CHệễNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TỈNH AN GIANG
1. Thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp tỉnh
1.1.Thực trạng quản lý tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp : 1.1.1. Về quy định chế độ quản lý và sử dụng tài sản :
Năm 1954 hòa bình được lập lại ở Miền Bắc, đến năm 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước, nhưng mãi đến năm 1977 Chính phủ mới ban hành quyết định số 150/CP ngày 10/06/1977 “ về việc quy định tiêu chuẩn định mức diện tích nhà làm việc bình quân cho mỗi cán bộ, nhân viên công tác tại các cơ quan hành chánh sự nghiệp “. Theo quyết định này, định mức bình quân về diện tích cho mỗi cán bộ, nhân viên không quá 4m2/người, tại các cơ quan thiết kế không quá 5m2/người. Phần diện tích phục vụ như : phòng thường trực, phòng y tế cơ quan, kho lưu trữ, nhà để xe, căn tin ... không tính tiêu chuẩn trên. Những bộ phận có đặt máy móc thiết bị như : phòng in Ronéo, phòng máy tính, phòng in bản vẽ ... được sử dụng diện tích theo yêu cầu kỹ thuật. Những cơ quan làm công việc tiếp xúc hàng ngày với nhân dân như Công an, Ngân hàng, Thương nghiệp, Giáo dục, quản lý nhà đất ... được sử dụng diện tích riêng do cấp có thẩm quyền duyệt y. Mọi cơ quan, đơn vị phải triệt để tiết kiệm diện tích, tận dụng các cơ sở hiện có, sử dụng hợp lý diện tích nhà cửa, không để tự ý đổi cấu trúc nhà cửa nếu không được cơ quan quản lý nhà chấp thuận.
Có thể nói quyết định số 150/CP với những nội dung trên đây là văn bản duy nhất quy định tiêu chuẩn định mức diện tích nhà làm việc trong khu vực hành chánh sự nghiệp được thực hiện từ năm 1977 cho đến nay.
Về xe ô tô, ngày 05/09/1975 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 293/TTg “ về
việc phân phối, sử dụng và quản lý xe ô tô con trong cơ quan, xí nghiệp Nhà nước và các đoàn thể “, từ đó cho đến năm 1995 chưa có văn bản nào thay thế cho Chỉ thị này.
Bản Chỉ thị quy định tiêu chuẩn phân phối ôtô kiểu du lịch cho các cán bộ là Bộ trưởng và cán bộ giữ chức vụ tương đương được dùng riêng một xe phục vụ công tác. Bí thư và Chủ tịch ủy ban hành chính cấp Tỉnh trở lên được dùng riêng một xe để phục vụ công tác, nhưng không cùng loại xe cấp cho Bộ trưởng. Thứ trưởng và cán bộ giữ chức vụ tương đương Thứ trưởng ở các cơ quan trung ương được dùng xe con để phục vụ công tác, nhưng không có tiêu chuẩn dùng riêng, mà ít nhất 2 người trở lên đi chung 1 xe.
Ngoài công tác các cán bộ có tiêu chuẩn trên còn được dùng xe con vào việc chữa bệnh, đi nghỉ phép, thăm bố mẹ, vợ, con ốm đau và người thân thuộc ốm đau.
Xe Com - măng - ca chủ yếu để phục vụ công tác của cán bộ cấp vụ, cán bộ giữ chức vụ tương đương cấp vụ ở cơ quan trung ương và cán bộ phụ trách các cơ quan cấp Tỉnh khi phải đi công tác xa hoặc có công tác cần thiết.
Ở cơ quan trung ương, tùy theo chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, khối lượng công tác, phạm vi hoạt động được phân phối như sau : những đơn vị làm công tác nghiên cứu thì từ 2 đến 3 đơn vị dùng chung 1 xe, riêng đơn vị quản lý phải đi kiểm tra nhiều, thường xuyên đi địa phương, đi cơ sở thì 2 đơn vị dùng chung 1 xe và nếu thật cần thiết thì có thể một đơn vị dùng 1 xe ( đơn vị ở đây là Cục, Vụ, Viện,Ban ... trực thuộc Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ ). Các Doanh nghiệp do trung ương quản lý tùy điều kiện cụ thể mà xem xét quyết định. Các bệnh viện, trường đại học tùy theo yêu cầu công tác, địa bàn hoạt động được phân phối từ 1 đến 2 xe.
Các Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương, tùy theo đặc điểm của mỗi địa phương được phân phối một số xe do Ủy ban hành chính Tỉnh, Thành phố thống nhất
quản lý để dùng chung cho các cơ quan cấp Tỉnh. Cá biệt đối với một số Sở, Ty vì tính chất hoạt động riêng biệt có thể được Uûy ban hành chính cấp Tỉnh xem xét và giải quyết cấp xe riêng, nhưng hết sức hạn chế. Huyện có địa bàn rộng mà các tuyến vận tải hành khách chưa thuận lợi có thể được phân phối 1 xe.
Bản chỉ thị cũng đã quy định những nội dung cơ bản về sử dụng và quản lý xe con như : xe con được cấp dùng riêng cho các cơ quan để phục vụ cho các cán bộ có tiêu chuẩn, các cán bộ khác không dùng xe con trên các tuyến đường đã có phương tiện vận tải công cộng. Nghiêm cấm dùng xe con vào những việc tiếp tế thực phẩm phục vụ sinh hoạt nội bộ trừ trường hợp cần thiết... Quy định việc quản lý, bảo quản, bảo dưỡng xe được đặt thành chế độ, giao trách nhiệm cho người lái xe chuyên trách và thi hành chế độ trách nhiệm vật chất nếu vì thiếu trách nhiệm để xe đâm, đổ, hư hỏng.
Hàng năm, các ngành ở trung ương và địa phương phải gửi yêu cầu về xe con cho Bộ Tài chính và Bộ Vật tư để hai Bộ lập kế hoạch phân phối xe con trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Quy định trên đây đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản về quản lý xe ô tô con từ sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện do buông lỏng quản lý nên tệ nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu trong cơ quan Nhà nước, hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, pháp luật, kỷ cương không nghiêm.
Để chấn chỉnh tình hình này, ngày 15/09/1987 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số 140/HĐBT “ về triệt để tiết kiệm “. Quyết định này chưa sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn, định mức sử dụng mà chỉ quy định hai vấn đề về chế độ quản lý sử dụng xe oõ toõ nhử sau :
a. Giảm việc dùng xe ô tô con để đưa đón riêng từng người hàng ngày từ nơi ở đến nơi làm việc, tận dụng phương tiện đưa đón tập thể của từng cơ quan hoặc tổ
chức đưa đón của các công ty xe khách. Đối với các Thứ trưởng và cán bộ giữ chức vụ tương đương Thứ trưởng thì tổ chức để 2 - 3 người đi 1 xe con đưa đón từ nhà đến nơi làm việc.
b. Những cán bộ cấp vụ, giám đốc liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty, Sở, Bí thư, Chủ tịch huyện ( và các chức vụ tương đương ) chỉ được dùng xe con trong trường hợp đi công tác xa, không được dùng xe ô tô con đi làm việc trong nội thành, nội thị.
Chỉ thị số 293/TTg và Quyết định số 140/HĐBT được duy trì đến năm 1995.
1.1.2. Quy định về đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, sửa chữa các công trình thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp :
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảnt toàn quốc lần thứ VI, các Nghị quyết của ban chấp hành trung ương Đảng khóa VI về việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển với quy mô lớn và đa dạng, đòi hỏi nhu cầu vốn đầu tư ngày một lớn. Để đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngày 07/01/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 385/HĐBT sửa đổi, bổ sung thay thế Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản đã ban hành theo Nghị định số 232/CP cuûa Chính phuû.
Những nội dung chủ yếu của bản Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị số 385/HĐBT ngày 07/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng như sau :
- Muốn đầu tư xây dựng công trình phải có chủ trương đầu tư, xác định được sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình.
- Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư, trong đó vốn đầu tư cho các công trình thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp do ngân sách Nhà nước đảm bảo, nhưng khi cần Nhà nước có thể gọi vốn trong hoặc ngoài nước để đầu tư trừ công trình an ninh, quốc phòng và quản lý Nhà nước.
- Lập luận chứng kinh tế kỹ thuật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
xeựt duyeọt.
- Xác định nhiệm vụ của các ngành, các cấp trong đầu tư xây dựng công trình, trong đó cho phép các đơn vị cơ sở trực tiếp sử dụng tài sản Nhà nước được phép trình bày sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình thay thế cho cách giao số kiểm tra từ trên xuống của thời kỳ trước đó. Tổ chức sử dụng tài sản là chủ đầu tư công trình, là người chịu trách nhiệm lập và trình luận chứng kinh tế kỹ thuật, ký hợp đồng giao thầu với tổ chức xây dựng ( tương tự như ký hợp đồng mua tài sản ) và là người trực tiếp nghiệm thu công trình có sự tham gia của các cơ quan liên quan.
Trong các năm sau 1990, nền kinh tế nước ta có mức tăng trưởng nhanh và khá ổn định, nhưng sự phát triển đó cũng đòi hỏi có sự tập trung vốn đầu tư với quy mô ngày một lớn, tốc độ ngày một cao trên tất cả các lĩnh vực. Để đảm bảo tốc độ phát triển của nền kinh giữ ổn định ở mức hàng năm tăng trên 8% GDP cần phải tăng cường cho đầu tư phát triển. Để có thể huy động, quản lý và sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả phù hợp với tình hình thực tế, Chính phủ đã ban hành Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản kèm theo Nghị định số 177/CP ngày 20/10/1994 thay thế Nghị định số 385/HĐBT ngày 07/01/1990. Những nội dung sửa đổi bổ sung chủ yếu của bản Điều lệ này so với bản Điều lệ ban hành theo Nghị định 385/HĐBT về đầu tư xây dựng cơ bản khu vực hành chánh sự nghiệp gồm :
a. Thực hiện quản lý vốn đầu tư bằng dự án thay cho việc quản lý vốn đầu tư bằng luận chứng kinh tế kỹ thuật. Ngoài vấn đề đầu tư, dự án rất chú trọng đến giai đoạn sử dụng, đảm bảo công trình được xã hội và thị trường chấp nhận về giá cả và chất lượng, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ. Bố trí kế hoạch đầu tư theo dự án. Quy định chặt chẽ công tác chuẩn bị đầu tư, tương tự như xem xét quyết định chủ trương mua sắm tài sản, nhất là phải xem xét, kiểm tra sự cần thiết phải đầu tư.
b. Đầu tư xây dựng các công trình khu vực hành chánh sự nghiệp chủ yếu do vốn ngân sách Nhà nước đảm bảo ( trừ các đơn vị không thuộc diện được thụ hưởng ngân sách Nhà nước ), đồng thời huy động sự đóng góp của nhân dân cho các dự án xây dựng các công trình phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho người góp vốn, vật tư, lao động.
c. Thực hiện đấu thầu xây dựng, khẳng định và hình thành tổ chức tư vấn trong xây dựng cơ bản và mua sắm hàng hóa, thiết bị, giám định chất lượng xây dựng trong quá trình thi công.
1.1.3. Thực trạng quản lý :
Quản lý tài sản khu vực hành chánh sự nghiệp trong giai đoạn 1990 – 1995 có những nét cơ bản sau :
- Tài sản chỉ được phản ánh bằng chỉ tiêu tổng hợp – chỉ tiêu giá trị trên sổ sách kế toán của đơn vị, hầu hết các đơn vị chưa thực hiện đăng ký, theo dõi cả về giá trị cũng như hiện vật của từng tài sản, do đó khi xác định giá trị hoặc hiện trạng của tài sản gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sự tùy tiện trong việc mua sắm, sửa chữa, bảo dưỡng, tài sản của các Thủ trưởng đơn vị không qua thẩm định của các ngành chức năng đã làm thất thoát một khối lượng lớn kinh phí của ngân sách Nhà nước.
Ví dụ : Không đại tu ô tô nhưng vẫn đưa vào kế hoạch quý mà không cần qua giám định kỹ thuật của ngành giao thông, giá cả hợp đồng sửa chữa là tùy thuộc vào Thủ trưởng đơn vị và Bên nhận sửa chữa, hoặc thậm chí có trường hợp không sửa chữa nhưng vẫn đưa vào kế hoạch quý để bòn rút tiền ngân sách Nhà nước ( trường hợp cũng tương tự như vậy diễn ra đối với sửa chữa nhà cửa, mua sắm tài sản ... ) - đây cũng là nơi mà điều kiện tham ô, tiêu cực dễ phát sinh nhất.
- Tình trạng khá phổ biến là hồ sơ về nhà, đất không có, không đủ hoặc bị thất
lạc, điển hình là trong tổng số 71 ngôi nhà làm việc của các đơn vị cấp Tỉnh mà cơ quan tài chính nắm được thì chỉ có 16 ngôi nhà, chiếm 22,5 % có đủ giấy tờ, hồ sơ pháp lý. Việc theo dõi, hạch toán trên sổ sách và quản lý thực tế hiện vật cũng bị hạn chế và chưa đầy đủ; đến năm 1995 có 950.560 m2 nhà làm việc chiếm 87,7 % số nhà cơ quan tài chính đã nắm được chỉ ghi bằng hiện vật chứ không xác định nỗi giá trị ? trong toàn Tỉnh có 20.100 ngôi nhà làm việc, trường học chiếm 86,6 % nhà làm việc, trường học không tính nỗi hao mòn trong quá trình sử dụng ( chỉ tính nguyên giá ban đầu kể từ khi Nhà nước giao nhà cho đơn vị quản lý sử dụng ). Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với xe ô tô và máy móc thiết bị khác... Cũng chính vì không có hồ sơ nhà, đất, do đó tình trạng nhà ở của dân xen kẽ và đang có tranh chấp lấn đất, nhà làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp là khá phổ biến, đặc biệt là các trường tiểu học, trạm xá do xã quản lý.
- Tiêu chuẩn trạm xá kỹ thuật nhà thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan hành chánh sự nghiệp nhìn chung là thấp, chất lượng lại kém đặc biệt, là ở cấp xã, cấp huyện; qua kiểm kê cho thấy trong tổng số 1.083.448 m2 nhà làm việc của toàn Tỉnh, có 713.330 m2 nhà làm việc cấp 4 và nhà tạm chiếm tỷ lệ 65,8 % trong tổng quỹ nhà đặc biệt 100% nhà làm việc trong tổng số 138 xã, phường, thị trấn của Tỉnh là nhà cấp 4 và nhà tạm.
- Nhà thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan hành chánh sự nghiệp chưa thống nhất về định mức diện tích nhà làm việc bình quân cho mỗi cán bộ công nhân viên.
Diện tích nhà làm việc bình quân một cán bộ công nhân viên khu vực hành chánh sự nghieọp nhử sau :
Bieồu soỏ 2 :
BẢNG PHÂN TÍCH VỀ DIỆN TÍCH NHÀ LÀM VIỆC BÌNH QUÂN TRÊN MỘT CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN
ĐVT : m2/người
STT Teân cô quan soá bieân
cheá
Diện tích nhà làm việc bình quân trên đầu người
01 UBND tổnh 70 34,6
02 HẹND tổnh 20 21
03 Sở KHĐT 42 23,6
04 Sở TCVG 52 14,1
05 Sở Y tế 34 62
06 Sở Giáo Dục 64 33,5
07 Sở Công Nghiệp 29 8,8
08 Sở Nông Nghiệp 42 48,7
09 Sở Thương Mại 29 8,5
10 Sở KHCN & MT 31 33,1
11 Sở TDTT 18 80,2
12 Sở VHTT 20 26,5
13 UBBV chăm sóc trẻ em 11 21,9
14 UBDS & KHH gia ủỡnh 16 20,25
Theo kết quả kiểm kê xe ô tô con khu vực hành chánh sự nghiệp toàn tỉnh An giang đến năm 1995 mới nắm được 187 xe ô tô con với giá trị còn lại là 21 tỷ đồng ( theo giá trị trên sổ sách kế toán của đơn vị ). Thực trạng quản lý, sử dụng loại tài sản này trong khu vực hành chánh sự nghiệp có những điểm chủ yếu sau :
- Phần lớn xe ô tô con được mua sắm sau năm 1986 ( chiếm khoảng 85% số xe hiện có ), chất lượng xe còn mới, giá trị còn lại xấp xỉ bằng 70% so với nguyên giá
trên sổ sách, nhìn chung các phương tiện trên đáp ứng được yêu cầu công tác, có trình độ kỹ thuật tiến bộ nhiều so với thời kỳ trước.
- Việc mua sắm xe ôtô thuộc các ngành, các cấp không theo tiêu chuẩn định mức mà tùy thuộc vào khả năng nguồn kinh phí của từng đơn vị. Kết quả là : đơn vị nào có tiền nhiều thì mua sắm nhiều, đơn vị nào có tiền ít thì mua sắm ít, điều này dẫn đến sự chênh lệch quá lớn giữa các cơ quan về bình quân số cán bộ công nhân viên sử dụng đầu xe, được thể hiện qua bảng phân tích sau :
Bieồu soỏ 3 :
BẢNG PHÂN TÍCH SỐ CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN BÌNH QUÂN TRÊN 1 XE ĐVT : người/xe ST
T
Tên cơ quan Số cán bộ – công nhân viên HCSN
Bình quaân treân 1xe
01 Sở KHĐT 42
02 Sở TCVG 52
03 Sở Y tế 17
04 Sở Giáo dục 64
05 Sở Công Nghiệp 29
06 Sở Nông Nghiệp 21
07 Sở Thương Mại 29
08 Sở KHCN & MT 15
09 Sở TDTT 18
10 Sở Địa Chính 25
11 UBBV chăm sóc trẻ em 11
12 Sở LĐTB & XH 21
13 Sở Xây Dựng 19
1.2. Thực trạng quản lý tài sản công là kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng :
Tài sản kết cấu hạ tầng được hình thành từ nhiều thế hệ của người Việt Nam xây dựng. Kế thừa tài sản đó, trong các năm qua tỉnh An giang đã không ngừng đầu tư, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới nhiều công trình kết cấu hạ tầng để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước, phục vụ cho việc không ngừng nâng cao điều kiện sống của mọi thành viên trong xã hội. Việc đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình kết cấu hạ tầng được thực hiện theo quy định của Điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản ban hành theo Nghị định số 385/HĐBT ngày 07/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định số 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ thay thế Nghị định số 385/HĐBT. Trong đó, ngành tài chính có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế quản lý vốn, bố trí vốn, quản lý và cấp pháp vốn ngân sách nhà nước.
Việc quản lý khai thác và sử dụng các công trình hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng do các Sở, ngành chức năng thực hiện :
- Các công trình giao thông do ngành giao thông quản lý có các chuyên ngành : quản lý đường bộ, bến cảng, cầu đường ...
- Các công trình thủy lợi do ngành thủy lợi quản lý có ngành quản lý đê điều, trạm bơm nước ...
- Các công trình thuộc kết cấu hạ tầng đô thị do cơ quan quản lý hạ tầng đô thị của địa phương quản lý...
Để quản lý, khai thác và sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, các cơ quan quản lý chuyên ngành thực hiện phân cấp quản lý giữa trung ương và địa phương phổ biến là công trình được xây dựng từ nguồn vốn nào thì do cấp đó quản lý. Ví dụ đường quốc lộ do Cục đường bộ - Bộ giao thông vận tải quản lý, đường tỉnh lộ, đường