Vì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng n
Trang 1NỘI DUNG BÀI THẢO LUẬN TUẦN 10
*Quy ước:
- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: BLTTDS 2015
- Cơ sở pháp lý: CSPL
PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH
Câu 1: Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm.
Nhận định sai
Vì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.Vì vậy Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần Bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm
CSPL: Điều 293 BLTTDS 2015
Câu 2: Tại phiên tòa phuc thẩm mà các đương sự thỏa thuận được với nhau thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.
Nhận định sai
Vì phải xem xét thỏa thuận của các đương sự có là tự nguyện có vi phạm điều cấm của
Trang 2thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự => Nếu thỏa thuận không tự nguyện, vi phạm điều cấm hay trái đạo đức xã hội thì HĐXX sẽ không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự
CSPL: Khoản 1 Điều 300 BLTTDS 2015
Câu 3: Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Nhận định sai
Vì trong trường hợp người kháng cáo được Tòa án triệu tập lần thứ nhất mà không có mặt, cũng không có đơn xin xét xử vắng mặt, thì Tòa án sẽ hoãn phiên tòa Ngoài ra, trường hợp Tòa án triệu tập lần thứ hai mà người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa chứ không đình chỉ xét xử phúc thẩm
CSPL: Khoản 2, 3 Điều 296 BLTTDS 2015
Câu 4: Người đại diện theo ủy quyền của đương sự không có quyền kháng cáo thay đương sự.
Nhận định sai
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 86 Luật TTDS 2015 quy định người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền Theo Điều 271 Luật TTDS 2015 thì người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo và theo Khoản 3 Điều 272 thì người kháng cáo nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo
=> Người đại diện theo ủy quyền vẫn có quyền kháng cáo trong trường hợp trong nội dung văn bản ủy quyền, đương sự có ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền cho mình có quyền kháng cáo
Trang 3Câu 5 : Tòa án bắt buộc phải chấp nhận mọi sự thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của đương sự.
Nhận định sai
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 thì đương sự có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo ban đầu Còn trường hợp đã hết thời hạn kháng cáo thì tước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo nhưng không được vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu
=> Hết thời hạn kháng cáo thì thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo chỉ đươc chấp nhận nếu không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu
CSPL: Khoản 1, 2 Điều 284 BLTTDS2015
PHẦN 2 BÀI TẬP.
Bài tập: Tháng 6 năm 2015, ông I Richard Jeffreyđi du lịch tại Việt Nam và có quen,
biết với bà Lê Thị T Tháng 6 năm 2016, ông I cho bà T mượn 100.000.000 đồng để
bà T mở Spa cho con gái Trong thời gian quen nhau, bà T hứa sẽ kết hôn với ông I, vào tháng 4 và tháng 5/2016 ông I đã cùng bà T đi mua sắm một số trang thiết bị, vật dụng như máy điều hòa, ti vi, tủ lạnh, nồi cơm điện tại cửa hàng Điện Máy Xanh – thành phố
H với số tiền 139.827.000 đồng để lắp đặt tại căn nhà của bà T Khoản chi tiêu mua sắm vật dụng này ông I có hóa đơn chứng từ do cửa hàng Điện Máy Xanh – thành phố H cung cấp Nay, bà T không đồng ý kết hôn Vì vậy, ông I đề nghị Tòa án buộc bà Lê Thị T trả cho ông I số tiền đã mượn là 100.000.000 đồng và trả lại cho ông I số vật dụng mua sắm giống như ban đầu (mới 100%) hoặc nếu bà T không thể hoàn trả số vật dụng đó thì có thể thanh toán bằng tiền cho ông I đã mua sắm tổng cộng là 139.827.000 đồng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông I Richard Jeffrey Buộc bà Lê Thị T trả cho ông I Richard Jeffrey số tiền vay là 100.000.000 đồng và hoàn trả cho ông I Richard Jeffreygiá trị tài sản là 78.400.000 đồng
Bị đơn kháng cáo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ đồng ý hoàn
Trang 4cho rằng ông I đã tặng cho bà Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đưa ra ý kiến bị đơn sẽ trả cho nguyên đơn 150 triệu đồng và yêu cầu nguyên đơn phải rút toàn bộ đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm, không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Nếu anh/chị là nguyên đơn, anh/chị đồng ý với ý kiến của bị đơn không? Tại sao?
Trả lời:
Tôi không đồng ý với ý kiến của bị đơn
- Việc ông I yêu cầu bà T trả 100 triệu đồng mà bà T mượn vì số tiền này dùng để bà T
mở Spa cho con gái Bà T cũng đã chấp nhận trả 100 triệu đồng nên không phải xét đến
- Về số tiền mua trang thiết bị, vật dụng: Bà T cũng đã đồng ý trả 50 triệu số tiền này Căn cứ theo quy định tại:
Điều 457 BLDS 2015 thì hợp đồng tặng cho theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù và bên được tặng cho đồng ý nhận Điều 458 việc tặng cho động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản
Khi giữa ông I với bà T có quan hệ tình cảm, ông I đã có hành vi cụ thể là tự nguyện đi mua sắm lắp đặt một số trang thiết bị nêu trên cho bà T sử dụng, giữa hai bên không có một điều kiện hay thủ tục, thoả thuận gì khác dù bà T đã hứa sẽ kết hôn và không thực hiện nhưng đây không phải là thỏa thuận khác hay điều kiện tặng cho tài sản trên
Hơn nữa, theo hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bà T và ông I thì không có tài liệu chứng
cứ gì thể hiện việc ông I cho bà T vay, mượn tài sản hoặc tiền để mua số trang thiết bị, vật dụng nêu trên Việc đi mua sắm và lắp đặt các thiết bị, đồ dùng sinh hoạt gia đình tại nhà
bà T của ông I là hoàn toàn thiện chí, điều đó chứng tỏ ông I đã có sự tặng cho tài sản như lời khai bà T là phù hợp
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đưa ra ý kiến bị đơn sẽ trả cho nguyên đơn 150 triệu đồng và yêu cầu nguyên đơn phải rút toàn bộ đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm:
Trang 5Theo Điều 299 BLTTDS 2015: Nếu ông I rút đơn khởi kiện và bà T đồng ý thì HĐXX chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án
Về án phí: Ông I và bà T vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật
Nếu ông I rút đơn khởi kiện thì ông I vẫn có quyền khởi kiện lại vụ án
Tuy nhiên, nếu ông I rút đơn khờ kiện và bà T không thực hiện trả cho ông I 150 triệu thì ông có quyền khởi kiện lại nhưng sẽ lại phải thực hiện thủ tục tố tụng từ đầu và lại phải chịu án phí mới như vụ án mớ sẽ tốn thời gian và tiền bạc của ông I
Theo ý kiến của bà T thì ông I không rút đơn khởi kiện mà ông I chỉ nên tự thỏa thuận với
bà T tại phiên tòa phúc thẩm chấp nhận việc bà T trả ông 150 triệu và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận này Theo Điều 300 BLTTDS 2015 thì Nếu ông I và bà T thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là bà T trả cho ông I 150 triệu
Về án phí: Ông I hà bà T tự thỏa thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật
=> Theo đó nguyên đơn không đồng ý với ý kiến rút đơn khởi kiện của bị đơn mà nguyên đơn chỉ đồng ý việc thỏa thuận bị đơn trả 150 triệu và HĐXX công nhận sự thỏa thuận này
PHẦN 3 PHÂN TÍCH ÁN
* Tóm tắt án
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1935; cư trú: Thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú
Yên;
Bị đơn: Ông Nguyễn X, sinh năm: 1955; - Bà Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm:1954; Cùng
Trang 6Vụ án giữa bà Đ và bà S, ông X tranh chấp quyền sử dụng đất Nguyên đơn trình bày vợ chồng bà được thừa hưởng diện tích đất và bà cho ông H, bà C thuê có thời hạn một phần Khi ông H, bà C chết thì cháu họ là bà S tiếp tục sử dụng, quản lý Bà Đ yêu cầu bà S trả đất nhưng Tòa án không thụ lý Bị đơn trình bày ông bà nội của chị có xây dựng một ngôi nhà chị S từ nhỏ ở với ông bà nội (Nguyễn H và Lê Thị C) Năm 1997, chị S kết hôn với anh X và tiếp tục sống ở đó
Năm 1989, Ban cải tạo ruộng đất xã Hòa Xuân cho đăng ký vào sổ mục kê ruộng đất đối với diện tích đất tranh chấp cho vợ chồng anh Năm 1991, gia đình ông L, bà Đ tranh chấp lối đi vào nhà anh X
Sau đó, ngày 01/7/1991 UBND xã Hoà Xuân có Thông báo là vợ chồng anh được quyền
sử dụng đất mà ông H, bà C để lại Năm 1993, vợ chồng anh X chị S được UBND huyện Tuy Hòa (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay không ai tranh chấp Khi Nhà nước thực hiện dự án mở rộng Quốc lộ 1A trúng đền bù giải tỏa một phần đất trong diện tích đất của anh X , thì ông L, bà Đ tiếp tục khởi kiện tranh chấp
Tòa án sơ thẩm nhận định Thông báo về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trên
là khômg có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu nguyên đơn Tòa án phúc thẩm xác định việc giải quyết tranh chấp trên đã được giải quyết tại Thông báo trên
Quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, đình chỉ giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
* Vấn đề pháp lý: Phúc thẩm vụ án dân sự trong trường hợp sự việc đã được giải quyết
bằng bản án, quyết định đã có hiệu của TA hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
* Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự là gì?
Xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
Đây là một hoạt động tố tụng
Trang 7Đã có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng chưa có hiệu lực pháp luật và bị đương sự kháng cáo hoặc VKS kháng nghị
Toà án cấp trên tiến hành kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định
do Toà án cấp sơ thẩm xử đã ra Kiểm tra tính hợp pháp là kiểm tra việc áp dụng pháp luật của toà sợ thẩm khi ra bản án, quyết định đó, bao gồm cả pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng; kiểm tra tính có căn cứ của bản án, quyết định là kiểm tra những chứng cứ đã thu thập được có phù hợp với thực tế không, kết luận của bản án/quyết định có phù hợp với hồ sơ vụ án hay không
Câu 2: Phạm vi xét xử phúc thẩm vụ án dân sự?
Về nguyên tắc, bản án quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phần nào thì chỉ phần
đó chưa có hiệu lực thi hành và sẽ đưa ra xét xử lại theo trình tự phúc thẩm Phần còn lại của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ phát sinh hiệu lực và có hiệu lực thi hành Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị toàn bộ thì toàn bộ bản án, quyết định bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
Căn cứ theo quy định tại Điều 293 BLTTDS 2015, phạm vi xét xử phúc thẩm được quy
định cụ thể như sau: Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Như vậy, nội dung (phạm vi) phúc thẩm là chỉ xét lại những nội dung do đương sự kháng cáo và bị giới hạn bởi phạm vi mà bản án sơ thẩm đã giải quyết Nói cách khác, toà phúc thẩm chỉ xét xử trong phạm vi những nội dung mà tòa sơ thẩm đã xét xử và chỉ những phần đương sự kháng cáo hoặc những phần mà Tòa án sơ thẩm chưa giải quyết nhưng phải có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Toà phúc thẩm không thể giải quyết những yêu cầu mới mà Tòa sơ thẩm chưa xét xử
Câu 3 : Trong tình huống đã cho, việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Đ với bị đơn vợ chồng bà S, ông X đã
Trang 8ông X đã được UBND huyện Tuy Hòa (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và sử dụng ổn định cho đến nay nhưng lại sửa bản án sơ thẩm, xử không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn có đúng pháp luật hay không? Tại sao?
Việc sửa bản án sơ thẩm, xử không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là không đúng pháp luật bởi lẽ: Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên đã được Tòa án thụ lý giải quyết, vì vậy khi TA cấp phúc thẩm xác định việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Đ với bị đơn vợ chồng bà S, ông X đã được giải quyết tại Thông báo ngày
5 01/7/1991 của UBND xã Hòa Xuân (cũ) và phía ông X đã được UBND huyện Tuy Hòa (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định cho đến nay tức vấn đề công nhận quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng một quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo điểm c Khoản 1 Điêu 192 BLTTDS 2015 Cũng tại Điểm g Khoản 1 Điêu 217 Bộ luật này, sau khi thụ lý vụ án, nếu có trường hợp tại Khoản 1 Điều 192 thì TA ra quyết định đình chỉ vụ án Như vậy trong trường hợp này, khi Tòa án cấp phúc thẩm xác định việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà
Đ với bị đơn vợ chồng bà S, ông X đã được giải quyết tại Thông báo ngày 5 01/7/1991 của UBND xã Hòa Xuân (cũ) và phía ông X đã được UBND huyện Tuy Hòa (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định cho đến nay thì TA phải đình chỉ giải quyết vụ án chứ không có thẩm quyền sửa bản án sơ thẩm xử không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn