1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

106 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” l

Trang 1

− − − − − − − − − − − − − − − − − − −

CHÂU HẬU DOANH DOANH

TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU VỐN NƯỚC NGOÀI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

− − − − − − − − − − − − − − − − − − −

CHÂU HẬU DOANH DOANH

TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU VỐN NƯỚC NGOÀI ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Kinh tế với đề tài “Tác động của sở hữu vốn

nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của

PGS.TS Trương Thị Hồng Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý khách quan, trung thực

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2015

Học viên thực hiện

Châu Hậu Doanh Doanh

Trang 4

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt

động kinh doanh của ngân hàng thương mại 5

1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 7 1.2.1 Phương pháp đo lường theo cách truyền thống 8

1.2.3 Phương pháp đo lường hiệu quả căn cứ vào thị trường 11 1.3 Tác động của vốn sở hữu nước ngoài vào hiệu quả hoạt động kinh

Chương 2: Thực trạng về vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt

động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ năm 2003 đến năm

2014

20

2.1 Sự thâm nhập vốn nước ngoài trong ngành ngân hàng Việt Nam 20 2.1.1 Các hình thức tham gia của vốn nước ngoài 20 2.1.2 Các văn bản pháp luật quy định sự tham gia của vốn nước ngoài 23

Trang 5

2.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ năm

Chương 3: Phân tích và kết quả tác động của sở hữu vốn nước ngoài

đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 40

Trang 6

3.2.3 Các biến kiểm soát 47

Chương 4: Vận dụng tác động của sở hữu vốn nước ngoài nhằm nâng

cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 61

Trang 7

4.1 Hạn chế của bài nghiên cứu 61

4.2 Bài học kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 62 4.3 Một số kiến nghị về việc tác động của sở hữu vốn nước ngoài nhằm

nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam 64

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BID : Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

CNNHNN : Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

CTG : Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

EIB : Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam

FSI : Nhà đầu tư nước ngoài

HD Bank : Ngân hàng TMCP Phát triển Tp.HCM

HSBC : Ngân hàng Hong Kong và Thượng Hải

KPMG : Công ty trách nhiệm hữu hạn KPMG

MDB : Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kông

MHB : Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long MSB : Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam

NHLD : Ngân hàng liên doanh

NHNN : Ngân hàng 100% vốn nước ngoài

NHTM : Ngân hàng thương mại

Trang 9

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước

PGB : Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex

Quốc Dân : Ngân hàng TMCP Quốc Dân

SaigonBank : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương

SeABank : Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

SGVF : Công ty tài chính Việt Société Générale

SHB : Ngân hàng TMCP Sài gòn - Hà Nội

STB : Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín

TCB : Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam

VCB : Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

VIB : Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

VietCapital : Ngân hàng TMCP Bản Việt

VNCB : Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam

VPBank : Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng

Trang 10

2.2 Tổng hợp quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước

ngoài so với vốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam 24 2.3 Số lượng các ngân hàng qua các năm tại Việt Nam 26 2.4 Tổng tài sản của một số ngân hàng trong khu vực đến cuối năm

2.5 Mức vốn pháp định cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam 28 2.6 Một số thương vụ mua cổ phần của các NHTMCP Việt Nam 32 2.7 Tỷ lệ sở hữu nước ngoài của một số NHTMCP Việt Nam 32 2.8 Tốc độ tăng trưởng tỷ lệ ROA, ROE của một số NHTMCP Việt

2.9 Tốc độ tăng trưởng tỷ lệ NIM của một số NHTMCP Việt Nam

DANH MỤC BIỂU

Biểu

2.1 Sự tăng trưởng tài sản của một số NHTMCP Việt Nam từ năm

Trang 11

2.2 Vốn điều lệ của 24 NHTMCP Việt Nam từ năm 2006 - 2014 30 2.3 Tăng trưởng tín dụng và huy động giai đoạn 2003-2014 31 2.4 Tỷ lệ ROA, ROE trung bình của 24 NHTMCP Việt Nam giai

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Ngay sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)1, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng đa dạng về các hình thức sở hữu, đặc biệt có nhiều ngân hàng nước ngoài thâm nhập vào thị trường, tạo nên sức ép cạnh tranh lớn tới các ngân hàng trong nước, nguy cơ mất thị phần Một trong những giải pháp được các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước lựa chọn là tiến tới hợp tác, thu hút vốn sở hữu nước ngoài

Trên thế giới, hình thức sở hữu vốn góp nước ngoài được nghiên cứu có nhiều tác động cả tích cực lẫn hạn chế đối với ngân hàng nội địa trong các nước đang phát triển Cụ thể, sự hiện diện của vốn sở hữu nước ngoài được xem là nhân tố để cải thiện lợi thế chi phí so sánh có liên quan tới sản xuất và xử lý thông tin (Okuda & Suvadee, 2006) Sự góp vốn này cũng đem lại lợi ích ở cấp vĩ mô, đặc biệt tăng lợi nhuận của ngân hàng (Shen, Lu, Wu, 2009) Tuy nhiên, sở hữu nước ngoài và tỷ lệ

sở hữu vốn nước ngoài nên được giới hạn bởi nhiều quy định cho phép hạn chế để bảo vệ các ngân hàng nội địa (Susanto, Rokhim, 2011) Theo lập luận của Kurniawan (2004) và Levine (1996) cho rằng, các ngân hàng lớn và có vốn sở hữu nước ngoài sẽ tiếp tục thâu tóm các ngân hàng tư nhân có quy mô nhỏ và có ảnh hưởng lớn đến thị trường ngân hàng trong tương lai

Ở Việt Nam, trong các năm gần đây, hình thức các ngân hàng có vốn sở hữu nước ngoài ngày càng nhiều và phổ biến Mặc dù, nhiều trường hợp cho thấy rằng một số nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào ngân hàng nội địa, nhưng sau đó lại thoái vốn nhanh chóng chỉ trong một thời gian ngắn Do đó, việc nghiên cứu tác động của nguồn vốn sở hữu nước ngoài vào ngành công nghiệp ngân hàng trong

      

1 Đối với cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ trong lĩnh vực ngân hàng, Việt Nam đồng ý cho phép thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn ngày 01/04/2007, với điều kiện ngân hàng nước ngoài là chủ đầu tư phải là ngân hàng thương mại có tổng tài sản trên 10 tỷ USD vào cuối năm liền trước thời

Trang 13

nước nói chung và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam nói riêng là cần thiết Từ đó cho thấy rằng có nên hay chăng việc

mở cửa thị trường ngân hàng, với sự tham gia của nhiều ngân hàng nước ngoài thông qua góp vốn vào các ngân hàng trong nước, đồng thời có thể giúp chính phủ Việt Nam điều chỉnh chính sách vốn nước ngoài với mục đích phát triển thị trường ngân hàng nội địa hiệu quả hơn Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài nghiên cứu

“Tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Bằng việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của 24 ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam, đề tài nhằm giải quyết cho 2 mục tiêu chính sau:

- Đánh giá được sự tác động của vốn sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam;

- Dựa trên cơ sở kết quả tác động của vốn sở hữu nước ngoài, đề tài cố gắng đề xuất một số kiến nghị đối với chính phủ Việt Nam nhằm kiểm soát thị trường giúp hệ thống ngân hàng nội địa ngày càng phát triển

3 Phạm vi nghiên cứu

- Dữ liệu mẫu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá sự tác động của vốn sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của 24 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, bao gồm: ABB, ACB, BID, CTG, DCB, EAB, EIB, KLB, MBB, MDB, MHB, MSB, NAB, PGB, STB, SCB, SeABank, SHB, TCB, VIB, VAB, VietCapital, VCB, VNCB

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2003 đến năm 2013 Đầu năm 2015, ngân hàng MHB đã thực hiện thành công việc sáp nhập vào ngân hàng BID nên các số liệu của MHB trong năm 2014 được báo cáo hợp nhất vào BID Ngoài ra, ngân hàng DCB, VNCB đang thuộc diện vi phạm liên tục về quy định công bố thông tin tại Khoản 1, 2 Điều 7 và Khoản 3 Điều 10 của Thông tư 52/2012/TT-BTC ban

Trang 14

hành ngày 05/04/2012 của Bộ Tài Chính, trong đó, DCB xin tạm hoãn Đại hội đồng cổ đông thường niên sang tháng 6 năm 2015 Do đó, đề tài gặp hạn chế trong việc cập nhật số liệu mới nhất cho mô hình nghiên cứu

- Nguồn thu thập dữ liệu: Các số liệu tài chính như MicroFP, EquityTA, LiquidTA, LoanDepo, ShareGov, TotAsset sẽ được thu thập kết hợp phân tích,

xử lý dữ liệu từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính qua từng năm của các ngân hàng trong dữ liệu mẫu nghiên cứu Số liệu các biến vĩ mô như MacroFP, tốc độ tăng trưởng GDP, CPI, tốc độ tăng trưởng tín dụng Credit Growth, lãi suất, M2 sẽ được dựa vào bảng thống kê do Tổng cục Thống kê Việt Nam công

bố, số liệu tổng hợp của Ngân hàng phát triển Châu Á ADB Số liệu về tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ được thu thập từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra chọn mẫu:

Đề tài bị hạn chế trong việc thu thập các báo cáo chi tiết của toàn hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam Do đó, tác giả đề tài chỉ có thể dựa vào thông tin cung cấp từ 24 ngân hàng công bố trên các phương tiện truyền thông nên

sẽ thực hiện nghiên cứu theo phương pháp điều tra chọn mẫu

- Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp:

Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chủ yếu được thu thập từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính hằng năm của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, sau đó tác giả đề tài sẽ tổng hợp, xử lý số liệu phù hợp theo các biến tác động của

mô hình Ngoài ra, việc thu thập nguồn số liệu, thông tin từ các tạp chí chuyên ngành ngân hàng có uy tín như tạp chí Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, tạp chí thị trường tiền tệ, tạp chí ngân hàng, các website của Tổng cục Thống kê Việt Nam, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng phát triển Châu Á ADB…cũng được sử dụng làm nguồn dữ liệu thứ cấp cho đề tài

- Phương pháp phân tích hồi quy:

Trang 15

Đề tài sử dụng phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng GMM để đánh giá tác động của sở hữu vốn nước ngoài lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam thể hiện qua mô hình như sau:

5 Nội dung đề tài

Đề tài được trình bày trong phạm vi 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại;

- Chương 2: Thực trạng về vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2014;

- Chương 3: Phân tích và kết quả tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam;

- Chương 4: Vận dụng tác động của sở hữu vốn nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam

Trang 16

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.1 Vốn sở hữu nước ngoài

Với việc đặt hai vấn đề về chính sách quản trị ngân hàng trong bài nghiên cứu “Tác động của việc tham gia ngân hàng nước ngoài lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trung Quốc”, bao gồm đầu tiên, có hay không sự ảnh hưởng tích cực của chính sách mở cửa đến ngành công nghiệp ngân hàng trong nước, nhằm giúp cho các nhà hoạch địch chính sách hiểu rõ hơn tác động của sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài, từ đó xem xét Trung Quốc nên tiếp tục hay dừng việc mở cửa thị trường tài chính ngân hàng; vấn đề thứ hai đó là tỷ lệ phần trăm vốn cổ phần của các cổ đông nước ngoài có ảnh hưởng đến hiệu suất ngân hàng nội địa hay không nhằm đưa ra quyết định có cần thiết nới lỏng hoặc thậm chí loại bỏ các hạn chế tỷ lệ phần trăm

cổ phần nước ngoài không, Shen, Lu và Wu (2009) đã định nghĩa vốn sở hữu nước ngoài theo 2 hình thức sau:

- Đối với cấp độ ngành: Vốn sở hữu nước ngoài là tỷ lệ phần trăm của số lượng các ngân hàng trong nước với sự tham gia của các cổ đông nước ngoài trên tổng

số các ngân hàng trong một nước Tỷ trọng này được gọi là hệ số MacroFP MacroFP được sử dụng để giải quyết vấn đề đầu tiên liên quan đến sự mở cửa của thị trường ngân hàng, nhằm đánh giá tác động của sự thâm nhập nguồn vốn nước ngoài đến ngành công nghiệp ngân hàng địa phương Tác động tích cực có thể kể đến như chuyển giao công nghệ, đổi mới, phát triển sản phẩm, cạnh tranh lành mạnh trong hệ thống giúp các ngân hàng trong nước nâng cao hiệu quả và lợi nhuận hoạt động Ngược lại, việc cạnh tranh quá mức có khả năng dẫn đến

sự bất ổn tài chính trong ngành ngân hàng

- Đối với cấp độ ngân hàng: Vốn sở hữu nước ngoài là tỷ lệ phần trăm cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào một ngân hàng, được gọi

Trang 17

đến sự ảnh hưởng của tỷ lệ phần trăm cổ phần các cổ đông nước ngoài, nhằm đánh giá hiệu quả của vốn sở hữu nước ngoài tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong nước Mặc dù các nhà đầu tư ngoại có thể cung cấp những công nghệ mới, giới thiệu các kỹ năng quản lý tiên tiến, khái niệm quản trị mới (Liu và cộng sự, 2007), nhưng mục tiêu giữa FSI và ngân hàng địa phương là khác nhau Ví dụ: FSI tập trung vào mục tiêu duy nhất tối đa hóa lợi nhuận, trong khi các ngân hàng nội địa có nhiều mục tiêu như phúc lợi xã hội, chính sách cho vay (Shen, Lu, Wu, 2009) Ngoài ra, xung đột văn hóa có thể dẫn đến thất bại trong việc phối hợp, hợp tác (Hawes và Chiu, 2007)

Tương tự như trường hợp của Shen, Lu và Wu (2009), với việc sử dụng mẫu dữ liệu nghiên cứu là những ngân hàng có vốn sở hữu nước ngoài trên mức tỷ lệ 10% trong danh sách vốn sở hữu được công bố và có những ảnh hưởng nhất định đến quyết định điều hành trong quản trị ngân hàng, bài nghiên cứu của Susanto và Rokhim (2011) đã tiếp cận vốn sở hữu nước ngoài theo hai cấp độ ngành và ngân hàng nêu trên, cụ thể các tác giả đã sử dụng tỷ lệ FO thu được từ tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ bởi các nhà đầu tư nước ngoài trên tổng số cổ phiếu nhằm phản ánh mức độ kiểm soát

sở hữu của bên nước ngoài Đồng thời tác giả cũng xem xét tỷ lệ số lượng các ngân hàng nước ngoài trên tổng số lượng ngân hàng của hệ thống ngân hàng Indonesia để thực hiện nghiên cứu

Đối với các tác giả Claessens, Demirguc – Kunt và Huizinga (2001) lại sử dụng định nghĩa sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài bằng tỷ lệ phần trăm của các ngân hàng nước ngoài trên tổng số ngân hàng trong một quốc gia, trong đó, một ngân hàng được xem là ngân hàng nước ngoài khi có cổ phần do người nước ngoài nắm giữ vượt quá 50% cấu trúc sở hữu

Trong khi đó, bài nghiên cứu của Demirguc – Kunt và Huizinga (1999) sử dụng định nghĩa vốn sở hữu nước ngoài theo cấp độ ngân hàng để đánh giá hiệu quả của các ngân hàng trong nước ở các nước đang phát triển và cho rằng ngân hàng có tỷ lệ phần trăm cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài cao hơn thì sẽ có lợi nhuận cao

Trang 18

hơn các ngân hàng trong nước Còn đối với các nước phát triển, lại cho kết quả ngược lại

Với việc định nghĩa tương tự như Demirguc – Kunt và Huizinga (1999), Shen, Lu

và Wu (2009) ở cấp độ ngân hàng, Lensink và Naaborg (2007) lại nhận thấy rằng sự gia tăng của MicroFP làm ảnh hưởng một cách tiêu cực đến hiệu suất ngân hàng, bất kể trình độ phát triển của quốc gia Kết quả này ủng hộ cho lý thuyết lợi thế sân nhà

Để đánh giá tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam được đầy đủ theo cả hai khía cạnh vĩ mô và vi

mô, bài luận văn đã tiếp nối kết quả nghiên cứu của Shen, Lu và Wu (2009) để định nghĩa vốn sở hữu nước ngoài bằng cách sử dụng tỷ lệ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong một ngân hàng trên tổng số cổ phần của ngân hàng đó, ký hiệu là MicroFP, được dùng ở cấp độ ngân hàng Đồng thời bài luận văn cũng xem xét sử dụng tỷ lệ số lượng các ngân hàng Việt Nam có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên tổng số các ngân hàng Việt Nam, ký hiệu là MacroFP, để dùng ở cấp độ ngành

1.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trong hoạt động của NHTM, theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả hoạt động có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau:

i Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra, hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác;

ii Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng

Theo định nghĩa trong cuốn “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Việt” trang 255 của PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, hiệu quả hoạt động trong kinh tế được định nghĩa là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ” và “khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào” Như vậy có thể hiểu hiệu quả là

Trang 19

Anh-mức độ thành công mà các doanh nghiệp hay ngân hàng đạt được trong việc phân

bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, nhằm đáp ứng một mục tiêu nào đó

Theo Mishkin (2007), để hiểu một ngân hàng đang hoạt động tốt như thế nào, chúng

ta cần phải bắt đầu bằng cách nhìn vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, mô tả của các nguồn thu nhập và các chi phí có ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để đo lường, đánh giá hiệu quả của một ngân hàng, tùy thuộc vào mục tiêu quan tâm của các cổ đông có thể phân ra ba phương pháp: phương pháp đo lường theo cách truyền thống, phương pháp đo lường theo cách kinh tế và phương pháp đo lường căn cứ vào thị trường (Beyond Roe, 2010)

1.2.1 Phương pháp đo lường theo cách truyền thống

Phương pháp này được áp dụng tương tự như các ngành công nghiệp khác, sử dụng các chỉ số Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) được sử dụng rộng rãi nhất Ngoài

ra, thu nhập từ lãi biên (NIM) cũng là một chỉ số trung gian được áp dụng nhằm đo lường hiệu quả của ngân hàng

- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng trong năm chia cho bình quân tổng tài sản, dùng đo lường khả năng sinh lợi trên 1 đơn vị vốn đầu tư vào công ty:

(1.1)

- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) là chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của 1 đơn vị vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty, đây cũng là biện pháp được sử dụng phổ biến để đo lường hiệu quả của ngân hàng:

Trang 21

Thu nhập lãi thuần = Thu nhập cho vay và đầu tư chứng khoán - Chi trả lãi tiền

gửi và nợ khác

Tài sản có sinh lời là những tài sản mang lại lợi nhuận cho ngân hàng như cho vay khách hàng, các khoản đầu tư, cho vay liên ngân hàng, tiền gửi tại ngân hàng nhà nước;

Theo như đánh giá của Standard & Poor, tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao Tỷ lệ NIM tăng cho thấy dấu hiệu của quản trị tốt tài sản Nợ - Có, trong khi NIM có xu hướng thấp và bị thu hẹp thì cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại

1.2.2 Phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế

Phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế được tính vào sự phát triển của việc tạo ra giá trị cổ phiếu và nhằm mục đích đánh giá kết quả kinh tế được tạo ra bởi tổng tài sản kinh tế của ngân hàng đó trong bất kỳ năm tài chính nào (một phần nằm trong bảng cân đối kế toán) Phương pháp này chủ yếu tập trung vào hiệu quả là một yếu

tố chính của hoạt động nhưng nói chung có mức độ yêu cầu thông tin cao

Hai chỉ số sau đây trong phương pháp này có thể được xác định trong số các biện pháp đo lường hiệu quả kinh tế:

- Các chỉ số liên quan đến tổng lợi nhuận của một sự đầu tư, dựa trên khái niệm chi phí cơ hội, phổ biến nhất là giá trị kinh tế gia tăng (EVA)

EVA = Lợi nhuận trên vốn đầu tư – (chi phí bình quân vốn đầu tư * vốn đầu tư) –

(chi phí bình quân nợ * nợ ròng) (1.7) (được phát triển bởi Stern và Stewart vào năm 1991, EVA đã tính chi phí cơ hội cho việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông trong ngân hàng, đo lường tỷ lệ lợi nhuận kinh tế được tạo ra của một công ty cao hơn chi phí vốn đầu tư để tăng giá trị thị trường công ty)

- Các chỉ số liên quan đến rủi ro lạm phát ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng Theo Kimbal (1998, Beyond Roe, 2010), đối với một ngân hàng hoạt động hiệu

Trang 22

quả thông qua các số liệu điều chỉnh rủi ro, các nhà quản lý phải cân nhắc một cách phức tạp giữa sự tăng trưởng, lợi nhuận và rủi ro

RAROC (risk-adjusted return on capital – Mô hình tỷ lệ sinh lời điều chỉnh theo mức rủi ro) cho phép các ngân hàng quyết định khả năng so sánh lợi nhuận trên một

số dự án khác nhau với các mức độ rủi ro khác nhau Đây là một công cụ đánh giá hiệu suất, chỉ định vốn cho các đơn vị kinh doanh dựa trên giá trị kinh tế dự kiến của các đơn vị đó

(1.8) Thu nhập từ vốn = chi phí vốn * lãi suất phi rủi ro

Tổn thất dự tính = tổn thất có thể ước tính bình quân trong thời gian đo lường

Lý thuyết RAROC có thể được trích xuất từ một yếu tố của mô hình CAPM như là

sự sinh lợi dư thừa trên thị trường cho mỗi đơn vị rủi ro thị trường (rủi ro giá thị trường)

1.2.3 Phương pháp đo lường hiệu quả căn cứ vào thị trường

Các phương pháp đo lường hiệu quả căn cứ vào thị trường đặc trưng cho hoạt động giá trị vốn thị trường của bất kỳ công ty nào, so với ước tính kế toán hoặc giá trị kinh tế của nó Các số liệu được sử dụng phổ biến nhất bao gồm:

- Tổng số cổ phần sinh lời (TSR-total share return): tỷ lệ cổ tức và mức gia tăng giá trị cổ phiếu so với giá thị trường chứng khoán;

- Tỷ số giá thị trường trên thu nhập (P/E-price earning ratio): đây cũng là chỉ tiêu

mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó thể hiện giá cổ phần đắt hay rẻ so với thu nhập, được tính bằng giá trị thị trường mỗi cổ phần trên thu nhập mỗi cổ phần;

- Giá trị giá trên sổ sách (P/B-price to book value): trong đó liên quan đến giá trị thị trường của vốn cổ phần với giá trị sổ sách của nó;

- Đổi tín dụng mặc định (CDS-credit default swap): là chi phí bảo hiểm trái phiếu

Trang 23

Thực tế, hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đánh giá bằng nhiều phương pháp

đo lường khác nhau, cụ thể là ba phương pháp: truyền thống, hiệu quả kinh tế và hiệu quả thị trường Tuy nhiên, kết quả đánh giá của từng phương pháp lại chịu ảnh hưởng của những nhân tố khác nhau

- Phương pháp đo lường truyền thống: các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng được xác định dựa trên báo cáo tài chính thường niên, bao gồm: tổng tài sản, lợi nhuận ròng, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động Trong

đó, các nhà kinh tế chú trọng xem xét các số liệu của bảng cân đối kế toán, bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, từ đó, tính toán những chỉ số tài chính tiêu biểu: ROA, ROE, CIR, NIM…;

- Phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế: chú trọng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư cũng như mức chấp nhận rủi ro đến mức lợi nhuận thu được Phương thức này đòi hỏi có sự chính xác về thông tin nguồn vốn chủ sở hữu – kết quả hoạt động kinh doanh cũng như nhận định tốt giá trị các rủi ro tác động đến hoạt động của các ngân hàng (yếu tố lạm phát, tác động của chính trị, lòng tin của người dân…);

- Phương pháp đo lường hiệu quả căn cứ vào thị trường: lại dựa trên giá cả cổ phiếu mỗi ngân hàng trên thị trường chứng khoán so sánh với giá trị sổ sách ghi nhận tại thời điểm đánh giá

Cả hai phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế và hiệu quả thị trường đòi hỏi các thông tin tương đối khó thu thập theo phương thức thống kê hiện tại, độ minh bạch

về sở hữu, ảnh hưởng của thông tin nội bộ trên sàn chứng khoán và phương thức công khai thông tin giữa các ngân hàng trên thị trường tài chính Việt Nam

1.3 Tác động của vốn sở hữu nước ngoài vào hiệu quả hoạt động kinh doanh

của ngân hàng

1.3.1 Các kết quả nghiên cứu trước đây

Trang 24

Sau vấn đề cải cách tài chính, sự thay đổi trong cấu trúc sở hữu tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà khoa học tiến hành các nghiên cứu có giá trị Kể từ đó một số lượng lớn các công trình nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu về tác động của các nguồn vốn sở hữu trong và ngoài nước lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong suốt giai đoạn hậu khủng hoảng châu Á từ 1999-2004, Thierno và cộng

sự (2005) đã sử dụng các dữ liệu tích luỹ của 80 ngân hàng thương mại từ Hồng Kông, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, và Thái Lan để điều tra tác động của việc thay đổi cấu trúc sở hữu dựa trên mô hình DEA tác động vào hiệu quả ngân hàng Họ báo cáo rằng các ngân hàng có thiểu số quyền sở hữu tư nhân nội địa và vốn sở hữu nước ngoài hoạt động tốt hơn so với các ngân hàng và ngân hàng nhà nước với quyền sở hữu tập trung

Alejandro và cộng sự (2004) tìm thấy một điều thú vị rằng tác động của quyền sở hữu lên hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào tính chất của chính quốc gia này Họ nhận thấy một mối tương quan đồng biến giữa quyền sở hữu và hiệu suất ngân hàng tại các nước đang phát triển và không có mối quan hệ nào tại các nước phát triển hoặc các nước công nghiệp hóa khi tiến hành một nghiên cứu trong giai đoạn mẫu từ 1995-2002 với một mẫu gồm 50.000 ngân hàng, trong đó 70 phần trăm là từ các nước phát triển và phần còn lại là từ các nước đang phát triển

Trong bài nghiên cứu “Sự thâm nhập nước ngoài tác động như thế nào đến thị trường ngân hàng trong nước” của Claessens, Demirguc-Kunt, & Huizinga (2001), với dữ liệu mẫu khoảng 7900 quan sát các ngân hàng thương mại trên 80 quốc gia trong những năm 1988-1995, bao gồm cả các nước OECD, các nước đang phát triển

và các nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi, cho rằng, các ngân hàng nước ngoài

có khuynh hướng làm cho biên độ lãi suất, lợi nhuận và khoản thanh toán thuế cao hơn các ngân hàng nội địa ở các nước đang phát triển, trong khi đó ở các nước phát triển thì ngược lại Trong dài hạn sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài làm tăng tính cạnh tranh của thị trường ngân hàng trong nước cùng với tăng các phúc lợi

Trang 25

động hiệu quả hơn Bên cạnh các tác động tích cực, việc gia nhập đã làm giảm lợi nhuận đồng thời làm giảm giá trị điều lệ của các ngân hàng trong nước, thậm chí có thể làm tổn thương nghiêm trọng lên các ngân hàng này Điều này có khả năng gây bất ổn cho hệ thống tài chính, đặc biệt là nếu các quy định về sự thâm nhập nước ngoài không được chặt chẽ

Với tỷ lệ MicroFP và MacroFP được dùng để đo lường sự thâm nhập của vốn sở hữu nước ngoài, nghiên cứu của Shen, Wu và Lu (2009) đã sử dụng mô hình hồi quy biến giả bình phương tối thiểu (LSDV) với dữ liệu mẫu bao gồm 48 ngân hàng Trung Quốc, trong đó có 5 ngân hàng quốc doanh, 10 ngân hàng thương mại cổ phần, 18 ngân hàng thành phố và 15 ngân hàng nước ngoài trong khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2007 Kết quả nghiên cứu này cho thấy lợi nhuận của các ngân hàng trong nước ở Trung Quốc ngày càng tăng tương ứng với sự gia tăng của vốn sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng Thứ nhất, tỷ lệ vốn sở hữu nước ngoài gia tăng đã khiến các ngân hàng tăng cường hiệu quả một số khía cạnh như đào tạo nhân viên, thay đổi môi trường công việc hoặc văn hóa, giới thiệu công nghệ tiên tiến Những hoạt động này tuy làm tăng chi phí trong ngắn hạn nhưng bù lại, khoản chi phí này có thể được bù đắp bằng những tác dụng có lợi về lợi nhuận

từ nguồn sở hữu nước ngoài trong dài hạn Thứ hai, dòng vốn sở hữu nước ngoài cũng đã giới thiệu các chuyên gia nước ngoài và thủ tục mới cho các ngân hàng nội địa Tuy nhiên, sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa doanh nghiệp có thể tạo ra một trở ngại cho các cán bộ quản lý địa phương hoặc hợp tác Ngoài ra, tỷ lệ vốn sở hữu nước ngoài gia tăng còn cho thấy ảnh hưởng tích cực lên mức độ cạnh tranh được lành mạnh và hiệu quả hơn Hơn nữa, ngân hàng trung ương cũng có những quản lý nhất định để sự cạnh tranh không làm triệt tiêu các ngân hàng nhỏ của địa phương Tiến hành nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng tại Ấn Độ, hai nhà khoa học Bhattacharya, S và Thakor, A (1993) cho rằng chính sách pháp lý đã hỗ trợ các ngân hàng nước ngoài, và ngược lại, các ngân hàng trong nước gặp phải sự bất lợi trong một số khía cạnh như trách nhiệm xã hội, cho vay lĩnh vực ưu tiên…, phải đối mặt với khoản lỗ từ các khoản vay lớn và nhỏ Họ cũng đề cập tới vấn đề liệu các

Trang 26

ngân hàng nước ngoài có ảnh hưởng đến lợi nhuận trong nước như thế nào Và bài báo cáo kết luận rằng sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài nâng cao lợi nhuận và chất lượng tài sản

Trong khi đó, bài nghiên cứu của Susanto và Rokhim (2011) cũng tìm hiểu về tác động của việc tăng sở hữu vốn nước ngoài đến hiệu quả, cạnh tranh và rủi ro trong ngành ngân hàng ở Indonesia Với dữ liệu mẫu trên 115 ngân hàng thương mại từ năm 2003 đến năm 2008, hai nhà nghiên cứu chứng minh được rằng dòng vốn sở hữu nước ngoài làm giảm hiệu suất về lợi nhuận và không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đối với chi phí Ngoài ra, nghiên cứu này còn cho thấy việc gia tăng sở hữu vốn nước ngoài có thể làm giảm các dạng lãi suất (bao gồm lãi vay và lãi tiền gửi) Các ngân hàng nước ngoài tại thị trường đang phát triển có chính sách tín dụng thận trọng và chặt chẽ, ít tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ

Cùng kết quả với Susanto và Rokhim (2011), trong báo cáo “Tác động của sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở nền kinh tế Trung Quốc” của Wu và cộng sự (2007) đã chứng minh được rằng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA ở các ngân hàng Trung Quốc có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn so với những ngân hàng không có sự tham gia của vốn ngoại Với mẫu nghiên cứu gồm 14 ngân hàng Trung Quốc từ năm 1996 đến năm 2004 và sử dụng mô hình dữ liệu bảng FEM-REM, tác giả cho thấy sự gia tăng ngày càng nhiều các ngân hàng nước ngoài không ảnh hưởng đến hiệu suất hoạt động của các ngân hàng Trung Quốc

1.3.2 Mô hình nghiên cứu

Từ các kết quả nghiên cứu trên, bài luận văn sẽ tiếp tục sử dụng Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), Thu nhập lãi thuần (NII), Thu nhập từ lãi biên (NIM), Tỷ

lệ chi phí trên thu nhập (CIR) để đánh giá khả năng làm giảm chi phí, đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trang 27

Đặt giả thuyết vốn sở hữu nước ngoài có tác động lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việt Nam và được thể hiện dưới dạng mô hình như sau:

(1.9)

(1.10) Trong đó:

™ : hiệu quả hoạt động của ngân hàng thứ i trong thời gian thứ t, với i = 1, …, N (N = 27) và t = 2003 - 2013;

™ MacroFP: được đo bằng tỷ lệ số lượng các ngân hàng Việt Nam có sự tham gia của các cổ đông nước ngoài trên tổng số ngân hàng Việt Nam Trong công thức (1.9), MacroFP cho thấy rằng sự gia tăng số lượng ngân hàng Việt Nam có vốn

sở hữu nước ngoài có xu hướng tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động ngân hàng do cạnh tranh gia tăng Do đó, hiệu suất của ngân hàng được cải thiện, cho thấy rằng hệ số của MacroFP, dự kiến là sẽ có mối tương quan đồng biến

™ MicroFP: được đo bằng tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ bởi nhà đầu tư nước ngoài trên tổng số cổ phiếu tại một ngân hàng Trong công thức (1.10), MicroFP cho thấy rằng sự gia tăng cổ phần nước ngoài trong từng ngân hàng có xu hướng nâng cao kỹ năng quản lý và điều hành một cách rộng rãi Như vậy, hệ số MicroFP, cũng được dự kiến là sẽ có mối tương quan thuận với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng

™ Control (vector của các biến kiểm soát): trong đó bao gồm 5 biến về hệ số tài chính của ngân hàng và 6 biến kinh tế vĩ mô [EquityTA, LiquidTA, LoanDepo, ShareGov, TotAsset, GDPGrow, Reserve, CreGrow, M2, CPI, PolicyInte]:

a Năm biến về hệ số tài chính của ngân hàng kiểm soát ảnh hưởng của đặc điểm ngân hàng để tránh nhiễm tác động của tỷ lệ MacroFP và MicroFP lên hiệu suất ngân hàng, với:

Trang 28

- EquityTA: tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản dùng để kiểm soát hiệu ứng đòn bẩy;

- LiquidTA: tỷ lệ giữa tài sản lưu động trên tổng tài sản để kiểm soát hiệu ứng thanh khoản;

- LoanDepo (LDR%): tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn gửi tiết kiệm của khách hàng

để kiểm soát hiệu quả cho vay;

- ShareGov: cổ phiếu thuộc quyền sở hữu của chính phủ để kiểm soát hiệu quả quyền sở hữu;

- TotalAsset: Tổng tài sản của ngân hàng để kiểm soát hiệu ứng kích thước;

b Sáu biến kinh tế vĩ mô là:

- GDPGrow: tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế để kiểm soát chu kỳ kinh doanh;

- Reserve: tỷ lệ dự trữ bắt buộc;

- CreGrow: là chỉ số về mức độ cung cấp sự tăng trưởng vốn cho nền kinh tế;

- Cung ứng tiền tệ M2;

- CPI: chỉ số giá tiêu dùng;

- PolicyInte: chính sách tiền tệ của chính phủ về lãi suất;

™ Hệ số θ và φ: là hệ số vector của các biến kiểm soát tương ứng trong phương trình (1) và (2) được thể hiện như trên;

Đề tài đã thể hiện hình vẽ 1.1 để diễn tả rõ ràng hơn mối quan hệ của các biến như sau:

Trang 29

Hình vẽ 1.1: Mối quan hệ của các biến trong mô hình hồi quy

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong nội dung chương 1, đề tài đã nêu lên được nội dung tổng quan về Ngân hàng thương mại với các chức năng và vai trò, tiếp tục đi sâu vào việc trình bày lý thuyết cũng như mối quan hệ của vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng Đồng thời, tác giả cũng tìm ra được các kết quả của các bài nghiên cứu trước ở các nước Châu Á để làm cơ sở lý thuyết cho bài luận văn Vì

lý do đây là một đề tài có nội dung còn khá mới mẻ và chưa được tìm hiểu tại Việt Nam, nên tác giả chưa tìm được các kết quả nghiên cứu trong nước

Trang 31

Chương 2: Thực trạng về vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2014

2.1 Sự thâm nhập vốn nước ngoài trong ngành ngân hàng Việt Nam

2.1.1 Các hình thức tham gia của vốn nước ngoài

Hiện nay, có bốn cách thức để các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào thị trường ngành ngân hàng của Việt Nam, bao gồm: Thứ nhất, thành lập chi nhánh nước ngoài hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam Thứ hai, thiết lập mới ngân hàng liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài, với phần vốn góp của bên nước ngoài không được sở hữu vượt quá 50% tổng vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh2 Thứ

ba là ngân hàng với vốn 100% thuộc sở hữu của tổ chức nước ngoài Cuối cùng là nhà đầu tư nước ngoài có thể mua lại cổ phần tại một ngân hàng Việt Nam hiện có

và trở thành một trong các cổ đông nước ngoài của ngân hàng Tính đến ngày 31/12/2014 theo nguồn số liệu tổng hợp của ngân hàng nhà nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có 46 chi nhánh nước ngoài, 52 văn phòng đại diện, có 4 ngân hàng liên doanh và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài

Bảng 2.1: Danh sách các CNNHNN, NHLD, NHNN tại Việt Nam

(Tính đến ngày 31/12/2014)

Loại

Vốn điều lệ (Tỷ đồng)

      

2 Theo điều 46 tại Nghị định 22/2006/NĐ-CP ngày 28/02/2006 quy định về Tỷ lệ, phương thức góp vốn điều

lệ của Ngân hàng liên doanh

Trang 32

First Commercial Bank - Hà Nội 340

Bangkok - Hà Nội (chi nhánh phụ của Bangkok TP Hồ Chí

Malayan Banking Berhad - CN Hà Nội (Maybank Hà Nội) 319 Malayan Banking Berhad - CN Tp.HCM (Maybank TP Hồ Chí Minh) 319

Oversea Chinese Banking Corporation Ltd (OCBC) - Hồ Chí Minh 507

Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) - Hồ Chí Minh 3,506 Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC) - Hà Nội 7,117 Bank of Tokyo-Mitsubishi UFJ (BTMU) – Hồ Chí Minh 2,762

Trang 33

Hana Hồ Chí Minh Chưa khai

trương

Ngân hàng liên doanh

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài

Visa International (Asia Pacific), LLC - (Mỹ)

CTBC (trước đây là Chinatrust Commercial Bank - Đài loan)

Taiwan Shin Kong Commercial Bank (Đài Loan)

Trang 34

Commonwealth Bank of Australia (Australia)

Mitsubishi UFJ Lease & Finance Company Limited (Nhật)

The Export-Import Bank of Korea (Hàn quốc)

Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (Trung Quốc)

Ngân hàng Nông nghiệp Hàn Quốc (Hàn Quốc)

JCB International Company Ltd., (Thái Lan)

Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (Nhật)

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

2.1.2 Các văn bản pháp luật quy định sự tham gia của vốn nước ngoài

Tại Điều 3, Mục 6, trong quy định Luật đầu tư 2005 tại Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được định nghĩa là “doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” Như vậy vốn sở hữu nước ngoài được hiểu là vốn do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập

Trang 35

Về các chính sách quy định tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các ngân hàng Việt Nam, văn bản pháp luật có liên quan được ban hành đầu tiên tại Quyết định số 228-NH5/QĐ ngày 02/12/1993, cụ thể một cá nhân hay một

tổ chức nước ngoài có quyền góp vốn tối đa là 10% và tổng số vốn cổ phần của tất

cả các cổ đông nước ngoài tối đa là 30% so với vốn điều lệ của ngân hàng Việt Nam Đến năm 2007, ngay sau khi gia nhập WTO, nghị định 69/2007/NĐ-CP được quy định rõ ràng hơn với định nghĩa về các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cũng

như mở rộng thêm giới hạn tỷ lệ, với “mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến

lược nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam Trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ căn cứ đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quyết định mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người

có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó vượt quá 15%, nhưng không được vượt quá 20% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam”3 Các giới hạn trên tiếp tục được nới rộng hơn nhằm thu hút vốn sở hữu nước ngoài cũng như khuyến khích các ngân hàng Việt Nam tăng cường mở rộng quy mô trong nghị định 01/2014/NĐ-CP, với mức tỷ lệ sở hữu tối đa đối với một cá nhân nước ngoài và người có liên quan là 20%, mức quy định tối đa đối với một tổ chức nước ngoài và người có liên quan cũng tương tự là 20% trên vốn điều lệ của tổ chức tín dụng Việt Nam

Bảng 2.2: Tổng hợp quy định về tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước

ngoài so với vốn điều lệ của các ngân hàng Việt Nam

Loại hình nhà đầu tư 228/QĐ-NH5 69/2007/NĐ-CP 01/2014/NĐ-CP

Một cá nhân nước ngoài và người

Trang 36

có liên quan

Nhà đầu tư chiến lược (trường

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ các văn bản pháp luật Việt Nam)

Các văn bản pháp luật được ban hành trong thời gian vừa qua cho thấy chính phủ Việt Nam đang có những bước tiến xem xét, nới rộng giới hạn tỷ lệ vốn ngoại ở một

số trường hợp, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài gia tăng quyền hạn trong việc tham gia quản trị của ngân hàng nội địa

2.2 Tổng quan hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ năm

có hai chính sách quan trọng là Hiệp định thương mại song phương với Mỹ năm

2001 và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới năm 2007 Trong giai đoạn này, ngành ngân hàng trong nước bắt đầu chấp thuận các ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên vào năm 2008, trong đó có HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan Từ năm 1991, với khoảng 4 NHTMNN, 4 NHTMCP, 1 NHLD, thì đến nay, tại thời điểm 31/12/2014, toàn thị trường ngân hảng Việt Nam đã tăng lên tổng cộng 1 NHTMNN, 37 NHTMCP, 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 52 văn phòng đại diện nước

Trang 37

Bảng 2.3: Số lượng các ngân hàng qua các năm tại Việt Nam

Trong giai đoạn 2010 – 2014, đa số các NHTMCP có sự tăng trưởng tài sản qua từng năm Tuy nhiên, số lượng tăng trưởng là không đáng kể, thậm chí có một số ngân hàng có dấu hiệu giảm sụt nhẹ quy mô tài sản như ACB, MSB, VIB… Điều này có thể được giải thích bởi sự ảnh hưởng của nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, sự thay đổi chính sách giảm nguồn vốn huy động vàng theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước làm giảm số tài sản… Ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất trong hệ thống NHTMCP Việt Nam là CTG với tổng tài sản có cuối năm 2014 là 661,132 tỷ đồng Các ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) cao ấn tượng như SHB, HD bank, VP bank… (CAGR > 25%)

Trang 38

Biểu đồ 2.1: Sự tăng trưởng tài sản của một số NHTMCP Việt Nam

từ năm 2010-2014

(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các ngân hàng)

Trang 39

Mặc dù có sự tăng trưởng tài sản nhưng so với các ngân hàng trong khu vực, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn về quy mô tài sản

Bảng 2.4: Tổng tài sản của một số ngân hàng trong khu vực đến cuối năm 2012

Ngân hàng Quốc gia Tổng tài sản (tỷ USD)

Bảng 2.5: Mức vốn pháp định cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam

Loại hình tổ chức tín dụng Mức vốn pháp định

Hết năm 2008 Hết năm 2010

Trang 40

NHTMCP 1,000 tỷ VNĐ 3,000 tỷ VNĐ

(Nguồn: Tác giả tổng hợp trong Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Nghị định 141 còn quy định rằng bất kỳ ngân hàng thương mại nào không đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ trước ngày 31/12/2010 sẽ bị buộc phải hợp nhất, thu hẹp quy mô hoạt động hoặc bị rút giấy phép kinh doanh Thực tế cho thấy trước năm 2007, hầu hết các NHTMCP đều có quy mô cỡ nhỏ, vốn điều lệ thấp, chỉ có một số ngân hàng như VCB, BID, CTG… là các ngân hàng thương mại nhà nước chưa thực hiện cổ phần hóa thời điểm đó có thể đạt vốn điều lệ trên 3,000 tỷ đồng

Để kịp thời thực hiện đúng theo quy định của chính phủ, các ngân hàng đã ra sức tăng vốn một cách mạnh mẽ Tốc độ tăng trưởng vốn năm 2010 so với 2006 của các ngân hàng đạt từ khoảng 200% đến 950% Tuy nhiên, đến hết năm 2010, chỉ có 20 ngân hàng đáp ứng được yêu cầu này đúng thời hạn Các ngân hàng còn lại vẫn chưa thể thực hiện được, một phần do hoạt động yếu kém của thị trường chứng khoán, một phần do sự gia tăng phát hành cổ phiếu của một loạt ngân hàng muốn tăng vốn đồng thời Do đó, chính phủ đã gia hạn yêu cầu này tới ngày 31/12/2011 (theo Thông tư số 10/2011/TT-CP), làm giảm bớt áp lực lên việc tăng vốn đồng loạt

và tạo điều kiện cho các ngân hàng có thêm thời gian để thực hiện kế hoạch tăng vốn trong năm 2011 Tính đến thời điểm 31/12/2014, tất cả các ngân hàng thương mại đều đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn điều lệ Tổng số vốn đăng ký của 37 NHTMCP Việt Nam là 287,977 tỷ đồng, với quy mô trung bình là 7,838 tỷ đồng một ngân hàng Trong đó, các NHTMCP có vốn điều lệ trên 10,000 tỷ đồng gồm CTG (37,234 tỷ đồng), BID (28,112 tỷ đồng), VCB (26,650 tỷ đồng), STB (12,425

tỷ đồng), EIB (12,355 tỷ đồng), SCB (12,295 tỷ đồng), MBB (11,594 tỷ đồng)…

Ngày đăng: 17/09/2020, 12:34

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN