Chương 3: Phân tích và kết quả tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến
3.2. Mô tả biến dữ liệu
3.2.3. Các biến kiểm soát
3.2.3.1. Biến EquityTA.
Với công thức tính:
(3.7)
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản là một phương pháp dùng để kiểm soát hiệu ứng đòn bẩy và được dựa trên các thông tin thu được từ hoạt động kinh doanh hoặc bảng cân đối kế toán. Tỷ lệ EquityTA đạt mức dưới 70% có thể làm giảm khả năng vay vốn của một doanh nghiệp.
3.2.3.2. Biến LiquidTA.
Với công thức tính:
(3.8)
Tỷ lệ tài sản lưu động trên tổng tài sản được xem như là một công cụ đo lường hiệu ứng thanh khoản của ngân hàng.
3.2.3.3. Biến LoanDepo.
Với công thức tính:
(3.9)
Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn gửi tiết kiệm của khách hàng được sử dụng để đánh giá khả năng kiểm soát hiệu quả cho vay của một ngân hàng bằng cách lấy tổng nợ cho vay chia cho tổng tiền gửi. Tỷ lệ này còn được gọi là tỷ lệ LTD, tính theo phần trăm. Nếu tỷ lệ này là quá cao, nó có nghĩa là các ngân hàng có thể không đủ thanh khoản để trang trải các khoản tiền cần thiết khi điều phối hoạt động. Ngược lại nếu tỷ lệ này là quá thấp, các ngân hàng có thể chưa tận dụng được hết nguồn tiền gửi của khách hàng để cho vay tạo ra doanh thu cho ngân hàng.
3.2.3.4. Biến ShareGov.
Với công thức tính:
(3.10)
Bài nghiên cứu sử dụng biến ShareGov với mục đích đo lường mức độ ảnh hưởng của chính phủ đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, bởi vì các đơn vị kinh doanh có vốn sở hữu nhà nước thường có nhiều ưu đãi trong hoạt động hơn các đơn vị kinh doanh khác. Tỷ lệ này dùng để kiểm soát hiệu quả quyền sở hữu của ngân hàng.
3.2.3.5. Biến GDPGrow.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng trong giá trị thị trường của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi một nền kinh tế theo thời gian. Người ta ước tính bởi sự gia tăng tỷ lệ phần trăm trong tổng sản phẩm quốc nội, hay GDP thực tế. Tăng trưởng GDP gây ra bởi việc sử dụng hiệu quả hơn các yếu tố đầu vào được gọi là sự phát triển theo chiều sâu. Tăng trưởng GDP gây ra bởi sự gia tăng đầu vào như vốn, dân cư hoặc vùng lãnh thổ được gọi là sự phát triển rộng rãi. Bài nghiên cứu sử dụng tỷ lệ GDPGrow nhằm mục đích kiểm soát chu kỳ kinh doanh.
3.2.3.6. Biến CreGrow.
Tăng trưởng tín dụng là một chỉ số về mức độ cung cấp sự tăng trưởng vốn cho nền kinh tế. Tăng trưởng tín dụng cao là một điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng GDP vì các doanh nghiệp đã nhận được tài trợ sẽ tăng sản xuất. Hơn nữa, cơ hội tăng trưởng tín dụng làm tăng hoạt động của các trung gian tài chính, do đó tạo ra thu nhập cho ngân hàng. Như vậy chúng ta thường thấy tăng trưởng tín dụng thường dẫn đến sự gia tăng trong các kết quả hoạt động của ngân hàng.
Tình hình tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn nghiên cứu biến động phức tạp bởi hai cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trên thị trường ngân hàng Việt Nam ở năm 2008 và 2011. Sự phát triển phức tạp của tăng trưởng tín dụng trong những năm gần đây với sự gia tăng nhanh chóng ở năm 2007, nhưng đã giảm mạnh trong năm sau và sau đó lại tăng mạnh trở lại trong năm 2009 cho thấy sự biến động mạnh của thị trường ngân hàng. Đó là lý do tại sao trong bài nghiên cứu này, tác giả đã không sử dụng ROA là biến chính. Do tăng trưởng tín dụng ảnh hưởng ROA rất mạnh mẽ có
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2003-2013
(Nguồn: ADB) 3.2.3.7. Biến CPI.
Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh sự thay đổi tương đối của giá cả hàng tiêu dùng theo thời gian. Lý do của sự thay đổi tương đối là vì chỉ số này chỉ dựa trên một rổ đại diện của hàng tiêu dùng cho toàn bộ. Đây là tiêu chí thường được sử dụng để đo lường giá và những thay đổi trong tỷ lệ lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh chung chỉ số giá giảm phát của sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều chỉnh GDP).
3.2.3.8. Biến PolicyInte.
Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho đồng Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho tổ chức tín dụng kinh doanh thiết lập lãi suất. Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên các hoạt động thị trường mở giá thị trường lãi suất liên ngân hàng của Ngân hàng Nhà
nước, lãi suất huy động của các tổ chức tín dụng và xu hướng của các yêu cầu về vốn cung ứng. Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng tương tự như nước ngoài, như Rate Fed Funds tại Hoa Kỳ, London Interbank Offered Rate (LIBOR) từ Anh, Tokyo Inter-Bank Offered Rate (TIBOR ) của Nhật Bản, Euro Interbank Offered Rate của Liên minh châu Âu. Lãi suất cũng đôi khi được dịch sang tiếng Việt là lãi suất cơ bản.
3.2.3.9. Dự trữ bắt buộc.
Theo quyết định số 581/2003/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước ban hành ngày 09/06/2003 quy định dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam phải duy trì trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại Ngân hàng nhà nước, được tính toán trên cơ sở số dư tiền gửi huy động bình quân của từng loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc tại Hội sở chính và các chi nhánh của tổ chức tín dụng được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt, các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ.