Chương 3: Phân tích và kết quả tác động của sở hữu vốn nước ngoài đến
3.4. Nhận xét kết quả mô hình
Với việc xem xét biến CIR là biến chính thể hiện hiệu quả hoạt động của các ngân hàng, bảng số liệu cho thấy các kết quả hồi quy như sau:
3.4.1. Kết quả tỷ lệ Microfp.
Microfp tương quan đồng biến với CIR nhưng không có ý nghĩa thống kê cho thấy ngân hàng nắm giữ một tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài càng nhiều sẽ làm gia tăng chi phí hoạt động nhiều hơn so với mức gia tăng doanh thu. Điều này có thể được giải thích bởi sự cần thiết phải áp dụng các công nghệ hiện đại của FSI vào hệ thống quản trị của ngân hàng trong nước. Chi phí của việc đầu tư nâng cấp công nghệ khá
nhân viên… Tuy nhiên, trong ngắn hạn, việc đầu tư nâng cấp công nghệ hiện đại chưa kịp thời tạo ra thu nhập ngay cho ngân hàng nên tỷ lệ CIR có xu hướng ở mức cao. Nhưng về lâu dài, sự hấp thụ các tính năng của công nghệ hiện đại sẽ làm tăng đáng kể khả năng cạnh tranh của các ngân hàng. Kết quả này đồng quan điểm với bài nghiên cứu của Shen, Lu, Wu (2009).
Ngoài ra, việc quy định hạn mức sở hữu vốn nước ngoài của chính phủ Việt Nam hiện nay không được vượt quá tỷ lệ 20% cho mỗi FSI và 30% cho tất cả FSI có thể làm cho các cổ đông nước ngoài không có nhiều động lực để thực hiện chuyển giao hết tất cả các công nghệ hiện đại, các chương trình quản trị tiên tiến. Với tỷ lệ nắm quyền biểu quyết thấp, các FSI không cảm thấy mặn mà để tập trung cải thiện hiệu suất hoạt động của ngân hàng nội địa.
3.4.2. Kết quả tỷ lệ Macrofp.
Macrofp cũng cho ra kết quả tương quan đồng biến với CIR có mức ý nghĩa thống kê là 5%, cho thấy số lượng các ngân hàng có FSI gia tăng sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của lĩnh vực ngân hàng thể hiện qua kết quả làm tăng chi phí. Kết quả này đồng quan điểm với các bài nghiên cứu ở Trung Quốc và Indonesia. Điều này có thể được giải thích bởi các FSI tham gia vào thị trường đang phát triển như Việt Nam đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt trong lĩnh vực ngân hàng. Để đẩy mạnh và duy trì thị phần của mình, không chỉ các ngân hàng có FSI mà ngay cả các ngân hàng nội địa cũng cần phải chi nhiều hơn như chi phí quảng cáo, chi phí bán hàng, chi phí tiền lương…Tuy nhiên, tất cả các chi phí gia tăng đó không đảm bảo cho việc doanh thu của ngân hàng sẽ được cải thiện tương ứng, do đó tỷ lệ CIR sẽ kém hiệu quả trong ngắn hạn.
Trong thời gian dài hơn, sự tăng trưởng số lượng của các ngân hàng có FSI có thể tác động tích cực trên lĩnh vực ngân hàng trong nước. Để cạnh tranh được trên thị trường, các ngân hàng nội địa sẽ có những giải pháp để tăng cường hệ thống quản lý của mình như năng suất của nhân viên…từ đó giúp cải thiện môi trường làm việc được hiệu quả hơn.
3.4.3. Kết quả tỷ lệ ShareGov.
ShareGov: Trong các kết quả hồi quy của mô hình, tác giả nhận thấy có sự tác động khá rõ ràng của biến ShareGov lên hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Với hệ số đồng biến, kết quả phản ánh ngân hàng càng nắm giữ nhiều tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng càng kém. Điều này có thể được hiểu mặc dù được hưởng nhiều đặc quyền từ nhà nước (sở hữu 1 phần vốn nhà nước) giúp các ngân hàng khá nhiều so với các ngân hàng khác không có vốn chính phủ nhưng chi phí để hoạt động chiếm phần lớn. Chi phí lớn có thể được giải thích bởi bộ máy quản trị cồng kềnh, hiệu suất làm việc của nhân viên không cao…
3.4.4. Kết quả tỷ lệ CreGrow.
CreGrow tác động mạnh mẽ đến CIR với hệ số tương quan nghịch biến, trong đó tăng trưởng tín dụng sẽ giúp các ngân hàng đẩy cao thu nhập, làm cho hiệu quả hoạt động kinh doanh được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng còn phụ thuộc nhiều vào chính sách của chính phủ thể hiện ở bảng kết quả tương quan cao của các biến CreGrow và CPI. Do đó, theo bài nghiên cứu này, chính phủ cần xem xét giữa kiểm soát tăng trưởng tín dụng và kiềm chế lạm phát. Đây là một biến vĩ mô tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Theo quan điểm quản trị học, các ngân hàng chỉ có thể tận dụng lợi thế của xu hướng tăng trưởng tín dụng để cải thiện hiệu suất hoạt động chứ không thể tăng tính chủ động đối với biến này.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trong nội dung chương 3, đề tài đã miêu tả ý nghĩa các biến trong mô hình cũng như chọn lựa biến CIR làm biến chính đại diện cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Sau đó, với việc phân tích sự tương quan của các biến, kết quả cho thấy đã xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Việc bỏ bớt biến là một trong những giải pháp để khắc phục hiện tượng này, tuy nhiên có thể dẫn tới hiện tượng bỏ sót biến hoặc sẽ làm ảnh hưởng tới tác động của các biến còn lại với nhau. Do đó, để xử lý tất cả các vấn đề dữ liệu có khả năng xảy ra tương tự như hiện tượng tự tương quan, đa cộng tuyến…, tác giả quyết định sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng GMM làm phương pháp nghiên cứu chính của đề tài. Kết quả của việc xử lý mô hình hồi quy cho thấy biến MicroFP có tác động đồng biến với tỷ lệ CIR nhưng lại không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này đồng quan điểm với bài nghiên cứu của Shen, Lu và Wu (2009). Trong khi đó, biến MacroFP cũng cho thấy có tác động đồng biến với tỷ lệ CIR với mức ý nghĩa thống kê là 5%. Kết quả này đồng quan điểm với các bài nghiên cứu ở Trung Quốc và Indonesia. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng cho thấy ngân hàng càng giữ nhiều tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước thì hiệu quả hoạt động kinh doanh càng kém. Chi phí lớn có thể được giải thích bởi bộ máy quản trị cồng kềnh, hiệu suất làm việc của nhân viên không cao…