1. Phân loại tài sản công
1.3 Phân loại tài sản công theo đối tượng quản lý và sử dụng tài sản
Theo cách phân loại này tài sản công bao gồm:
1.3.1 Tài sản Nhà nước thuộc khu vực hành chính sự nghiệp là những tài sản của Nhà nước giao cho các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp ( gọi chung là đơn vị hành chánh sự nghiệp ) quản lý và sử dụng gồm:
- Đất và vật kiến trúc trên đất thuộc các trụ sở làm việc, nhà công vụ, kho tàng, trường học, bệnh viện, trạm nghiên cứu, thí nghiệm…
- Phương tiện vận tải, phương tiện làm việc,hệ thống thông tin, cứu hỏa, hệ thống cấp thoát nước …
1.3.2 Tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi công cộng, lợi ích quốc gia bao goàm:
- Hệ thống giao thông: đường bộ, đường thủy, đường hàng không, bến cảng, bến phà, bến xe, cầu cống, sân bay, nhà ga …
- Hệ thống các công trình thủy lợi: đê điều, hệ thống kênh mương, trạm bơm, hồ chứa nước, đập thủy lợi…
- Hệ thống chiếu sáng, cấp thoát nước, công viên…
- Hệ thống các công trình văn hóa, di tích lịch sử đã được xếp hạng
1.3.3. Tài sản Nhà nước giao cho các doanh nghiệp quản lý sử dụng bao gồm:
Nhà xưởng, phương tiện vận tải, phương tiện làm việc, vốn bằng tiền…
1.3.4. Tài sản được xác lập quyền sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- Tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quỹ Nhà nước
- Tài sản chôn dấu, chìm đắm tìm thấy, tài sản vắng chủ, vô chủ và các tài sản
khác được trở thành tài sản Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Tài sản do các tổ chức biếu tặng, đóng góp hoặc giao lại Nhà nước và tài sản viện trợ của Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ.
1.3.5. Tài sản dự trữ Nhà nước
1.3.6. Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi thủy sản, vùng trời, thềm lục địa ( sau đây gọi chung là đất đai và các tài nguyên quốc gia khác )
Phuùluùc 2 :
2. Phạm vi quản lý tài sản công của cơ quan quản lý công sản :
Tài sản công được Nhà nước giao cho các cơ quan thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước, các đơn vị kinh tế Nhà nước khai thác, sử dụng … Rõ ràng Nhà nước không trực tiếp sử dụng tài sản công, song để việc khai thác sử dụng tài sản tiết kiệm và có hiệu quả, Nhà nước phải sử dụng bộ máy giúp Nhà nước tổ chức quản lý kiểm tra việc sử dụng tài sản, đó là cơ quan quản lý công sản. Vấn đề đặt ra ở đây là việc phân định phạm vi, nhiệm vụ và nội dung quản lý giữa cơ quan quản lý công sản với các cơ quan quản lý khác và với cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp sử dụng tài sản đó như thế nào cho hợp lý ? vấn đề này được xem xét một cách đầy đủ phù hợp với tính chất quan hệ sản xuất của từng giai đoạn ở mỗi nước, phù hợp với vi mô và phạm vi tài sản công của nước đó, phù hợp với cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước … Chúng ta có thể xem xét phạm vi quản lý của cơ quan quản lý công sản đối với tài sản công nhử sau :
2.1. Đối với tài sản thuộc khu vực hành chánh sự nghiệp :
Tài sản ở khu vực này được giao cho các đơn vị hành chánh sự nghiệp quản lý, sử dụng để thực hiện nhiệm vụ hoặc bảo tồn, bảo dưỡng, duy trì, giữ gìn bao gồm : nhà và đất thuộc trụ sở làm việc, nhà và đất thuộc các cơ sở hoạt động sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học…, phương tiện vận tải và trang thiết bị, phương tiện hoạt động … Đây là những tài sản được đầu tư bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, bằng đóng góp của nhân dân, hoặc hiến tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước qua nhiều thế hệ người Việt Nam. Nguyên tắc chung là tài sản này phải được cơ quan quản lý công sản trực tiếp quản lý chặt chẽ quá trình đầu tư xây dựng, mua sắm, quá trình sử dụng và kết thúc sử dụng. Tuy
nhiên, tùy theo đặc điểm, tính chất, mục đích sử dụng và ý nghĩa của mỗi loại tài sản mà cơ quan quản lý công sản thực hiện việc quản lý cho phù hợp. Đối với nhà, đất thuộc trụ sở làm việc hoặc các cơ sở hoat động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học …, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc đảm bảo cho hoạt động của các đơn vị hành chánh sự nghiệp là những tài sản mà đơn vị được giao trực tiếp sử dụng – đây là những tài sản phải được sử dụng theo chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Những tài sản này được đầu tư bắng nguồn từ ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn từ ngân sách Nhà nước, về cơ bản chúng đều trải qua các quá trình : hình thành, sử dụng và thanh lý. Cơ quan quản lý công sản là người nắm thực lực tài sản chung và của từng ngành, từng đơn vị và khả năng ngân sách Nhà nước, cơ quan quản lý công sản vừa là người nắm vững chế độ, tiêu chuẩn, định mức sử dụng. Do đó, cơ quan quản lý công là người có đủ điều kiện giữ quyền tham mưu cho chính quyền quyết định hoặc trực tiếp quyết định theo sự phân cấp của chính quyền về đầu tư, mua sắm, sửa chữa, cải tạo nâng cấp …, quyết định sự điều chuyển tài sản từ nơi này sang nơi khác, quyết định việc thanh lý và xử lý tài sản. Tuy nhiên, do phạm vi rộng, số lượng nhiều, lại có sự quản lý của các cấp, các ngành, địa phương. Vì thế, tùy thuộc vào thực tế việc quản lý có thể được phân cấp cho các ngành, các địa phương để giảm bớt khối lượng nghiệp vụ xử lý của cơ quan quản lý công sản và nâng cao trách nhiệm quản lý của ngành, địa phương.
2.2.Đối với tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước theo pháp luật quy định : Tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước bao gồm : Tài sản bị tịch thu sung quỹ Nhà nước và tiền phạt do vi phạm pháp luật; tài sản bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy; tài sản bị đánh rơi, bỏ quên, vắng chủ, vô chủ và các tài sản khác theo quy định của pháp luật là của Nhà nước; tài sản do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
biếu tặng, đóng góp và các hình thức chuyển giao quyền sở hữu tài sản khác cho Nhà nước; tài sản viện trợ của tổ chức phi Chính phủ, nước ngoài và các tổ chức quốc tế khác.
Những tài sản trên đây do nhiều đơn vị trực tiếp tịch thu, tiếp nhận. Nhưng những đơn vị trực tiếp tịch thu hoặc tiếp nhận lại không phải là đơn vị có nhu cầu sử dụng tài sản, mà việc tịch thu, tiếp nhận tài sản được thực hiện cùng với việc thực hiện nhiệm vụ công tác của họ. Ví dụ : ngành quản lý thị trường thực hiện nhiệm vụ quản lý thị trường, ngành thuế thực hiện nhiệm vụ thu thuế … đồng thời có bắt giữ tịch thu hàng hóa do vi phạm pháp luật. Một số ngành khác do vi phạm quản lý họ trực tiếp nhận một số vật tư, hàng hóa, tài sản ( cơ chế cũ để lại ) … những tài sản này theo pháp luật quy định của Nhà nước và phải được xử lý thu về cho ngân sách. Cơ quan quản lý công sản phải trực tiếp quản lý, xử lý tài sản này. Tuy nhiên, đối với một số hàng hóa đặc biệt ( vàng, bạc, đá quý, …) có thể giao cho cơ quan chuyên ngành bảo quản và xử lý, nhưng về nguyên tắc cơ quan quản lý công sản phải thực hiện quản lý ngay từ khâu ban đầu cho đến khi kết thúc và xử lý thu về cho ngân sách Nhà nước.
2.3. Đối với tài sản thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia :
Tài sản thuộc cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia được giao cho các đơn vị hoạt động sự nghiệp bảo tồn, duy trì, bảo dưỡng, khai thác sử dụng phục vụ cho hoạt động xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước, của một ngành hoặc nhiều ngành, một địa phương hoặc nhiều địa phương, hoặc của một bộ phận xã hội … tài sản thuộc cơ sở hạ tầng giữ vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quá trình hình thành, sử dụng và kết thúc tài sản thuộc cơ sở hạ tầng có những điểm riêng của nó và do một chuyên ngành nhất định quản lý
khai thác, sử dụng cụ thể :
- Các công trình thuộc hệ thống giao thông phải do ngành giao thông trực tiếp quản lý, khai thác.
- Các công trình thuộc hệ thống thủy lợi phải do ngành thủy lợi quản lý khai thác.
- Các công trình văn hóa, di tích lịch sử … phải do các chuyên ngành của ngành văn hóa quản lý bảo dưỡng, tôn tạo, duy tu và khai thác, sử dụng …
Tuy nhiên, những vẫn đề chung như quyết định chủ trương đầu tư, cải tạo, nâng cấp, mở rộng công trình sẳn có phải được thực hiện theo quy định chung về quản lý xây dựng cơ bản của Nhà nước. Nhiệm vụ quản lý tài chính đảm bảo cho việc khai thác, sử dụng cũng như bảo dưỡng, duy tu, sửa chữa để phục vụ lại cho quá trình khai thác, sử dụng phải do cơ quan quản lý công sản thực hiện. Bởi vì yêu cầu về tài chính đảm bảo cho công tác này không phụ thuộc vào biên chế của đơn vị trực tiếp quản lý, bảo tồn, khai thác sử dụng và vấn đề định mức thu trong quá trình khai thác sử dụng những tài sản này không phụ thuộc vào yêu cầu chi tiêu tài chính phục vụ cho quá trình đó. Mà điều cơ bản ở đây là chính sách thu vào những đối tượng được phục vụ và cơ chế quản lý tài chính trong quá trình khai thác, sử dụng cũng như bảo dưỡng, duy tu lại chủ yếu phụ thuộc vào vị trí, vai trò của mỗi tài sản trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng tài sản, sự bền vững và cường độ khai thác sử dụng, quy mô của tài sản đó. Vì thế, việc quản lý tài chính đối với tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia do cơ quan quản lý tài chính Nhà nước chuyên ngành quản lý công sản thực hiện.
2.4. Đối với tài sản là đất đai và các nguồn tài nguyên khác :
Đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác là tài sản quốc gia do thiên nhiên ban tặng rất phong phú và đa dạng. Theo Hiến pháp năm 1992 của nước ta thì đất đai và các nguồn tài nguyên khoáng sản khác thuộc sở hữu toàn dân. Đại diện chủ sở hữu toàn dân thực hiện khảo sát, tìm kiếm, bảo quản, giữ gìn, quản lý, khai thác, sử dụng đang giao cho các ngành :
Ngành địa chính quản lý đất đai bao gồm các nhiệm vụ : điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạn đất, lập bản đồ địa chính, lập quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất; thu hồi đất, ban hành các văn bản pháp lý về quản lý, sử dụng đất và thực hiện các văn bản đó; thanh tra việc chấp hành chế độ, chính sách về quản lý, sử dụng đất; đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý sử dụng đất.
- Ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn được giao nhiệm vụ quản lý về rừng, đất rừng và nguồn tài nguyên nước với nội dung tương tự như ngành địa chính quản lý đất đai.
- Các cơ quan chuyên ngành về địa chất và khoáng sản được giao nhiệm vụ quản lý các nguồn tài nguyên khoáng sản khác. Thực hiện quản lý từ điều tra, khảo sát, thăm dò, tìm kiếm, nhằm xác định nguồn tài nguyên thiên nhiên đến khai thác sử dụng từng loại tài nguyên khoáng sản.
Cơ quan quản lý công sản có trách nhiệm xây dựng cơ chế quản lý tài chính trong việc xác định nguồn tài nguyên, trong việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên và thực hiện sự quản lý của tài chính Nhà nước. Cụ thể là thông qua việc theo dõi hồ sơ lưu trữ, số lượng, trữ lượng về tài nguyên làm cơ sở để thẩm định kế hoạch chi phí khảo sát, thăm dò, khai thác, bảo vệ tài nguyên và làm căn cứ cho các tổ chức cá nhân đấu thầu khai thác tài nguyên.
Phuù luùc 3 :
Theo số liệu thống kê, cơ cấu giá trị sản lượng của ngành chế biến nông sản phẩm trong tổng giá trị sản lượng toàn ngành công nghiệp từ năm 1990 đến nay chiếm trên dưới 40%. Cùng với đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác là một trong các yếu tố cơ bản để quá trình sản xuất phát triển. Một đất nước không có nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì mọi nhu cầu về nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất đều phải phụ thuộc vào nước khác và đương nhiên phải tốn kém trong sản xuất.
Ngược lại, nếu đất nước có nguồn tài nguyên phong phú và dồi dào thì nguyên liệu và nhiên liệu để phát triển sản xuất không phải phụ thuộc vào nước khác và đương nhiên đở tốn kém trong sản xuất. Nước ta, diện tích đất không lớn, nhưng lại tiềm ẩn trong lòng đất nhiều khoáng sản khác nhau. Nhờ có nguồn tài nguyên tiềm năng, nhiều ngành sản xuất hoạt động dựa vào nguồn tài nguyên đã phát triển mạnh như ngành công nghiệp than, ngành khai thác dầu khí, ngành điện lực, ngành sản xuất ciment, ngành luyện thép … Ngoài đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở của mọi đối tượng lao động, các loại tài sản công như : nhà máy, công xưởng, máy móc thiết bị và các tài sản cố định khác là những tư liệu lao động – một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Một bộ phận của tài sản công là những công cụ lao động, có ý nghĩa quyết định mà Marx gọi là hệ thống xương cốt và cơ bắp của nền sản xuất. Số lượng và giá trị của các tài sản này thể hiện năng lực sản xuất của đất nước và tạo tiền đề cho phát triển sản xuất. Ở nước ta, trong hơn 10 năm đổi mới ( 1986 – 1998 ), vốn đầu tư của Nhà nước ngày càng tăng, trong các năm 1986 - 1998, vốn đầu tư bình quân mỗi năm tăng 9%. Vốn đầu tư dành cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu điện, trong đó ngành công nghiệp được tập trung nhiều nhất và trong công nghiệp lại tập trung cho trang thiết bị, máy móc. Nhờ đó trong 10 năm, năng lực sản xuất mới đã tăng thêm: ngành điện công suất tăng thêm 2941 nghìn KW
và 17402 km đường dây dẫn, trong đó có 1487 km đường dây 500 KV xuyên Bắc – Nam, công suất sản xuất phân bón tăng thêm 651 nghìn tấn/năm, công suất sản xuất ciment tăng thêm 1442 nghìn tấn/năm, giấy 197 ngàn tấn/năm, ngành giao thông có trên 5000 km đường bộ mới xây dựng, cải tạo và nâng cấp … Với năng lực sản xuất tăng thêm và năng lực sản xuất đã có trước khi đổi mới, nền kinh tế nước ta thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng phấn khởi, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước bình quân năm là 7,65%, cơ câu kinh tế có bước chuyển đổi, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990 lên tới 34,5% năm 1999, dịch vụ từ 38,6% lên 40%. Trong sự phát triển kinh tế chung của đất nước, sản xuất của các cơ sở kinh tế quốc doanh – là đơn vị được sử dụng hầu hết các tài sản công vào sản xuất kinh doanh, đã có tốc độ tăng trưởng nhanh và đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Điều này được thể hiện bằng số liệu sau đây :
Bieồu soỏ 1 :
MỨC TĂNG TRƯỞNG VÀ TỶ TRỌNG TRONG GDP VÀ THU NGÂN SÁCH HÀNG NĂM CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Chổ tieõu 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 1, Tốc độ tăng trưởng GDP 6,0 8,6 8,8 9,5 9,3 9,3 8,1 5,7 4,7 Chung hàng năm
Trong đó :
- Doanh nghiệp Nhà nước 8,6 12,4 11,6 12,8 12,5 11,2 9,6 5,5 4,3 - Kinh tế ngoài quốc doanh 4,7 6,8 6,2 6,7 7,7 8,0 7,1 5,9 5,1 2, Tỷ trọng GDP của 33,1 39,6 42,9 43,6 42,6 39,9 40,5 40,0 39,4 Doanh nghiệp Nhà nước
Trong GDP chung
3, Tỷ trọng thu ngân sách 43,6 60,5 61,0 62,5 57,4 56,1 57,0 56,7 56,0 Từ doanh nghiệp Nhà nước
Trong tổng thu ngân sách
( Nguồn niên giám thống kê năm 1999 do Tổng Cục Thống Kê phát hành )