1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản công tỉnh an giang

101 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 440,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công của mình, Nhà nước phải phát huy chức năng quản lý đối với tài sản công để buộc các cơ quan, đơn vị được giao quyền sử dụng tài sản cô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TP H ồ Chí Minh – Năm 2000

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tinh cấp thiết của đề tài :

Trong thời kỳ dài của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp đối với hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã thống trị toàn bộ nền kinh tế quốc dân thì mọi tài sản, của cải đều là của công Do đó, công tác quản lý công sản chưa đặt ra thành một yêu cầu cấp bách của quản lý Nhà nước Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, đất nước thực hiện đổi mới toàn diện, việc chuyển đổi

cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo động lực để thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, các thành phần kinh tế mới xã hội : kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư bản tư nhân và xã hội nhiều loại hình tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp Quá trình đổi mới cũng là quá trình hình thành hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, kỹ thuật … cùng với quá trình đó là sự hình thành quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, của các thành phần kinh tế và tổ chức khác Bộ phận tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước gọi là tài sản công được Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác, sử dụng và đặt ra yêu cầu quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, sự nhận thức của chúng ta không theo kịp quá trình đổi mới của đất nước

Chính vì những lý do trên, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ đưa công tác quản lý tài sản công đi vào nề nếp cho nên Tôi đã chọn đề tài :” Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản công Tỉnh An giang “

2 Mục đích nghiên cứu : đề tài giải quyết các vấn đề sau :

Trang 3

Sự cần thiết khách quan của công tác quản lý tài chính đối với tài sản công Tỉnh An giang

Thực trạng công tác quản lý công sản Tỉnh An giang trong giai đoạn trước và sau khi thành lập Cục quản lý Công sản năm 1995

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính đối với tài sản công trên địa bàn Tỉnh An giang

3 Đối tượng nghiên cứu :

Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu về công tác quản lý tài chính đối với tài sản công tại các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp ( có xem xét qua thực trạng và giải pháp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước Tỉnh An giang

4 Phương pháp nghiên cứu :

Cơ sở nghiên cứu là kết hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp quy nạp, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, trong đó có xem xét tình hình quản lý công sản của một số nước tiên tiến trên thế giới Để minh họa cho luận án, chúng tôi đã sử dụng số liệu của Phòng Quản lý Công sản Tỉnh An giang, Cục Thống kê và các tư liệu từ sách báo tạp chí chuyên ngành

5 Nội dung nghiên cứu :

Với mục đích và đối tượng nghiên cứu như trên, luận án đề cập đến các vấn đề sau đây :

Chương I : Một số vấn đề cơ bản về tài sản công

Chương II : Thực trạng quản lý tài sản công Tỉnh An giang

Chương III : Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản công Tỉnh An giang

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI SẢN CÔNG

1 Khái niệm tài sản công :

Lịch sử xã hội loại người từ khi có phân chia giai cấp – Nhà nước xuất hiện Sự

ra đời và phát triển của Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện của quốc gia Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào một trong các nguồn nội lực của mình là tài sản quốc gia Đó là tất cả những tài sản do các thế hệ thành viên của quốc gia tạo ra hoặc thu nạp được và các tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người Trong phạm vi một đất nước tài sản quốc gia có thể thuộc sở hữu riêng của từng thành viên hoặc nhóm thành viên trong cộng đồng quốc gia Nhà nước là chủ sở hữu đối với những tài sản quốc gia thuộc sở hữu chung của tất cả thành viên gọi là tài sản công

Khái niệm về tài sản công ở mỗi quốc gia được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm và trình độ quản lý công sản ở mỗi nước, có thể ghi nhận một vài khái niệm :

- Ở Hàn Quốc : “ Tài sản công là tất cả các tài sản do Chính phủ sở hữu phục vụ cho các mục đích công cộng “

- Luật công sản Pháp cho rằng : “ Tài sản Nhà nước là toàn bộ các tài sản gồm động sản và bất động sản cấu thành tài sản của Nhà nước trung ương và chính quyền địa phương các cấp “

- Ở Việt Nam, tài sản công được thể chế tại điều 17 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời phần vốn do

Trang 5

xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân “ Tiếp đó Bộ luật dân sự đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa IX kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995 và các văn bản pháp luật khác qui định cụ thể các tài sản khác thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm : “ Các tang vật, phượng tiện vi phạm pháp luật

bị tịch thu sung vào quỹ Nhà nước, tài sản bị chôn dấu, chìm đắm tìm thấy, tài sản vắng chủ, vô chủ được xác lập sở hữu Nhà nước, tài sản do tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiến tặng Chính phủ hoặc tổ chức Nhà nước “ Từ những căn cứ pháp luật hiện hành, chúng ta có thể khẳng định : “ Tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách Nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo qui định của pháp luật, đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển, thềm lục địa và vùng trời “

Khái niệm về tài sản công trên đây đã phản ánh đầy đủ các tài sản công đã được thể chế hóa trong Hiếp pháp năm 1992 và các văn bản khác hiện hành của Nhà nước ta, đồng thời đã đưa ra những đặc trưng chung về tài sản công mà ở bất kỳ chế độ xã hội nào cũng đều phải có, đó là :

- Mọi chế độ xã hội khác nhau, với mức độ khác nhau đều tồn tại tài sản công là tài sản thuộc sở hữu của mọi thành viên trong một quốc gia mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu Ở nước ta Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân Nói cách khác, Nhà nước là người đại diện sở hữu của tài sản thuộc sở hữu toàn dân và có trách nhiệm đảm bảo sử dụng tài sản thuộc sở hữu toàn dân tiết kiệm và có hiệu quả cao để đem lại lợi ích cho toàn dân

- Khái niệm tài sản công bao hàm các loại tài sản có trong tài sản công ở tất cả các chế độ khác nhau như tài sản có được từ đầu tư xây dựng, mua sắm bằng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, các tài sản khác mà Nhà nước thu nạp được và các nguồn

Trang 6

tài sản do thiên nhiên ban tặng cho con người Tài nguyên ở hầu hết các nước đều được Hiến pháp và pháp luật xác nhận như là một phần của tài sản quốc gia mà Nhà nước là người chủ của toàn bộ nguồn tài nguyên thiên nhiên đó

2 Vai trò của tài sản công trong đời sống kinh tế :

Tài sản quốc gia nói chung và tài sản công nói riêng đều tạo ra cho quốc gia một tiềm lực phát triển, một niềm tự hào dân tộc, một cuộc sống vật chất, văn hóa, tinh thần vô cùng quý giá Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định : “ Tài sản công là nền tãng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu,

nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân “ (1) 1 Vai trò của tài sản công có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh: kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, tinh thần Song ở đây chỉ đề cập đến vai trò kinh tế của tài sản công Về mặt kinh tế, vai trò của tài sản công được thể hiện trên các mặt sau :

2.1 Tài sản công là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất xã hội :

Trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của lịch sử, sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội và suy cho cùng thì nó quy định và quyết định toàn bộ đời sống xã hội Bất cứ nền sản xuất nào kể cả nền sản xuất hiện tại đều là sự tác động của con người vào các yếu tố lực lượng tự nhiên nhằm thỏa mãn những nhu cầu nào đó của con người Nói cách khác, sản xuất luôn luôn là sự tác động qua lại của ba yếu tố cơ bản: sức lao động con người, tư liệu lao động và đối tượng lao động Đối tượng lao động là các vật thể mà lao động con người tác động vào để biến thành các sản phẩm mới phục vụ cho con người Đối tượng lao động có thể có sẵn trong thiên nhiên, có thể là loại vật thể đã qua chế biến Nhưng suy cho cùng cơ sở của mọi đối tượng lao động đều có nguồn khai thác từ đất đai và tài nguyên thiên nhiên Tư liệu lao động ( trừ đất đai là một tư liệu lao động đặc biệt ) đều là những tài

Trang 7

sản do con người tạo ra để truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động thành các sản phẩm mới phục vụ con người Đối tượng lao động và tư liệu lao động lại đều là tài sản quốc gia nói chung và tài sản công nói riêng Như vậy, nói tư liệu lao động và đối tượng lao động là hai yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vật chất cũng có nghĩa là tài sản quốc gia nói chung và tài sản công nói riêng là hai yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất Người lao động với kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ kết hợp với tài sản công tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển xã hội Để minh chứng điều này, chúng ta có thể đi từ vai trò của đất – một tài sản công vô giá Đất là một tài sản có giá trị quý nhất của mọi quốc gia, vì nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và ngay cả con người Đất đai là một tư liệu lao động quan trọng để phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp Nước ta với khoảng 8 triệu ha đất nông nghiệp và 10,5 triệu ha đất lâm nghiệp trong tổng số 33 triệu ha đất tự nhiên, hàng năm đã tạo ra khối lượng sản phẩm nông lâm chiếm khoảng trên dưới 36% tổng sản phẩm quốc nội Trong những năm tới mặc dù cơ cấu kinh tế của nước ta có chuyển đổi theo hướng nâng cao tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP, nhưng nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm khoảng 19% - 20% Sản phẩm nông lâm được tạo ra từ đất chẳng những là nguồn lương thực, thực phẩm không thể thay thế được để nuôi sống con người, mà còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến

2.2 Tài sản công là nguồn vốn tiềm năng cho đầu tư phát triển :

Đầu tư phát triển có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế của mỗi quốc gia nhằm đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội và để phát triển toàn diện vững chắc của nền kinh tế – xã hội Nhờ đầu tư phát triển, tài sản quốc gia nói chung và tài sản công nói riêng được bảo tồn và phát triển và đương nhiên năng lực sản xuất tăng lên như phần trên đã trình bày Nhưng muốn đầu tư phát

Trang 8

triển phải có vốn đầu tư Vốn đầu tư ở đây là đại diện của tài sản, hàng hóa và dịch vụ đưa vào sản xuất Muốn có vốn cho đầu tư phát triển mọi quốc gia đều phải khai thác từ các nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn tài sản vô hình Nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn tài sản vô hình chính là những tài sản quốc gia, trong đó tài sản công giữ vai trò chủ yếu Các tài sản này là những nguồn tài chính tiềm năng thể hiện dưới dạng hiện vật Dưới tác động của ngoại lực ( sức lao động con người ) các tài sản này sẽ chuyển thành nguồn tài chính tiền tệ Do đó, nếu nguồn tài nguyên thiên nhiên được sử dụng, khai thác vào sản xuất kinh doanh một cách tiết kiệm và có hiệu quả, sẽ tạo điều kiện để phát triển sản xuất, đặc biệt là các ngành sản xuất nông lâm nghiệp và các ngành công nghiệp hoạt động dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên Như vậy, chính nguồn tài nguyên thiên nhiên đó là vốn để đầu tư phát triển sản xuất thay cho phần vốn mua nguyên liệu, nhiên liệu đưa vào sản xuất Những nước giàu có về nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì không chỉ đảm bảo sản xuất phát triển, mà còn có thể dành một phần tài nguyên thiên nhiên để bán, cho thuê, liên doanh, liên kết để khai thác tài nguyên

3 Vai trò quản lý của Nhà nước đối với tài sản công :

Nhà nước là một chủ thể xã hội đặc biệt của xã hội Sự ra đời và phát triển của Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện của quốc gia Nhà nước nguời đại diện cho mọi thành viên của cộng đồng Do đó, Nhà nuớc có chủ quyền đối với tài sản quốc gia, đồng thời là người đại diện chủ sở hữu của tài sản công Đối với tài sản quốc gia thuộc sở hữu cá nhân hoặc nhóm thành viên của cộng đồng, Nhà nước là người bảo hộ, hướng dẫn việc sử dụng các tài sản này tiết kiệm và có hiệu quả để vừa đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội, vừa thỏa mãn lợi ích cá nhân của nhóm thành viên cộng đồng – người chủ sở hữu tài sản Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu tài sản có quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Nhà nước là chủ sở hữu của

Trang 9

tất cả tài sản công, nhưng lại không phải là người trực tiếp sử dụng tài sản công Nói cách khác quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng tài sản công chưa hoàn toàn gắn bó với nhau Nhà nước giao tài sản công cho các cơ quan hành chánh sự nghiệp và các đơn vị kinh tế sử dụng Do đó, để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công của mình, Nhà nước phải phát huy chức năng quản lý đối với tài sản công để buộc các cơ quan, đơn vị được giao quyền sử dụng tài sản công phải bảo tồn, phát triển nguồn tài sản công và sử dụng tài sản công tiết kiệm, có hiệu quả phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường môi sinh Đồng thời, Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra, kiểm soát các quá trình hình thành, sử dụng, khai thác và xử lý các tài sản công, cụ thể là :

- Tài sản công dù là tài sản thiên tạo hay tài sản nhân tạo đều phải trải qua quá trình hình thành và đòi hỏi phải có sự đầu tư để hình thành như : đầu tư cho công tác điều tra khảo sát, thăm dò đối với đất đai, tài nguyên thiên nhiên và đầu tư xây dựng, mua sắm đối với các tài sản nhân tạo Do vậy, Nhà nước phải có nguồn tài chính để đầu tư cho việc hình thành và phát triển tài sản công Đồng thời, Nhà nước phải có cơ chế chính sách và thực hiện kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với việc sử dụng vốn đầu tư phát triển nguồn tài sản công để đạt yêu cầu sử dụng vốn đầu tư tiết kiệm và có hiệu quả

- Trong quá trình khai thác, sử dụng tài sản công, Nhà nước không phải là người trực tiếp sử dụng, khai thác để hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản công Ngược lại, Nhà nước lại giao tài sản công cho các cơ quan, lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp sử dụng Do vậy, Nhà nước phải thực hiện quyền kiểm tra, kiểm soát việc quản lý và sử dụng tài sản đó, nhằm buộc người sử dụng tài sản công phải sử dụng tài sản theo đúng mục đích, có hiệu quả và phải hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, trong đó có nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước Nói cách khác,

Trang 10

người sử dụng tài sản công phải làm theo ý chí của người chủ tài sản công – Nhà nước

- Trong thời gian sử dụng của hầu hết các tài sản đều có hạn Khi tài sản không còn sử dụng được phải thanh lý Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản công phải thực hiện quyền xử lý tài sản Nhưng phần lớn Nhà nước giao cho cơ quan trực tiếp sử dụng quyền xử lý tài sản Do đó, Nhà nước phải thực hiện việc kiểm tra, giám sát và thu hồi tài sản sau khi xử lý

4 Nội dung công tác quản lý công sản :

Công tác quản lý công sản là thực hiện quản lý tài sản công kể từ giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư mua sắm và thực hiện đầu tư mua sắm tài sản còn gọi là quản lý quá trình hình thành tài sản, quản lý quá trình duy trì, khai thác, sử dụng tài sản bao gồm cả việc bảo dưỡng, sửa chữa ( duy tu ), tôn tạo tài sản và quản lý quá trình kết thúc tài sản Nội dung cụ thể như sau :

4.1 Quản lý quá trình hình thành tài sản :

Quá trình này gồm 2 giai đoạn : Quyết định chủ trương đầu tư mua sắm và thực hiện đầu tư mua sắm :

- Đối với tài sản thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp, cơ quan quản lý công sản là cơ quan nắm vững định mức, tiêu chuẩn chế độ quản lý tài sản, nắm vững khả năng và nhu cầu cần đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản của từng đơn vị Do đó, cơ quan quản lý công sản phải là cơ quan chịu trách nhiệm giúp chính quyền các cấp quyết định chủ trương đầu tư, mua sắm, xác định nhu cầu vốn để ghi vào dự toán ngân sách Nhà nước Sau khi có chủ trương đầu tư, mua sắm tài sản, việc thực hiện đầu tư, mua sắm phải được thực hiện theo quy định về đầu tư xây dựng cơ bản, quy định về mua sắm tài sản công

- Đối với tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc

Trang 11

gia là tài sản đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo đời sống xã hội, an ninh quốc phòng …, những tài sản này được đầu tư xây dựng do yêu cầu của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Do đó, việc quyết định đầu tư nó có liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, nhiều cấp mà trong đó cơ quan tài chánh Nhà nước giữ vai trò quan trọng

- Đối với tài sản Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, việc quyết định đầu tư phát triển loại tài sản này chủ yếu phụ thuộc vào đường lối chính sách phát triển kinh tế nói chung và phát triển các thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ nói riêng Việc quyết định đầu tư tăng tài sản ở khu vực này là trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều cấp và tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngành, từng địa phương trong từng giai đoạn

- Đối với tài sản dự trữ Nhà nước, việc tăng thêm hay rút bớt lực lượng dự trữ Nhà nước được quyết định bởi chiến lược của một quốc gia, mà trong đó cơ quan quản lý công sản là một thành viên giúp Chính phủ quyết định

- Đối với tài sản là đất đai và tài nguyên khoáng sản khác, việc điều tra, khảo sát, đo đạc lập bản đồ địa chính, điều tra khảo sát tìm kiếm các nguồn tài nguyên khoáng sản đều do các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện bằng các biện pháp kỹ thuật và nghiệp vụ riêng Những công việc ban đầu này đòi hỏi phải được đảm bảo bằng nguồn tài chính nhất định do cơ quan quản lý công sản đảm nhiệm cả về xây dựng cơ chế quản lý và thực hiện sự quản lý trực tiếp

4.2 Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản :

- Đối với tài sản thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp là thực hiện sự quản lý việc sử dụng theo mục đích, tiêu chuẩn, định mức và chế độ sử dụng tài sản; quản lý quá trình điều chuyển tài sản từ đơn vị này sang đơn vị khác, điều chuyển giữa các ngành, các cấp, quản lý việc sửa chữa tài sản … nhằm đảm bảo cho việc sử dụng tài

Trang 12

sản phục vụ được nhiệm vụ của đơn vị được giao sử dụng tài sản Đây là trung tâm của công tác quản lý công sản

- Đối với tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia là quá trình khai thác, sử dụng tài sản phục vụ cho mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế quốc dân, hoạt động của đời sống văn hóa, xã hội, hoạt động của các sự nghiệp quốc phòng, an ninh khoa học kỹ thuật, y tế, xã hội …Quá trình khai thác, sử dụng cũng đồng thời là quá trình duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa các tài sản này Toàn bộ công việc khai thác, sử dụng tài sản thuộc kết cấu hạ tầng đều

do các cơ quan kỹ thuật chuyên ngành thực hiện Việc khai thác, sử dụng đặt ra các yêu cầu về quản lý tài chính như : chế độ thu và tổ chức, cá nhân được hưởng ứng sự phục vụ hoặc được hưởng lợi từ công trình, nguồn tài chính và cơ chế quản lý tài chính trong quá trình khai thác tài sản …Những nhiệm vụ này các cơ quan trực tiếp khai thác sử dụng chỉ có thể đề xuất, cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện quản lý là cơ quan quản lý công sản

- Đối với tài sản Nhà nước đầu tư vào doanh nhgiệp, doanh nghiệp có quyền sử dụng, khai thác thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và duy trì bảo toàn giá trị tài sản – vốn do Nhà nước giao Cơ quan quản lý công sản thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối với tài sản, vốn mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp

- Đối với đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác, việc khai thác được pháp luật quy định Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao sử dụng,khai thác chịu trách nhiệm trước pháp luật Cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ thực hiện sự quản lý của Nhà nước để đảm bảo việc khai thác, sử dụng đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và pháp luật Nhà nước quy định Quá trình khai thác sử dụng cũng đồng thời nảy sinh các mối quan hệ kinh tế tài chính giữa người sử dụng, khai thác với Nhà nước và giữa họ với nhau Việc giải quyết các

Trang 13

mối quan hệ này phải được Nhà nước quy định và thực hiện quản lý thông qua cơ quan quản lý công sản như định giá tài sản, cơ chế đấu thầu khai thác, cơ chế cho thuê và giá thuê tài sản, chính sách thu vào người sử dụng đất đai, tài nguyên chính sách cho phép các tổ chức, cá nhân được mang giá trị đất đai, tài nguyên góp vốn liên doanh

4.3 Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản :

Tài sản công đưa vào sử dụng sau một thời gian nhất định đều có quá trình kết thúc của nó để thay thế bằng tài sản khác ( trừ đất đai, công trình thuộc kết cấu hạ tầng và một số công trình có tính chất tài sản lâu bền khác ) Một tài sản kết thúc phải trải qua quá trình thanh xử lý để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được cho ngân sách Nhà nước và đồng thời đó cũng là căn cứ để chuẩn bị đầu tư mua sắm mới, nhiệm vụ này là nhiệm vụ của công tác quản lý công sản

5 Tổ chức quản lý công sản ở một số nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam :

5.1 Tổ chức quản lý công sản ở một số nước :

5.1.1 Ở Trung Quốc : tháng 8 năm 1989 thành lập Cục quản lý tài sản quốc hữu trực thuộc quốc vụ viện, đồng thời chịu sự lãnh đạo về Đảng của Đảng ủy Bộ Tài chính

Tài sản do Cục quản lý bao gồm :

- Tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp

- Tài sản Nhà nước trong các đơn vị hành chánh sự nghiệp – Tài nguyên

Cục quản lý tài sản quốc hữu Nhà nước Trung Quốc được quốc vụ viện giao thực hiện 3 nhiệm vụ cơ bản:

a Đại diện quyền sở hữu tài sản Nhà nước tại các doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước, các doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước chi phối, các công ty cổ phần, xí

Trang 14

nghiệp liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn Nhà nước tham gia Đại diện chủ sở hữu tài sản Nhà nước tại tất cả các cơ quan hành chánh sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể, Nhà nưóc từ trung ương đến địa phương kể cả tài sản của Trung Quốc ở nước ngoài Đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tài sản Nhà nước tại các cơ quan doanh nghiệp trong và ngoài nước Ngăn chặn mọi trường hợp hư hao, tổn thất, mất mát tài sản bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật

b Xây dựng trình Quốc hội, Quốc vụ viện ban hành luật và các chính sách, chế độ dưới luật, trực tiếp ban hành các chế độ, văn bản hướng dẫn các vấn đề liên quan đến tài sản quốc hữu Nhà nước, đảm bảo cho việc xúc tiến chuyển đổi cơ chế quản lý doanh nghiệp phù hợp với công cuộc cải cách nền kinh tế theo cơ chế thị trường đúng đường lối của Đảng và Chính phủ

c Quản lý các doanh nghiệp, cơ sở bằng các biện pháp nhằm sử dụng tốt tài sản, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo tăng tích lũy, bảo toàn và tăng trưởng vốn Nhà nước

5.1.2 Ở Pháp : nhiệm vụ của cơ quan quản lý công sản gồm :

a Xây dựng cơ chế, chính sách, chế độ bảo đảm đối với tài sản Nhà nước thực hiện việc kiểm kê, thẩm định, quản lý và duy trì hệ thống tài sản công Bên cạnh đó,

cơ quan quản lý công sản Pháp còn tư vấn về mặt pháp lý đối với tài sản Nhà nước bao gồm động sản và bất động sản cho các cấp chính quyền địa phương

b Tổ chức bán đấu giá động sản và bất động sản của các cơ quan Nhà nước trong mọi trường hợp có nhu cầu chuyển nhượng tài sản, tài sản tịch thu sung quỹ Nhà nước …

c Quản lý tài sản thừa kế bị bỏ rơi, tài sản vô thừa nhận nhưng tài sản được xác lậpquyền sở hữu Nhà nước dưới các hình thức khác nhau, tài sản công của Nhà nước ở nước ngoài ( tài sản của đại sứ quán, lãnh sứ quán hoặc của các cơ quan tổ

Trang 15

chức có đại diện ở nước ngoài …

d Ngoài ra, cơ quan quản lý công sản còn là người đại diện cho Chính phủ trước Tòa án trong trường hợp có tranh chấp về xác định giá đền bù đất đai, nhà cửa của dân khi trưng dụng vào các công trình phúc lợi xã hội

Nhìn chung, công tác quản lý công sản của Pháp có bề dầy lịch sử, có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý tài sản công bao gồm tài sản nhân tạo và tài sản thiên tạo và có những luật về quản lý công sản chặt chẽ, mọi người, mọi tổ chức có ý thức đối với tài sản công Cơ quan quản lý công sản được chia theo các mặt chuyên sâu như : Cục Công sản Pari chuyên quản lý về nhà đất và mua bán tài sản, Cục Quản lý đất Pari chuyên quản lý về đất đai và thực hiện các công việc về địa chính … Ngoài

ra, họ còn xây dựng cơ sở pháp lý cho công tác quản lý công sản bằng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, từ luật đến các văn bản dưới luật để điều chỉnh toàn diện các mặt của công tác quản lý công sản

5.1.3 Ở Đức : Tài sản công được chia làm hai loại : Tài sản quản lý và tài sản tài chính

Tài sản quản lý là những tài sản được Liên bang, Bang sử dụng cho công tác của các cơ quan Nhà nước.Tài sản do cơ quan nào sử dụng thì cơ quan đó có quyền quản lý, song cũng có Bang Bộ Tài chính tập trung quản lý toàn bộ tài sản, còn Sở Tài chính quản lý bất động sản không giao nhiệm vụ quản lý cho các cơ quan sử dụng Mặc dù cách giao quản lý khác nhau nhưng đều thống nhất ở một cơ chế chung đó là :

a Bộ Tài chính quyết định mua bán đất đai công, mua bán hoặc xây dựng công sở của mọi cơ quan Nhà nước ( trừ xã ) Riêng các trường hợp bán nhà thuộc trụ sở làm việc và đất có giá trị trên 3 triệu DM, thì Bộ Tài chính phải trình Quốc hội quyết định ( tất nhiên phải thông qua Chính phủ )

Trang 16

b Bộ Tài chính thu hồi cơ sở nhà đất là trụ sở làm việc của các cơ quan Nhà nước khi cơ quan Nhà nước đang sử dụng mà xét thấy thừa hoặc cơ quan giải thể

c Các Bộ, ngành có thừa diện tích đất và nhà thuộc trụ sở làm việc muốn làm

gì phải xin ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Tài chính kiểm tra, xem xét và cho phép mới được sử dụng

d Đối với các bất động sản là tài sản quản lý thì giao cho các Bộ, ngành quản lý theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn do Bộ Tài chính quy định Việc mua sắm các động sản phải được Bộ Tài chính đồng ý ghi vào dự toán ngân sách Nhà nước và được Quốc hội phê chuẩn

e Toàn bộ việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản Nhà nước đều thực hiện theo định mức cố định và giao cho cơ quan quản lý sử dụng tự tổ chức thực hiện sau khi đã được Bộ Tài chính đồng ý ghi vào dự toán ngân sách Nhà nước và được Quốc hội phê chuẩn Trường hợp tài sản bị hư hỏng đột xuất, thì cơ quan quản lý sử dụng phải bàn bạc với Bộ Tài chính để xử lý, có thể cho sửa chữa tạm thời sau mới sửa chữa hoặc thay thế hoàn toàn

Tài sản tài chính bao gồm toàn bộ đất đai ( bất động sản ) không sử dụng vào mục đích xây dựng nhà, công trình được giữ lại phục vụ cho mục tiêu chung như : đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp, đất bảo vệ môi trường, đất chưa sử dụng trong đó chủ yếu là đất rừng Toàn bộ tài sản tài chính do Vụ công sản thuộc Bộ Tài chính trực tiếp quản lý bao gồm : quyết định mua, bán, cho thuê hoặc đi thuê và có trách nhiệm giữ vốn đất ( khi bán hoặc đưa vào sử dụng thì phải tìm cách mua để bù vào)

5.1.4 Ở Hàn Quốc :

Từ năm 1960 đến nay, Hàn Quốc đã có 4 lần sửa đổi, bổ sung luật tài sản quốc hữu Mục đích sửa đổi luật tài sản quốc hữu là chuyển từ việc quy định cách xử lý tài sản là chủ yếu sang các quy định mới nhằm bảo tồn và phát triển tài sản quốc hữu

Trang 17

Theo điều 3,4 luật tài sản quốc hữu, phạm vi tài sản quốc hữu là những tài sản thuộc sở hữu Nhà nước bao gồm bất động sản, cổ phần Nhà nước, bản quyền Tài sản quốc hữu được giao cho các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp sử dụng, các tài sản dùng vào mục đích công cộng và các tài sản chưa giao cho các cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước sử dụng hoặc chưa sử dụng vào mục đích công cộng

Từ những nội dung về quản lý công sản của Hàn quốc, chúng ta có thể rút ra những nhận xét như sau :

- Để thống nhất quản lý tài sản công trong điều kiện tài sản công do nhiều ngành, nhiều cấp sử dụng, Hàn Quốc đã có Bộ luật về tài sản công, luật quy hoạch đô thị, luật tự trị địa phương Bên cạnh luật chung về quản lý tài sản công còn có các luật riêng về quản lý cho từng loại tài sản cụ thể như : luật khoáng sản, luật rừng, luật đường bộ Dưới địa phương, chính quyền địa phương còn ban hành điều lệ quản lý công sản và quy định để thực hiện điều lệ đó Nhờ có hệ thống pháp luật quản lý công sản đầy đủ đã tạo ra hành lang pháp lý để cơ quan quản lý công sản giám sát kiểm tra các cơ quan sử dụng tài sản công, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan được giao trực tiếp sử dụng tài sản công

- Các cơ quan nhà nước từ cơ quan hành pháp đến cơ quan lập pháp đều nắm và kiểm tra nguồn tài sản công Hàng năm các cơ quan sử dụng tài sản đều phải báo cáo đầy đủ tình hình tăng giảm tài sản công và số lượng , giá trị tài sản công hiện có đến ngày 31/12 cho cơ quan tài chính để cơ quan tài chính tổng hợp cho Chính phủ và Quốc hội

- Về đất dùng vào xây dựng khu công nghiệp, khu dân cư, Chính phủ Hàn Quốc chuyển toàn bộ ra ngoài vùng đô thị hiện nay, đây là việc làm có nhiều ưu điểm Bởi vì, một mặt nó giúp cho kế hoạch giãn dân và tận dụng đất đồi núi của Chính phủ được thực hiện tốt Mặt khác, Chính phủ đã tiết kiệm được một khoản chi

Trang 18

phí lớn trong việc đền bù khi thu hồi đất để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia

- Về vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng, Chính phủ Hàn Quốc còn cho phép tư nhân bỏ vốn xây dựng đường giao thông và được phép thu phí, sau 30 năm bàn giao tài sản cho nhà nước Với hình thức này, Hàn Quốc không những thu hút được một khối lượng lớn về vốn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, khai thác tốt tài sản thuộc hạ tầng cơ sở

5.2 Kinh nghiệm của các nước về quản lý tài sản công và khả năng vận dụng vào Việt Nam.

Từ nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét chung nhất về quản lý tài sản công và khả năng vận dụng vào Việt Nam như sau:

5.2.1 Trong các nước có các chế độ xã hội khác nhau, nhưng đều có chung quan niệm về phạm vi tài sản công đó là : tài sản công là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước; tài sản công bao gồm cả động sản, bất động sản và tài nguyên, đất đai; tài sản công chỉ giao cho cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước và một bộ phận dùng cho mục đích công cộng, tài sản công giao cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác gọi là cổ phần của Nhà nước trong doanh nghiệp

5.2.2 Nhà nước thực hiện quản lý tài sản công bằng pháp luật với mức cao là luật tài sản quốc hữu ( tài sản công ), bên cạnh đó còn có các luật khác quy định quản lý một số tài sản cụ thể như luật đất đai, luật tài nguyên hợp thành hệ thống luật thống nhất về quản lý tài sản công của Nhà nước

Ở Việt Nam, trong những năm dài của thời kỳ quản lý kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, công tác quản lý công sản chưa được quan tâm, từ năm

1995 đến nay đã có những chuyển biến nhất định, song chúng ta đang thiếu một văn bản chung ở tầm vĩ mô về quản lý công sản Văn bản này cùng với hệ thống văn bản

Trang 19

pháp luật quản lý từng loại tài sản công như luật đất đai, luật khoáng sản tạo thành hệ thống pháp luật quản lý công sản Tuy nhiên, việc xây dựng luật tài sản công phải được chuẩn bị trên cơ sở thực tiễn quản lý công sản của Việt Nam Trước mắt cần ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản dưới luật tạo cơ sở ban đầu về lý luận và thực tiễn cho bước đi tiếp theo

5.2.3 Định giá tài sản là một biện pháp, một công cụ quan trọng để thực hiện quản lý tài sản công : mua sắm, xây dựng, sử dụng, thanh lý Do đó, công tác này phải được chú ý ngay từ đầu để góp phần hạn chế thất thoát nguồn tài sản công Phải có biện pháp theo dõi tài sản chặt chẽ cả về hiện vật lẫn giá trị

5.2.4 Cơ quan quản lý công sản là cơ quan giúp Nhà nước thực hiện quản lý tài sản công Tùy theo đặc điểm, tính chất, khả năng sử dụng của mỗi loại tài sản, mà thực hiện phân chia phạm vi quản lý giữa cơ quan quản lý công sản với các ngành, các đơn vị trực tiếp quản lý, khai thác sử dụng tài sản cho thích hợp với đặc thù của mỗi quốc gia Tuy nhiên, những vấn đề có tính chất chung nhất ở mọi quốc gia là:

a Ở những nước đất đai thuộc sở hữu tư nhân, cơ quan quản lý công sản trực tiếp quản lý quỹ đất công Ở Việt Nam, đất đai thuuộc sở hữu toàn dân, nhưng theo luật đất đai hiện hành, Nhà nước muốn thu hồi đất của dân đề sử dụng vào các mục đích của Nhà nước đều phải đền bù thiệt hại tương đương với việc nhận chuyển nhượng ( mua ) quyền sử dụng đất, tương tự như việc mua sắm tài sản Nhà nước Mặt khác, với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền giao đất, cho thuê đất đối với mọi tổ chức, cá nhân; Nhà nước định cơ chế quản lý tài chính đối với đất đai vậy cơ quan quản lý công sản thực hiện quản lý đến đâu? nội dung quản lý như thế nào? cùng ngành địa chính quản lý đất đai là vấn đề phải được xác định

Cũng tương tự như vậy, thực hiện sự phân chia phạm vi quản lý của cơ quan quản lý công sản với các cơ quan quản lý chuyên ngành về các nguồn tài nguyên

Trang 20

khoáng sản khác

b Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng đều giao cho cơ quan kỹ thuật chuyên ngành quản lý, khai thác, sử dụng Cơ quan quản lý công sản thực hiện kiểm tra giám sát của chủ sở hữu tài sản, đồng thời là cơ quan xây dựng cơ chế quản lý tài chính và thực hiện quản lý tài chính trong quá trình khai thác, sử dụng tài sản

c Cơ quan quản lý công sản là cơ quan giúp Nhà nước quyết định việc đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản công trong khu vực hành chánh sự nghiệp Đây là việc phải làm Tuy nhiên, ở Việt Nam cần có bước đi thích hợp để thực hiện nhiệm vụ này Vì vấn đề đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản hiện nay lại đang bị chi phối bởi các cơ chế cũ - cơ chế được xây dựng khi chưa có cơ quan quản lý công sản, mà nhiệm vụ của mỗi cấp, mỗi ngành ở cơ chế đã thành thói quen

5.2.5 Về vấn đề quản lý tài sản tại doanh nghiệp nhà nước, nhà nước với tư cách là chủ sở hữu chung giao vốn và tài sản cho doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và trách nhiệm của doanh nghiệp là làm thế nào để bảo toàn và phát triển vốn Vấn đề đặt ra ở đây là cần phải xác định chủ sở hữu vốn trực tiếp là nhà nước ( Cục quản lý vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp ) Để nâng cao hơn nữa quyền tự chủ của doanh nghiệp trong quá trình sử dụng vốn nhà nước chỉ nên quản lý về mặt giá trị vốn chứ không nên quản lý về mặt hiện vật ( phương tiện vận tải, máy móc thiết bị, văn phòng… ), miễn làm sao doanh nghiệp sử dụng vốn và tài sản có hiệu quả Nói cách khác cần tách quyền của chủ sở hữu pháp nhân với quyền của pháp nhân về phương diện tài sản và hoạt động

Tóm lại, chương này giúp cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về tài sản công ở Việt Nam và các nước trên thế giới Cho dù ở bất kỳ chế độ xã hội nào, tài sản công luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế và luôn là yếu tố cơ bản không thể thiếu được của quá trình sản xuất xã hội Dưới tác động của ngoại lực ( sức lao

Trang 21

động con người ) nguồn tài sản công này sẽ chuyển thành nguồn tài chính tiền tệ Do đó, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài sản công được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, đòi hỏi chúng ta phải quản lý từ quá trình hình thành tài sản cho đến khi tài sản đó đưa vào khai thác và kết thúc sử dụng tài sản Tài sản công có mặt ở khắp mọi nơi : từ tài sản thiên tạo như tài nguyên thiên nhiên, đất đai, cho đến tài sản nhân tạo như cơ sở hạ tầng, tài sản tịch thu, tài sản tại các cơ quan đơn vị hành chính sự nghiệp, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Chính

vì phạm vi tài sản công rộng lớn như vậy, cho nên ở các nước đều có Bộ luật tài sản công ( ở Việt Nam chưa ban hành Bộ luật này ) Bên cạnh đó, còn có các luật khác quy định quản lý một số tài sản cụ thể như luật tài nguyên, luật đất đai … hợp thành một hệ thống luật thống nhất về quản lý tài sản công của nhà nước

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TỈNH AN GIANG

1 Thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp tỉnh

An giang giai đoạn 1991 - 1995 :

1.1.Thực trạng quản lý tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp : 1.1.1 Về quy định chế độ quản lý và sử dụng tài sản :

Năm 1954 hòa bình được lập lại ở Miền Bắc, đến năm 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước, nhưng mãi đến năm 1977 Chính phủ mới ban hành quyết định số 150/CP ngày 10/06/1977 “ về việc quy định tiêu chuẩn định mức diện tích nhà làm việc bình quân cho mỗi cán bộ, nhân viên công tác tại các cơ quan hành chánh sự nghiệp “ Theo quyết định này, định mức bình quân về diện tích cho mỗi cán bộ, nhân viên không quá 4m2/người, tại các cơ quan thiết kế không quá 5m2/người Phần diện tích phục vụ như : phòng thường trực, phòng y tế cơ quan, kho lưu trữ, nhà để xe, căn tin không tính tiêu chuẩn trên Những bộ phận có đặt máy móc thiết bị như : phòng in Ronéo, phòng máy tính, phòng in bản vẽ được sử dụng diện tích theo yêu cầu kỹ thuật Những cơ quan làm công việc tiếp xúc hàng ngày với nhân dân như Công an, Ngân hàng, Thương nghiệp, Giáo dục, quản lý nhà đất được sử dụng diện tích riêng do cấp có thẩm quyền duyệt y Mọi cơ quan, đơn vị phải triệt để tiết kiệm diện tích, tận dụng các cơ sở hiện có, sử dụng hợp lý diện tích nhà cửa, không để tự ý đổi cấu trúc nhà cửa nếu không được cơ quan quản lý nhà chấp thuận

Có thể nói quyết định số 150/CP với những nội dung trên đây là văn bản duy nhất quy định tiêu chuẩn định mức diện tích nhà làm việc trong khu vực hành chánh sự nghiệp được thực hiện từ năm 1977 cho đến nay

Về xe ô tô, ngày 05/09/1975 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 293/TTg “ về

Trang 23

việc phân phối, sử dụng và quản lý xe ô tô con trong cơ quan, xí nghiệp Nhà nước và các đoàn thể “, từ đó cho đến năm 1995 chưa có văn bản nào thay thế cho Chỉ thị này

Bản Chỉ thị quy định tiêu chuẩn phân phối ôtô kiểu du lịch cho các cán bộ là Bộ trưởng và cán bộ giữ chức vụ tương đương được dùng riêng một xe phục vụ công tác Bí thư và Chủ tịch ủy ban hành chính cấp Tỉnh trở lên được dùng riêng một xe để phục vụ công tác, nhưng không cùng loại xe cấp cho Bộ trưởng Thứ trưởng và cán bộ giữ chức vụ tương đương Thứ trưởng ở các cơ quan trung ương được dùng xe con để phục vụ công tác, nhưng không có tiêu chuẩn dùng riêng, mà ít nhất 2 người trở lên đi chung 1 xe

Ngoài công tác các cán bộ có tiêu chuẩn trên còn được dùng xe con vào việc chữa bệnh, đi nghỉ phép, thăm bố mẹ, vợ, con ốm đau và người thân thuộc ốm đau

Xe Com - măng - ca chủ yếu để phục vụ công tác của cán bộ cấp vụ, cán bộ giữ chức vụ tương đương cấp vụ ở cơ quan trung ương và cán bộ phụ trách các cơ quan cấp Tỉnh khi phải đi công tác xa hoặc có công tác cần thiết

Ở cơ quan trung ương, tùy theo chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, khối lượng công tác, phạm vi hoạt động được phân phối như sau : những đơn vị làm công tác nghiên cứu thì từ 2 đến 3 đơn vị dùng chung 1 xe, riêng đơn vị quản lý phải đi kiểm tra nhiều, thường xuyên đi địa phương, đi cơ sở thì 2 đơn vị dùng chung 1 xe và nếu thật cần thiết thì có thể một đơn vị dùng 1 xe ( đơn vị ở đây là Cục, Vụ, Viện,Ban trực thuộc Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ ) Các Doanh nghiệp do trung ương quản lý tùy điều kiện cụ thể mà xem xét quyết định Các bệnh viện, trường đại học tùy theo yêu cầu công tác, địa bàn hoạt động được phân phối từ 1 đến 2 xe

Các Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương, tùy theo đặc điểm của mỗi địa phương được phân phối một số xe do Ủy ban hành chính Tỉnh, Thành phố thống nhất

Trang 24

quản lý để dùng chung cho các cơ quan cấp Tỉnh Cá biệt đối với một số Sở, Ty vì tính chất hoạt động riêng biệt có thể được Uûy ban hành chính cấp Tỉnh xem xét và giải quyết cấp xe riêng, nhưng hết sức hạn chế Huyện có địa bàn rộng mà các tuyến vận tải hành khách chưa thuận lợi có thể được phân phối 1 xe

Bản chỉ thị cũng đã quy định những nội dung cơ bản về sử dụng và quản lý xe con như : xe con được cấp dùng riêng cho các cơ quan để phục vụ cho các cán bộ có tiêu chuẩn, các cán bộ khác không dùng xe con trên các tuyến đường đã có phương tiện vận tải công cộng Nghiêm cấm dùng xe con vào những việc tiếp tế thực phẩm phục vụ sinh hoạt nội bộ trừ trường hợp cần thiết Quy định việc quản lý, bảo quản, bảo dưỡng xe được đặt thành chế độ, giao trách nhiệm cho người lái xe chuyên trách và thi hành chế độ trách nhiệm vật chất nếu vì thiếu trách nhiệm để xe đâm, đổ, hư hỏng

Hàng năm, các ngành ở trung ương và địa phương phải gửi yêu cầu về xe con cho Bộ Tài chính và Bộ Vật tư để hai Bộ lập kế hoạch phân phối xe con trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

Quy định trên đây đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản về quản lý xe ô tô con từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do buông lỏng quản lý nên tệ nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu trong cơ quan Nhà nước, hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, pháp luật, kỷ cương không nghiêm Để chấn chỉnh tình hình này, ngày 15/09/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 140/HĐBT “ về triệt để tiết kiệm “ Quyết định này chưa sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn, định mức sử dụng mà chỉ quy định hai vấn đề về chế độ quản lý sử dụng

xe ô tô như sau :

a Giảm việc dùng xe ô tô con để đưa đón riêng từng người hàng ngày từ nơi ở đến nơi làm việc, tận dụng phương tiện đưa đón tập thể của từng cơ quan hoặc tổ

Trang 25

chức đưa đón của các công ty xe khách Đối với các Thứ trưởng và cán bộ giữ chức vụ tương đương Thứ trưởng thì tổ chức để 2 - 3 người đi 1 xe con đưa đón từ nhà đến nơi làm việc

b Những cán bộ cấp vụ, giám đốc liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty, Sở, Bí thư, Chủ tịch huyện ( và các chức vụ tương đương ) chỉ được dùng xe con trong trường hợp đi công tác xa, không được dùng xe ô tô con đi làm việc trong nội thành, nội thị

Chỉ thị số 293/TTg và Quyết định số 140/HĐBT được duy trì đến năm 1995

1.1.2 Quy định về đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, sửa chữa các công trình thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp :

Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảnt toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết của ban chấp hành trung ương Đảng khóa VI về việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển với quy mô lớn và đa dạng, đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư ngày một lớn Để đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngày 07/01/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 385/HĐBT sửa đổi, bổ sung thay thế Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản đã ban hành theo Nghị định số 232/CP của Chính phủ

Những nội dung chủ yếu của bản Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị số 385/HĐBT ngày 07/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng như sau :

- Muốn đầu tư xây dựng công trình phải có chủ trương đầu tư, xác định được sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình

- Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư, trong đó vốn đầu tư cho các công trình thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp do ngân sách Nhà nước đảm bảo, nhưng khi cần Nhà nước có thể gọi vốn trong hoặc ngoài nước để đầu tư trừ công trình

an ninh, quốc phòng và quản lý Nhà nước

- Lập luận chứng kinh tế kỹ thuật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trang 26

xét duyệt

- Xác định nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong đầu tư xây dựng công trình, trong đó cho phép các đơn vị cơ sở trực tiếp sử dụng tài sản Nhà nước được phép trình bày sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình thay thế cho cách giao số kiểm tra từ trên xuống của thời kỳ trước đó Tổ chức sử dụng tài sản là chủ đầu tư công trình, là người chịu trách nhiệm lập và trình luận chứng kinh tế kỹ thuật, ký hợp đồng giao thầu với tổ chức xây dựng ( tương tự như ký hợp đồng mua tài sản ) và là người trực tiếp nghiệm thu công trình có sự tham gia của các cơ quan liên quan

Trong các năm sau 1990, nền kinh tế nước ta có mức tăng trưởng nhanh và khá ổn định, nhưng sự phát triển đó cũng đòi hỏi có sự tập trung vốn đầu tư với quy mô ngày một lớn, tốc độ ngày một cao trên tất cả các lĩnh vực Để đảm bảo tốc độ phát triển của nền kinh giữ ổn định ở mức hàng năm tăng trên 8% GDP cần phải tăng cường cho đầu tư phát triển Để có thể huy động, quản lý và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả phù hợp với tình hình thực tế, Chính phủ đã ban hành Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản kèm theo Nghị định số 177/CP ngày 20/10/1994 thay thế Nghị định số 385/HĐBT ngày 07/01/1990 Những nội dung sửa đổi bổ sung chủ yếu của bản Điều lệ này so với bản Điều lệ ban hành theo Nghị định 385/HĐBT về đầu tư xây dựng cơ bản khu vực hành chánh sự nghiệp gồm :

a Thực hiện quản lý vốn đầu tư bằng dự án thay cho việc quản lý vốn đầu tư bằng luận chứng kinh tế kỹ thuật Ngoài vấn đề đầu tư, dự án rất chú trọng đến giai đoạn sử dụng, đảm bảo công trình được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả và chất lượng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ Bố trí kế hoạch đầu tư theo dự án Quy định chặt chẽ công tác chuẩn bị đầu tư, tương tự như xem xét quyết định chủ trương mua sắm tài sản, nhất là phải xem xét, kiểm tra sự cần thiết phải đầu tư

Trang 27

b Đầu tư xây dựng các công trình khu vực hành chánh sự nghiệp chủ yếu do vốn ngân sách Nhà nước đảm bảo ( trừ các đơn vị không thuộc diện được thụ hưởng ngân sách Nhà nước ), đồng thời huy động sự đóng góp của nhân dân cho các dự án xây dựng các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho người góp vốn, vật

tư, lao động

c Thực hiện đấu thầu xây dựng, khẳng định và hình thành tổ chức tư vấn trong xây dựng cơ bản và mua sắm hàng hóa, thiết bị, giám định chất lượng xây dựng trong quá trình thi công

1.1.3 Thực trạng quản lý :

Quản lý tài sản khu vực hành chánh sự nghiệp trong giai đoạn 1990 – 1995 có những nét cơ bản sau :

- Tài sản chỉ được phản ánh bằng chỉ tiêu tổng hợp – chỉ tiêu giá trị trên sổ sách kế toán của đơn vị, hầu hết các đơn vị chưa thực hiện đăng ký, theo dõi cả về giá trị cũng như hiện vật của từng tài sản, do đó khi xác định giá trị hoặc hiện trạng của tài sản gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, sự tùy tiện trong việc mua sắm, sửa chữa, bảo dưỡng, tài sản của các Thủ trưởng đơn vị không qua thẩm định của các ngành chức năng đã làm thất thoát một khối lượng lớn kinh phí của ngân sách Nhà nước

Ví dụ : Không đại tu ô tô nhưng vẫn đưa vào kế hoạch quý mà không cần qua giám định kỹ thuật của ngành giao thông, giá cả hợp đồng sửa chữa là tùy thuộc vào Thủ trưởng đơn vị và Bên nhận sửa chữa, hoặc thậm chí có trường hợp không sửa chữa nhưng vẫn đưa vào kế hoạch quý để bòn rút tiền ngân sách Nhà nước ( trường hợp cũng tương tự như vậy diễn ra đối với sửa chữa nhà cửa, mua sắm tài sản ) - đây cũng là nơi mà điều kiện tham ô, tiêu cực dễ phát sinh nhất

- Tình trạng khá phổ biến là hồ sơ về nhà, đất không có, không đủ hoặc bị thất

Trang 28

lạc, điển hình là trong tổng số 71 ngôi nhà làm việc của các đơn vị cấp Tỉnh mà cơ quan tài chính nắm được thì chỉ có 16 ngôi nhà, chiếm 22,5 % có đủ giấy tờ, hồ sơ pháp lý Việc theo dõi, hạch toán trên sổ sách và quản lý thực tế hiện vật cũng bị hạn chế và chưa đầy đủ; đến năm 1995 có 950.560 m2 nhà làm việc chiếm 87,7 % số nhà

cơ quan tài chính đã nắm được chỉ ghi bằng hiện vật chứ không xác định nỗi giá trị ? trong toàn Tỉnh có 20.100 ngôi nhà làm việc, trường học chiếm 86,6 % nhà làm việc, trường học không tính nỗi hao mòn trong quá trình sử dụng ( chỉ tính nguyên giá ban đầu kể từ khi Nhà nước giao nhà cho đơn vị quản lý sử dụng ) Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với xe ô tô và máy móc thiết bị khác Cũng chính vì không có hồ sơ nhà, đất, do đó tình trạng nhà ở của dân xen kẽ và đang có tranh chấp lấn đất, nhà làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp là khá phổ biến, đặc biệt là các trường tiểu học, trạm xá do xã quản lý

- Tiêu chuẩn trạm xá kỹ thuật nhà thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan hành chánh sự nghiệp nhìn chung là thấp, chất lượng lại kém đặc biệt, là ở cấp xã, cấp huyện; qua kiểm kê cho thấy trong tổng số 1.083.448 m2 nhà làm việc của toàn Tỉnh, có 713.330 m2 nhà làm việc cấp 4 và nhà tạm chiếm tỷ lệ 65,8 % trong tổng quỹ nhà đặc biệt 100% nhà làm việc trong tổng số 138 xã, phường, thị trấn của Tỉnh là nhà cấp 4 và nhà tạm

- Nhà thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan hành chánh sự nghiệp chưa thống nhất về định mức diện tích nhà làm việc bình quân cho mỗi cán bộ công nhân viên Diện tích nhà làm việc bình quân một cán bộ công nhân viên khu vực hành chánh sự nghiệp như sau :

Trang 29

Biểu số 2 :

BẢNG PHÂN TÍCH VỀ DIỆN TÍCH NHÀ LÀM VIỆC BÌNH QUÂN

TRÊN MỘT CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN

ĐVT : m2/người STT Tên cơ quan số biên

06 Sở Giáo Dục 64 33,5

07 Sở Công Nghiệp 29 8,8

08 Sở Nông Nghiệp 42 48,7

09 Sở Thương Mại 29 8,5

10 Sở KHCN & MT 31 33,1

11 Sở TDTT 18 80,2

12 Sở VHTT 20 26,5

13 UBBV chăm sóc trẻ em 11 21,9

14 UBDS & KHH gia đình 16 20,25

Theo kết quả kiểm kê xe ô tô con khu vực hành chánh sự nghiệp toàn tỉnh An giang đến năm 1995 mới nắm được 187 xe ô tô con với giá trị còn lại là 21 tỷ đồng ( theo giá trị trên sổ sách kế toán của đơn vị ) Thực trạng quản lý, sử dụng loại tài sản này trong khu vực hành chánh sự nghiệp có những điểm chủ yếu sau :

- Phần lớn xe ô tô con được mua sắm sau năm 1986 ( chiếm khoảng 85% số xe hiện có ), chất lượng xe còn mới, giá trị còn lại xấp xỉ bằng 70% so với nguyên giá

Trang 30

trên sổ sách, nhìn chung các phương tiện trên đáp ứng được yêu cầu công tác, có trình độ kỹ thuật tiến bộ nhiều so với thời kỳ trước

- Việc mua sắm xe ôtô thuộc các ngành, các cấp không theo tiêu chuẩn định mức mà tùy thuộc vào khả năng nguồn kinh phí của từng đơn vị Kết quả là : đơn vị nào có tiền nhiều thì mua sắm nhiều, đơn vị nào có tiền ít thì mua sắm ít, điều này dẫn đến sự chênh lệch quá lớn giữa các cơ quan về bình quân số cán bộ công nhân viên sử dụng đầu xe, được thể hiện qua bảng phân tích sau :

Biểu số 3 :

BẢNG PHÂN TÍCH SỐ CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN BÌNH QUÂN TRÊN 1 XE

ĐVT : người/xe ST

04 Sở Giáo dục 64

05 Sở Công Nghiệp 29

06 Sở Nông Nghiệp 21

07 Sở Thương Mại 29

Trang 31

1.2 Thực trạng quản lý tài sản công là kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng :

Tài sản kết cấu hạ tầng được hình thành từ nhiều thế hệ của người Việt Nam xây dựng Kế thừa tài sản đó, trong các năm qua tỉnh An giang đã không ngừng đầu

tư, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới nhiều công trình kết cấu hạ tầng để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phục vụ cho việc không ngừng nâng cao điều kiện sống của mọi thành viên trong xã hội Việc đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình kết cấu hạ tầng được thực hiện theo quy định của Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ban hành theo Nghị định số 385/HĐBT ngày 07/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định số 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ thay thế Nghị định số 385/HĐBT Trong đó, ngành tài chính có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế quản lý vốn, bố trí vốn, quản lý và cấp pháp vốn ngân sách nhà nước

Việc quản lý khai thác và sử dụng các công trình hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng do các Sở, ngành chức năng thực hiện :

- Các công trình giao thông do ngành giao thông quản lý có các chuyên ngành : quản lý đường bộ, bến cảng, cầu đường

- Các công trình thủy lợi do ngành thủy lợi quản lý có ngành quản lý đê điều, trạm bơm nước

- Các công trình thuộc kết cấu hạ tầng đô thị do cơ quan quản lý hạ tầng đô thị của địa phương quản lý

Để quản lý, khai thác và sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương phổ biến là công trình được xây dựng từ nguồn vốn nào thì do cấp đó quản lý Ví dụ đường quốc lộ do Cục đường bộ - Bộ giao thông vận tải quản lý, đường tỉnh lộ, đường

Trang 32

đô thị do địa phương quản lý

Để đảm bảo việc quản lý, khai thác và sử dụng tài sản công thuộc kết cấu hạ tầng, cơ chế quản lý tài chính được hình thành với nội dung cơ bản sau :

- Việc lập dư toán, cấp phát và quản lý vốn sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng được thực hiện theo phương thức quản lý vốn sự nghiệp kinh tế

- Nhà nước thực hiện thu lệ phí đối với các đối tượng được hưởng lợi từ phục vụ của các công trình cơ sở hạ tầng như : Thủy lợi phí, lệ phí đường bộ Các khoản lệ phí thu được dùng để trang trải cho công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài sản đó

1.3 Thực trạng quản lý tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước :

Đặc điểm chung của giai đoạn 1990 - 1995 là tài sản sau khi có quyết định xác lập quyền sở hữu Nhà nước được xử lý chủ yếu theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và thực hiện mang tính chất riêng lẽ theo từng ngành, từng đối tượng, từng mặt hàng cụ thể Hàng lâm sản được xử lý theo quy định của Bộ Lâm nghiệp, hàng do Quản lý thị trường ra quyết định tịch thu được xử lý theo quy định của Bộ Thương mại, hàng do Tòa án ra quyết định tịch thu sung qũy Nhà nước thì được cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành theo quy định của pháp lệnh thi hành án dân sự Tuy nhiên, khi xử lý các tài sản này đều lập Hội đồng xử lý do Cục trưởng Cục Thuế làm Chủ tịch Hội đồng, song thực chất quyền quyết định xử lý vẫn thuộc các cơ quan ra quyết định tịch thu tài sản

Việc quản lý tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước trong giai đoạn này nổi lên những nét cơ bản sau :

- Tài sản được đem ra bán chủ yếu là chỉ định ( thường là do Chủ tịch Hội đồng hoặc thủ trưởng các đơn vị bắt giữ bán lại cho các cá nhân có hàng bị bắt giữ ) Do đó, phần lớn nạn tiêu cực, tham ô phát sinh từ đây Sau khi tài sản được bán, tiền thu nộp vào tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế, cơ quan thuế làm các thủ tục trích trả chi

Trang 33

phí, trích thưởng số còn lại nộp vào ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, như đã trình bày ở phần trên, quyền quyết định xử lý tài sản không được tập trung vào một đầu mối mà cơ quan bắt giữ nào cũng đặt ra cho mình quyền xử lý tài sản Do đó, thường xuyên xảy ra tình trạng cá nhân chiếm dụng tiền bán tài sản chậm nộp ngân sách, qua kiểm tra phát hiện chỉ trong năm 1995 cơ quan khối cảnh sát chậm nộp khoảng

500 triệu đồng, cơ quan thuế 150 triệu đồng

- Các văn bản quy định về xử lý vi phạm hành chánh giữa Bộ Tài chính và các ngành thiếu sự thống nhất

- Chưa có quy chế quản lý và xử lý tài sản, chưa thống nhất quản lý số tiền thu được từ việc bán tài sản cũng như xác định các chi phí cần thiết trong quá trình phát hiện, bắt giữ, quản lý và bán tài sản Một số ngành thực hiện riêng Do đó, thực tế xử lý tài sản gặp không ít vướng mắc, cá biệt có trường hợp ách tắc, hàng hóa và tài sản tồn kho quá lâu, dẫn đến hư hao, lãng phí

- Nhiệm vụ quản lý tài sản giữa các ngành, các cấp chưa được xác định, còn chồng chéo, ngay cả trong nội bộ ngành Tài chính Cơ quan Tài chính chưa nắm được đầy đủ và còn chưa là cơ quan quản lý thống nhất về xử lý tài sản

1.4.Thực trạng quản lý tài sản là đất đai và các tài nguyên khác:

Trong các năm từ 1990 - 1995 là thời gian xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản pháp luật quy định quản lý đất đai và các tài nguyên khác, đến năm 1995 đã có : luật đất đai ( ban hành năm 1988 và luật sửa đổi năm 1993 ), luật bảo vệ và phát triển rừng, Pháp lệnh Tài nguyên - khoáng sản, luật dầu khí Theo Hiến pháp năm

1980 và sau này là Hiến pháp 1992 thì : “ Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển và vùng trời là của Nhà nước, đều thuộc quyền sở hữu toàn dân “ Do đó, hệ thống các văn bản pháp luật trong giai đoạn này đều khẳng định đất đai và các nguồn tài nguyên khác đều thuộc sở hữu toàn

Trang 34

dân, là tài sản Nhà nước Đất đai, tài nguyên được quản lý chủ yếu bằng biện pháp hành chính :

- Quy định chế độ quản lý đất đai, tài nguyên

- Phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp, giữa trung ương và địa phương

- Quy định cơ chế khai thác, sử dụng đất đai, tài nguyên

- Quy định các hình thức xử lý hành chính đối với các hành vi sử dụng khai thác tài nguyên vi phạm pháp luật

Cơ chế tài chính quản lý đất đai và các tài nguyên khác là thực hiện đấu thầu khai thác, quản lý tài chính trong quá trình điều tra, khảo sát, tìm kiếm tài nguyên khoáng sản, điều tra quy hoạch sử dụng đất đai và lập bản đồ địa chính, xây dựng và thực hiện chính sách thuế sử dụng đất, cho thuê đất, chính sách cho phép doanh nghiệp Nhà nước được dùng giá trị quyền sử dụng đất góp vốn liên doanh là hệ thống các công cụ để Nhà nước thực hiện quản lý đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác bằng biện pháp kinh tế, khai thác nguồn lực đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác từ dạng tiềm năng trở thành nguồn tài chính hiện thực phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước

1.5 Nhận xét chung :

Giai đoạn 1990 - 1995 là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới - giai đoạn hình thành cơ chế quản lý kinh tế, xã hội, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Giai đoạn phát triển mạnh mẽ và khá ổn định của toàn bộ nền kinh tế xã hội của đất nước, hình thành nhiều doanh nghiệp mới, nhiều tổ chức mới, sự tăng trưởng của nền kinh tế đặt ra những yêu cầu mới về huy động nguồn lực, về sự quản lý của Nhà nước, trong đó công tác quản lý công sản được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách Tuy nhiên, ở giai này công tác quản lý công sản vẫn duy trì cơ chế quản lý của thời kỳ

Trang 35

trước ( cơ chế kế hoạch hóa tập trung ), công tác quản lý công sản trong giai đoạn này có những đặc trưng chủ yếu sau :

- Cơ chế kế hoạch hóa tập trung được thực hiện trong phân tán và bao cấp

- Nhà nước chưa đặt vấn đề quản lý tài sản công, chưa quy định chế độ quản lý công sản, mà chủ yếu quản lý công sản thông qua việc quản lý chi tiêu của ngân sách Nhà nước Việc quản lý đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác chủ yếu được thực hiện bằng biện pháp hành chính

- Cơ quan Tài chính chưa coi việc quản lý công sản là nhiệm vụ của mình, chưa ban hành chế độ, quy chế về quản lý công sản mà chỉ thực hiện quản lý tài chính - quản lý chi ngân sách Nhà nước

- Uûy ban Tỉnh, các ngành chưa nắm được tổng giá trị và số lượng những tài sản lớn trong toàn Tỉnh Do đó, việc đầu tư , xây dựng, mua sắm tài sản công cũng như công tác quản lý, sử dụng tài sản bị buông lỏng nghiêm trọng, làm thất thoát, suy giảm nguồn tài sản công, nhất là nguồn tài nguyên khoáng sản ngày bị cạn kiệt, làm giảm nguồn lực quốc gia, làm nghèo đất nước

2 Thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp tỉnh

An giang giai đoạn 1995 - 2000 :

Tính đến ngày 01/01/2000 tổng giá trị tài sản qua kiểm kê đánh giá lại khu vực hành chánh sự nghiệp là : 7.204.896 triệu đồng

Trong đó :

a Đất đai : 889.672 triệu đồng

b Nhà cửa, vật kiến trúc : 4.440.468 triệu đồng

c Phương tiện vận tải : 76.406 triệu đồng

d Máy móc thiết bị : 191.107 triệu đồng

e Tài sản cố định khác : 223.243 triệu đồng

f Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia : 1.384.000 triệu đồng

Trang 36

f1 Cầu cống, đường xá : 605.000 triệu đồng

f2. Hệ thống thủy lợi : 779.000 triệu đồng

2.1 Tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp :

2.1.1 Cơ chế quản lý tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp :

Về nhà, đất thuộc trụ sở làm việc : đến nay cơ chế quản lý tài sản công là nhà, đất thuộc trụ sở làm việc được hình thành như sau :

- Từ năm 1995 đến nay đã ban hành một số văn bản quy định những nội dung

cơ bản về chế độ quản lý nhà đất thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan hành chánh sự nghiệp như : phạm vi nhà làm việc, nhà công vụ, quy định về đăng ký tài sản, quy định về cấp mới, cải tạo, mở rộng , quản lý, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, tiếp nhận, bàn giao ở tầm văn bản của Bộ Tài chính và gần đây được quy định tại Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06/03/1998 của Chính phủ quy định về quản lý tài sản Nhà nước

- Những quy định về đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, sửa chữa nhà làm việc trong khu vực hành chánh sự nghiệp được thực hiện theo điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành với những nội dung cơ bản sau :

a Quy định công tác chuẩn bị đầu tư, sự cần thiết phải đầu tư, tương tự như việc xem xét quyết định chủ trương mua sắm tài sản Thực hiện quản lý vốn đầu tư bằng dự án, tùy tính chất và quy mô, dự án được chia thành 3 nhóm A, B, C

b Việc thẩm định và cho phép xây dựng các công trình do Bộ Kế hoạch và đầu

tư, các Bộ, ngành và Uûy ban nhân dân các địa phương quyết định

c Bộ Tài chính có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế quản lý vốn, bố trí vốn, quản lý và cấp phát vốn ngân sách Nhà nước và vốn tín dụng ưu đãi thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước

d Việc xây dựng các công trình thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp được đầu

tư chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, đồng thời huy động nhân dân đóng góp để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng

Trang 37

e Thực hiện đấu thầu xây dựng, mua sắm thiết bị, tư vấn trong xây dựng cơ bản, giám định chất lượng trong quá trình thi công

Cơ chế quản lý tài sản công là phương tiện đi lại, máy móc thiết bị được hình thành như sau :

- Trên cơ sở tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô con được quy định ở thời kỳ trước, Chính phủ thực hiện kiểm soát chặt chẽ việc mua sắm xe mới, đồng thời quy định về trang bị điện thoại tại nhà riêng đối với một số đối tượng cán bộ, một số loại hình đơn

vị hành chánh sự nghiệp Ngày 10/05/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô trong các cơ quan hành chánh sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước

- Đã quy định một số nội dung cơ bản về chế độ quản lý, mua sắm, bảo quản, bảo dưõng, sửa chữa, thanh lý tài sản

Tổng giá trị tài sản cố định bao gồm cả đất theo nguyên giá là 5.820.896 triệu đồng, trong đó :

Đất đai : 889.672 triệu đồng

Nhà cửa, vật kiến trúc : 4.440.468 triệu đồng

Phương tiện vận tải : 76.406 triệu đồng

Máy móc thiết bị : 191.107 triệu đồng

Tài sản cố định khác : 223.243 triệu đồng

Trong tổng số giá trị tài sản cố định Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp nhà cửa, vật kiến trúc là tài sản lớn nhất chiếm 76,3 %, kế đến là đất đai 15,30 %, còn lại là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và tài sản cố định khác là 8,5 %

Tổng giá trị của tài sản cố định không phải là đất của Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp ( tính đến 01/01/2000 ) bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, phương

Trang 38

tiện vận tải, máy móc thiết bị và tài sản cố định khác của 2 ngành lớn là Giáo dục và

Y tế tăng gấp 1,7 lần so với năm 1995 Như vậy, trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước đã quan tâm đúng mức về đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản cố định cho khu vực hành chánh sự nghiệp nhằm tạo điều kiện vật chất cần thiết cho các đơn vị hành chánh sự nghiệp, các đoàn thể thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ của mình Chỉ tính 14 đơn vị Ban, ngành cấp Tỉnh từ năm

1995 đến 1999 Nhà nước đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm các loại tài sản khác như phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và các tài sản khác với tổng giá trị là 36,9 tỷ đồng, xấp xỉ 2 lần tổng giá trị tài sản cố định đã được đầu tư xây dựng, mua sắm từ những năm 1995 trở về trước, được biểu hiện trên bảng tổng hợp sau :

Biểu số 4 :TỔNG GIÁ TRỊ CÒN LẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA 14 ĐƠN VỊ BAN HÀNH CẤP TỈNH NĂM 1995 VÀ 1999 ( KHÔNG KỂ ĐẤT )

01 Hội đồng Nhân Dân 1.443.031,00 2.031.746,00 588.715,00

02 UBND Tỉnh 5.913.782,00 28.761.535,00 22.847.753,00

03 Sở KH & ĐT 1.307.154,00 1.853.518,00 546.364,00

04 Sở Tài chính Vật giá 1.948.466,00 6.091.234,00 4.142.768,00

05 Sở Công Nghiệp 440.214,00 1.026.681,00 586.467,00

06 Sở Nông Nghiệp 1.682.711,00 4.940.586,00 3.257.875,00

Trang 39

Riêng ngành Giáo dục đào tạo từ năm 1995 - 1999 đã đầu tư xây dựng thêm 605.884 m2 trường học và 36 tỷ đồng trang thiết bị dạy học góp phần xóa lớp học ca

ba, nâng cao trình độ giảng dạy học tập của giáo viên và học sinh

Giá trị còn lại của tài sản cố định không phải là đất so với tổng nguyên giá là 55,6 % đủ đảm bảo độ tin cậy sử dụng Song khi xét về cấp hạng và thời gian sử dụng của tài sản thì cũng đáng lo ngại, cụ thể có tới trên 706.865 m2 nhà làm việc là nhà cấp 4 và nhà tạm chiếm tỷ lệ 63,8 % quỹ nhà làm việc của toàn Tỉnh, có tới 6.690 m2

nhà sử dụng từ trước năm 1975 chiếm 0,6 % quỹ nhà làm việc Xe ô tô sản xuất trước năm 1985 là 22 chiếc chiếm 10,8 % tổng số xe

Tài sản cố định của Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp ( không kể đất ) được dùng vào các lĩnh vực hoạt động : quản lý Nhà nước 6,7 %, các đơn vị sự nghiệp 93,3 % Trong đó : sự nghiệp giáo dục 15,6 %, sự nghiệp y tế 3,17 %, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ 0,04 % Qua số liệu trên, một lần nữa có thể khẳng định rằng : công tác giáo dục đào tạo chưa được đầu tư đúng mức, vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn bị xem nhẹ và đặc biệt là công tác đầu tư nghiên cứu khoa học cho sự phát triển của tương lai hầu như chưa được đề cập đến Đây là một thiệt thòi lớn cho Tỉnh có kết dư ngân sách như Tỉnh An giang

Sau đây là tình trạng quản lý và sử dụng một số loại tài sản công chủ yếu tại khu vực hành chánh sự nghiệp :

a Tài sản là đất đai : Đất đai là tài sản lớn nhất trong khu vực hành chánh sự nghiệp Tổng quỹ đất đai do các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp quản lý và sử dụng là 7.506.740 m2 chiếm 0,2 % diện tích đất tự nhiên của toàn Tỉnh Tổng giá trị quỹ đất được tính theo Quyết định số 125/QĐ-UB ngày 22/02/1995 quy định căn cứ khung giá các loại đất ban hành theo Nghị định số 87/CP là 889,67 tỷ đồng, chiếm 15,30 % tổng giá trị tài sản cố định Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp Song

Trang 40

việc quản lý và sử dụng đất đai trong khu vực hành chánh sự nghiệp còn nhiều yếu kém, gây ra lãng phí, thất thoát tài sản Nhà nước, cụ thể là :

- Trong tổng số 7.506.740 m2 đất, chỉ có 1.241.295 m2 đất chiếm 16,5 % tổng quỹ đất giao cho các cơ quan hành chánh sự nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho đất đai của các cơ quan hành chánh sự nghiệp bị dân lấn chiếm Qua kiểm tra trong 58 đơn vị hành chánh sự nghiệp cấp Tỉnh quản lý, có tới 9 đơn vị bị dân lấn chiếm đất chiếm tỷ lệ 15% số Đơn vị hành chánh sự nghiệp cấp Tỉnh quản lý

- Việc cấp đất cho các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp không tính toán sát với nhu cầu sử dụng đất, dẫn đến đất đai chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của tất cả các đơn vị hành chánh sự nghiệp trong toàn Tỉnh lên tới 2.217.432 m2, chiếm 29,5 % tổng quỹ đất được giao tương đương với quỹ đất nông nghiệp của 2 Phường Mỹ Xuyên và Phường Mỹ Phước Thành phố Long Xuyên cộng lại, trong đó :

Đất chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp thuộc Tỉnh quản lý là 1.196.423 m2, chiếm 28 % tổng quỹ đất của các cơ quan này

Đất chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp thuộc Huyện, Thị, Thành phố quản lý là 1.021.009 m2, chiếm 31,5

% tổng quỹ đất của các cơ quan này, trong đó các Huyện có quỹ đất chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng từ 80.000 m2 trở lên là Huyện Châu Thành 10.200 m2, Huyện Thoại Sơn 13.800 m2, Huyện Chợ Mới 8.100 m2

- Đất của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp đem dùng vào mục đích sản xuất kinh doanh, cho thuê và làm nhà ở là 1.322.158 m2 chiếm tới 17,6% tổng quỹ đất được giao

Tình hình quản lý đất đai thiếu chặt chẽ và sử dụng đất không tiết kiệm gây

Ngày đăng: 16/09/2020, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w