1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bài thảo luận số 06 môn luật HS phần các tội phạm

6 249 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 19,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tùy trường hợp mà hành vi mang trái phép vật có giá trị lịch sử , văn hóa qua biên giới cấu thành tội khác nhau: -Trong trường hợp mang trái phép vật có giái trị lịch sử , văn hóa qua bi

Trang 1

Câu 25: Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ( Điều 189 BLHS).

Nhận định sai Vì Mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biến giới không chỉ

là hành vi cấu thành Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới ( Điều 189 BLHS) Tùy trường hợp mà hành vi mang trái phép vật có giá trị lịch sử , văn hóa qua biên giới cấu thành tội khác nhau:

-Trong trường hợp mang trái phép vật có giái trị lịch sử , văn hóa qua biên giới nhưng không có mục đích buôn bán thì cấu thành Tội vân chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới điều 189 BLHS

- Trong trường hớp mang trái phép vật có giá trị lịch sử, văn hóa qua biên giới nhưng có mục đích buôn bán thì cấu thành Tội buôn lậu theo Điều 188 BLHS

Câu 26: Mọi hành vi buôn bán trái phép hàng hóa có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên qua biên giới đều cấu thành Tội buôn lậu (Điều 188 BLHS).

Nhận định sai

Vì đối tượng tác động của tội buôn lậu phải là hàng hóa được phép lưu thông, còn nếu hàng hóa không được phép lưu thông mà được buôn bán qua biên giới thì cấu thành tội buôn bán hàng cấm (điều 190 BLHS)

Câu 27: Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa là hàng giả.

Nhận định sai Vì không phải hàng hoá nào có hàm lượng, định lượng chất chính thấp hơn so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa thì đều là hàng giả

Căn cứ vào điểm b, Khoản 1, Điều 4 NĐ 08/2013/NĐ-CP:

“b) Hàng hóa có hàm lượng, định lượng chất chính, tổng các chất dinh dưỡng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản khác chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng, quy chuẩn kỹ thuật đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;”

Theo quy định trên, chỉ có hàng hoá có hàm lượng, định lượng chất chính chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng đã đăng kí, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa thì mới là hàng giả

Câu 29: Hàng giả chỉ là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại điều

192, 193, 194, 195 BLHS.

Nhận định sai

Trang 2

Hàng giả có hai loại: Hàng giả về nội dung và hàng giả về hình thức.

Hàng giả về nội dung, tức là hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc công dụng Đây là đối tượng tác động của các tội phạm được quy định tại điều 192, 193, 194, 195 BLHS Còn hàng giả về hình thức, tức là về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý không thuộc đối tượng tác động của tội phạm này mà thuộc đối tượng tác động của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS 2015)

Câu 34: Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước quy định tại Điều 203 BLHS chỉ là hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác như quy định.

Nhận định sai

Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước qui định tại Điều 203 BLHS không chỉ là hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xáctheo qui định Ngoài hành vi mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ,không chính xác thì còn có các hành vi khác như:

- Mua, bán hóa đơn đã ghi nội dung nhưng không có hàng hoá dịch vụ đi kèm

- Mua, bán hóa đơn giả, hoá đơn chưa có giá trị sử dụng, hết hạn sử dụng, hoá đơn của cơ

sơ kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hoá HH DV mua vào hoặc cấp cho khác hàng khi bán hàng hoá dịch vụ

- Mua bán hoá đơn có chênh lệch về giá trị hàng hoá dịch vụ giữa các liên của hoá đơn

Câu 37: Mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam đều cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226 BLHS).

Nhận định sai

Vì không phải mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt Nam đều cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, mà chỉ các hành vi chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp các nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam thì mới cấu thành Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được qui định tại Điều

226 BLHS năm 2015 Như vậy, theo quy định tại Khoản 1, Điều 226, hành vi cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà đối tượng là hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng

Trang 3

Câu 44: Mọi hành vi thải vào nguồn nước các chất gây ô nhiễm môi trường thì cấu thành Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS).

Nhận định sai

Vì trong mặt khách quan của tội phạm này hành vi xả thải gây ô nhiễm không khí, gây ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nước phải vượt quá tiêu chuẩn quy định của nhà nước còn nếu chưa đạt ngưỡng tiêu chuẩn này thì không bị coi là phạm tội

Bài tập 12:

A biết B là người buôn bán hàng cấm nên đã có hành vi sau:

a A yêu cầu B phải nộp cho y một số tiền 5 triệu đồng thì sẽ không tố giác việc làm của B với công an B đành chấp nhận và giao đủ số tiền mà A đặt ra

Hành vi của A đã cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 BLHS, dấu hiệu pháp

lý của tội này như sau:

- Về khách thể: Xâm phạm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân

+ Đối tượng tác động: 5 triệu đồng và tinh thần của B

- Về mặt khách quan:

+ Hành vi “có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác”: A đe dọa sẽ tố giác việc buôn bán hàng cấm của B cho công an nếu như bà không đưa cho A 5 triệu đồng

- Về chủ thể: chủ thể thường

- Về mặt chủ quan:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích chiếm đoạt 5 triệu đồng

b A mặc trang phục công an, đến nơi B buôn bán, ập vào bắt quả tang Thấy A mặc trang phục công an nên B xin được tha A giả bộ làm căng, yêu cầu B về trụ

sở để lập biên bản B năn nỉ A nói đưa cho A 5 triệu đồng thì A sẽ tha B chấp nhận và giao tiền cho A

Hành vi của A cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 136 BLHS, dấu hiệu pháp lý của tội này như sau:

- Về khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của B

+ Đối tượng tác động: 5 triệu đồng

- Về mặt khách quan:

Trang 4

+ Hành vi lừa dối: A cô đưa ra thông tin gian dối bằng cách mặc đồng phục công an, đến nơi B buôn bán, ập vào và bắt quả tang, yêu cầu B về trụ sở để lập biên bản

+ Hành vi chiếm đoạt tài sản: A nói B đưa A 5 triệu thì A sẽ tha, B chấp nhận và giao tiền cho A

- Về chủ thể: chủ thể thường

- Về mặt chủ quan:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

+ Mục đích chiếm đoạt tài sản

Bài tập 13:

Tội danh mà A đã phạm là Tội trộm cắp tài sản (Điều 173, BLHS)

Hành vi của A đã đủ các dấu hiệu pháp lí đặc trưng của Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS)

- Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của chủ cửa hàng mĩ phẩm

+ Đối tượng tác động: tài sản của chủ cửa hàng mĩ phẩm (trị giá 3 triệu đồng)

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: A có hành vi lén lút đánh tráo gói hàng đồ khô để lấy gói hàng mĩ phẩm của chủ cửa hàng

+ Hậu quả: Gây thiệt hại vật chất cho chủ cửa hàng (tài sản)

+ Mối quan hệ nhân quả: A là nguyên nhân trực tiếp gây thiệt hại cho chủ cửa hàng

- Chủ thể: A là chủ thể thường, thỏa mãn điều kiện về mặt chủ thể

- Mặt chủ quan:

+ Lỗi cố ý trực tiếp vì A nhận thức được hành vi của mình sẽ gây thiệt hại về tài sản cho người khác

+ Mục đích của A là nhằm chiếm đoạt gói hàng mĩ phẩm thành của mình bằng thủ đoạn đánh tráo

Bài tập 16:

Hành vi của B đã phạm Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều

175 BLHS 2015

- Khách thể: Hành vi của B đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản, trong trường hợp này là chiếc xe máy của M trị giá của chiếc xe máy là 20 triệu đồng

Trang 5

- Mặt khách quan: M đã đồng ý để B chở bằng xe gắn máy của mình sau đó B đã lừa M bằng cách vờ làm rơi túi và nhờ M nhặt giúp nhằm chiếm đoạt chiếc xe (B

đã phóng xe bỏ chạy)

- Chủ thể: B là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

Bài tập 17:

Hành vi của A đã cấu thành tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS) vì hành vi của A đã đủ yếu tố cấu thành tội này:

Khách thể: quyền sở hữu vài trăm lít dầu của nhà máy T.H

+Đối tượng tác động: vài trăm lít dầu

Mặt khách quan:

+Hành vi: lén lúc chiếm đoạt vài trăm lít dầu đang trong sự quản lý của chủ cửa hàng xăng dầu (vì lúc này dầu chưa được giao cho nhà máy T.H nên còn trong sự quản lý của chủ cửa hàng xăng dầu)

+Hậu quả: thiệt hại về tài sản là 38.565.000 đồng

+Mối quan hệ nhân quả: hành vi của A là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại về tài sản cho nhà máy T.H

Chủ thể: A

Mặt chủ quan:

+ Lỗi cố ý trực tiếp

Bài tập 25:

Tội danh đối với hành vi của công ty A là tội trốn thuế theo quy định tại Điều 200 BLHS

- Khách thể: Xâm phạm chính sách thuế của Nhà nước, làm thất thu ngân sách Nhà nước

- Mặt khách quan:

+ Hành vi: Công ty A nhập từ nước ngoài về Việt Nam 32 tấn nguyên liệu sản xuất thuốc trừ sâu BPMC hàm lượng khai báo là 97% Nhưng qua kiểm định thì hàm lượng chỉ có 94,6%

+ Hậu quả: làm thất thu ngân sách Nhà nước 1 tỷ 450 triệu đồng

+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi của công ty A là nguyên nhân dẫn đến thất thu cho Nhà nước

Trang 6

- Chủ thể: Công ty A.

- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp Công ty A biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì vụ lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm

Ngày đăng: 18/01/2020, 08:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w