa

án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa

án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp

Vì vậy dù có yêu cầu chính đáng viện kiểm sát cũng không có nghĩa vụ thu thập chứng cứ thay cho đương sự

CSPL: Điều 21, Khoản 6 Điều 97, Khoản 5 Điều 70 và Khoán 1 Điều 91 BLTTDS 2015

Trang 4

PHẦN II BÀI TẬP.

Bài tập: Nhà chị Mai và nhà anh Tuấn liền kề nhau Anh Tuấn sửa nhà Sau đó, nhà chị

Mai bị nứt Theo chị Mai, nhà của chị bị nứt là do việc sửa nhà của anh Tuấn gây ra Chị yêu cầu anh bồi thường 50 triệu đồng nhưng anh không đồng ý (vì cho rằng nhà chị Mai

bị nứt do nhà chị được xây dựng trên nền móng yếu) Chị Mai đã khởi kiện anh Tuấn đến Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu Tòa án buộc anh Tuấn phải bồi thường thiệt hại là 50 triệu đồng Tòa án thụ lý vụ án, trưng cầu giám định theo yêu cầu của chị Mai (anh Tuấn không đồng ý việc giám định này), chi phí giám định là 5 triệu đồng Kết quả giám định xác định: nhà chị Mai có 2 vết nứt, do tác động của việc sửa nhà của anh Tuấn

1 Chị Mai phải chứng minh những vấn đề gì? Bằng các chứng cứ nào?

Theo Khoản 1 Điều 91 BLTTDS 2015 thì chị Mai là người khởi kiện anh Tuấn yêu cầu bồi thường số tiền 50 triệu đồng, vì vậy chị Mai phải thu thập, cung cấp giao nộp tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp tức ở đây, chị Mai phải chứng minh được thiệt hại nhà của chị bị nứt là do việc sửa chữa nhà của anh Tuấn gây ra giá 50.000.000

Để đưa ra chứng cứ chứng minh trên có thể dựa vào các chứng cứ sau theo Điều 95 BLTTDS 2015

+ Kết luận giám định của cơ quan có thẩm quyền về nhà chị bị nứt do tác động của việc sửa nhà của anh Tuấn: Khoản 6 Điều 95 BLTTDS 2015

+ Vật chứng là vết nứt trên nhà: Khoản 4 Điều 95 BLTTDS 2015

+ Lời khai của chị Mai nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa mới được xem là chứng cứ : Khoản 5 Điều 95 BLTTDS 2015

+ Hóa đơn cho việc sửa chữa vết nứt căn nhà của chị Mai (nếu có) và là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực: Khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015

Trang 5

+ Hình ảnh, video về vết nứt của căn nhà hoặc liên quan đến tác động của vệc sửa chữa nhà và phải kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu về xuất xứ tài liệu: Khoản 2 Điều 95 BLTTDS 2015

2 Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai, buộc anh Tuấn bồi thường cho chị Mai số tiền 50 triệu đồng Chi phí giám định đương sự nào chịu?

Trong vụ việc trến chị Mai là người yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định nhưng anh Tuấn không đồng ý việc giám định này Như vậy theo Khoản 2 Điều 161 BLTTDS thì anh Tuấn không chấp nhận yêu cầu giám định của chị Mai song kết quả giám định cho thấy yêu cầu của chị Mai là có căn cứ nhà chị bị nứt do việc sửa nhà của anh Tuấn => Vậy anh Tuấn phải chịu chi phí giám định

Trang 6

PHẦN III PHÂN TÍCH ÁN.

* Tóm tắt vụ án:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1990 Trú tại: Thôn Vĩnh T, xã Quảng N,

huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt

- Bị đơn: Ông Lê D, sinh năm 1969 và ông Lê C, sinh năm 1956 Cùng trú tại: Thôn

Vĩnh T, xã Quảng N, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Ông D có mặt, ông C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tranhc hấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe chị H bị xâm phạm Vào ngày 25 tháng 3 năm 2018, chị H đang bán cá tại chợ Vĩnh T, xã Quảng N, huyện Quảng Điền thì ông Lê

D (là quản lý chợ) có tới chỗ chị để thu tiền lệ phí chợ Hai bên xảy ra cãi vã thì ông D xông vào đánh chị, cùng lúc đó ông Lê C (anh của ông D) lấy cái ghế nhựa xông vào đánh vào vai chị, 2 người đánh liên tiếp làm chị bị thương tích ở vùng mặt và đầu, tỷ lệ thương tật 2% Đây cũng là nguyên do chị bị bất tỉnh ngã xuống đất, được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện quốc tế điều trị 15 ngày (từ ngày 25/3/2018 đến ngày 09/4/2018) thì về nhà Nay chị yêu cầu ông Lê D và ông Lê C phải liên đới bồi thường thiệt hại cho chị với tổng số tiền là 47.576.000 đồng

Ông Lê D và Lê C thừa nhận có xảy ra xô xát nhưng ông không biết vì lý do gì mà chị H ngã xuống và chỉ đồng ý liên đới bồi thường cho chị H với số tiền 10.000.000 đồng

Bà Trần Thị H1 (mẹ chị Hiền) trình bày trong quá trình chăm sóc chị H bà bị mất thu nhập mỗi ngày là 300.000 đồng Do đó, ông Lê D và Lê C phải bồi thường số tiền trên cho chị H Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lê Thị Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi

Trang 7

kiện ban đầu và chị thừa nhận sự việc xảy ra có một phần lỗi của chị tương ứng khoảng 10%, còn lại là lỗi của ông D và ông C

-Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Lê Thị Thanh H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu, không thay đổi hay bổ sung gì và chị thừa nhận sự việc xảy ra có một phần lỗi của chị tương ứng khoảng 10%, còn lại là lỗi của ông D và ông C

Tòa án tuyên xử chấp nhận một phần ye6i cầu khởi kiện chủa chị H và buộc ông D và ông

C có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho chị H là 23.031.900đ

* Vấn đề pháp lý có liên quan:

- Xác minh tổn thất thực tế

- Án phí: Theo Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016

Chị H yêu cầu bồi thường 47.576.000 đ nhưng Tòa án chỉ chấp nhận để ông C và D bồi thường 23.031.900đ

=> Chị H chịu án phí sơ thẩm nhưng theo Điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 thì chị yêu cầu BTTH sức khỏe là trường hợp được miễn nộp án phí nhưng phải làm hồ sơ xin miễn án phí

* Trả lời câu hỏi:

Câu 1: Chứng cứ là gì? Nguyên tắc xác định chứng cứ?

* Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp: Điều 93 BLTTDS 2015

* Nguyên tắc xác định chứng cứ:

- Về nguồn của chứng cứ: Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định khá rõ chứng cứ được thu thập từ các nguồn: (1) Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; (2) Vật chứng; (3) Lời khai của đương sự; (4) Lời khai của người làm chứng; (5) Kết luật giám định; (6) Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; (7) Kết quả định giá tài

Trang 8

sản, thẩm định giá tài sản; (8) Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; (9) Văn bản công chứng, chứng thực; (10) Các nguồn khác mà pháp luật quy định

- Xác định chứng cứ theo Điều 95 BLTTDS:

Tài liệu đọc được phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận

Tài liệu nghe được, nhìn được phải được xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người

có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó

Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử

Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc

Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được ghi bằng văn bản, băng ghi

âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh theo quy định hoặc khai bằng lời tại phiên tòa

Kết luận giám định: việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ: việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục

do pháp luật quy định

Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản: việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại chỗ: việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Trang 9

Văn bản công chứng, chứng thực: việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định

=> Các nguồn chứng cứ phải đảm bảo các điều kiện:

+ Tính khách quan (có thật)

+ Tính hợp pháp: Đảm bảo điều kiện quy định và nếu do Tòa án thu thập phải theo trình

tự, thủ tục do bộ luật này quy định

+ Tính liên quan đến vụ án: Được Tòa án sử dụng làm căn cứ

Câu 2: Nghĩa vụ chứng minh thuộc về chủ thể nào?

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 91 BLTTDS quy định” Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”

Theo đó chị Lê Thị Thanh H yêu cầu ông Lê D và ông Lê C phải liên đới bồi thường thiệt hại cho chị với tổng số tiền là 47.576.000 đồng là khoản tiền bị ông Lê D và Lê C gây tổn hại sức khỏe cho chị thì chị phải có nghĩa vụ chứng minh những thiệt hại đó

Mặc khác theo Khoản 2 Điều 91 BLTTDS 2015 thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó

Ông Lê D và Lê C không đồng ý bồi thường số tiền mà chị Lê Thị Thanh H yêu cầu bồi thường về các khoản phát sinh do bị xâm hại và chỉ chấp nhận bồi thường 10.000.000đ thì ông Lê D và Lê C cũng có nghĩa vụ chứng minh cho việc mình yêu cầu bồi thường số tiền đó là hợp lý

Câu 3: Trong tình huống trên, nguyên đơn phải chứng minh những vấn đề gì? Chứng cứ cần sử dụng để chứng minh là những chứng cứ nào?

* Nguyên đơn là chị Lê Thị Thanh H, chị H yêu cầu BTTH do sức khỏe bị xâm hại thì cần chứng minh những vấn đề là:

Trang 10

- Chứng minh được ông D có hành vi tát vào mặt chị H, và ông C đã lấy ghế nhựa đập vào vai của chị

- Khi ông D và ông C đập chị H đến bất tỉnh phải kêu xe cứu thương

- Việc điều trị tại bệnh viện và thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện của chị H và người chăm sóc cho chị là mẹ chị H

* Chứng cứ cần sử dụng để chứng minh là: Theo Điều 95 BLTTDS 2015

- Vật chứng là chiếc ghế mà ông C đánh chị H: Khoản 2 Điều 95 BLTTDS 2015

- Lời khai của chị H về sự việc xảy ra và thu nhập thực tế bị mất trong thời gian chị nằm viện và dưỡng thương: Khoản 3 Điều 95 BLTTDS 2015

- Lời khai của những người có mặt tại hiện trường như là khách hàng, người bán bên cạnh chị H,… để chứng minh cho hành vi của ông D và ông C đã chưởi bới và đập chị H và lời khai của mẹ chị H đã đưa chị H đi cấp cứu và nuôi dưỡng chị H, về chi phí bị mất trong thời gian chăm sóc chị H: Khoản 4 Điều 95 BLTTDS 2015

=> Lời khai phải được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa mới được xem là chứng cứ

- Kết luận giám định pháp y chứng nhận thương tật của Trung tâm pháp y để chứng minh cho H bị thương tật 2%: Khoản 5 Điều 95 BLTTDS 2015

- Biên lai, hóa đơn tiền chữa trị của chị H trong quá trình nằm bệnh viện và là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực: Khoản 1 Điều 95 BLTTDS 2015

Câu 4 : Việc ông D thừa nhận hành vi trái pháp luật của mình có phải là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh không?

Theo Khoản 2 Điều 92 BLTTDS 2015 thì một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh

Chị H khai ông D có hành vi chửi bưới và đánh chị H và ông D đã thừa nhận hành vi trái pháp luật của mình là có xô xát và tát chị H => Ông D đã thừa nhận hành vi trái pháp luật

Ngày đăng: 15/11/2020, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w