CHệễNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TỈNH AN GIANG
3. Thực trạng hoạt động doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn tỉnh An giang
0,997. Qua hệ số này chứng tỏ các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn đã tích cực huy động những tài sản hiện có để đưa vào sản xuất kinh doanh, tài sản không cần dùng chỉ chiếm 0,3% trên tổng tài sản. Từ năm 1995 đến nay các doanh nghiệp nhà nước đóng trên địa bàn Tỉnh đóng góp từ 20 – 23% tổng số thu nộp ngân sách.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước thể hiện trên các mặt sau :
3.1. Quy mô vốn nhỏ, tãn mạn và không hiệu quả trong số 38 doanh nghiệp nhà nước, có đến 11 doanh nghiệp có số vốn dưới 5 tỷ đồng, 8 doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ đồng, 9 doanh nghiệp có số vốn dưới 20 tỷ đồng và 10 doanh nghiệp có số vốn dưới 30 tỷ đồng, ( không có doanh nghiệp nào có số vốn trên 30 tỷ đồng ), tổng lợi nhuận trong năm 2000 là 156,6 tỷ đồng trong khi đó tổng số lỗ lên đến 204,5 tỷ đồng. Bênh cạnh đó, nhiều doanh nghiệp cùng loại hoạt động trong tình trạng chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cấp quản lý và trên cùng một địa bàn, tạo ra sự cạnh tranh không đáng có trong chính khu vực kinh tế nhà nước với nhau.Doanh nghiệp nhà nước còn dàn trãi trên tất cả các ngành nghề từ sản xuất đến thương mại, dịch vụ gây tình trạng phân tán manh mún về vốn trong khi vốn đầu tư nhà nước rất hạn chế, tạo ra sự xé lẽ các nguồn lực kể cả hoạt động quản lý của nhà nước không thể tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt chủ yếu. Qua thống kê trên cùng một địa bàn Thành phố Long Xuyên có đến 5 doanh nghiệp nhà nước cùng kinh doanh một mặt hàng lương thực, 2 doanh nghiệp nhà nước cùng sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, 3 doanh nghiệp cùng làm chức năng tư vấn xây dựng, 2 doanh nghiệp nhà nước cùng sản xuất và khai thác đá …
3.2. Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu dẫn đến cạnh tranh kém và thua thiệt trong hội nhập về kinh tế với các Tỉnh, Thành phố trong cả nước và trong khu vực.
Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được trang bị máy móc thiết bị từ nhiều nước và
thuộc nhiều thế hệ, chủng loại khác nhau. Qua khảo sát máy móc thiết bị tại các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông phẩm và công nghiệp thực phẩm thì dây chuyền sản xuất tại các nhà máy này lạc hậu so với thế giới từ 15 – 20 năm, thậm chí có dây chuyền máy móc thiết bị khi nhập về mức độ hao mòn đã lên đến 30 – 50% không đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa. Chính máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu đã ảnh hưởng lớn trực tiếp đến chất lượng, giá cả sản phẩm và cuối cùng đã hạn chế năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp điển hình như : giá bán 1 viên gạch xây dựng cao hơn các lò thủ công trong vùng từ 150 – 170 đ/viên, giá thành sản xuất một tấn bột mì cao hơn các nơi khác từ 25 – 30 USD/tấn, đó là chưa kể chất lượng sản phẩm kém do việc nhập dây chuyền sản xuất lạc hậu như nhà máy mì liên doanh An – Thái dẫn đến phá sản gây thiệt hại đáng kể cho ngân sách nhà nước.
3.3. Tình hình công nợ tại các doanh nghiệp nhà nước khá lớn. Theo báo cáo của Ban đổi mới doanh nghiệp Tỉnh năm 2000 tổng số nợ phải thu của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh là 536 tỷ đồng, chiếm 29,84% giá trị tài sản tại đơn vị tổng số nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh là 1273 tỷ đồng, chiếm 70,8% tổng trị giá tài sản tại đơn vị. Qua số liệu trên chứng tỏ các doanh nghiệp nhà nước luôn thiếu vốn, sản xuất kinh doanh luôn trong tình trạng không ổn định. Bên cạnh đó, nợ phải thu không có khả năng thu hồi chiếm tỷ lệ khá cao ( 12,5
% ) làm cho tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Trên thực tế một số doanh nghiệp nhà nước đang bị mất cân đối lớn và đang bị vỡ nợ, trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước điển hình như công ty Lương Thực : lỗ 182 tỉ đồng, công ty Thắng Lợi lỗ 70 tỉ đồng.
3.4. Từ những thực trạng nói trên cùng với những ảnh hưởng khách quan của nền kinh tế, cạnh tranh không thuận lợi trên thị trường trong nước và quốc tế, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh
nghiệp nhà nước Tỉnh An giang đang có xu hướng giảm mạnh. Nếu như năm 1996 tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước là 20,46% và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là 1,63%, thì năm 1999 các chỉ tiêu tương ứngchỉ đạt 13,9% và 1,21% thậm chí tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước của một số ngành đạt rất thấp như : ngành Thương mại dịch vụ 3,8 %, ngành giao thông vận tải 7,41%.
3.5. Về tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tính đến nay toàn Tỉnh chỉ mới thực hiện cổ phần hóa được 4 doanh nghiệp. Nhìn chung, tiến độ cổ phần hóa còn rất chậm và các doanh nghiệp sang công ty cổ phần có điểm chung là : quy mô vốn nhỏ cổ phần không mang tính đại chúng ( chủ yếu cổ phiếu được bán trong nội bộ doanh nghiệp ), điểm đặc biệt lưu ý là trong số 4 doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần thì có 3 doanh nghiệp trước đây là đơn vị phụ thuộc và công ty mẹ ( Tỉnh mới chỉ thực hiện cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước là chủ yếu ).
Bên cạnh đó, định hướng phát triển của các doanh nghiệp cổ phần hóa chưa rõ nét, còn nhiều lúng túng.