Chương 2: Thực trạng về vốn sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2014
2.2. Tổng quan hoạt động kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam từ năm
2.2.1. Sự tăng trưởng của hệ thống NHTMCP Việt Nam
2.2.1.1. Về số lượng ngân hàng.
Kể từ sau giai đoạn hệ thống ngân hàng Việt Nam chính thức chuyển cơ cấu từ độc nhất sang chế độ hai cấp, số lượng các ngân hàng thành lập ngày một gia tăng, chủ yếu là các NHTMCP và chi nhánh các ngân hàng nước ngoài. Điều đó cho thấy sức hấp dẫn và tiềm năng phát triển của thị trường ngân hàng Việt Nam đối với các nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. Đặc biệt, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục thực hiện việc mở cửa nhiều hơn đối với lĩnh vực tài chính kể từ những năm 2000, trong đó có hai chính sách quan trọng là Hiệp định thương mại song phương với Mỹ năm 2001 và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới năm 2007. Trong giai đoạn này, ngành ngân hàng trong nước bắt đầu chấp thuận các ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên vào năm 2008, trong đó có HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan... Từ năm 1991, với khoảng 4 NHTMNN, 4 NHTMCP, 1 NHLD, thì đến nay, tại thời điểm 31/12/2014, toàn thị trường ngân hảng Việt Nam đã tăng lên tổng cộng 1 NHTMNN, 37 NHTMCP, 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 4 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và 52 văn phòng đại diện nước
Bảng 2.3: Số lượng các ngân hàng qua các năm tại Việt Nam Năm 2001 2005 2006 2007 2008 2010 2011 2013 2014
NHTMNN 5 5 5 5 4 3 2 1 1
NHTMCP 39 37 34 35 39 39 39 37 37
NHLD 4 4 5 5 5 5 4 4 4
CNNHNN 26 29 31 41 41 46 48 50 46
NHNN 0 0 0 0 4 5 5 5 5
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) 2.2.1.2. Về tổng tài sản.
Cùng với sự tăng trưởng về số lượng, hệ thống ngân hàng cũng chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể về quy mô tài sản. Tổng tài sản khu vực ngân hàng tăng hơn gấp hai lần từ năm 2007 đến năm 2010 (tăng từ 1,097 tỷ đồng, tương đương 52.4 tỷ USD, lên 2,690 tỷ đồng, tương đương 128.7 tỷ USD) theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF. Con số này đã đạt 6,359 tỷ đồng tính đến thời điểm 31/12/2014.
Trong giai đoạn 2010 – 2014, đa số các NHTMCP có sự tăng trưởng tài sản qua từng năm. Tuy nhiên, số lượng tăng trưởng là không đáng kể, thậm chí có một số ngân hàng có dấu hiệu giảm sụt nhẹ quy mô tài sản như ACB, MSB, VIB… Điều này có thể được giải thích bởi sự ảnh hưởng của nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, sự thay đổi chính sách giảm nguồn vốn huy động vàng theo chủ trương của Ngân hàng Nhà nước làm giảm số tài sản… Ngân hàng có quy mô tài sản lớn nhất trong hệ thống NHTMCP Việt Nam là CTG với tổng tài sản có cuối năm 2014 là 661,132 tỷ đồng. Các ngân hàng có tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) cao ấn tượng như SHB, HD bank, VP bank… (CAGR > 25%).
Biểu đồ 2.1: Sự tăng trưởng tài sản của một số NHTMCP Việt Nam từ năm 2010-2014
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các ngân hàng)
Mặc dù có sự tăng trưởng tài sản nhưng so với các ngân hàng trong khu vực, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn về quy mô tài sản.
Bảng 2.4: Tổng tài sản của một số ngân hàng trong khu vực đến cuối năm 2012 Ngân hàng Quốc gia Tổng tài sản (tỷ USD)
ICBC Trung Quốc 2,813.50
China Construction bank Trung Quốc 2,241
DBS Group Singapore 288.9
United Overseas bank Singapore 207
Maybank Malaysia 161.4
Siam Commercial bank Thái Lan 74.2
CTG Việt Nam 24.2
(Nguồn: Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam Tháng 1 năm 2014, VPBS, [19]) 2.2.1.3. Về vốn điều lệ.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua ba lần thay đổi quy định về vốn điều lệ qua việc ban hành Quyết định số 67/QĐ-NH5 ngày 27/03/19996, Nghị định số 82/1998/NĐ-CP ngày 03/10/1998 và Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006. Với việc ban hành Nghị định 141 vào năm 2006, chính phủ đã nâng mức vốn pháp định áp dụng cho tất cả các tổ chức tín dụng ở Việt Nam cụ thể như sau:
Bảng 2.5: Mức vốn pháp định cho các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Loại hình tổ chức tín dụng Mức vốn pháp định
Hết năm 2008 Hết năm 2010
NHTMNN 3,000 tỷ VNĐ 3,000 tỷ VNĐ
NHTMCP 1,000 tỷ VNĐ 3,000 tỷ VNĐ
NHLD 1,000 tỷ VNĐ 3,000 tỷ VNĐ
NHNN 1,000 tỷ VNĐ 3,000 tỷ VNĐ
Chi nhánh NHNN 15 triệu USD 15 triệu USD
(Nguồn: Tác giả tổng hợp trong Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)
Nghị định 141 còn quy định rằng bất kỳ ngân hàng thương mại nào không đáp ứng được yêu cầu về vốn điều lệ trước ngày 31/12/2010 sẽ bị buộc phải hợp nhất, thu hẹp quy mô hoạt động hoặc bị rút giấy phép kinh doanh. Thực tế cho thấy trước năm 2007, hầu hết các NHTMCP đều có quy mô cỡ nhỏ, vốn điều lệ thấp, chỉ có một số ngân hàng như VCB, BID, CTG… là các ngân hàng thương mại nhà nước chưa thực hiện cổ phần hóa thời điểm đó có thể đạt vốn điều lệ trên 3,000 tỷ đồng.
Để kịp thời thực hiện đúng theo quy định của chính phủ, các ngân hàng đã ra sức tăng vốn một cách mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng vốn năm 2010 so với 2006 của các ngân hàng đạt từ khoảng 200% đến 950%. Tuy nhiên, đến hết năm 2010, chỉ có 20 ngân hàng đáp ứng được yêu cầu này đúng thời hạn. Các ngân hàng còn lại vẫn chưa thể thực hiện được, một phần do hoạt động yếu kém của thị trường chứng khoán, một phần do sự gia tăng phát hành cổ phiếu của một loạt ngân hàng muốn tăng vốn đồng thời. Do đó, chính phủ đã gia hạn yêu cầu này tới ngày 31/12/2011 (theo Thông tư số 10/2011/TT-CP), làm giảm bớt áp lực lên việc tăng vốn đồng loạt và tạo điều kiện cho các ngân hàng có thêm thời gian để thực hiện kế hoạch tăng vốn trong năm 2011. Tính đến thời điểm 31/12/2014, tất cả các ngân hàng thương mại đều đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn điều lệ. Tổng số vốn đăng ký của 37 NHTMCP Việt Nam là 287,977 tỷ đồng, với quy mô trung bình là 7,838 tỷ đồng một ngân hàng. Trong đó, các NHTMCP có vốn điều lệ trên 10,000 tỷ đồng gồm CTG (37,234 tỷ đồng), BID (28,112 tỷ đồng), VCB (26,650 tỷ đồng), STB (12,425
Biểu đồ 2.2: Vốn điều lệ của 24 NHTMCP Việt Nam từ năm 2006 - 2014 (Đơn vị tính: tỷ đồng Việt Nam)
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các ngân hàng) 2.2.1.4. Về huy động và tín dụng.
Khu vực ngân hàng Việt Nam đã thể hiện sự tăng trưởng mạnh cả về huy động lẫn tín dụng từ năm 2000. Theo khảo sát nghiên cứu “Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam tháng 1 năm 2014” của VPBS cho thấy trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012, tỷ lệ CAGR là 28.87% đối với huy động và 28.28% đối với tín dụng. Tốc độ tăng trưởng nhanh nhất diễn ra vào giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2007, khi tỷ lệ CAGR đạt 37.5% đối với huy động và 35.8% đối với tín dụng. Sự tăng trưởng này
đạt đỉnh vào năm 2007 ở mức 51.49% đối với huy động và 53.89% với tín dụng.
Tăng trưởng ở mức cung tiền M2 đạt tỷ lệ CAGR ở mức 27.69% từ năm 2000 đến năm 2012.
Từ năm 2009 đến năm 2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, đến năm 2013, tăng trưởng tín dụng đã tăng trở lại đạt mức 12.51% và tiếp tục tăng ở mức 12.62% vào năm 2014, thấp hơn so với mức dự kiến của Ngân hàng Nhà nước là 13% nhưng vẫn đạt chỉ tiêu định hướng đề ra là từ 12%-14%. Đối với tình hình huy động vốn của các ngân hàng, có xu hướng giảm từ năm 2012, với mức tỷ lệ đạt được năm 2013 là 17.23% và 15.76% trong năm 20144.
Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng tín dụng và huy động giai đoạn 2003-2014 (Đơn vị tính: %)
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)