1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần việt nam

83 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 911,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tác giả đưa ra một số gợi ý, khuyến nghị về cấu trúc sở hữu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ ÁNH ĐÀO

TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU

ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

(NGÂN HÀNG)

MÃ SỐ: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM PHÚ QUỐC

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là vấn đề nghiên

cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Phú

Trang 4

Trang phụ bìa Trang

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Tóm tắt - Abstract

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.6 Những đóng góp mới của luận văn 5

1.7 Kết cấu của luận văn 5

Tóm tắt chương 1 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 7

2.1 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại 7

2.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 8

2.3 Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại 9

2.3.1 Lý thuyết về quản trị công ty 9

2.3.2 Lý thuyết người đại diện 10

2.3.3 Tác động của sở hữu nhà nước đến khả năng sinh lời của ngân hàng 12

2.3.4 Tác động của sở hữu nước ngoài đến khả năng sinh lời của ngân hàng 13

2.3.5 Tác động của sở hữu tổ chức đến khả năng sinh lời của ngân hàng 14

2.4 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng 14

2.4.1 Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển 14

2.4.2 Nghiên cứu tại Việt Nam 17

Trang 5

Tóm tắt chương 2 23

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Mô hình nghiên cứu 24

3.2 Mô tả cách chọn mẫu và thu thập dữ liệu 26

3.3 Mô tả cách tính các biến 27

3.3.1 Biến phụ thuộc 27

3.3.2 Biến độc lập 27

3.4 Phương pháp ước lượng 31

Tóm tắt chương 3 32

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

4.1 Thống kế mô tả và ma trận tương quan 33

4.1.1 Thống kế mô tả các biến 33

4.1.2 Ma trận tương quan 34

4.2 Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu 36

4.2.1 Kết quả phân tích hồi quy mô hình ROA 36

4.2.2 Kết quả phân tích hồi quy mô hình ROE 40

4.3 Thảo luận về các biến nghiên cứu theo kết quả hồi quy 44

4.3.1 Thảo luận về các biến giải thích 44

4.3.2 Thảo luận về các biến kiểm soát 46

Tóm tắt chương 4 48

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Gợi ý chính sách 49

5.3 Hạn chế của đề tài, gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 52

Tóm tắt chương 5 53

KẾT LUẬN CHUNG 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

FGLS Feasible Generalized Least Squares Bình phương bé nhất tổng

quát khả thi

phần POOLED

Phương pháp bình phương tối thiểu gộp

Trang 7

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả của các công trình nghiên cứu 21

Bảng 3.1: Mô tả các biến độc lập được sử dụng trong mô hình hồi quy 28

Bảng 4.1: Tóm tắt kết quả thống kê mô tả 35

Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình ROA 37

Bảng 4.3: Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình ROE 37

Bảng 4.4: Phân tích hồi quy mô hình ROA 38

Bảng 4.5: Kiểm định Hausman test 39

Bảng 4.6: Kiểm định Breusch-Pagan test 39

Bảng 4.7: Hồi quy mô hình ROA với FGLS 40

Bảng 4.8: Phân tích hồi quy mô hình ROE 42

Bảng 4.9: Kiểm định Hausman test 43

Bảng 4.10: Hồi quy mô hình ROE với FGLS 44

Trang 8

các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Kế thừa các nghiên cứu của Rahman

và Reja (2015) và nghiên cứu của Trần Việt Dũng (2014) trong xây dựng và kiểm định

mô hình Sử dụng dữ liệu của 20 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2010-2017, gồm 160 quan sát với biến phụ thuộc đo lường khả năng sinh lời

là ROA, ROE, biến độc lập giải thích là tỷ lệ sở hữu của nhà nước, tỷ lệ sở hữu của

cổ đông nước ngoài và tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức, ngoài ra còn một số biến kiểm soát vi mô, vĩ mô cũng được thêm vào mô hình Luận văn sử dụng dữ liệu bảng được hồi quy theo hai phương pháp: tác động cố định và tác động ngẫu nhiên

để lựa chọn phương pháp phù hợp Kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu nhà nước

có tác động cùng chiều lên ROE, sở hữu tổ chức có tác động cùng chiều lên ROA

và ROE, biến sở hữu nước ngoài không có ý nghĩa thống kê

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam tác giả đưa ra một số gợi

ý, khuyến nghị về cấu trúc sở hữu phù hợp nhằm góp phần tăng cường hiệu quả, cải thiện khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian tới

Từ khóa: cấu trúc sở hữu, khả năng sinh lời

Trang 9

development and verification Using the data of 20 Vietnamese joint stock commercial banks in the period of 2010-2017, including 160 observations with dependent variable measuring profitability of ROA, ROE, independent variables explain the ownership ratio of the state, the ownership rate of foreign shareholders and the ownership ratio of institutional shareholders, in addition to a number of micro and macro control variables are also added to the model The thesis uses panel data regression by two methods: fixed effects and random effects to select the appropriate method Research results show that state ownership has a positive impact on ROE, organizational ownership has the same impact on ROA and ROE, foreign ownership variables are not statistically significant

Based on the research results of the impact of ownership structure on the profitability of Vietnamese joint stock commercial banks, the author gives some suggestions and recommendations on appropriate ownership structure to contribute

to increase efficiency and improve profitability of Vietnamese commercial banks in the coming time

Keywords: ownership structure, profitability

Trang 10

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Cấu trúc sở hữu trong mối quan hệ với hiệu quả hoạt động của ngân hàng từ lâu

đã được sự quan tâm của các cơ quan quản lý và các nhà nghiên cứu Nền tảng lý thuyết nghiên cứu về vấn đề này được đề cập lần đầu tiên trong cuốn sách “Công ty hiện đại và tài sản cá nhân” của Berle và Mean (1932) Theo Berle và Mean, sự phân tán trong sở hữu cổ phần tỷ lệ nghịch với hiệu quả hoạt động của công ty do nhà quản

lý theo đuổi lợi ích riêng không phù hợp lợi ích cổ đông nên việc vận hành công ty bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt quyền sở hữu và cấu trúc kiểm soát Từ đó, có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này được thực hiện trên các loại hình công ty trong

đó có ngân hàng Tại Việt Nam, cùng với quá trình hội nhập và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng có nhiều thay đổi về cấu trúc sở hữu đòi hỏi phải thay đổi cách thức quản trị phù hợp Vì thế, tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu cho các NHTMCP Việt Nam dựa trên các lý do sau:

Thứ nhất, Cấu trúc sở hữu là nhân tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của công ty đã được công nhận rộng rãi và ngân hàng với vai trò đặc biệt trong nền kinh tế

là đối tượng phổ biến để kiểm tra mối quan hệ này Trong những năm gần đây, có nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy có mối quan hệ ý nghĩa giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên do cấu trúc sở hữu trong ngân hàng ở các nước này thường là phân tán và vốn Nhà nước tham gia thấp trong khi ở Việt Nam vai trò sở hữu nhà nước vẫn còn rất quan trọng do đó việc thực hiện kiểm định lại mối quan hệ này đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam là rất cần thiết

Thứ hai, tại Việt Nam, chủ đề này cũng có nhiều nghiên cứu nhưng chủ yếu tập trung riêng về sở hữu nhà nước hay sở hữu nước ngoài, đặc biệt chưa có nghiên cứu đánh giá tác động của sở hữu tổ chức đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Do đó, việc nghiên cứu một các toàn diện các cấu phần sở hữu như sở hữu nhà nước, sở hữu

Trang 11

nước ngoài, sở hữu tổ chức để có những nhận định đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu với hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà chủ yếu là khả năng sinh lời được đo lường qua ROA, ROE

Thứ ba, hệ thống ngân hàng Việt Nam trải qua hơn 30 năm đổi mới nền kinh tế,

đã có nhiều bước phát triển mà đáng chú ý nhất là sự đa dạng hóa trong cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu đa dạng đã tạo ra những phát triển tích cực nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp yêu cầu các cơ quan chức năng quản lý nghiêm ngặt hơn cũng như bản thân các ngân hàng thương mại cũng gặp nhiều khó khăn thách thức trong việc quyết định các biện pháp quản trị thích hợp Do vậy, việc làm rõ vai trò sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng là cần thiết để có những cải cách về cấu trúc

an toàn, lành mạnh, hiệu quả

Thứ tư, trong bối cảnh các tổ chức tín dụng thực hiện đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ thì việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong khoảng thời gian từ 2010-2017 là cần thiết để có những cơ sở khoa học cho việc đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2016-2020

Chính vì sự cần thiết và khả năng ứng dụng trong thực tiễn cao nên tác giả

quyết định chọn đề tài: “Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” để làm đề tài luận văn của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của luận văn là đánh giá tác động của cấu trúc

sở hữu đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam để làm cơ sở từ đó có một

số gợi ý chính sách về cấu trúc sở hữu nhằm nâng cao khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam

- Mục tiêu cụ thể:

Trang 12

+ Đánh giá tác động của sở hữu nhà nước đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam

+ Đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam

+ Đánh giá tác động của sở hữu tổ chức đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Xuất phát từ mục tiêu trên, tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu như sau:

Câu hỏi 1: Sở hữu nhà nước có tác động đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam hay không?

Câu hỏi 2: Sở hữu nước ngoài có tác động đến khả năng sinh lời của các

NHTMCP Việt Nam hay không?

Câu hỏi 3: Sở hữu tổ chức có tác động đến khả năng sinh lời của các NHTMCP

Việt Nam hay không ?

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh hiện nay Tiếp theo tác giả tiếp cận các lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về sự tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu để xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu cho đề tài Đề tài đã đưa ra giả thuyết nghiên cứu cho 2 biến phụ thuộc đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng là ROA và ROE, 3 biến độc lập để giải thích là sở hữu nhà nước (STATE), sở hữu nước ngoài (FOR), sở hữu tổ chức (INS) Bên cạnh đó, các biến kiểm soát như tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), lạm phát (INF), tăng trưởng kinh tế (GDP) cũng được thêm vào để đánh giá

- Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau:

Trang 13

+ Phương pháp thống kê mô tả: sau khi thu thập dữ liệu về cấu trúc sở hữu, khả năng sinh lời của các ngân hàng, dữ liệu được tổng hợp, thống kê, so sánh để đánh giá mối quan hệ giữa sở hữu và khả năng sinh lời của ngân hàng

+ Phương pháp định lượng: sử dụng hồi quy dữ liệu bảng để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam với sự hỗ trợ của phần mềm STATA12 Sử dụng hồi quy tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM), dùng kiểm định Hausman test để so sánh mô hình FEM và REM, sau đó kiểm định các khuyết tật của mô hình, trường hợp mô hình bị khuyết tật, tác giả tiếp tục hồi quy bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục

- Sau khi có kết quả hồi quy và xác định được mối tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình, tác giả sẽ giải thích mối quan hệ này trong thực tế và đưa ra một số gợi ý chính sách liên quan đến cấu trúc sở hữu của ngân hàng

1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam

Phạm vi không gian: 20 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Gồm: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, Ngân hàng TMCP Xuất Khẩu Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quân Đội, Ngân Hàng TMCP Đông Nam Á, Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội, Ngân hàng TMCP Phát triển nhà TPHCM, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam, Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, Ngân hàng TMCP Phương Đông Việt Nam, Ngân hàng TMCP Quốc Tế, Ngân hàng TMCP Nam Á, Ngân hàng TMCP Kiên Long, Ngân Hàng TMCP Việt Á, Ngân Hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, Ngân Hàng TMCP An Bình (trừ những ngân hàng số liệu không đầy đủ)

Trang 14

Phạm vi thời gian: từ năm 2010 đến năm 2017

1.6 Những đóng góp mới của luận văn

- Về mặt lý luận, đề tài đã khái quát các vấn đề liên quan đến cấu trúc sở hữu và khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại và tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại

- Về mặt thực tiễn, đề tài làm rõ một số nội dung sau:

+ Thứ nhất, kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp thêm kết quả thực nghiệm

về sự tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam

+ Thứ hai, về thời gian nghiên cứu, đề tài đã cập nhật số liệu từ 2010 đến 2017,

đã phản ảnh được số liệu mới và cho thấy được nhiều sự thay đổi trong cấu trúc sở hữu của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn trên

+ Thứ ba, về không gian nghiên cứu, tại Việt Nam cũng có một số nghiên cứu

về đề tài này tuy nhiên chỉ tập trung riêng về sự tác động của sở hữu nhà nước hay sở hữu nước ngoài của các NHTM Việt Nam nói chung, đề tài này sẽ nghiên cứu sự tác động của các thành phần sở hữu bao gồm cả sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và

bổ sung thêm sở hữu tổ chức trong các NHTMCP Việt Nam

+ Thứ tư, về biến đo lường cấu trúc sở hữu, các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu sử dụng biến giả, đề tài này sẽ sử dụng biến định lượng đo bằng tỷ lệ sở hữu

1.7 Kết cấu của luận văn

Cấu trúc của luận văn được chia thành 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương này nêu khái quát chung về đề tài nghiên cứu, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan

Chương này sẽ trình bày các lý thuyết về cấu trúc sở hữu, khả năng sinh lời cũng như tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng

Trang 15

thương mại Bên cạnh đó, tác giả cũng tổng quan các nghiên cứu trước đây có liên quan về vấn đề này để từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu và đặt ra giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Trong chương này sẽ trình bày cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, cách chọn mẫu và thu thập dữ liệu, mô tả cách tính toán các biến phụ thuộc và biến độc lập trong

mô hình, đặt giả thiết về kỳ vọng dấu của của các biến dựa trên kết quả các nghiên cứu trước

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này sẽ trình bày các kết quả từ mô hình hồi quy, từ đó phân tích kết quả về dấu thực tế với giả thuyết đưa ra từ đó thảo luận về kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Chương 5 trình bày tóm tắt lại kết quả nghiên cứu từ đó đưa ra các gợi ý chính sách đối với các đối tượng nghiên cứu Đồng thời, chương này cũng nêu ra những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai có liên quan đến lĩnh vực này

Tóm tắt Chương 1

Chương này giới thiệu bối cảnh về vấn đề nghiên cứu, lý do chọn đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam Phạm vi nghiên cứu là 20 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ 2010 đến 2017

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU

CÓ LIÊN QUAN

Trong Chương 2 sẽ tổng quan các lý thuyết liên quan đến cấu trúc sở hữu, khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại và tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời; đồng thời lược khảo một số công trình nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài làm cơ sở đưa ra giả thuyết nghiên cứu

2.1 Cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại

Do NHTMCP về bản chất là công ty cổ phần nên khái niệm về cấu trúc sở hữu của ngân hàng thương mại dựa trên khái niệm về cấu trúc sở hữu của công ty cổ phần

Khi một doanh nghiệp thành lập và hoạt động, đòi hỏi phải có một số vốn điều

lệ nhất định và vốn điều lệ được hình thành từ đâu, hình thành như thế nào tạo nên cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp Có thể hiểu, cấu trúc sở hữu phản ánh các mối quan hệ chiếm hữu đối với các phần của vốn chủ sở hữu, từ đó quyết định đến các quan hệ sản xuất, phân phối sản phẩm, lợi ích kinh tế từ nguồn vốn chủ sở hữu đó mang lại Khái niệm cấu trúc sở hữu được Jensen và Meckling đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1976

để chỉ phần vốn được nắm giữ bởi những thành viên bên trong công ty (thành phần quản lý trực tiếp) và bên ngoài công ty (nhà đầu tư không giữ vai trò quản lý trực tiếp)

Theo Gursory và Aydogan (2002), cấu trúc sở hữu được xác định theo hai khía cạnh: quyền sở hữu tập trung (ownership concentration) và quyền sở hữu hỗn hợp (ownership mix)

Quyền sở hữu tập trung là những cổ đông nắm giữ nhiều cổ phiếu nhất, trong nghiên cứu của Kiruri (2013) khái niệm mức độ tập trung sở hữu là tỷ lệ sở hữu của 5

cổ đông lớn nhất trong các ngân hàng của Kenya Wen (2010) cũng sử dụng mức độ tập trung sở hữu trong các NHTM nhà nước và NHTM tư nhân của Trung Quốc là tỷ

lệ sở hữu của các cổ đông lớn nhất

Trang 17

Quyền sở hữu hỗn hợp được xem xét ở khía cạnh tính chất kinh tế đặc thù của các cổ đông và tỷ lệ cổ phần nắm giữ bởi các cổ đông này như tỷ lệ sở hữu nhà nước,

tỷ lệ sở hữu tư nhân, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu trong nước được đề cập trong các nghiên cứu của Kiruri (2013), Antoniadis (2010), hay tỷ lệ sở hữu của các nhà quản lý, tỷ lệ sở hữu của cổ đông cá nhân, tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức

Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiếp cận cấu trúc sở hữu theo khía cạnh thứ hai là quyền sở hữu hỗn hợp, trong đó tập trung vào tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu tổ chức

2.2 Khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

Theo Rose (1999) khả năng sinh lời của ngân hàng là kết quả của việc sử dụng các tài sản vật chất và tài sản tài chính và ít nhất phải đáp ứng được đòi hỏi đảm bảo việc duy trì vốn để ngân hàng hoạt động và phát triển Khái niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người

và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản

Thông thường khả năng sinh lời của NHTM được đo lường bằng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA - Return on total assets) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on equity)

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): là thước đo thông dụng nhất về

khả năng sinh lời, là chỉ tiêu quan trọng khi so sánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng

vì nó cho biết cứ bình quân một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Các ngân hàng có cùng quy mô tài sản, ngân hàng nào có tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) cao chứng tỏ ngân hàng đó có chính sách kinh doanh và đầu tư hiệu quả

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE cho biết một đồng vốn

chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, biểu thị khoản sinh lời hay lợi tức trung bình của các nhà đầu tư nhận được từ vốn cổ phần tại ngân hàng Khả năng sinh lời

Trang 18

trên một đồng vốn của ngân hàng càng lớn, càng chứng tỏ hiệu suất và hiệu quả sử dụng đồng vốn trong ngân hàng đó càng cao

2.3 Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

Do NHTMCP là một loại hình doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận nên nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại

có thể dựa trên lý thuyết về quản trị công ty và lý thuyết người đại diện

2.3.1 Lý thuyết về quản trị công ty

Berle và Means đã xây dựng khung lý thuyết về mối quan hệ giữa sở hữu và và quản trị công ty được công bố lần đầu tiên vào năm 1932 Lý thuyết về quản trị công

ty trong công ty cổ phần cho rằng sự tách rời giữa quyền sở hữu và điều hành công ty

có thể cho phép các nhà quản trị công ty theo đuổi mục tiêu riêng hơn là tối đa hóa lợi ích cho cổ đông Vì vậy mâu thuẩn có thể sẽ nảy sinh từ sự khác biệt giữa mục tiêu của

cổ đông và mục tiêu của nhà quản lý doanh nghiệp Mức độ mâu thuẫn này sẽ phụ thuộc vào mức độ phân tách giữa sở hữu và quản trị cũng như sự khác biệt trong mục tiêu của cổ đông và nhà quản lý Cuối cùng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sẽ chịu tác động từ sự phân tán giữa quyền sở hữu và quản lý

Trong nghiên cứu của Williamson (1964) về vấn đề này, tác giả cho rằng các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp có lợi nhuận kém hơn so với chủ sở hữu doanh nghiệp điều hành doanh nghiệp do thiếu động lực tối đa hóa lợi nhuận Vì vậy các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp có thể sẽ có tốc độ phát triển nhanh hơn nhưng tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn chủ sở hữu quản lý doanh nghiệp

Cùng hướng nghiên cứu với Williamson, nghiên cứu của tác giả Baumon (1959) và Monson (1965) cho thấy rằng khi nhà quản lý điều hành doanh nghiệp luôn

có sự bất cân đối giữa lợi ích nhận được với kết quả điều hành khi kết quả hoạt động của doanh nghiệp không tốt thì nhà quản lý chịu trách nhiệm nặng nề nhưng khi doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì lợi ích nhận được không tương xứng Điều này dẫn đến

Trang 19

các nhà quản lý doanh nghiệp thường ngại rủi ro và ít tận dụng cơ hội cho doanh nghiệp

Đến năm 1976, nghiên cứu của Jensen và Meckling và nhiều nghiên cứu sau đó

đã đưa ra nhiều quan điểm đột phát về mối liên hệ giữa sở hữu và hoạt động của doanh nghiệp dựa trên khái niệm chi phí đại diện

2.3.2 Lý thuyết người đại diện

a Nghiên cứu của Jensen và Meckling

Chi phí đại diện (Agency cost) phát sinh khi có sự mâu thuẫn giữa mục đích của chủ sở hữu vốn và người đại diện (nhà quản lý) Người đại diện là người làm việc thay mặt cho người sở hữu công ty Do cổ đông của công ty không hoặc rất ít có điều kiện giám sát thường xuyên từng hành động của người quản trị, dẫn đến việc phát sinh tình trạng thông tin bất cân xứng, từ đó gây ra các vấn đề rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch

Trong tác phẩm “ Lý thuyết về công ty: hành vi nhà quản trị, chi phí người đại diện và cấu trúc sở hữu” của Jensen và Meckling (1976) đã đưa ra các quan điểm về lý thuyết người đại diện ở các nội dung chính sau đây:

Một là, chủ sở hữu vốn (shareholders) và người đại diện (agent) hay nhà quản trị (managers) luôn có sự mâu thuẫn lợi ích Chủ sở hữu luôn quan tâm đến giá trị cổ phiếu, giá trị công ty (lợi ích của chính họ) trong khi nhà quản trị không quan tâm đến lợi ích của cổ đông mà quan tâm đến lợi ích của chính mình (lương, thưởng, thu khác…)

Hai là, do mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu vốn và người đại diện hay nhà quản trị làm phát sinh chi phí đại diện (agency cost) hay còn gọi là chi phí Giám đốc Chi phí đại diện bằng không khi chủ sở hữu đồng thời là Giám đốc, Giám đốc sở hữu toàn bộ vốn của công ty

Ba là, chi phí đại diện càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu vốn công ty

Trang 20

b Nghiên cứu của Fama và Jensen

Một nghiên cứu khác về chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu được thực hiện bởi Fama và Jensen (1983) đã đưa ra kết luận trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát Chủ sở hữu không tham gia quản lý công ty sẽ xuất hiện chi phí đại diện vì bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu Nhà quản lý

có nhiều thông tin về tình hình công ty và dùng quyền quản lý để trục lợi cho bản thân

c Các nghiên cứu khác

Liên quan đến chi phí đại diện còn có một số nghiên cứu khác tìm hiểu về ảnh hưởng của mức độ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức đến chi phí đại diện Nghiên cứu của Brickley, Lease &Smith (1986) cho rằng do đặc tính riêng của cổ đông tổ chức so với

cổ đông cá nhân, họ có khả năng và động lực tham gia kiểm soát hoạt động của công

ty từ đó có thể giảm chi phí đại diện

Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước và chi phí đại diện, theo Mak &Li (2001) Chính phủ thường kém chủ động trong kiểm soát các khoản đầu tư của mình nên cơ chế kiểm soát công ty kém, do đó các công ty có vốn đầu tư nhà nước thường sẽ làm tăng chi phí đại diện

Tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài cũng có những ảnh hưởng nhất định đến chi phí đại diện của công ty Trong nghiên cứu của Xu, Zhu và Lin (2005) đối với những công ty ở Trung Quốc, tỷ lệ nhà đầu tư nước ngoài càng cao thì công ty được kiểm soát tốt hơn dẫn đến hiệu quả công ty cao hơn và giảm bớt chi phí đại diện

Tóm lại, có thể thấy sự tồn tại mối quan hệ giữa chi phí đại diện với cấu trúc sở hữu trong công ty ở nhiều quốc gia khác nhau Trong đó, vai trò kiểm soát đối với hoạt động của công ty được giải thích nhiều ở thành phần sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức,

sở hữu nước ngoài

2.3.3 Tác động của sở hữu nhà nước đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Hiện nay, sở hữu nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính của nhiều quốc gia do những mục tiêu kinh tế, xã hội, chính trị mà Nhà nước

Trang 21

muốn đạt được Tại các nước phát triển, lợi ích của sở hữu nhà nước trong ngân hàng

là để kiểm soát nền kinh tế, ngăn ngừa những khuyết tật của thị trường Tại các nước đang phát triển, lý do tồn tại sở hữu nhà nước trong ngân hàng là nhằm đạt được các lợi ích về kinh tế, ổn định hệ thống ngân hàng và đạt được các mục tiêu xã hội

+ Tác động tích cực:

Sở hữu nhà nước tại một số nước đang phát triển có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng do lợi thế được hỗ trợ các chính sách từ phía Chính phủ Tác động tích cực của sở hữu nhà nước đến hoạt động của ngân hàng thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, ngân hàng có sở hữu nhà nước sẽ kích thích tăng trưởng kinh tế khi các tổ chức tài chính hoặc khu vực tư nhân chưa đáp ứng được các yêu cầu thị trường Trong một nền kinh tế với thể chế yếu kém, các ngân hàng tư nhân không thể khắc phụ những thiếu sót về thông tin thì ngân hàng nhà nước có thể phân bổ nguồn vốn hiệu quả hơn tư nhân

Thứ hai, các ngân hàng thương mại nhà nước được coi là người đi đầu trong thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ và hệ thống ngân hàng Đặc biệt, trong giai đoạn khủng hoảng nền kinh tế, vai trò của ngân hàng thương mại nhà nước càng quan trọng hơn Thực tế trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 rất nhiều quốc gia đã quốc hữu hóa một số ngân hàng thương mại nhằm ổn định hệ thống ngân hàng

Thứ ba, sở hữu nhà nước mang lại những lợi thế cạnh tranh do lòng tin của khách hàng lớn hơn so với khu vực tư nhân

+ Tác động tiêu cực:

Bên cạnh việc sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, nhiều nghiên cứu thực tế cũng cho thấy sở hữu nhà nước có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Một số tác động tiêu cực như sau:

Trang 22

Một là, do sự mâu thuẫn giữa quyền quản lý và lợi ích kinh tế, sự khác biệt về người sở hữu và người quản lý không tạo động lực cho nhà quản lý nỗ lực trong việc tạo ra giá trị cho cổ đông, cho lợi ích của ngân hàng thương mại

Hai là, do NHTM nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh vừa thực thi chính sách tiền tệ theo chỉ đạo của ngân hàng Trung ương đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh của NHTM nhà nước

Ba là, NHTM nhà nước thường bị ràng buộc với các doanh nghiệp nhà nước với lãi suất cho vay ưu đãi hoặc tín chấp, các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả thường kéo theo ảnh hưởng xấu đến hiệu quả hoạt động của NHTM nhà nước

2.3.4 Tác động của sở hữu nước ngoài đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự xuất hiện của nhà đầu tư nước ngoài trong cơ cấu sở hữu ngân hàng sẽ tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động, khả năng sinh lời, tính thanh khoản và chất lượng tài sản của ngân hàng Tuy nhiên một số nghiên cứu lại cho thấy sự ảnh hưởng khác nhau giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển

Demirguc-Kunt và Huizingga (1999) đã chỉ ra rằng ngân hàng nước ngoài sẽ thu được lợi nhuận cao hơn ngân hàng nội địa ở các quốc gia đang phát triển và ngược lại ở các quốc gia phát triển Claessens và cộng sự (2001) cũng thu được những kết quả tương tự khi xem xét lợi nhuận của 80 nước phát triển và đang phát triển

Nghiên cứu của Berger và cộng sự (2000) tập trung vào các nước phát triển, đã cho thấy các ngân hàng trong nước quản lý chi phí tốt hơn và lợi nhuận cao hơn so với các ngân hàng nước ngoài Điều này có thể giải thích là do ngân hàng nước ngoài có lợi thế về kinh nghiệm, công nghệ so với những ngân hàng nội địa ở khu vực chưa phát triển còn ở khu vực phát triển thì các ngân hàng đều có kinh nghiệm, công nghệ tương đương nhau thì điều này không còn là lợi thế của ngân hàng nước ngoài

Trang 23

Ở các nước đang phát triển, ngân hàng có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang lại những thay đổi tích cực do có lợi thế về công nghệ, kinh nghiệm hoạt động quốc tế Chứng minh cho luận điểm này, Unite và Sullivan (2003) đã đánh giá mức độ tham gia và ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đến hệ thống ngân hàng Philippines và kết luận rằng sự hiện diện của yếu tố nước ngoài làm giảm chi phí hoạt động của ngân hàng trong nước Các NHTM có yếu tố nước ngoài có chi phí thấp hơn các NHTM trong nước, qua đó, tác động tích cực lên tính cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng từ đó cải thiện năng lực cạnh tranh của ngân hàng nội địa

2.3.5 Tác động của sở hữu tổ chức đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Tác động tích cực nhất của nhóm sở hữu tổ chức đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là cơ chế giám sát chặt chẽ, các cổ đông tổ chức có kinh nghiệm trong thị trường tài chính và quản trị doanh nghiệp Vì vậy, các ngân hàng có nhóm sở hữu tổ chức chiếm phần lớn thường có hiệu quả hoạt động cao hơn so với nhóm sở hữu cá nhân

Nghiên cứu của Uwuigbe và Olusanmi (2012) về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu với tình hình hoạt động của 31 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính ở Nigeria từ 2006-2010 đã chỉ ra cổ đông tổ chức có vai trò quan trọng với hiệu quả hoạt động của công ty nhờ vào vai trò giám sát tốt của nhóm cổ đông này

2.4 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Có nhiều nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng với các kết quả khác nhau, sau đây tác giả sẽ lược khảo lại những nghiên cứu có liên quan về chủ đề này tại quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế chuyển đổi có những tương đồng với Việt Nam và các nghiên cứu tại Việt Nam

để từ đó có sơ sở phát triển giả thuyết nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển

Trang 24

- Nghiên cứu của Uwuigbe và Olusanmi (2012) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu với tình hình hoạt động của 31 công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính ở Nigeria từ 2006-2010 Biến phụ thuộc là ROA, biến độc lập là tỷ lệ sở hữu của Ban Giám đốc, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức Kết quả nghiên cứu cho thấy có tác động tích cực của cổ đông là thành viên Ban giám đốc đến ROA, cổ đông nước ngoài với kỹ năng quản lý tốt và công nghệ cao cũng mang lại hiệu quả tích cực, còn cổ đông tổ chức với vai trò giám sát tốt cũng đóng góp quan trọng vào hiệu quả hoạt động công ty

- Nghiên cứu của Rahman và Reja (2015) nghiên cứu cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của 9 ngân hàng trong nước và 12 ngân hàng nước ngoài tại Malaysia trong giai đoạn 2000-2011, sử dụng mô hình hồi quy đa biến tác động cố định để kiểm định tác động của 5 thành phần sở hữu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là: sở hữu nhà quản lý, sở hữu gia đình, sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài Kết quả cho thấy sở hữu nhà quản lý và sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến ROA, ROE, sở hữu tổ chức có tác động tích cực đến ROE, trong khi sở hữu gia đình và sở hữu nước ngoài không có ảnh hưởng rõ rệt (biến phụ thuộc: ROA, ROE)

- Nghiên cứu của Matanda và cộng sự (2015) nghiên cứu về mối quan hệ giữa

sở hữu tổ chức và hiệu quả của ngân hàng Kenya Theo nhóm tác giả thì sở hữu tổ chức của các ngân hàng thương mại là rất quan trọng vì nó là một cơ chế quản trị doanh nghiệp nội bộ Các nghiên cứu gần đây về quyền sở hữu tổ chức trong các doanh nghiệp cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa trong khả năng giám sát của họ sau đó tác động đến hiệu suất Quyền sở hữu của tổ chức, chẳng hạn như các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hiệu suất của công ty, nhờ vào kiến thức và kinh nghiệm mà họ sở hữu Nghiên cứu này tìm cách xác định mối quan hệ giữa quyền sở hữu tổ chức và hiệu suất của 43 ngân hàng thương mại ở Kenya từ năm 2001-2013 Hiệu suất ngân hàng được xác định bởi ba chỉ

số hoạt động: ROA, ROE, Tobin’Q, trong khi quy mô ngân hàng là biến kiểm soát

Dữ liệu thu thập được phân tích bằng cách sử dụng cả số liệu thống kê mô tả và số liệu thống kê suy luận từ hồi quy dữ liệu bảng Những phát hiện của nghiên cứu chỉ ra rằng

Trang 25

không có mối quan hệ giữa quyền sở hữu tổ chức và hiệu suất của các ngân hàng thương mại ở Kenya Kết quả được giải thích do các nhà đầu tư tổ chức ở Kenya có mối quan hệ kinh doanh với các ngân hàng thương mại, trong đó họ nắm giữ cổ phần

sở hữu nên có thể không giám sát hiệu quả hoạt động của các ngân hàng này vì sợ rằng

họ có nguy cơ làm tổn hại đến mối quan hệ kinh doanh đang có

- Nghiên cứu của Kiruri (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng ở Kenya: sử dụng dữ liệu của 43 ngân hàng thương mại giai đoạn 2007-2011 Nghiên cứu sử dụng các báo cáo hàng năm có sẵn trên trang web của họ và trên trang web của ngân hàng trung ương Kenya Nghiên cứu cho thấy rằng sự tập trung quyền sở hữu và quyền sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực và đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng trong khi sở hữu nước ngoài và quyền sở hữu trong nước có tác động tích cực và đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng Nghiên cứu kết luận rằng sự tập trung quyền sở hữu cao hơn và quyền sở hữu nhà nước dẫn đến lợi nhuận thấp hơn trong các ngân hàng thương mại trong khi quyền sở hữu cao hơn của cổ đông ngoài nước dẫn đến lợi nhuận cao hơn trong các ngân hàng thương mại (biến phụ thuộc: ROE)

- Nghiên cứu của Kobeissi (2010) nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở vùng Trung Đông và Bắc Phi (MENA): sử dụng dữ liệu

249 ngân hàng ở 20 quốc gia MENA giai đoạn 2000-2002 cho thấy ngân hàng tư nhân

và ngân hàng có sở hữu nước ngoài có hiệu quả hoạt động cao hơn các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước (biến phụ thuộc: ROA, ROE)

- Nghiên cứu của Kosak và Cok (2008) nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và khả năng sinh lời ở sáu nước Đông Nam Âu (SEE-6) gồm Croatia, Bulgaria, Romania, Serbia, FYR Macedonia, Albania: kết quả cho thấy có sự khác biệt rất nhỏ của khả năng sinh lời giữa ngân hàng sở hữu nước ngoài và sở hữu trong nước (biến phụ thuộc: ROA, ROE, NIM)

- Nghiên cứu của Ezugwu và Itodo (2014) nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Negeria gồm 180 quan sát của 18

Trang 26

NHTMCP Negeria giai đoạn 2002-2011 Biến phụ thuộc là ROA, ROE, NIM, cấu trúc

sở hữu được đánh giá ở 2 góc độ là sở hữu tập trung và sở hữu hỗn hợp Kết quả không tìm thấy ảnh hưởng của sở hữu tập trung đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trong khi đó, xem xét tác động của sở hữu hỗn hợp gồm các thành phần tỷ lệ sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài và Ban giám đốc, kết quả chỉ ghi nhận tác động âm của

sở hữu nhà nước đến tỷ suất sinh lời

2.4.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

- Kiều Hữu Thiện và cộng sự (2012) trong đề tài nghiên cứu cấp ngành về “Mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại do nhà nước giữ cổ phần chi phối (thực trạng, xu hướng và định hướng điều chỉnh)” đã chỉ ra các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại do nhà nước giữ cổ phần chi phối chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng

- Trần Phương Thảo và Lê Nguyễn Quỳnh Hương (2016) Nghiên cứu tác động của loại hình sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam đối với 22 ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2007-2014 Tác giả sử dụng phương pháp DEA và SFA trong việc đo lường hiệu quả hoạt động NHTM và hồi quy Tobit 2 bước để tìm hiểu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động và loại hình sở hữu NHTM tập trung về vai trò sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng thương mại Việt Nam đã minh chứng loại hình sở hữu khác nhau có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Bên cạnh đó, nghiên cứu kiểm định giả thuyết "lợi thế sân nhà” (home field advantage hypothesis) và "lợi thế nước ngoài" (global advantage hypothesis) nhưng không tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại các giả thuyết này trong lĩnh vực ngân hàng Việt Nam

- Nguyễn Hồng Sơn và cộng sự (2015) đã nghiên cứu Tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam: Nhóm tác giả sử dụng dữ liệu 40 ngân hàng giai đoạn 2010-2012 Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tập trung vốn chủ sở hữu, tỷ lệ sở hữu tư nhân, quản trị công ty có tác động cùng

Trang 27

chiều; sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài không có tác động rõ rệt, tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại (biến phụ thuộc: ROA, ROE)

- Trần Việt Dũng (2014) Xác định các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại: sử dụng dữ liệu 22 ngân hàng giai đoạn 2006-2012 Kết quả cho thấy sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại, sở hữu nước ngoài chưa có ảnh hưởng rõ rệt Bên cạnh đó, các ngân hàng được tìm thấy hiệu quả hơn khi nắm giữ nhiều vốn chủ sở hữu Tác giả không đủ cơ sở khẳng định tác động của quy mô tài sản, tỷ lệ dư nợ, huy động lên khả năng sinh lời của ngân hàng Các biến số về rủi ro của ngân hàng chưa có tác động rõ rệt tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng Cuối cùng các biến vĩ mô, tác động rõ nét tới hoạt động của các NHTM Việt Nam (biến phụ thuộc: ROA, ROE, NIM)

- Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên dữ liệu 39 ngân hàng giai đoạn 2005-2012 Kết quả cho thấy ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn ngân hàng thương mại khác, tổng chi phí hoạt động trên doanh thu, tỷ lệ nợ xấu có tương quan nghịch với cả ROE, ROA; tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản tương quan thuận với ROA, nhưng tương quan nghịch với ROE(biến phụ thuộc: ROA, ROE)

- Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013) nghiên cứu Tác động của loại hình sở hữu đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại Việt Nam:

sử dụng dữ liệu 30 ngân hàng với 150 quan sát trong giai đoạn 2008- 2012, áp dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng với phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square-FGLS) để ước lượng các hệ số hồi quy Kết quả cho thấy có sự tác động của loại hình sở hữu đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, cụ thể thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn ngân hàng

thương mại cổ phần Đồng thời, quy mô hoạt động cho vay, chi phí hoạt động, rủi ro

Trang 28

tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu có tương quan dương và có ý nghĩa thống kê với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng (biến phụ thuộc: NIM)

2.4.3 Khoảng trống nghiên cứu

Qua tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy có tác động giữa cấu trúc sở hữu và khả năng sinh lời của ngân hàng được đo lường chủ yếu bằng ROA và ROE Tuy nhiên các nghiên cứu trên còn tồn tại một số khoảng trống như sau:

Một là, các nghiên cứu quốc tế được thực hiện với nhiều nhóm sở hữu như sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân, sở hữu nước ngoài, sở hữu gia đình, sở hữu tổ chức…Tuy nhiên ở các nước này, cấu trúc sở hữu phân tán và vốn nhà nước tham gia thấp trong khi ở Việt Nam vai trò sở hữu nhà nước vẫn còn rất quan trọng

Hai là, trong các nghiên cứu quốc tế, mô hình nghiên cứu chỉ tập trung vào các biến độc lập là cơ cấu sở hữu của các thành phần nhưng chưa xem xét đến các biến kiểm soát chỉ đặc trưng riêng của ngân hàng như vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ

nợ xấu hay các biến vĩ mô như lạm phát, tăng trưởng kinh tế

Ba là, các nghiên cứu ở Việt Nam về chủ đề này cũng được quan tâm trong thời gian gần đây tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ trình bày dưới dạng bài báo khoa học, chưa

đi sâu phân tích cơ sở lý thuyết Hơn nữa, các nghiên cứu chỉ tập trung xem xét riêng

về sở hữu nhà nước hoặc sở hữu nước ngoài hoặc sử dụng biến giả, chưa có đánh giá ảnh hưởng của sở hữu tổ chức Do đó, luận văn này tập trung vào các thành phần sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức là các biến giải thích kết hợp với các biến kiểm soát vi mô, vĩ mô để đánh giá tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng

đo lường qua ROA, ROE để có cái nhìn tổng quát, đầy đủ hơn

Bốn là, trong bối cảnh hiện nay, các tổ chức tín dụng đang tiếp tục thực hiện tái

cơ cấu giai đoạn 2 với định hướng là giảm dần sở hữu nhà nước, tăng sở hữu tư nhân, đồng thời xem xét tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài Do đó, kết quả nghiên cứu của luận văn trong giai đoạn thực hiện tái cơ cấu sẽ làm cơ sở cho các cơ quan quản lý và các ngân hàng thương mại xác định cấu trúc sở hữu phù hợp, góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Trang 29

2.5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Với mục đích bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu, đề tài xem xét tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng, trong đó tập trung vào sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu tổ chức Vì thế, đề tài đặt ra câu hỏi nghiên cứu như sau:

Câu hỏi 1: Sở hữu nhà nước có tác động đến khả năng sinh lời của các NHTMCP Việt Nam hay không?

Câu hỏi 2: Sở hữu nước ngoài có tác động đến khả năng sinh lời của các

NHTMCP Việt Nam hay không?

Câu hỏi 3: Sở hữu tổ chức có tác động đến khả năng sinh lời của các NHTMCP

Việt Nam hay không?

Dựa trên câu hỏi nghiên cứu được đặt ra, đề tài lược khảo kết quả một số nghiên cứu đã tổng quan để phát triển giả thuyết nghiên cứu như sau:

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả của các công trình nghiên cứu

phụ thuộc

Trang 30

Reja (2015) 12 ngân hàng nước

ngoài tại Malaysia trong giai đoạn

2001-2013

ROA, ROE,

Tobin’Q

hàng thương mại Kenya giai đoạn

và Bắc Phi giai đoạn 2000-2002

ROA, ROE

2011

ROA, ROE, NIM

Sở hữu nước

ngoài

Không

Trang 31

Nguyễn Hồng

Sơn và cộng sự

(2015)

Dữ liệu 40 NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2012

ROA, ROE

ROA, ROE, NIM

Sở hữu nước ngoài

ROA, ROE

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Như vậy, kết quả nghiên cứu được thực hiện tại các quốc gia khác nhau với các giai đoạn nghiên cứu khác nhau cũng cho ra kết quả khác nhau, tuy nhiên có thể nhìn thấy xu hướng chung trong các nghiên cứu là tác động tiêu cực của sở hữu nhà nước; tác động tích cực của sở hữu nước ngoài và sở hữu tổ chức đến khả năng sinh lời của ngân hàng Do đó, tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu như sau:

Giả thuyết 1: Sở hữu nhà nước và khả năng sinh lời có mối tương quan âm

Trang 32

Giả thuyết 2: Sở hữu nước ngoài và khả năng sinh lời có mối tương quan

Trang 33

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Ở Chương 2 đã giới thiệu tổng quan cơ sở lý thuyết về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Tiếp theo Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu thông qua xác định mô hình nghiên cứu, cách chọn mẫu và thu thập dữ liệu, mô tả các biến và cách tính toán các biến trong mô hình Tiếp theo, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng theo mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để đánh giá tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của ngân hàng Bên cạnh đó, tác giả cũng thực hiện các kiểm định cần thiết để lựa chọn mô hình phù hợp

3.1 Mô hình nghiên cứu

Xuất phát từ các kết quả nghiên cứu tổng quan trước đây, nhằm mục đích tìm hiểu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại

cổ phần Việt Nam, tác giả kế thừa nghiên cứu của nhóm tác giả Rahman và Reja (2015) nghiên cứu cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của 9 ngân hàng trong nước

và 12 ngân hàng nước ngoài tại Malaysia trong giai đoạn 2000-2011 Mô hình nghiên cứu sử dụng biến phụ thuộc là ROA, ROE, biến độc lập là 5 thành phần sở hữu: sở hữu nhà quản lý, sở hữu gia đình, sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài Sử dụng mô hình hồi quy đa biến tác động cố định để kiểm định tác động của 5 thành phần sở hữu đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Kết quả cho thấy sở hữu nhà quản lý và sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến ROA, ROE; sở hữu tổ chức

có tác động tích cực đến ROE, trong khi sở hữu gia đình và sở hữu nước ngoài không

có ảnh hưởng rõ rệt

Ngoài ra, kế thừa nghiên cứu của Trần Việt Dũng (2014) Xác định các nhân tố tác động tới khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại với dữ liệu 22 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2012 Mô hình sử dụng biến phụ thuộc là ROA, ROE, NIM; biến độc lập là tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, log tổng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, tài sản thanh khoản trên tiền gửi, tiền

Trang 34

gửi trên tổng tài sản, tăng trưởng kinh tế, lạm phát Kết quả cho thấy sở hữu nhà nước

có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại, sở hữu nước ngoài chưa có ảnh hưởng rõ rệt Bên cạnh đó, các ngân hàng được tìm thấy hiệu quả hơn khi nắm giữ nhiều vốn chủ sở hữu Tác giả không đủ cơ sở khẳng định tác động của quy mô tài sản, tỷ lệ dư nợ, huy động lên khả năng sinh lời của ngân hàng Các biến số về rủi ro của ngân hàng chưa có tác động rõ rệt tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng Cuối cùng các biến vĩ mô, tác động rõ nét tới hoạt động của các NHTM Việt Nam

Kế thừa có chọn lọc từ hai công trình nghiên cứu trên, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của 20 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017 như sau:

Y it = β 0 + β 1. STATE it + β 2. FOR it + β 3. INS it + β 4. ETA it + β 5. NPL it + β 6 INF it +

STATE: Tỷ lệ sở hữu nhà nước trong 1 ngân hàng

FOR: Tỷ lệ sở của cổ đông nước ngoài trong 1 ngân hàng

INS: Tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức trong 1 ngân hàng

ETA: Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

Trang 35

t: Năm nghiên cứu từ 2010-2017

3.2 Mô tả cách chọn mẫu và thu thập dữ liệu

Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu bảng của 20 NHTMCP Việt Nam, giai đoạn từ 2010-2017, bao gồm 180 quan sát Nghiên cứu chọn mẫu 20 NHTMCP Việt Nam là vì: sự thuận tiện trong việc tìm kiếm dữ liệu về tỷ lệ sở hữu (sau khi đã loại bỏ những ngân hàng thiếu thông tin hoặc không công bố đầy đủ thông tin), các ngân hàng được đưa vào mẫu là những ngân hàng có thể đại diện cho toàn bộ

hệ thống NHTMCP về mặt tài sản, vốn chủ sở hữu, quy mô thị trường

Trong mẫu này, có 3 ngân hàng có cổ phần Nhà nước chi phối là NHTMCP Công thương Việt Nam, NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam, NHTMCP Ngoại thương Việt Nam Các ngân hàng còn lại, tỷ lệ sở hữu Nhà nước có xuất hiện tại một

số ngân hàng nhưng không chiếm tỷ lệ chi phối

Trong giai đoạn nghiên cứu kéo dài từ năm 2010 đến năm 2017 là giai đoạn có nhiều sự thay đổi trong cấu trúc sở hữu của các NHTM Việt Nam như thực hiện cổ phần hóa các NHTM Nhà nước, tái cấu trúc các tổ chức tín dụng Điều này, cho phép đánh giá sự thay đổi mô hình kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả không, tác động của cấu trúc sở hữu ảnh hưởng như thế nào

Sau khi mẫu khảo sát được lựa chọn, các dữ liệu cần thiết sẽ được thu thập, cụ thể: các dữ liệu về kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu trên bảng cân đối, các chỉ số tài chính được lấy từ các báo cáo tài chính được kiểm toán của các ngân hàng được chọn làm mẫu trên trang web của từng ngân hàng, www.vietstock.vn; một số thông tin về tỷ

lệ sở hữu không được công bố đầy đủ trên báo cáo tài chính, tác giả thu thập thêm từ báo cáo thường niên của các ngân hàng

Đối với các số liệu vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác giả sử dụng số liệu từ các báo cáo thông kê và công bố thông tin của Tổng cục thống kê và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 36

3.3 Mô tả cách tính toán các biến

3.3.1 Biến phụ thuộc

- ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu để đo lường khả năng sinh lời của

ngân hàng được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trên tổng vốn chủ sở bình quân Khoản mục vốn chủ sở hữu được lấy từ báo cáo cân đối kế toán, lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm của các ngân hàng tại thời điểm cuối năm

Tổng vốn chủ sở hữu bình quân

- ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản để đo lường khả năng sinh lời của

ngân hàng được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế chia cho tổng tài sản bình quân Khoản mục tổng tài sản được lấy từ báo cáo cân đối kế toán, lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm của các ngân hàng tại thời điểm cuối năm

Tổng tài sản bình quân

3.3.2 Biến độc lập

Bảng 3.1: Mô tả các biến độc lập được sử dụng trong mô hình hồi quy

Biến Công thức xác định Dấu kỳ

Trang 37

Biến Công thức xác định Dấu kỳ

- Kiều Hữu Thiện và cộng sự (2012)

- Trịnh Quốc Trung, Nguyễn Văn Sang (2013)

FOR Tỷ lệ sở hữu của cổ

- (ROE)

Trang 38

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

- Cấu trúc sở hữu (STATE, FOR, INS):

STATE – Tỷ lệ sở hữu nhà nước: là tổng tỷ lệ sở hữu trực tiếp của Chính phủ,

của các doanh nghiệp nhà nước và của cả người đại diện nhà nước trong tổng vốn chủ

sở hữu Theo Rahman và Reja (2015), Kiruri (2013) cho thấy rằng sở hữu nhà nước có tác động tiêu cực đến đến lợi nhuận của ngân hàng

FOR – Tỷ lệ sở hữu nước ngoài: là tổng tỷ lệ sở hữu của cá nhân và tổ chức

nước ngoài trong tổng vốn chủ sở hữu Theo Uwuigbe và Olusanmi (2012) cổ đông nước ngoài với kỹ năng quản lý tốt và công nghệ cao cũng mang lại hiệu quả tích cực cho hoạt động công ty

INS – Tỷ lệ sở hữu tổ chức: là tỷ lệ sở hữu của cổ đông tổ chức trong tổng vốn

chủ sở hữu Theo Uwuigbe và Olusanmi (2012) cổ đông tổ chức với vai trò giám sát tốt cũng đóng góp quan trọng vào hiệu quả hoạt động công ty Rahman và Reja (2015) cũng cho thấy sở hữu tổ chức có tác động tích cực đến ROE

- Quy mô vốn chủ sở hữu (ETA)

ETA đo lường tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, được tính bằng cách lấy

vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản tại thời điểm cuối năm được dùng để đánh giá mức độ phù hợp của vốn Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn nhưng quy mô vốn chủ sở hữu có vai trò quan trọng trong việc duy trì an toàn và phát triển hoạt động của ngân hàng do các ngân hàng luôn bị khống chế tỷ lệ an toàn vốn Thông thường, ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì ngân hàng đó càng

có điều kiện để huy động thêm vốn nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, khi đó an toàn vốn cao chứng tỏ ngân hàng đó sử dụng đòn bẩy tài chính thấp sẽ đi đôi với lợi nhuận giảm vì có khả năng dư thừa vốn, không tận dụng tối đa nguồn vốn, có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm này như Trần Việt Dũng (2014), Nguyễn Thị Cành, Hồ Thị Hồng Minh (2015)

Trang 39

có tác động ngược chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng Có nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm này như Trịnh Quốc Trung, Nguyễn Văn Sang (2013), Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Công Tâm (2012)

2014) Lạm phát có tác động trực tiếp tới động cơ gửi tiền và đi vay của các chủ thể

kinh tế vì vậy sẽ tác động trực tiếp tới chi phí và thu nhập của ngân hàng, cũng như tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của NHTM Tuy nhiên, Kunt và Huizinga (1999) trong nghiên cứu của mình lại tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát và khả năng sinh lời của ngân hàng khi thu nhập của ngân hàng tăng nhanh hơn chi phí của

Trang 40

nó Trong nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cũng tìm thấy mối tương quan thuận giữa lạm phát và khả năng sinh lời của ngân hàng

- Tăng trưởng GDP thực tế ( Real Gross Domestic product)

GDP thực tế là giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ hiện hành của nền kinh tế được đánh giá theo mức giá cố định của năm cơ sở (năm gốc) hay là tổng của lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong một năm nhân với giá cố định của các hàng hoá và dịch vụ ấy trong năm gốc, chỉ số này được Cục thống kê công bố theo định kỳ Nghiên cứu của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015), Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Công Tâm (2012) đã tìm ra được mối tương quan dương giữa tăng trưởng GDP với khả năng sinh lời của ngân hàng

3.4 Phương pháp ước lượng

Bài nghiên cứu thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Phân tích thống kê mô tả

Dữ liệu sau khi thu thập đủ các biến số, tác giả sử dụng thống kê mô tả các biến qua các giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn để có cái nhìn tổng quan về dữ liệu nghiên cứu

Bước 2: Phân tích ma trận tương quan

Ma trận tương quan cho thấy các hệ số tương quan giữa các biến độc lập, biến giải thích, biến kiểm soát Từ kết quả hệ số tương quan cho ta kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến để xem xét các biến độc lập có ảnh hưởng lẫn nhau hay không Nếu hệ số tương quan giữa các biến nhỏ hơn 0.8 thì vấn đề đa cộng tuyến không đáng lo ngại

Bước 3: Phân tích hồi quy, kiểm định lựa chọn mô hình

Dữ liệu được thu thập dưới dạng dữ liệu bảng, có 3 cách tiếp cận dữ liệu bảng phổ biến là phương pháp bình phương tối thiểu gộp (Pooled OLS), phương pháp tác động cố định (FEM), phương pháp tác động ngẫu nhiên (REM)

Pooled OLS là cách tiếp cận dữ liệu bảng bằng cách xếp chồng tất cả các quan sát với nhau, bỏ qua bình diện không gian và thời gian và chỉ ước lượng bằng mô hình

Ngày đăng: 11/07/2019, 23:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm