1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp đổi mới quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học vinh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

92 982 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp đổi mới quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Vinh
Tác giả Đinh Văn Đức
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa Học Giáo Dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 570,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH ĐINH VĂN ĐỨC MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐINH VĂN ĐỨC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

Mặt khác, trong nhiều năm qua, công tác quản lý sinh viên được coitrọng theo cách truyền thống, chúng ta lo chỉ tập trung quản lý số lượngsinh viên có mặt trên lớp, mà thời gian của sinh viên lên lớp thì quá nhỏ sovới tổng thời gian sinh hoạt trong ngày của sinh viên bởi vì hiện tại chúng

ta đang thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ Hơn thế việc đánh giá sinhviên còn dựa vào nhiều tiêu chí như: chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, ýthức tham gia các hoạt động tập thể, ý thức rèn luyện bản thân, chế độ chínhsách Vì thế, tìm được giải pháp nâng cao việc quản lý sinh viên là tìm chìakhoá để mở cửa mảng dịch vụ này

Vấn đề công tác quản lý sinh viên được Nhà trường hết sức quan tâm,thể hiện trong nghị quyết của các Đại hội đảng bộ Trường Đại học Vinhkhoá 30 Với số lượng trên 30 000 học sinh, sinh viên, việc quản lý còn cónhiều bất cập so với yêu cầu Đây là bài toán khó đối với Nhà trường, cáckhoa đào tạo, và các nhà Quản lý giáo dục Việc quản lý học sinh sinh viênlại gặp nhiều khó khăn hơn khi Trường chuyển từ hình thức đào tạo theoniên chế sang hình thức đào tạo theo tín chỉ

Những vấn đề trên đây làm nảy sinh nhiều vấn đề lý luận cần giải

quyết Đó là lý do chúng tôi chọn vấn đề: “Một số giải pháp đổi mới quản

lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Vinh”

làm đề tài nghiên cứu

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý sinhviên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể: Công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tínchỉ ở Trường Đại học Vinh

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp đổi mới quản lý sinh viêntrong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất các giải pháp có tính khả thi, khoa học và áp dụng đượcthì sẽ nâng cao được hiệu quả công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theohọc chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý sinh viên trong đào tạotheo học chế tín chỉ ở trường đại học

5.2 Nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý sinh viên trong đàotạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh

5.3 Đề xuất một số giải pháp đổi mới quản lý sinh viên trong đào tạo theohọc chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, khái quát các tài liệu nghiên cứu lý luận, các văn bản nghịquyết của Đảng, Nhà nước và các quy chế, quy định của ngành giáo dục vàđào tạo có liên quan đến đề tài

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp điều tra qua các phiếu xin ý kiến

- Phương pháp đàm thoại, phương pháp chuyên gia: Trao đổi, phỏngvấn trực tiếp cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên, chính quyền địa phương,

Trang 4

cảnh sát khu vực, các hộ kinh doanh phòng trọ sinh viên nhằm thu thậpthêm thông tin bổ sung cho phần nghiên cứu thực trạng

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu thực tiễn để rút ranhững kết luận và bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý sinh viêntrong đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm đạt hiệu quả cao nhất

6.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

7 Đóng góp của luận văn

- Về lý luận: Nêu và hệ thống hoá các cơ sở lý luận của công tác quản

lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ

- Về thực tiễn: Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lýsinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có

3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài.

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh.

Chương 3 Một số giải pháp đổi mới công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường Đại học Vinh.

Trang 5

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO

THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Công tác quản lý sinh viên là một mảng lớn của công tác quản lý nhàtrường, do đó nó luôn được các nhà nghiên cứu giáo dục trong và ngoàinước, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp quan tâm

1.1.1 Ở nước ngoài

Đào tạo theo học chế tín chỉ đã được áp dụng ở nhiều nước trên thếgiới từ đầu thế kỷ XX Nó được áp dụng rộng rãi nhất ở Hoa Kỳ, Canađa,Nhật Bản, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, Ấn Độ,Sênêgan, Môzămbích Trong quá trình vận hành nhiều vấn đề về nội dung,cách thức của phương thức đào tạo mới này đã được bổ sung, sửa đổi đểphù hợp với đặc điểm mỗi vùng miền, mỗi thời kỳ lịch sử Song song vớiviệc triển khai phương thức đào tạo, công tác quản lý sinh viên cũng đượccác trường đại học các nước quan tâm, cải tiến và hoàn thiện các quy trình

Các trường đại học trên thế giới khi chuyển sang phương thức đàotạo này cũng gặp phải những khó khăn như ở nước ta nói chung, ở TrườngĐại học Vinh nói riêng bởi đào tạo theo học chế tín chỉ hoàn toàn khác vớiđào tạo theo niên chế Do đó, khâu nghiên cứu, cải tiến quy trình đào tạo vàquản lý sinh viên cũng được các trường thực hiện ngay từ đầu Trong đó, đã

có hàng trăm công trình nghiên cứu để tìm ra các mô hình quản lý sinh viênhiệu quả, sát với sứ mạng của các trường nêu trên

Tuy nhiên, do tình hình chính trị, xã hội, kinh tế của mỗi nước mộtkhác, đặc điểm của mỗi trường đại học một khác, nên những quy trình,những cách thức của các nhà nghiên cứu thế giới đã làm không thể áp dụngđược vào điều kiện của Việt Nam hiện nay

Trang 6

1.1.2 Ở trong nước

Ở nước ta, trước khi thống nhất đất nước, một số trường đại học ởmiền Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Hoa Kỳ đã áp dụng đào tạotheo hệ thống tín chỉ như: Viện Đại học Cần Thơ, Viện đại học Thủ Đức

Từ cuối năm 1986 khi miền Bắc chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tậptrung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dụcđại học ở nước ta cũng có nhiều thay đổi Hội nghị Hiệu trưởng các trường đạihọc tại Nha Trang hè 1987 đã đưa ra nhiều chủ trương đổi mới giáo dục đạihọc, trong đó có chủ trương triển khai trong các trường đại học qui trình đàotạo 2 giai đoạn và môdun-hoá kiến thức Theo đó, học chế học phần ra đời vàchính thức được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và caođẳng nước ta từ năm 1988 Học chế học phần có các đặc điểm cơ bản là tíchluỹ dần kiến thức, mô đun hoá kiến thức thành các học phần một cách khá trọnvẹn và không quá lớn để có thể lắp ghép với nhau, tạo nên một chương trìnhđào tạo dẫn đến một văn bằng mà người học có thể tích luỹ dần trong quá trìnhhọc tập Để đo lường kiến thức theo khối lượng lao động học tập của ngườihọc, khái niệm đơn vị học trình được đưa vào

Từ năm 1993, học chế tín chỉ đã được thực hiện ở Trường Đại họcBách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là các trường Đại học Khoa học

Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại họcBách khoa Đà Nẵng, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,Đại học Thăng Long Hà Nội, Đại học Đà Lạt, Đại học Thủy sản Nha Trang,Đại học Cần Thơ

Năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế đào tạo đạihọc và cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ (số 43/2007/QĐ-BG&DĐT), chính thức mở ra hướng đào tạo theo hệ thống tín chỉ trênphạm vi toàn quốc

Song, đến nay Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn chưa ban hành Quy chếHọc sinh – sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, nên công tác quản

Trang 7

lý sinh viên ở mỗi trường học áp dụng tín chỉ lại có một hướng đi khácnhau Và cho đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào có công trình nghiêncứu toàn diện về công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ học chếtín chỉ mà chỉ là những công trình nghiên cứu, những bài viết, những sángkiến kinh nghiệm được trích đăng tại các hội thảo do Bộ Giáo dục và Đàotạo cũng như Ban Liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam (VUN)

- Bài tham luận “Phát huy tính chủ động và tự giác của sinh viêntrong quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ” của PGS.TS Võ Xuân Đàn,Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học Thành phố Hồ Chí Minh

- Bài tham luận “Đại học công lập, quản lý sinh viên trong đào tạotheo học chế tín chỉ như thế nào?” của ThS Nguyễn Cao Đạt, Trường Đạihọc Cửu Long…

- Luận văn thạc sĩ “ Quản lý sinh viên trong đào tạo tín chỉ” của tácgiả Lê Công Đức, Trường Đại hoc Vinh

Những tài liệu, bài báo này đang mang tính cung cấp thông tin chưamang tính hệ thống, toàn diện về công tác quản lý sinh viên trong đào tạotheo hệ thống tín chỉ

Trường Đại học Vinh triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ từ học

kỳ II năm học 2007 – 2008 Vấn đề quản lý sinh viên cũng đã được đề cậptrong một số sáng kiến kinh nghiệm do công đoàn trường tổ chức Côngtrình – luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục của tác giả Nguyễn Quốc Dũng -

“Một số mô hình hoạt động Đoàn, Hội trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở

Trang 8

Trường Đại học Vinh” là công trình khoa học đã đề cập đến vấn đề này ởTrường Đại học Vinh cho đến thời điểm hiện nay

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1 Khái niệm về quản lý:

Khái niệm quản lý được hình thành từ xa xưa, khi loài người xuấthiện sự hợp tác, phân công lao động Quản lý là các hoạt động do một haynhiều người điều phối hoạt động của người khác nhằm đạt mục tiêu đã định

trước Mác nói: "Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Một người độc tấu vĩ cầm

tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng".

Giáo trình khoa học quản lý (T1.NXB khoa học kỹ thuật Hà Nội

1999) ghi: "Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình

thành công việc qua nỗ lực của người khác" Có tác giả lại quan niệm:

Quản lý là một quá trình hoạt động có định hướng, có tổ chức dựa trên cácthông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vậnhành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định [1]

Hiện nay, quản lý được hiểu là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chứcbằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉđạo (lãnh đạo) và kiểm tra

Như vậy, có thể khái quát: quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển,hướng dẫn hoạt động của một nhóm (hay nhiều nhóm) xã hội cùng thựchiện những nhiệm vụ và mục đích chung [16]

Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạtđộng nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản

lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành

vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theonhững mục tiêu đã định

Trang 9

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.

1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục:

Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có ý thức, hợp quiluật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệthống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống Giáo dục vận hành bình thường

và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng nhưchất lượng

Nói cách khác: quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủđích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên,nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoàinhà trường nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu giáo dục

1.2.1.3 Khái niệm quản lý Nhà trường:

Trước tiên để hiểu về khái niệm quản lý Nhà trường ta hiều thế nào làkhái niệm Nhà trường Vậy, Nhà trường là một thiết chế xã hội trong đódiễn ra quá trình giáo dục Nhà trường là một bộ phận của cộng đồng xã hội

và trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở Nói cách khác:Quản lý Nhà trường là hệ thống những tác động của chủ thể quản lý có chủđích, có kế hoạch đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện tốt mục đích củachủ thể quản lý

Giáo dục là quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách còn đào tạo làhướng vào một nghề nhất định Xuất phát từ đó trong trường phổ thôngngười ta hay nói đến giáo dục còn trong các trường chuyên nghiệp người tanói đến đào tạo

+ Các thành tố đề tạo nên Nhà trường gồm:

- Mục tiêu giáo dục, đào tạo

- Nội dung giáo dục, đào tạo

- Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đào tạo

- Lực lượng giáo dục, đào tạo (giáo viên, cán bộ - công chức)

- Đối tượng giáo dục, đào tạo

- Điều kiện giáo dục, đào tạo

Trang 10

- Điều kiện đào tạo.

- Quy chế, nội quy

- Bộ máy tổ chức quản lý

- Môi trường đào tạo

+ Nội dung của quản lý nhà trường (công tác quản lý nhà trường thể hiệntrên 2 lĩnh vực):

Lĩnh vực 1: Quản lý các mối quan hệ bên trong nhà trường:

- Quản lý quá trình giáo dục

- Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị trường học

- Quản lý hành chính, tài chính

- Quản lý nhân sự (giáo viên, cán bộ, công chức và học sinh, sinh viên)Lĩnh vực 2: Quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với môi trường

xã hội:

- Quản lý về kinh tế: Nhà trường có thể khai thác các nguồn lực trong

xã hội để thu hút ngân sách địa phương để bổ sung kinh phí cho các hoạtđộng giáo dục – đào tạo,…

- Quản lý về kỹ thuật – công nghệ: Mọi thành tựu về khoa học vàcông nghệ đều có ảnh hưởng đến nhà trường

- Quan hệ chính trị - pháp luật, …

1.2.2 Sinh viên

a) Khái niệm

Đến nay có rất nhiều tác giả định nghĩa về sinh viên, như:

+ Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm định nghĩa về sinh viên như sau:

“ Đối với người Việt Nam chúng ta hai tiếng sinh viên luôn gợi lên cái gì

đó trong sáng, tốt đẹp Đó là thế hệ quá sớm để được coi là từng trải, dàydặn, nhưng cũng quá muộn để coi là non nớt, thơ ấu Thế hệ sinh viên đứnggiữa hai cái đó Họ nhìn đời một cách nghiêm túc mà không mất vẻ trẻtrung, hồn nhiên, họ là thế hệ của học hỏi, rèn luyện, ước mơ Họ là tuổi trẻcuủa con người, thế hệ đẹp của một thời đại”

Trang 11

+ Kamila (Cộng hòa Séc ):

“Sinh viên là người đến trường để học một cái gì đó Có nhiều loạisinh viên: Họ đến trường vì họ phải đến, họ đến trường vì chằng có việc gìphải làm và môt nhóm khác là đến trường vì thực sự muốn được một cái gì

đó, vì họ biết sẽ không có tương lai nếu không học”

+ Sinh viên là tất cả những người cần học cái gì đó và không ngại bỏ công

để theo đuổi tri thức

+ Con người là sinh viên suốt cuộc đời mình; Học để hỏi/biết (study tolearn) và học hỏi chính là sống

Mặc dầu có nhiều tác giả định nghĩa về sinh viên, song chưa có mộttác giả nào đưa ra khái niệm sinh viên một cách đầy đủ cả về nội hàm vàngoại diên

Theo chúng tôi sinh viên là những người đang học tập, nghiên cứu ởcác trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và được cấp bằng

Cử nhân

Theo Quy chế Công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo(Ban hành kèm theo Quyết định số 1584/GD- ĐT ngày 27 tháng 7 năm

1993 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) nêu rõ: “Người đang học

trong hệ đại học và cao đẳng gọi là sinh viên” [2]

b Sinh viên có nhiệm vụ:

- Thực hiện nhiệm vụ học tập theo mục tiêu, chương trình và kếhoạch giáo dục của nhà trường;

- Kính trọng nhà giáo, cán bộ quản lý, công nhân viên của nhà trường

và cơ sở giáo dục khác; tuân thủ pháp luật của nhà nước; thực hiện nội quy,điều lệ nhà trường

- Rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân và bảo vệ môi trường

- Giữ gìn và bảo vệ tài sản nhà trường

- Tham gia lao động công ích và hoạt động xã hội ở địa phương

Trang 12

- Góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống của nhàtrường, cơ sở giáo dục khác

c Quyền, nghĩa vụ và những hành vi sinh viên không được làm:

* Quyền của sinh viên:

- Được nhận vào học đúng ngành nghề đã đăng ký dự tuyển nếu đủ các

điều kiện trúng tuyển theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường

- Được nhà trường tôn trọng và đối xử bình đẳng; được cung cấp đầy

đủ thông tin cá nhân về việc học tập, rèn luyện theo quy định của nhàtrường; được nhà trường phổ biến nội quy, quy chế về học tập, thực tập, thitốt nghiệp, rèn luyện, về chế độ chính sách của Nhà nước có liên quan đếnsinh viên

- Được tạo điều kiện trong học tập và rèn luyện, bao gồm:

+ Được sử dụng thư viện, các trang thiết bị và phương tiện phục vụ cáchoạt động học tập, thí nghiệm, nghiên cứu khoa học, văn hoá, văn nghệ, thểdục, thể thao;

+ Được tham gia nghiên cứu khoa học, thi sinh viên giỏi, thi Olympiccác môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ;

+ Được chăm lo, bảo vệ sức khoẻ theo chế độ hiện hành của Nhà nước; + Được đăng ký dự tuyển đi học ở nước ngoài, học chuyển tiếp ở cáctrình độ đào tạo cao hơn theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo;+ Được tạo điều kiện hoạt động trong tổ chức Đảng Cộng sản ViệtNam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội Liên hiệpThanh niên Việt Nam; tham gia các tổ chức tự quản của sinh viên, các hoạtđộng xã hội có liên quan ở trong và ngoài nhà trường theo quy định củapháp luật; các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao lành mạnh, phù hợpvới mục tiêu đào tạo của nhà trường;

+ Được nghỉ học tạm thời, tạm ngừng học, học theo tiến độ chậm, tiến

độ nhanh, học cùng lúc hai chương trình, chuyển trường theo quy định của

Trang 13

quy chế về đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo; được nghỉ hè, nghỉ tết,nghỉ lễ theo quy định.

- Được hưởng các chế độ, chính sách ưu tiên theo quy định của Nhànước; được xét nhận học bổng do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướctài trợ; được miễn giảm phí khi sử dụng các dịch vụ công cộng về giaothông, giải trí, tham quan viện bảo tàng, di tích lịch sử, công trình văn hoátheo quy định của Nhà nước

- Được trực tiếp hoặc thông qua đại diện hợp pháp của mình kiến nghịvới nhà trường các giải pháp góp phần xây dựng nhà trường; được đề đạtnguyện vọng và khiếu nại lên Hiệu trưởng giải quyết các vấn đề có liênquan đến quyền, lợi ích chính đáng của sinh viên

- Được xét tiếp nhận vào ký túc xá theo quy định của trường Việc ưutiên khi sắp xếp vào ở ký túc xá theo quy định tại Quy chế công tác HSSVnội trú của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Sinh viên đủ điều kiện công nhận tốt nghiệp được nhà trường cấpbằng tốt nghiệp, bảng điểm học tập và rèn luyện, hồ sơ sinh viên, các giấy

tờ có liên quan khác và giải quyết các thủ tục hành chính

- Được hưởng chính sách ưu tiên của Nhà nước trong tuyển dụng vàocác cơ quan Nhà nước nếu tốt nghiệp loại giỏi, rèn luyện tốt và được hưởngcác chính sách ưu tiên khác theo quy định về tuyển dụng cán bộ, công chức,viên chức [3]

* Nghĩa vụ của sinh viên:

- Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

và các quy chế, nội quy, điều lệ nhà trường

- Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên của nhà trường; đoàn kết,giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình học tập và rèn luyện; thực hiện tốt nếpsống văn minh

- Giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường; góp phần xây dựng, bảo vệ

và phát huy truyền thống của nhà trường

Trang 14

- Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạchgiáo dục, đào tạo của nhà trường; chủ động tích cực tự học, nghiên cứu,sáng tạo và tự rèn luyện đạo đức, lối sống.

- Thực hiện đầy đủ quy định về việc khám sức khoẻ khi mới nhập học vàkhám sức khoẻ định kỳ trong thời gian học tập theo quy định của nhà trường

- Đóng học phí đúng thời hạn theo quy định

- Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trườngphù hợp với năng lực và sức khoẻ theo yêu cầu của nhà trường

- Chấp hành nghĩa vụ làm việc có thời hạn theo sự điều động của Nhànước khi được hưởng học bổng, chi phí đào tạo do Nhà nước cấp hoặc donước ngoài tài trợ theo Hiệp định ký kết với Nhà nước, nếu không chấphành phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo theo quy định

- Tham gia phòng, chống tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử và cáchoạt động khác của sinh viên, cán bộ, giáo viên; kịp thời báo cáo với khoa,phòng chức năng, Hiệu trưởng nhà trường hoặc các cơ quan có thẩm quyềnkhi phát hiện những hành vi tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử hoặcnhững hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế khác của sinhviên, cán bộ, giáo viên trong trường

- Tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn ma tuý, mại dâm và các tệnạn xã hội khác

* Các hành vi sinh viên không được làm:

- Xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ,nhân viên nhà trường và học sinh, sinh viên khác

- Gian lận trong học tập như: quay cóp, mang tài liệu vào phòng thi, xinđiểm; học, thi, thực tập, trực hộ người khác hoặc nhờ người khác học, thi, thựctập, trực hộ; sao chép, nhờ hoặc làm hộ tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp;

tổ chức hoặc tham gia tổ chức thi hộ hoặc các hành vi gian lận khác

- Hút thuốc, uống rượu, bia trong giờ học; say rượu, bia khi đến lớp

- Gây rối an ninh, trật tự trong trường hoặc nơi công cộng

Trang 15

- Tham gia đua xe hoặc cổ vũ đua xe trái phép.

- Đánh bạc dưới mọi hình thức

- Sản xuất, buôn bán, vận chuyển, phát tán, tàng trữ, sử dụng hoặc lôikéo người khác sử dụng vũ khí, chất nổ, các chất ma tuý, các loại hoá chấtcấm sử dụng, các tài liệu, ấn phẩm, thông tin phản động, đồi trụy và các tàiliệu cấm khác theo quy định của Nhà nước; tổ chức, tham gia, truyền bá cáchoạt động mê tín dị đoan, các hoạt động tôn giáo trong nhà trường và cáchành vi vi phạm đạo đức khác

- Thành lập, tham gia các hoạt động mang tính chất chính trị trái phápluật; tổ chức, tham gia các hoạt động tập thể mang danh nghĩa nhà trườngkhi chưa được Hiệu trưởng cho phép [6]

d Vị trí, vai trò của sinh viên trong quá trình đào tạo:

Sinh viên là nhân vật trung tâm trong các học viện đại học, cáctrường đại học, cao đẳng Trọng tâm hoạt động của bộ máy chính quyền,các tổ chức Đảng, Đoàn, Hội Sinh viên trong nhà trường dưới sự chỉ đạocủa Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các Ban,Ngành ở trung ương, của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương đềuhướng vào nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất của các trường là giáo dục,rèn luyện sinh viên

Công tác sinh viên trong các trường đào tạo là một trong những côngtác trọng tâm của Hiệu trưởng nhà trường Hiệu trưởng các trường đào tạochịu trách nhiệm tất cả các khâu trong công tác sinh viên, tạo điều kiện đểsinh viên thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình

Làm tốt công tác sinh viên có ý nghĩa tiên quyết đối với việc thựchiện thắng lợi các nhiệm vụ của nhà trường

1.2.3 Quản lý sinh viên

Khái niệm về quản lý sinh viên:

Quản lý sinh viên là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉhuy) hợp quy luật của chủ thể quản lý (ở đây gồm có nhà trường, gia đình,

Trang 16

xã hội, trong đó vai trò nhà trường là quan trọng nhất) đến sinh viên trong

và ngoài trường học làm cho nhà trường vận hành đạt hiệu quả mong muốn

và đạt được các mục tiêu đề ra

Công tác quản lý sinh viên, dưới khía cạnh là những phương diệnhoạt động công ích của nhà trường nhằm quản lý, tư vấn, hướng dẫn, trợgiúp sinh viên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình học tậptại trường

Công tác quản lý sinh viên bao gồm tất cả tiện ích do nhà trườngcung cấp nhằm tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện quyền và nghĩa vụ củamình từ khi trúng tuyển vào trường cho đến khi ra trường; từ hoạt động họctập của sinh viên cho đến hoạt động rèn luyện đạo đức, nhân cách, thể chất;

từ việc sinh viên thực hiện những quy định bắt buộc cho đến việc chủ động,tích cực thực hiện trong điều kiện cho phép sinh viên lựa chọn, yêu cầu

1.2.4 Đào tạo theo học chế tín chỉ

Khái niệm đào tạo: là các hoạt động truyền tải thông tin, dữ liệu từ

người ngày (giảng viên hoặc huấn luyện viên) sang người khác (học viên),kết quả có sự thay đổi về kiến thức, kỹ năng và thái độ từ mức độ thấp đếnmức độ cao hơn

1.2.4.1 Tín chỉ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ

1.2.4.1.1 Tín chỉ và học phần

a) Tín chỉ:

Tín chỉ (credit) là đơn vị căn bản để đo khối lượng kiến thức và đánh

giá kết quả học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiếthọc lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờthực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoáluận tốt nghiệp

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếpthu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân

Trang 17

Tùy từng trường mà số tiết, số giờ học đối với từng học phần được quyđịnh riêng nhằm phù hợp với đặc điểm của trường.

Đối với những chương trình, khối lượng của từng học phần đã được tínhtheo đơn vị học trình thì 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.Người ta thường chia ra 2 loại tín chỉ: Tín chỉ học tập và Tín chỉ học phí

Tín chỉ học tập là đơn vị quy chuẩn để lượng hoá khối lượng kiến thức

và khối lượng học tập, giảng dạy trong quy trình đào tạo Tín chỉ học tậpcũng là đơn vị để đo lường tiến độ học tập của sinh viên [17]

Tín chỉ học phí là đơn vị dùng để lượng hoá chi phí hoạt động giảng

dạy, học tập tính cho từng học phần (kể cả học phần Giáo dục thể chất vàGiáo dục quốc phòng) Học phí được xác định căn cứ theo số học phần, loạihọc phần của ngành học mà sinh viên được xếp thời khoá biểu trong học kỳ

và bằng tổng số tín chỉ học phí của các học phần nhân với mức tiền học phícủa tín chỉ học phí Hệ số tín chỉ học phí cho các loại học phần, ngành học

do Hiệu trưởng quy định [17, Đ2]

Hoạt động dạy - học một học phần gồm một hay kết hợp một số trongcác hình thức: lý thuyết, thực hành, bài tập, thí nghiệm, thực tập, tiểu luận,

đồ án, khoá luận tốt nghiệp

Học phần có mã số riêng và số tín chỉ xác định Mỗi học phần đều có đềcương chi tiết Đề cương chi tiết học phần được Hội đồng khoa học và đào tạokhoa phê duyệt và công bố cùng chương trình đào tạo, được giảng viên phụ tráchhọc phần thông báo cho sinh viên trong buổi học đầu tiên của học phần [17]

Trang 18

Có 2 loại học phần chính là học phần bắt buộc và học phần tự chọn, cụthể:

- Học phần bắt buộc là học phần trong chương trình đào tạo chứa đựngnhững nội dung chính yếu của ngành và chuyên ngành đào tạo mà sinh viênbắt buộc phải hoàn thành đạt yêu cầu để được xét công nhận tốt nghiệp

- Học phần tự chọn (nhóm học phần tự chọn) là học phần trongchương trình đào tạo chứa đựng những nội dung cần thiết cho định hướngnghề nghiệp mà sinh viên có thể lựa chọn đăng ký học Để đủ điều kiệncông nhận tốt nghiệp, sinh viên phải hoàn thành đạt yêu cầu một số họcphần nhất định để tích luỹ đủ số tín chỉ tối thiểu Nếu không đạt học phần tựchọn nào đó, sinh viên có quyền chọn đăng ký học lại học phần đó hoặc họcphần khác cùng nhóm [17]

Ngoài ra còn có các loại học phần thay thế, học phần tiên quyết, họcphần học trước

- Học phần thay thế là học phần được sử dụng khi một học phần cótrong chương trình đào tạo nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa vàđược thay thế bằng học phần khác đang tổ chức giảng dạy

Học phần thay thế do khoa chuyên ngành đề xuất có thể được ápdụng cho các khoá, ngành hoặc áp dụng hạn chế cho một số khoá, ngành

- Học phần tiên quyết: Học phần A là học phần tiên quyết đối với họcphần B, khi đăng ký học phần B sinh viên phải tích luỹ đạt học phần A

- Học phần học trước: Học phần A là học phần học trước của họcphần B, khi đăng ký học học phần B sinh viên phải được xác nhận học xonghọc phần A (có thể chưa đạt) [17]

1.2.4.1.2 Đào tạo theo hệ thống tín chỉ

a) Sơ lược về lịch sử đào tạo theo học chế tín chỉ trên thế giới và ở Việt Nam:

Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinhviên có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường

Trang 19

đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu củathực tiễn cuộc sống, vào năm 1872 Charle Eliot - Viện trưởng Viện Đại họcHarvard đã đề xuất một quy trình đào tạo mới gọi là giải pháp mô đun hoácác môn học được cung cấp trong trường đại học để sinh viên có thể lựachọn một tổ hợp môn học thích hợp nhằm cấu thành một chương trình đàotạo để có thể nhận được văn bằng tốt nghiệp, mở ra hình thức đào tạo theophương pháp tín chỉ.

Vào đầu thế kỷ XX, học chế tín chỉ được áp dụng rộng rãi hầu nhưtrong mọi trường đại học ở Hoa Kỳ Tại Trung Quốc, từ cuối thập niên 80(thế kỷ XX) đến nay, hệ thống học chế tín chỉ cũng lần lượt được áp dụng ởnhiều trường đại học Ở Châu Âu, năm 1999 Tuyên ngôn Boglona được đềxướng Nội dung quan trọng là triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn

hệ thống giáo dục đại học nhằm tạo thuận lợi cho việc cơ động, liên thônghoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới Đếnnay, Tuyên ngôn đã được ký bởi Bộ trưởng của 45 nền giáo dục đại học

Ở Việt Nam, trước khi thống nhất nước nhà một số trường đại học ởmiền Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Hoa Kỳ đã áp dụng đào tạotheo hệ thống tín chỉ như: Viện Đại học Cần Thơ (nay là Đại học Cần Thơ),Viện đại học Thủ Đức

Từ năm 1993, học chế tín chỉ đã được thực hiện ở Trường Đại họcBách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là các trường Đại học Khoa học

Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Xây dựng Hà Nội, Đại họcBách khoa Đà Nẵng, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,Đại học Thăng Long Hà Nội, Đại học Đà Lạt, Đại học Thủy sản Nha Trang,Đại học Cần Thơ Ở Trường Đại học Vinh, việc chuyển sang đào tạo theohọc chế tín chỉ bắt đầu thực hiện từ học kỳ II năm học 2007 – 2008, đến naymới chỉ diễn ra trên thực tế 2 năm (2008, 2009), đã đem lại một số hiệu quảnhất định trong công tác giáo dục, đào tạo

b) Đặc điểm của học chế tín chỉ

Trang 20

* Đặc điểm chung:

- Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên đạt được văn bằng đại học quaviệc tích luỹ các loại tri thức giáo dục khác nhau được đo lường bằng một

đơn vị xác định, căn cứ trên khối lượng lao động học tập trung bình của

một sinh viên, gọi là tín chỉ Để đạt bằng cử nhân sinh viên thường phải tích

luỹ đủ 120 - 136 tín chỉ (Hoa Kỳ), 120 - 135 tín chỉ (Nhật Bản), 120 - 150tín chỉ (Thái Lan), v.v Để đạt bằng thạc sĩ học viên phải tích luỹ 30 - 36tín chỉ (Mỹ), 30 tín chỉ (Nhật Bản), 36 tín chỉ (Thái Lan)

Ở Châu Âu, người ta quy ước khối lượng lao động học tập ước chừng

của một sinh viên chính quy trung bình trong một năm học được tính bằng

60 tín chỉ.

- Khi tổ chức giảng dạy theo tín chỉ, đầu mỗi học kỳ, sinh viên đượcđăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ và phùhợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một chuyên mônchính nào đó Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, sinh viên có thể ghi tênhọc các môn liên ngành nếu họ thích Sinh viên không chỉ giới hạn học cácmôn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực,chẳng hạn sinh viên các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần phảihọc một ít môn khoa học xã hội, nhân văn và ngược lại

- Về việc đánh giá kết quả học tập, hệ thống tín chỉ dùng cách đánhgiá thường xuyên, và dựa vào sự đánh giá đó đối với các môn học tích luỹđược để cấp bằng cử nhân Đối với các chương trình đào tạo sau đại học,ngoài các kết quả đánh giá thường xuyên còn có các kỳ thi tổng hợp và cácluận văn

* Các ưu điểm của học chế tín chỉ:

Học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi nhờ

có nhiều ưu điểm Có thể tóm tắt các ưu điểm chính của nó như sau:

- Thứ nhất, có hiệu quả đào tạo cao:

Trang 21

Học chế tín chỉ cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiếnthức và kỹ năng của sinh viên để dẫn đến văn bằng Với học chế này, sinhviên được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựachọn cho mình tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàncảnh riêng của mình (học theo tiến độ nhanh, tiến độ chậm ) Điều đó đảmbảo cho quá trình đào tạo trong các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn,đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữacác cấp đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau.

- Thứ hai, có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao:

Với học chế tín chỉ, sinh viên có thể chủ động ghi tên học các họcphần khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượngcủa từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép sinh viên dễ dàng thay đổi ngànhchuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải họclại từ đầu

Với học chế tín chỉ, các trường đaị học có thể mở thêm ngành họcmới một cách dễ dàng khi có nhu cầu về thị trường lao động và tình hìnhlựa chọn ngành nghề của sinh viên

Với học chế tín chỉ, người học có cơ hội học cùng lúc hai chươngtrình để khi tốt nghiệp được cấp hai bằng đại học hệ chính quy, được chủđộng ựa chọn các môn học, thời gian học, lớp học phù hợp với năng lực, sởtrường, hoàn cảnh của mình

- Thứ ba, đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo:

Với học chế tín chỉ, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từnghọc phần chứ không phải theo năm học, do đó việc hỏng một học phần nào

đó không cản trở quá trình học tiếp tục, sinh viên không bị buộc phải quaylại học từ đầu Chính vì vậy giá thành đào tạo theo học chế tín chỉ thấp hơn

so với đào tạo theo niên chế

Nếu triển khai học chế tín chỉ các trường đại học lớn đa lĩnh vực cóthể tổ chức những môn học chung cho sinh viên nhiều trường, nhiều khoa,

Trang 22

tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra sinh viên có thể họcnhững môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau Cách tổ chức nói trên chophép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất chotừng môn học Kết hợp với học chế tín chỉ , nếu trường đại học tổ chứcthêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích luỹđược bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ mộttín chỉ tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng đại học

- Thứ tư, chấp nhận sinh viên giữa các trường đại học với nhau trên

cơ sở xem xét mức độ phù hợp với tín chỉ sinh viên đã tích luỹ được nhằmtạo khả năng cho sinh viên phát triển hết khả năng của mình theo năng lực

- Thứ năm, học chế tín chỉ tạo điều kiện để các trường đại học trong

nước mở các chương trình đào tạo liên kết với các trường đại học trong khuvực và trên thế giới theo một chuẩn thống nhất để sinh viên có thể hoànthành một số tín chỉ cần thiết trong giai đoạn đầu của chương trình đào tạotrong nước, sau đó mới ra nước ngoài tiếp tục học tập

* Các nhược điểm của học chế tín chỉ

- Thứ nhất, học chế tín chỉ cắt vụn kiến thức:

Phần lớn các mô đun trong học chế tín chỉ được quy định tương đốinhỏ, cỡ 3 hoặc 4 tín chỉ, do đó không đủ thời gian để trình bày kiến thức

Trang 23

thật sự có đầu, có đuôi, theo một trình tự diễn biến liên tục, từ đó gây ấntượng kiến thức bị cắt vụn Đây thật sự là một nhược điểm, và người tathường khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các mô đunquá nhỏ dưới 3 tín chỉ, và trong những năm cuối người ta thường thiết kếcác môn học hoặc tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để sinh viên có cơ hộiliên kết, tổng hợp các kiến thức đã học

- Thứ hai, học chế tín chỉ khó tạo nên sự gắn kết trong sinh viên:

Vì các lớp học theo mô đun (lớp tín chỉ) không ổn định, khó xâydựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học, do đó việcquản lý cũng như tổ chức các hoạt động nên việc tổ chức sinh hoạt đoàn thểcủa sinh viên có thể gặp khó khăn

c) Chủ trương của Đảng và Nhà nước về đào tạo theo hệ thống tín chỉ

- Luật Giáo dục năm 2005, "Điều 6, mục 4: Chương trình giáo dụcđược tổ chức thực hiện theo năm học đối với giáo dục mầm non và giáo dụcphổ thông; theo năm học hoặc theo hình thức tích luỹ tín chỉ đối với giáodục nghề nghiệp, giáo dục đại học" [15]

- Ngày 02/11/2005, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP

về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006

-2020 Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, với những giải pháp nhằm đổimới mạnh mẽ giáo dục đại học: Cơ cấu, hệ thống về mạng lưới cơ sở giáodục đại học, quy trình về nội dung, phương pháp đào tạo, xây dựng đội ngũgiảng viên và cán bộ quản lý, hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụngcủa các cơ sở đào tạo đại học, cơ chế tài chính nhằm đa dạng hoá nguồn lực

và nâng cao hiệu quả đầu tư của giáo dục đại học, đổi mới quản lý giáo dụcđại học theo hướng tăng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúcđẩy năng lực cạnh tranh của các trường đại học, nâng cao sức cạnh tranhcủa hệ thống giáo dục đại học trong quá trình hội nhập quốc tế Trong đó,Nghị quyết có nêu rõ: "Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độđào tạo học chế tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến

Trang 24

thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếptheo ở trong nước và ở nước ngoài".

- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số BGDĐT ngày 30/7/2001 về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi vàcông nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ

31/2001/QĐ Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học (banhành theo Quyết định số 38/2004/QĐ-BGDĐT ngày 2/12/2004 của Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo): Tiêu chuẩn 4, tiêu chí 2: "Thực hiện chế

độ công nhận kết quả học tập của người học (tích luỹ theo học phần);chuyển quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ "

Mức 1: Thực hiện chế độ tích luỹ kết quả học tập theo từng học phần

Có kế hoạch tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ

Mức 2: Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đi vào ổn định

- Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tínchỉ (ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 15 tháng

8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) [4]

- Ngày 19 tháng 05 năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có côngvăn số 7552/BGDĐT đồng ý để Trường Đại học Vinh tổ chức đào tạo theohọc chế tín chỉ từ khoá tuyển sinh năm 2007 (khoá 48) [4]

1.2.5 Khái niệm đổi mới, dổi mới quản lý nhà trường và đổi mới công tác quản lý sinh viên:

1.2.5.1 Khái niệm đổi mới:

Thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn, khắc phục tình trạng lạchậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển (ví dụ: Đổi mới cách làm ăn.Đổi mới tư duy), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội- 1994

Là các biện pháp mới, thích hợp nhằm giải quyết tốt các vấn đề liênquan đến sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Trường đại học Vinh

1.2.5.1 Khái niệm đổi mới quản lý Nhà trường:

Trang 25

Thay đổi hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quiluật của những người quản lý đến tập thể giáo viên, nhân viên, học sinh, cha

mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thựchiện có chất lượng mục tiêu của Nhà trường

1.2.5.2 Khái niệm đổi mới công tác quản lý sinh viên:

Biến đổi khác đi và theo chiều hướng hoàn thiện hệ thống những tácđộng, điều khiển, cách thức tổ chức thực hiện các hoạt động của học sinh,sinh viên

1.2.6 Giải pháp đổi mới quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học.

1.2.6.1 Giải pháp Theo Từ điển tiếng Việt thì “Giải pháp là phương pháp

giải quyết vấn đề cụ thể nào đó”.

1.2.6.2 Giải pháp quản lý sinh viên

Giải pháp quản lý là phương pháp quản lý một loại đối tượng haymột lĩnh vực nào đó

Giải pháp quản lý sinh viên là cách thức tác động hướng vào việcnâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý sinh viên nhằm thực hiệnđược mục đích, yêu cầu của nhà trường

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.3.1 Mục đích, yêu cầu công tác quản viên lý sinh:

a Mục đích

Công tác quản lý sinh viên là một trong những công tác trọng tâm củaHiệu trưởng nhà trường, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục là đàotạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ,thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực củacông dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [6]

Trang 26

Công tác quản lý sinh viên phải hướng vào thực hiện mục tiêu đàotạo chung của nhà trường là hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lựccông dân; đào tạo những người lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàulòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, có khả nănggóp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh, đưa đất nước tiến kịp thời đại [6, Đ.2].

b Yêu cầu của công tác quản lý sinh viên

- Sinh viên là nhân vật trung tâm trong nhà trường, được nhà trườngbảo đảm điều kiện thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong quá trình họctập và rèn luyện tại trường [3]

- Công tác quản lý phải thực hiện đúng đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước và các quy chế, quy định của Bộ Giáo dục và

Đào tạo.

- Công tác quản lý sinh viên phải bảo đảm khách quan, công bằng,công khai, minh bạch, dân chủ, tạo điều kiện cho sinh viên học tập, rènluyện và phát triển nhân cách, các năng lực của mình [3]

Nhà trường phải luôn coi sinh viên là trung tâm của mọi hoạt động, làđối tượng chính của mình Chính vì thế công tác nhà trường đều triển khaixung quanh công tác sinh viên, từ đó điều chỉnh các chính sách phù hợp vớinguyện vọng của sinh viên và chiến lược phát triển của nhà trường Một nhàtrường nếu không có sinh viên thì không thể hoạt động được Chính vì thếlãnh đào nhà trường phải lắng nghe ý kiến sinh viên, điều chỉnh các chínhsách phù hợp với sinh viên, quan tâm công tác quản lý sinh viên Do đó,công tác sinh viên nhất thiết phải triển khai xung quanh công tác trọng tâmcủa nhà trường, phải có những đóng góp cần thiết cho sự đào tạo người tài,nghiên cứu khoa học và phục vụ xã hội

Nếu làm tốt công tác quản lý sinh viên thì nhà trường sẽ được ổnđịnh và có điều kiện để cải cách và phát triển

1.3.2 Nội dung quản lý sinh viên

Trang 27

1.3.2.1 Công tác tổ chức hành chính

- Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của BộGiáo dục và Đào tạo và nhà trường, sắp xếp bố trí vào các lớp sinh viên; chỉđịnh Ban cán sự lớp lâm thời trong thời gian đầu khoá học; cấp phù hiệu vàthẻ cho sinh viên

- Tổ chức tiếp nhận sinh viên vào ở nội trú (nếu có)

- Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ sinh viên

- Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho sinh viên

- Giải quyết các công việc hành chính có liên quan đến sinh viên [3]

1.3.2.2 Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của sinh viên

- Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của sinh viên; phân loại,xếp loại sinh viên cuối mỗi học kỳ hoặc năm học, khoá học; tổ chức thi đua,khen thưởng cho tập thể và cá nhân sinh viên đạt thành tích cao trong học tập

và rèn luyện; xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm quy chế, nội quy [6]

- Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân – học sinh, sinh viên” vào đầukhoá học, đầu năm học và cuối khóa học

- Tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học,Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyếnkhích học tập khác

- Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lốisống cho sinh viên; tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động văn hoá,văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳgiữa Hiệu trưởng nhà trường với sinh viên

- Theo dõi công tác phát triển Đảng trong sinh viên; tạo điều kiệnthuận lợi cho sinh viên tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường;phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên và các tổ chức chínhtrị - xã hội khác có liên quan trong các hoạt động phong trào của sinh viên,tạo điều kiện cho sinh viên có môi trường rèn luyện, phấn đấu

- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho sinh viên [6]

Trang 28

1.3.2.3 Công tác y tế, thể thao

- Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học; tổ chức khám sức khoẻcho sinh viên khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khámsức khoẻ định kỳ cho sinh viên trong thời gian học tập theo quy định; xử lýnhững trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập

- Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho sinh viên luyện tập thể dục, thể thao;

tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động thể dục, thể thao

- Tổ chức nhà ăn tập thể cho sinh viên bảo đảm vệ sinh an toàn thựcphẩm [3]

1.3.2.4 Thực hiện các chế độ, chính sách đối với sinh viên

- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách do Nhà nước quy định đốivới sinh viên về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đàotạo và các chế độ khác có liên quan đến sinh viên

- Tạo điều kiện giúp đỡ sinh viên tàn tật, khuyết tật, sinh viên diệnchính sách, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn… có điều kiện học tập, sinhhoạt [16, Đ10]

1.3.2.5 Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội

- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bànnơi trường đóng, khu vực có sinh viên ngoại trú xây dựng kế hoạch đảmbảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn cho sinh viên; giải quyết kịp thời các

vụ việc liên quan đến sinh viên

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông,phòng chống tội phạm, phòng chống các tệ nạn xã hội như ma tuý, mạidâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác có liên quan đến sinh viên; hướngdẫn sinh viên chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế

- Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho sinh viên [6]

1.3.2.6 Thực hiện công tác quản lý sinh viên nội trú, ngoại trú

Trang 29

Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý sinh viên nội trú, ngoạitrú theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ.

+ Số lượng sinh viên đào tạo của Nhà trường nhiều, phòng học và cơ sở vậtchất không đảm bảo cho việc chia nhỏ lớp học phần, vì thế số sinh viên củacác lớp học phần lớn làm cho giáo viên giảng dạy và cán bộ lớp học phầngặp rất nhiều khó khăn trong việc giảng dạy, quản lý

+ Tổng quỹ thời gian đến trường học tập quá ít so với thời gian sinh hoạthàng ngày của sinh viên vì thế nhà trường và khoa gặp rất nhiều khó khăntrong công tác quản lý sinh viên ngoài giờ học

+ Do đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ trong mỗi lớp học phần có

sự tham gia học tập của sinh viên nhiều khoa, ngành vì thế đội ngũ quản lýsinh viên của các khoa và ban cán sự các lớp hành chính không thể quản lý

và theo dõi được sinh viên

+ Do cơ sở vật chất phục vụ cho đào tạo, ăn ở, KTX sinh viên không đủ nênsinh viên phải thuê ở ngoài trường và ở rải rác khắp các khối phường nênnhà trường và các khoa đào tạo nói chung, Trợ lý quản lý sinh viên nóiriêng gặp rất nhiều trong công tác quản lý, đánh giá ý thức của sinh viên.+ Do đào tạo theo học chế tín chỉ, lịch học cá nhân của sinh viên rải đềutrong ngày nên sinh viên gặp rất nhiều khó khăn trong các sinh hoạt tập thể

và tham gia các phong trào hoạt động do Nhà trường, Đoàn trường, Hộisinh viên, Khoa và lớp tổ chức

+ Mặt trái của xu thế hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa và cơ chế thị trường đãảnh hưởng và tác động không tích cực đến đạo đức, lối sống, bản lĩnh chínhtrị của sinh viên

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trang 30

Ở chương 1, chúng tôi đã đưa ra được một hệ thống những khái niệmliên quan đến đề tài mang tính lý luận về công tác quản lý sinh viên nóichung và quản lý sinh viên trong các trường đại học nói riêng Nó giúpchúng ta nhìn một cách tổng quan về các nhân tố trong quá trình quản lý,giáo dục sinh viên Xác định được vị trí vai trò của từng đối tượng để đề racác chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm thu được những kết quả quản lý,giáo dục tốt nhất đáp ứng yêu cầu của mục tiêu giáo dục – đào tạo mà Đảng

và Nhà nước đặt ra, đó là: đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,

có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lýtưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhâncách, phẩm chất và năng lực (trí tuệ và sức khỏe) cho sinh viên, chuẩn bịtâm thế, hành trang sinh viên đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế

Trang 31

Chương 2THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

2.1.1 Sơ lược về lịch sử phát triển

Ngày 16 tháng 7 năm 1959 theo Nghị định số 375/NĐ của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục cho phép thành lập phân hiệu Đại học sư phạm Vinh

Ngày 28/8/1962, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ra Quyết định số 637/QĐđổi tên Phân hiệu ĐHSP Vinh thành Trường ĐHSP Vinh

Trong những năm đế quốc Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại miềnBắc, cơ sở đầu tiên của Trường ở Thành phố Vinh bị máy bay địch némbom hư hỏng nặng nề, Trường phải đi sơ tán nhiều nơi từ Vinh ra Nghi Lộc,lên Thanh Chương (Nghệ An), ra Hà Trung rồi lên Thạch Thành (ThanhHoá), về Quỳnh Lưu và trở lên Yên Thành (Nghệ An) Sau Hiệp định Pari

về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết, tháng 5năm 1973 trường trở về Thành phố Vinh Trong những năm sơ tán, CBCC

và HSSV nhà trường đã chịu muôn vàn gian khổ: lương thực, thực phẩmthiếu thốn, nhiều lúc ăn khoai, sắn thay cơm, nhiều bữa măng rừng chấmmuối; văn phòng phẩm và thuốc men khan hiếm; phải vào rừng sâu đẵn gỗ,chặt luồng nứa về làm nhà ở và lán học, đêm đêm học dưới ánh đèn dầuhoặc dưới ánh trăng Tuy gian khổ, khó khăn, vất vả nhưng CBCC vàHSSV của nhà trường đã vượt qua tất cả Trường đã lớn lên qua những nămchiến tranh, góp phần xứng đáng vào chiến thắng chung của dân tộc, củađất nước [19]

Ngày 25/4/2001, trường ĐHSP Vinh vinh dự được Thủ tướng Chínhphủ quyết định đổi tên thành Trường Đại học Vinh

Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài và nâng cao dân trí để phát triển kinh tế - xã hội,

Trang 32

trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình kinh tế, xã hội của đất nước và tỉnhNghệ An, Đại hội đại biểu Đảng bộ trường Đại học Vinh lần thứ XXVIII(tháng 10/2003) đã khẳng định hướng phát triển của trường trong giai đoạn

mới là: “Giữ vững chất lượng đào tạo các ngành sư phạm, tranh thủ mọi

điều kiện đa dạng hoá loại hình đào tạo, quyết tâm đưa trường Đại học Vinh trở thành trung tâm văn hoá, khoa học của các tỉnh Bắc miền Trung

và cả nước” [27].

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

Trường Đại học Vinh là đơn vị hành chính sự nghiệp, trực thuộc BộGiáo dục và Đào tạo, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, có con dấu vàbiểu tượng riêng Quyết định số 62/2001/QĐ-TTg ngày 25/4/2001 của Thủtướng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ của Trường Đại học Vinh là đào tạogiáo viên có trình độ đại học và từng bước mở thêm các ngành đào tạo khácphù hợp với khả năng của trường và nhu cầu nhân lực của xã hội, nghiêncứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Quy hoạch xây dựng Trường Đại học Vinh đã xác định mục tiêu làxây dựng trường thành một cơ sở đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật đa lĩnhvực và là trung tâm nghiên cứu, tiếp thu và chuyển giao tiến bộ khoa học -công nghệ của khu vực Bắc Trung Bộ nhằm: đào tạo giáo viên và cán bộkhoa học đa ngành, đa cấp; nghiên cứu khoa học - công nghệ gắn với đàotạo, thông tin khoa học và triển khai các kết quả nghiên cứu vào sản xuất vàđời sống xã hội; hỗ trợ, tư vấn về học thuật và bồi dưỡng cán bộ, xây dựngđội ngũ cán bộ cho các trường đại học, cao đẳng, trung học, dạy nghề vàcác cơ sở khác trong khu vực

Định hướng trong trong những năm tới là hoàn thành cơ bản việc xâydựng Trường đại học Vinh đa ngành; huy động mọi nguồn lực, khơi dậymọi tiềm năng, mở rộng quan hệ hợp tác, phát huy sức mạnh tổng hợp vàdân chủ hoá nhà trường để từng bước xây dựng và phát triển Trường Đại

Trang 33

học Vinh thành Đại học Vinh (có trường thành viên) với phương châm: đitắt, đón đầu, hiệu quả, đồng bộ và hiện đại [27].

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

- Ban Giám hiệu: 06 đồng chí, trong đó có 1 hiệu trưởng

- Các đơn vị đào tạo: Gồm các khoa: Khoa Toán, Khoa Vật Lí, Khoa

Hoá học, Khoa Sinh học, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Ngữ văn, KhoaLịch sử, Khoa Giáo dục Chính trị, Khoa Thể dục, Khoa Giáo dục Tiểu học,Khoa Ngoại ngữ, Khoa Giáo dục Quốc phòng, Khoa Sau Đại học, KhoaNông Lâm Ngư, Khoa Xây dựng, Khoa Điện tử viễn thông Khoa Kinh tế,Khoa Địa lý, Khoa Luật Có 02 trường thành viên là Trường Trung học Phổthông Chuyên, Trường Mầm non thực hành

- Các phòng chức năng: Tổ chức Cán bộ, Đào tạo, Công tác chính trị

- Học sinh, sinh viên, Kế hoạch - Tài chính, Khoa học - Thiết bị, Quản trị,Thanh tra giáo dục, Hợp tác Quốc tế, Bảo vệ

Các Trung tâm, Ban, Viện: Gồm: Thư viện Nguyễn Thúc Hào (trước

đây là Trung tâm Thông tin, tư liệu và Thư viện), Trung tâm Giáo dụcThường xuyên, Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học, Trung tâm Công nghệ phầnmềm, Trung tâm Phục vụ sinh viên, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng,Trung tâm Kiểm định an toàn thực phẩm – Môi trường, Trung tâm tư vấnthiết kế và chuyển giao công nghệ, Trung tâm đào tạo và ứng dụng côngnghệ thông tin, Trung tâm Nghiên cứu Ấn Độ, Trung tâm Môi trường vàPhát triển nông thôn, Trung tâm nghiên cứu xoá đói giảm nghèo, Ban Quản

lí các Dự án xây dựng, Tiểu Dự án giáo dục đại học, Viện Văn hoá và Ngônngữ, Trạm Y tế

2.1.4 Quy mô đào tạo hiện nay

Trường Đại học Vinh hiện đang đào tạo các ngành bậc đại học:

- Các ngành đào tạo cấp bằng cử nhân sư phạm:

+ Đào tạo giáo viên Trung học phổ thông có trình độ đại học cácngành: Toán, Lý, Hoá, Tin học, Sinh, Lịch Sử, Văn, Chính trị, Anh văn,

Trang 34

Pháp văn, Địa lý, Thể dục; giáo viên dạy 2 môn: Giáo dục thể chất, giáodục Quốc phòng, Giáo dục Chính trị – Giáo dục Quốc phòng.

+ Đào tạo giáo viên trung học cơ sở có trình độ đại học và cao đẳngcác ngành: Văn - Sử, Toán - Lý, Sinh Hoá

+ Đào tạo giáo viên Tiểu học, giáo viên Mầm non

- Các ngành cấp bằng cử nhân khoa học: Ngữ văn, Lịch Sử, Công tác xãhội, Du lịch, Toán, Toán - Tin ứng dụng, Vật lý, Hoá, Sinh, Khoa học môitrường, Tin học, Anh văn, Kế toán, Tài chính ngân hàng, Quản trị kinh doanh

- Các ngành cấp bằng kỹ sư: Công nghệ Thông tin, Nông học,Khuyến nông và phát triển nông thôn, Nuôi trồng thuỷ sản, Xây dựng dândụng và công nghiệp, Điện tử viễn thông, Hoá Thực phẩm, Quản lý đất đai,Quản lý tài nguyên rừng và môi trường

- Liên kết đào tạo với các trường đại học đào tạo và cấp bằng caođẳng các ngành: Công nghệ thông tin, Hoá dầu, Điện lực…

- Liên kết với các trường đại học ở Lào, Trung Quốc, Thái Lan đàotạo đại học với hình thức du học bán phần

Đào tạo sau đại học: Có trên 10 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, gần 30chuyên ngành đào tạo thạc sĩ Ngoài cơ sở Đại học Vinh, nhà trường còn tổchức đào tạo tại các cơ sở ở Đại học Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh),Đại học Đồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp), tại các tỉnh Thanh Hoá, Hà Nội…Liên kết với một số học viện, trường đại học đào tạo Thạc sĩ chuyên ngànhKinh tế, Triết học, Xây dựng cầu đường bộ, Công nghệ thông tin …

Khối Trung học Phổ thông Chuyên: Đào tạo học sinh phổ thông năngkhiếu toán học, năng khiếu tin học, năng khiếu vật lí, năng khiếu hoá học,

hệ không chuyên và hệ dự bị đai học

Về đào tạo đại học, Trường Đại học Vinh là một trong những trườngđại học đầu tiên của cả nước đào tạo theo hệ tín chỉ Nhờ vậy, người họcđược thụ hưởng một phương thức đào tạo tiên tiến, có cơ hội học cùng lúchai chương trình để khi tốt nghiệp được cấp hai bằng đại học; hệ chính quy

Trang 35

được chủ động lựa chọn môn học, thời gian học, lớp học phù hợp; được tạomọi điều kiện để tăng cường tính độc lập, tự học, tự nghiên cứu, rèn luyện

kỹ năng nghiệp vụ… Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường trên 95% Sinhviên được trang bị hoàn chỉnh về chuyên môn nghiệp vụ, khả năng thíchứng với công việc nên khi ra trường đều thể hiện tốt năng lực, khẳng địnhđược tài năng, có tâm huyết, được đơn vị sử dụng đánh giá cao Một số sinhviên tốt nghiệp đã trở thành các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành,công tác tại các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học,công nghệ, kinh tế lớn trong nước và quốc tế

2.1.5 Cơ sở vật chất

Trường Đại học Vinh có hệ thống cơ sở vật chất tương đối đầy đủ vàđang được hoàn thiện thêm Hệ thống phòng học, giảng đường đạt tiêuchuẩn đã và đang được xây dựng; hệ thống phòng thí nghiệm, thư việntương đối hiện đại, cơ sở hạ tầng được cải tạo…

Nhà trường có diện tích tương đối lớn, gồm: 14 ha tại cơ sở chính(khu vực Bến Thuỷ - Trường Thi), cơ sở II (thuộc xã Nghi Ân, Thành phốVinh và các xã Nghi Thái, Nghi Phong, Nghi Trường thuộc huyện NghiLộc), 0,4 ha tại Phường Hưng Bình, 09 ha Trại mặn - ngọt tại huyện NghiXuân, Hà Tĩnh và hơn 05 ha trại ngọt tại huyện Hưng Nguyên

Nhà trường hiện có hơn 200 giảng đường, gần 200 phòng thí nghiệm,

20 xưởng thực tập, thực hành được trang bị tương đối đầy đủ Trường đãtrang bị hệ thống thông tin (mạng LAN, mạng Internet, mạng không dâywifi), thư viện điện tử lớn nhất Bắc miền Trung Tuy nhiên, trong điều kiệnhiện nay, để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về CSVC nhà trường vẫn cầntrang bị thêm hệ thống phòng học với trang thiết bị hiện đại

2.1.6 Đội ngũ cán bộ

Nhà trường hiện có đội ngũ cán bộ đông đảo với trên 100 người,trong đó có 06 giáo sư, trên 60 phó giáo sư, 123 tiến sĩ, 353 thạc sĩ Có trên

Trang 36

600 cán bộ giảng dạy, trong đó có 4 giảng viên cao cấp, 133 giảng viênchính, 05 giáo viên cao cấp bậc THPT và hàng trăm chuyên viên chính,chuyên viên giỏi chuyên môn, tâm huyết với nghề Tỷ lệ giảng viên có trình

độ tiến sĩ trên tổng số giảng viên cơ hữu gần 20%, tỉ lệ giảng viên trình độthạc sĩ đạt trên 72% Hàng năm, trường có từ 10 đến 15 cán bộ bảo vệ thànhcông luận án tiến sĩ, 30 đến 40 cán bộ được cử đi đào tạo sau đại học trongnước và nước ngoài, hàng trăm lượt cán bộ tham gia các lớp bồi dưỡngchuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học…

2.1.7 Nghiên cứu khoa học

Về nghiên cứu khoa học, đến nay, nhà trường đã thực hiện được trên

300 đề tài cấp Bộ, hơn 50 đề tài cấp Nhà nước, gần 3000 đề tài cấp Trường.Hầu hết các đề tài hoàn thành đúng tiến độ, phục vụ hiệu quả công cuộcphát triển kinh tế, xã hội ở địa phương Hàng năm, Trường xuất bản từ 8đến 10 Thông báo khoa học, đăng tải hàng trăm công trình nghiên cứu củacán bộ và sinh viên trường; biên soạn hơn 300 bộ giáo trình phục vụ giảngdạy, học tập…

2.1.8 Hợp tác quốc tế

Hiện nay, nhà trường đang tích cực mở rộng hợp tác quốc tế về đàotạo, trao đổi kinh nghiệm, học thuật, chuyển giao công nghệ với các trườngđại học, các Học viện và các Sở Giáo dục trong khu vực và trên thế giới:với các đại học St Jonh’s, South Florida, New Mexico State (Hoa Kỳ),Victoria (Ôxtrâylia), Kyung Pook (Hàn Quốc), Học viện Hồng Hà, Họcviện Nghề nghiệp Quảng Tây, Đại học Nông nghiệp Vân Nam (TrungQuốc), Đại học Nakhon Phanom, Maha Sarakham, Ubon, Viện công nghệsinh học BIOTECH (Thái Lan), Đại học Quốc gia Lào, Sở Giáo dục XiêngKhoảng (Lào) và nhiều học viện, trường đại học, viện nghiên cứu khác…

2.1.9 Hệ thống tổ chức quản lý sinh viên ở Trường Đại học Vinh

Trang 37

Hệ thống tổ chức, quản lý sinh viên của trường gồm có Hiệu trưởng,đơn vị phụ trách công tác học sinh, sinh viên, giáo viên chủ nhiệm và lớphọc sinh, sinh viên [3, Đ13]

Tuy nhiên, căn cứ Điều lệ nhà trường của từng trình độ đào tạo, Hiệutrưởng các trường có thể sẽ quy định hệ thống tổ chức, quản lý công tácsinh viên tại trường một cách phù hợp, bảo đảm thực hiện các nội dungcông tác học sinh, sinh viên

Hệ thống tổ chức, quản lý sinh viên thường là:

- Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng: Là người chịu trách nhiệm chínhchỉ đạo công tác sinh viên toàn trường

- Phòng Công tác chính trị học sinh, sinh viên: Là đơn vị tham mưucho Ban Giám hiệu trong chỉ đạo và chịu trách nhiệm chính trong tổ chứctriển khai công tác học sinh, sinh viên cho toàn trường

- Khoa là đơn vị trực tiếp quản lý toàn diện sinh viên và triển khaithực hiện các hoạt động rèn luyện sinh viên

- Lớp sinh viên được tổ chức bao gồm những sinh viên cùng ngành,nghề, khoá học và được duy trì ổn định trong cả khoá học Đối với sinh viênhọc theo học chế tín chỉ, ngoài việc sắp xếp vào lớp sinh viên để tổ chức,quản lý về thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện, các hoạt động đoànthể, các hoạt động xã hội, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, những sinh viênđăng ký cùng học một học phần được sắp xếp vào lớp học tín chỉ theo từnghọc kỳ

2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ SINH VIÊN TRONG ĐÀOTẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

2.2.1 Thực trạng công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế niên chế

2.2.1.1 Bối cảnh

Đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được biết đến nhiều trong những nămgần đây và được xem như là một xu thế phát triển của Giáo dục đại học Do

Trang 38

học chế tín chỉ có nhiều ưu điểm vượt trội, ở nước ta, rất nhiều trường đãchuyển đổi phương thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tínchỉ Chính phủ cũng đã có Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP, ngày 02/11/2005

về đổi mới và phát triển toàn diện nền giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006 –

2020 Trong đó, Nghị quyết có nêu rõ: "Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển

sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài" [11]

2.2.1.2 Chủ trương của Trường Đại học Vinh về đào tạo theo hệ thống tín chỉ

- Ngày 23/5/2006, Ban chấp hành Đảng bộ trường khoá XXIX đã banhành Nghị quyết số: 234/NQ-ĐU về đào tạo theo học chế tín chỉ Nghịquyết nêu rõ: "Để nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giaiđoạn mới, thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhànước, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, Đảng uỷ chủ trươngtriển khai đào tạo theo học chế tín chỉ đối với tất cả các ngành đào tạo củatrường" [11] Với mục tiêu: "Thực hiện chuyển quy trình đào tạo của trường

từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ từ khoá tuyển sinhnăm 2007"

- Ngày 09 tháng 05 năm 2007, Hiệu trưởng Nhà trường đã có Côngvăn số 979/ĐT về việc đào tạo theo học chế tín chỉ, trong đó chỉ đạo ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên "Tìm hiểu, tham khảokinh nghiệm các trường để soạn thảo nội dung và lập kế hoạch tổ chức cáchoạt động xã hội và hoạt động ngoài lớp của sinh viên"

- Ngày 02 tháng 11 năm 2007, Hiệu trưởng Nhà trường ban hànhQuy định số 2294/ĐT về cụ thể hoá một số điều của Quy chế đào tạo đạihọc và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ [16]

Bắt đầu từ học kỳ II năm học 2007 - 2008, Trường Đại học Vinh đãchính thức áp dụng phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho khoá 48

Trang 39

hệ chính quy toàn trường Từ khóa 48 lại nay, sau 2 năm đưa vào thực hiện,đến nay, Trường Đại học Vinh đã và đang đào tạo theo hệ thống tín chỉ cho

03 khoá sinh viên hệ chính quy (48, 49, 50) và bước đầu đưa công tác nàyvào ổn định, phát triển

2.2.1.3 Những thuận lợi của công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Sau hơn hai năm triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ, những ưuđiểm của phương thức đào tạo này đã dần được hé mở và phát huy tác dụng

ở Trường Đại học Vinh, phương thức đào tạo tiên tiến này từng bước đãthay thế dần phương thức đào tạo truyền thống

Nhờ có sự đồng thuận trong Đảng ủy, Ban Giám hiệu, trong cán bộcông chức và học sinh, sinh viên trường, đã có sự chuẩn bị chu đáo về mặtnhận thức, chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức, trang thiết bị nên quá trìnhchuyển đổi diễn ra nhanh, không gây quá nhiều xáo trộn trong sinh viên.Công tác tuyên truyền, tổ chức cũng diễn ra khá thuận lợi Đó là yếu tốquan trọng để nhà trường tiếp tục ổn định, thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo

Cán bộ và sinh viên cũng như xã hội đã bước đầu thấy được ưu điểmcủa phương thức đào tạo mới, và đã đồng thuận với chủ trương của nhàtrường,cùng nhà trường quyết tâm thực hiện mọi nhiệm vụ

2.2.1.4 Những khó khăn đối với công tác quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Yếu tố khách quan:

Thứ nhất, Việc chuyển đổi quy trình tổ chức đào tạo từ đào tạo theo

học chế niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ kéo theo sự thay đổi củahàng loạt vấn đề liên quan đến công tác HSSV, làm cho mô hình quản lýtruyền thống không còn phát huy hiệu quả, trong khi đó mô hình mới chưađược ra đời, do đó tạo một khoảng trống lớn trong công tác quản lý sinhviên, khiến người quản lý lúng túng, sinh viên bị động

Trang 40

Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, luôn tồn tại hai dạng lớp: lớp sinhviên (lớp biên chế hành chính) và lớp tín chỉ.

- Lớp sinh viên là lớp được tổ chức theo khoa, khoá đào tạo hay theongành đào tạo, ổn định từ đầu đến cuối khoá học nhằm duy trì các hoạtđộng đoàn thể, các phong trào thi đua, các hoạt động chính trị xã hội, vănhoá văn nghệ, thể dục thể thao và quản lý sinh viên trong quá trình học tập,rèn luyện Lớp sinh viên được tổ chức theo Quy chế công tác học sinh - sinhviên, chịu sự quản lý của phòng Công tác Học sinh, sinh viên các khoa chủquản và Trợ lý Quản lý học sinh, sinh viên Tổ chức hoạt động của lớp sinhviên, vai trò và trách nhiệm của Trợ lý quản lý học sinh sinh viên được quyđịnh trong Quy chế Công tác Học sinh, sinh viên

- Lớp học phần là lớp của các sinh viên cùng đăng kí một học phần,

có cùng thời khoá biểu trong cùng 01 học kỳ, do giảng viên phụ trách họcphần theo dõi Số lượng sinh viên của một lớp học phần tuỳ thuộc vào sứcchứa của phòng học và yêu cầu đặc thù học phần

Tuy tồn tại hai dạng lớp học, nhưng trên thực tế, việc vận hành theolớp tín chỉ là chủ yếu, vì nó gắn liền với quá trình học tập của sinh viên.Lớp sinh viên rất ít được sinh hoạt (thường thì mỗi tháng 1 đến 2 lần) do đó,mọi chủ trương chính sách ít được cập nhật trong sinh viên, sinh viên khó

có thể tập hợp đông đủ để triển khai và giải quyết các vấn đề chung Việc tổchức, điều hành các hoạt động, phong trào, thực thi mọi chính sách cho sinhviên gặp rất nhiều khó khăn do sinh viên dành nhiều thời gian hơn cho việchọc tập, nghiên cứu và ít chủ ý tới hoạt động cộng đồng, ít chú ý tới côngtác xã hội

Khi chuyển sang mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ ở bậc đại học,giáo viên chỉ hướng dẫn sinh viên cách học, tăng cường hơn quyền chủđộng của sinh viên trong học tập, nghiên cứu cũng như phải biết cách vàkhai thác tối đa nguồn tài liệu, cũng như những ứng dụng CNTT và truyền

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Nhiệm vụ năm học 2007 – 2008, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ năm học 2007 – 2008
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
12. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung ương khóa IX, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
14. Học viện Hành chính quốc gia (2008), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên), NXB Khoa học và Kỹ thuật.15. Luật Giáo dục (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên)
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật.15. Luật Giáo dục (2005)
Năm: 2008
23. Đặng Quốc Bảo (1999), Cơ sở pháp lý của công tác quản lý giáo dục, NXB Giáo dục,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở pháp lý của công tác quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
24. Tất Tiểu Bình (2003), Thiết kế và đánh giá công tác sinh viên, NXB Đại học Trung Sơn, Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và đánh giá công tác sinh viên
Tác giả: Tất Tiểu Bình
Nhà XB: NXB Đại học Trung Sơn
Năm: 2003
25. Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ (1999), Đại cương về khoa học quản lý, NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về khoa học quản lý
Tác giả: Trần Hữu Cát - Đoàn Minh Duệ
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 1999
26. Đặng Bá Lãm (2003), Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI chiến lược phát triển, NXB Giáo dục,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI chiến lược phát triển
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
27. Thái Văn Thành (2007), Quản lý Giáo dục và quản lý nhà trường, NXB Đại học Huế, Huế.Lâm Quang Thiệp (2007), Tạp chí hoạt động khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Giáo dục và quản lý nhà trường
Tác giả: Thái Văn Thành (2007), Quản lý Giáo dục và quản lý nhà trường, NXB Đại học Huế, Huế.Lâm Quang Thiệp
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2007
28. Thái Duy Tuyên (1999), Chính sách và chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
29. Phạm Viết Vượng (2007), Giáo dục học, NXB Giáo dục Đại học Quốc gia Hà nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB Giáo dục Đại học Quốc gia Hà nội
Năm: 2007
1. Ban chấp hành TW Đảng CSVN (2009), Thông báo kết luận của Bộ Chính trị, về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết TW2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục,đào tạo đến năm 2020 (Số 242 - TB/TW) Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1993), Quy chế công tác học sinh, sinh viên trong các trường đào tạo (số 1584/GD-ĐT) Khác
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (số 42/2007/QĐ-BGDĐT) Khác
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (số 43/2007/QĐ-BG&DĐT) Khác
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các cơ sở giáo dục đại học và TCCN hệ chính quy (số 60/2007/QĐ-BGDĐT) Khác
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các cơ sở giáo dục đại học và trường TCCN hệ chính quy (số 60/2007/QĐ-BGDĐT) Khác
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định tổ chức các hoạt động văn hóa cho HSSV trong các cơ sở giáo dục đại học và TCCN (số 60/2008/QĐ-BGDĐT) Khác
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Quy định tổ chức các hoạt thể thao ngoại khóa cho HSSV (số 72/2008/QĐ-BGDĐT) Khác
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Quyết định phê duyệt chương trình công tác HSSV các trường ĐH, CĐ, TCCN giai đoạn 2009 – 2012 (số 2837/2009/QĐ-BGDĐT) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Số lượng và nội dung sinh viên vi phạm của các năm 2010-2011, 2011- 2012 - Một số giải pháp đổi mới quản lý sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường đại học vinh luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 3 Số lượng và nội dung sinh viên vi phạm của các năm 2010-2011, 2011- 2012 (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w