CHệễNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TỈNH AN GIANG
2. Thực trạng quản lý tài sản công tại các đơn vị hành chính sự nghiệp tỉnh
2.1. Tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp
2.1.1. Cơ chế quản lý tài sản công thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp : Về nhà, đất thuộc trụ sở làm việc : đến nay cơ chế quản lý tài sản công là nhà, đất thuộc trụ sở làm việc được hình thành như sau :
- Từ năm 1995 đến nay đã ban hành một số văn bản quy định những nội dung cơ bản về chế độ quản lý nhà đất thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan hành chánh sự nghiệp như : phạm vi nhà làm việc, nhà công vụ, quy định về đăng ký tài sản, quy định về cấp mới, cải tạo, mở rộng , quản lý, sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa, tiếp nhận, bàn giao ở tầm văn bản của Bộ Tài chính và gần đây được quy định tại Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06/03/1998 của Chính phủ quy định về quản lý tài sản Nhà nước.
- Những quy định về đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, sửa chữa nhà làm việc trong khu vực hành chánh sự nghiệp được thực hiện theo điều lệ quản lý đầu tư xây dựng cơ bản hiện hành với những nội dung cơ bản sau :
a. Quy định công tác chuẩn bị đầu tư, sự cần thiết phải đầu tư, tương tự như việc xem xét quyết định chủ trương mua sắm tài sản. Thực hiện quản lý vốn đầu tư bằng dự án, tùy tính chất và quy mô, dự án được chia thành 3 nhóm A, B, C.
b. Việc thẩm định và cho phép xây dựng các công trình do Bộ Kế hoạch và đầu tư, các Bộ, ngành và Uûy ban nhân dân các địa phương quyết định.
c. Bộ Tài chính có trách nhiệm nghiên cứu cơ chế quản lý vốn, bố trí vốn, quản lý và cấp phát vốn ngân sách Nhà nước và vốn tín dụng ưu đãi thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
d. Việc xây dựng các công trình thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp được đầu tư chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, đồng thời huy động nhân dân đóng góp để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng.
e. Thực hiện đấu thầu xây dựng, mua sắm thiết bị, tư vấn trong xây dựng cơ bản, giám định chất lượng trong quá trình thi công.
Cơ chế quản lý tài sản công là phương tiện đi lại, máy móc thiết bị được hình thành như sau :
- Trên cơ sở tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô con được quy định ở thời kỳ trước, Chính phủ thực hiện kiểm soát chặt chẽ việc mua sắm xe mới, đồng thời quy định về trang bị điện thoại tại nhà riêng đối với một số đối tượng cán bộ, một số loại hình đơn vị hành chánh sự nghiệp. Ngày 10/05/1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô trong các cơ quan hành chánh sự nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước.
- Đã quy định một số nội dung cơ bản về chế độ quản lý, mua sắm, bảo quản, bảo dưõng, sửa chữa, thanh lý tài sản.
2.1.2. Thực trạng quản lý sử dụng :
Tổng giá trị tài sản cố định bao gồm cả đất theo nguyên giá là 5.820.896 triệu đồng, trong đó :
Đất đai : 889.672 triệu đồng Nhà cửa, vật kiến trúc : 4.440.468 triệu đồng Phương tiện vận tải : 76.406 triệu đồng Máy móc thiết bị : 191.107 triệu đồng Tài sản cố định khác : 223.243 triệu đồng
Trong tổng số giá trị tài sản cố định Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp nhà cửa, vật kiến trúc là tài sản lớn nhất chiếm 76,3 %, kế đến là đất đai 15,30 %, còn lại là phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và tài sản cố định khác là 8,5 %.
Tổng giá trị của tài sản cố định không phải là đất của Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp ( tính đến 01/01/2000 ) bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, phương
tiện vận tải, máy móc thiết bị và tài sản cố định khác của 2 ngành lớn là Giáo dục và Y tế tăng gấp 1,7 lần so với năm 1995. Như vậy, trong những năm qua cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước đã quan tâm đúng mức về đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản cố định cho khu vực hành chánh sự nghiệp nhằm tạo điều kiện vật chất cần thiết cho các đơn vị hành chánh sự nghiệp, các đoàn thể thực hiện đầy đủ chức năng nhiệm vụ của mình. Chỉ tính 14 đơn vị Ban, ngành cấp Tỉnh từ năm 1995 đến 1999 Nhà nước đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm các loại tài sản khác như phương tiện vận tải, máy móc thiết bị và các tài sản khác với tổng giá trị là 36,9 tỷ đồng, xấp xỉ 2 lần tổng giá trị tài sản cố định đã được đầu tư xây dựng, mua sắm từ những năm 1995 trở về trước, được biểu hiện trên bảng tổng hợp sau :
Biểu số 4 :TỔNG GIÁ TRỊ CÒN LẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH CỦA 14 ĐƠN VỊ BAN HÀNH CẤP TỈNH NĂM 1995 VÀ 1999 ( KHÔNG KỂ ĐẤT )
ĐVT : ngàn đồng
S T T
Tên đơn vị Tổng giá trị còn lại năm 1995
Tổng giá trị còn lại năm 1999
Cheõnh leọch taêng (+ ) giảm ( - ) 01 Hội đồng Nhân Dân 1.443.031,00 2.031.746,00 588.715,00
02 UBND Tổnh 5.913.782,00 28.761.535,00 22.847.753,00
03 Sở KH & ĐT 1.307.154,00 1.853.518,00 546.364,00
04 Sở Tài chính Vật giá 1.948.466,00 6.091.234,00 4.142.768,00
05 Sở Công Nghiệp 440.214,00 1.026.681,00 586.467,00
06 Sở Nông Nghiệp 1.682.711,00 4.940.586,00 3.257.875,00
07 Sở TMDL 1.122.653,00 1.339.501,00 216.848,00
08 Sở KHCN & MT 989.605,00 1.525.991,00 536.386,00
09 UB Bảo Vệ & CSTE 418.283,00 804.745,00 386.462,00
10 UB DS & KHHGẹ 923.703,00 1.921.936,00 998.233,00
11 Sở TDTT 120.929,00 628.166,00 507.237,00
12 Đài Truyền Hình 2.032.606,00 3.098.974,00 1.066.368,00
13 Nhà Bảo Tàng 323.592,00 1.297.326,00 973.734,00
14 Thử Vieọn Tổnh 113.539,00 430.566,00 317.027,00
Tổng cộng 18.780.268,00 55.752.505,00 36.972.237,00
Riêng ngành Giáo dục đào tạo từ năm 1995 - 1999 đã đầu tư xây dựng thêm 605.884 m2 trường học và 36 tỷ đồng trang thiết bị dạy học góp phần xóa lớp học ca ba, nâng cao trình độ giảng dạy học tập của giáo viên và học sinh.
Giá trị còn lại của tài sản cố định không phải là đất so với tổng nguyên giá là 55,6 % đủ đảm bảo độ tin cậy sử dụng. Song khi xét về cấp hạng và thời gian sử dụng của tài sản thì cũng đáng lo ngại, cụ thể có tới trên 706.865 m2 nhà làm việc là nhà cấp 4 và nhà tạm chiếm tỷ lệ 63,8 % quỹ nhà làm việc của toàn Tỉnh, có tới 6.690 m2 nhà sử dụng từ trước năm 1975 chiếm 0,6 % quỹ nhà làm việc. Xe ô tô sản xuất trước năm 1985 là 22 chiếc chiếm 10,8 % tổng số xe.
Tài sản cố định của Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp ( không kể đất ) được dùng vào các lĩnh vực hoạt động : quản lý Nhà nước 6,7 %, các đơn vị sự nghiệp 93,3 %. Trong đó : sự nghiệp giáo dục 15,6 %, sự nghiệp y tế 3,17 %, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ 0,04 %. Qua số liệu trên, một lần nữa có thể khẳng định rằng : công tác giáo dục đào tạo chưa được đầu tư đúng mức, vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng còn bị xem nhẹ và đặc biệt là công tác đầu tư nghiên cứu khoa học cho sự phát triển của tương lai hầu như chưa được đề cập đến. Đây là một thiệt thòi lớn cho Tỉnh có kết dư ngân sách như Tỉnh An giang.
Sau đây là tình trạng quản lý và sử dụng một số loại tài sản công chủ yếu tại khu vực hành chánh sự nghiệp :
a. Tài sản là đất đai : Đất đai là tài sản lớn nhất trong khu vực hành chánh sự nghiệp. Tổng quỹ đất đai do các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp quản lý và sử dụng là 7.506.740 m2 chiếm 0,2 % diện tích đất tự nhiên của toàn Tỉnh. Tổng giá trị quỹ đất được tính theo Quyết định số 125/QĐ-UB ngày 22/02/1995 quy định căn cứ khung giá các loại đất ban hành theo Nghị định số 87/CP là 889,67 tỷ đồng, chiếm 15,30 % tổng giá trị tài sản cố định Nhà nước tại khu vực hành chánh sự nghiệp. Song
việc quản lý và sử dụng đất đai trong khu vực hành chánh sự nghiệp còn nhiều yếu kém, gây ra lãng phí, thất thoát tài sản Nhà nước, cụ thể là :
- Trong tổng số 7.506.740 m2 đất, chỉ có 1.241.295 m2 đất chiếm 16,5 % tổng quỹ đất giao cho các cơ quan hành chánh sự nghiệp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho đất đai của các cơ quan hành chánh sự nghiệp bị dân lấn chiếm. Qua kiểm tra trong 58 đơn vị hành chánh sự nghiệp cấp Tỉnh quản lý, có tới 9 đơn vị bị dân lấn chiếm đất chiếm tỷ lệ 15% số Đơn vị hành chánh sự nghiệp cấp Tỉnh quản lý.
- Việc cấp đất cho các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp không tính toán sát với nhu cầu sử dụng đất, dẫn đến đất đai chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của tất cả các đơn vị hành chánh sự nghiệp trong toàn Tỉnh lên tới 2.217.432 m2, chiếm 29,5 % tổng quỹ đất được giao tương đương với quỹ đất nông nghiệp của 2 Phường Mỹ Xuyên và Phường Mỹ Phước Thành phố Long Xuyên cộng lại, trong đó :
Đất chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp thuộc Tỉnh quản lý là 1.196.423 m2, chiếm 28 % tổng quỹ đất của các cơ quan này.
Đất chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp thuộc Huyện, Thị, Thành phố quản lý là 1.021.009 m2, chiếm 31,5
% tổng quỹ đất của các cơ quan này, trong đó các Huyện có quỹ đất chưa sử dụng và không có nhu cầu sử dụng từ 80.000 m2 trở lên là Huyện Châu Thành 10.200 m2, Huyện Thoại Sơn 13.800 m2, Huyện Chợ Mới 8.100 m2.
- Đất của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp đem dùng vào mục đích sản xuất kinh doanh, cho thuê và làm nhà ở là 1.322.158 m2 chiếm tới 17,6% tổng quỹ đất được giao.
Tình hình quản lý đất đai thiếu chặt chẽ và sử dụng đất không tiết kiệm gây
lãng phí, thất thoát tài sản Nhà nước trong các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp trên đây cũng là hậu quả của việc coi đất không có giá ở nước ta trong nhiều năm trước đây.
b. Tài sản là nhà thuộc trụ sở làm việc :
Quỹ nhà thuộc trụ sở làm việc của khu vực hành chánh sự nghiệp là tài sản lớn nhất với tổng diện tích 1.108.108 m2, trị giá 4.440,4 tỷ đồng, chiếm 76,3% tổng giá trị tài sản cố định khu vực hành chánh sự nghiệp và chiếm 90 % tổng giá trị tài sản cố định không kể đất. Quỹ nhà làm việc cuối năm 1999 tăng 30 % so với năm 1995 trong khi số công chức trong khu vực hành chánh sự nghiệp năm 1999 so với năm 1995 không đổi. Như vậy, diện tích nhà làm việc bình quân/1 công chức đã được cải thiện nhiều so với năm 1995. Song tình trạng nhà thuộc trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp vẫn còn một số vấn đề đặt ra cần được giải quyết trong những năm tới cụ thể là :
- Tỷ trọng nhà cấp 4 và nhà tạm của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp chiếm tới 63,8 % tổng quỹ nhà. Điều đáng lưu ý là nhà cấp 4 và nhà tạm trong quỹ nhà là trường học chiếm 94,5 % tổng quỹ nhà thuộc ngành Giáo dục; nhà trẻ, nhà mẫu giáo là 99,7 % ( cả Tỉnh chỉ có 1 nhà trẻ Huỳnh Thị Hưởng là nhà cấp III với tổng diện tích xây dựng là 571,7 m2 ). Như vậy, trường học là cơ sở vật chất để đào tạo người lao động có trí tuệ và thể lực cho xã hội nhưng chất lượng, phẩm cấp nhà lại kém nhất.
- Nhà làm việc phân bổ không đều và chưa hợp lý trong nội bộ khu vực hành chánh sự nghiệp giữa các Sở, ngành và giữa các Huyện, Thị, Thành phố. Ở cấp Sở, ngành diện tích nhà làm việc ( kể cả diện tích phụ trợ ) tính trên một đầu biên chế mức thấp nhất là 8,5 m2/người ( Sở Thương Mại ), mức cao nhất là 80,2m2/người ( Sở Thể Dục Thể Thao ); thậm chí các cơ quan quản lý Nhà nước có cùng chức năng
nhiệm vụ và hoạt động trong điều kiện tương tự như nhau nhưng quy mô trụ sở làm việc lại hoàn toàn khác nhau ví dụ như trụ sở làm việc của Uûy ban nhân dân Huyện Châu Phú có quy mô là 1.795,7 m2, trong khi đó trụ sở làm việc của Uûy ban nhân dân Huyện Châu Thành là 6.467,3 m2, Uûy ban nhân dân Thành Phố Long Xuyên là 1.082 m2; tương tự trụ sở làm việc của Phòng Tài chính Thành phố Long Xuyên là 198 m2 trong khi đó trụ sở làm việc của Phòng Tài chính Huyện Tri Tôn lại lên tới 437 m2...
- Trong những năm gần đây, trong khi một số cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp mới thành lập đều phải xây dựng trụ sở mới. Ngược lại một số cơ quan lại dư thừa diện tích sử dụng nhà làm việc dùng vào cho thuê, cho mượn, sản xuất kinh doanh với tổng số là 60.981 m2 nhà chiếm 5,5 % tổng quỹ nhà làm việc trong toàn Tỉnh. Chính vì lý do trên, trong thời gian tới nếu quỹ nhà làm việc trong nội bộ khu vực hành chánh sự nghiệp không được điều chỉnh hợp lý chẳng những gây phức tạp trong công tác quản lý tài sản mà còn là sức ép với ngân sách Nhà nước ( nhất là trong khâu sửa chữa lớn nhà làm việc ).
Trong giai đoạn từ năm 1997 trở về trước, quỹ nhà làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp thuộc diện nhà tiếp quản của chế độ cũ, nhà vắng chủ đều do cơ quan nhà đất quản lý. các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp phải trả tiền thuê nhà để thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước. Hàng năm ngân sách Nhà nước không chỉ cấp tiền thuê nhà mà còn phải cấp tiền sửa chữa. Cơ quan quản lý nhà đất ( Công ty kinh doanh nhà ) thu tiền thuê nhà chỉ nộp vào ngân sách Nhà nước 60% dưới hình thức thuế, nhưng không phải sửa chữa nhà. Đây cũng là một nghịch lý của cơ chế cũ về quản lý nhà làm việc của các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp dẫn đến ngân sách Nhà nước phải 2 lần chi ra ( chi tiền thuê nhà và chi sửa chữa ) cho một việc là đảm bảo trụ sở làm việc cho một cơ quan. Trong khi đó, ngân sách Nhà nước phải mất đến 40% kinh phí trả cho Công ty kinh doanh nhà chỉ để làm mỗi một
việc đi thu tiền thuê nhà.
c. Về phương tiện vận tải :
Tổng giá trị phương tiện vận tải là 76,406 tỷ đồng chiếm 1,31 % tổng giá trị tài sản cố định kể cả đất và bằng 1,54 % tổng giá trị tài sản cố định không bao gồm đất.
So với năm 1995, số đầu phương tiện tăng đáng kể từ 0,91 % năm 1995 lên 1,54 % năm 1999. Nguyên nhân chủ yếu là các phương tiện vận tải, đặc biệt là ô tô, mô tô trong khu vực hành chánh sự nghiệp đều được đổi mới, hiện đại, đắt tiền hơn so với thời kỳ trước.
Trong tổng giá trị phương tiện vận tải, xe ô tô con chiếm 47,1 % ( 36,013 tỷ đồng/76,406 tỷ đồng ), xe gắn máy 24,7 % . Như vậy, phương tiện vận tải dùng trong khu vực hành chánh sự nghiệp chủ yếu là phương tiện phục vụ đi lại cho cán bộ, công nhân viên công tác. Với số lượng xe ô tô hiện có, thì mỗi năm khu vực hành chánh sự nghiệp phải mất đi 3,6 tỷ đồng hao mòn xe ô tô và 1,870 tỷ đồng chi phí sửa chữa, nếu tính mỗi đầu xe chi 10 triệu đồng/năm để sửa chữa thường xuyên.
Ngoài số xe ô tô con là phương tiện chính, các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệpù trong toàn Tỉnh cũn trang bị tới 1114 xe gắn mỏy ( trong đú xe cú giỏ trị cũn lại từ 60% trở lên là 853 xe trị giá là16,306 tỷ đồng). So với năm 1995 xe mô tô tăng 501 chiếc. Cho đến nay, Chính phủ vẫn chưa có định mức sử dụng xe mô tô 2 bánh.
Do đó, công tác quản lý loại phương tiện này thiếu chặt chẽ, mức độ hao mòn nhanh, hiệu quả sử dụng thấp và dễ lạm dụng phương tiện công phục vụ việc riêng. Một số Ban, ngành lợi dụng kinh phí thừa, sử dụng không hết để mua loại xe này, có thể điển hình như : ngành Y tế : 78 chiếc, ngành nông nghiệp : 44 chiếc, Huyện Thoại Sơn : 116 chieỏc, Huyeọn Phuự Taõn : 111 chieỏc …
Việc trang bị xe ô tô con ở khu vực hành chánh sự nghiệp không theo tiêu chuẩn, định mức, dẫn đến số lượng xe ô tô con không đồng đều giữa các Sở, Ban,
ngành và địa phương, cụ thể : Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường cứ 15 người có một đầu xe, Sở Tài chính 24 người/xe, Uûy ban Dân số và Kế hoạch hóa gia đình 8 người/xe, Uûy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em 11 người/xe, thậm chí có đơn vị không nằm trong tiêu chuẩn định mức phân phối xe của Chính phủ nhưng vẫn trang bị xe như Hội Liên minh Hợp tác xã, Ban Công trình công cộng Thành phố Long Xuyên, Ban Điều Hành Giao Thông Thành Phố Long Xuyên, ...
d. Về máy móc thiết bị :
Tổng giá trị máy móc thiết bị là 191,107 tỷ đồng, chiếm 3,2 % tổng giá trị của các tài sản cố định khu vực hành chánh sự nghiệp và bằng 3,87 % tổng giá trị tài sản cố định không kể đất. Một số ngành như : ngành Y tế, phát thanh truyền hình, Khoa học Công nghệ và Môi trường, Địa chính được quan tâm đầu tư mua sắm máy móc thiết bị nhiều hơn các ngành khác. Tuy nhiên mức trang bị máy móc thiết bị cho các cơ quan, đơn vị hành chánh sự nghiệp còn quá chênh lệch giữa cấp Tỉnh và Huyện, cụ thể Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Tỉnh đạt 9,714 triệu đồng/người, Phòng Nông Nghiệp Thành Phố Long Xuyên 749 ngàn đồng/người, Phòng Nông Nghiệp Huyện Châu Thành 3,384 triệu đồng/người; Sở Công nghiệp Tỉnh đạt 15,300 triệu đồng/người, Phòng Công nghiệp Thành phố Long Xuyên đạt 675 ngàn đồng/người, Phòng Công nghiệp Huyện Châu Thành 857 ngàn đồng/người - ngay cả các cơ quan quản lý Nhà nước ở Tỉnh cũng không đều, thấp nhất là 6,8 triệu đồng/người ( Sở Kế Hoạch & Đầu Tư ), cao nhất là 35,400 triệu đồng/người ( Sở Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn ).
Tài sản công trong khu vực hành chánh sự nghiệp tính bình quân một cơ quan, đơn vị được Nhà nước giao quản lý sử dụng tới 4,932 tỷ đồng ( kể cả đất ), nếu không tính đất là 4,179 tỷ đồng, nhưng công tác quản lý còn nhiều yếu kém biểu hiện ở những mặt sau :