TÀI SẢN CÔNG TỈNH AN GIANG
2. Đối với các doanh nghiệp nhà nước
2.2. Đẩy mạnh hơn nữa công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
2.2.1. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế, chính sách nhằm tạo ra hành lang pháp lý cho việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :
Muốn vậy, các chế độ cần hướng vào việc cụ thể hóa bước đi, cách làm trách
nhiệm của từng người, từng cấp, từng ngành trong quá trình cổ phần hóa một doanh nghiệp, xác định trách nhiệm và quyền lợi của doanh nghiệp, những người quản lý điều hành và lao động trong doanh nghiệp cổ phần hóa. Có như vậy việc cổ phần hóa mới tiến hành nhanh và thuận lợi. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Ngoài việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước, cần phải phổ biến rộng rãi các chế độ về cổ phần hóa cho mọi đối tượng trong xã hội để mọi người hiểu được đầy đủ, đúng đắn chủ trương và chính sách cổ phần hóa.
2.2.2. Hoàn thiện việc xác định giá trị doanh nghiệp và giải quyết những tồn đọng về tài chính :
Giá trị thực tế của doanh nghiệp thực chất là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa mà người mua và người bán đều chấp nhận được, phù hợp với giá cả thị trường ở từng thời điểm. Việc xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp phải bảo đảm không gây thất thoát tài sản của nhà nước, đồng thời cũng phải tạo điều kiện thuận lợi cho công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả. Có thể kiến nghị một số điểm về vấn đề này như sau :
- Phân loại tài sản của nhà nước đã đầu tư cho doanh nghiệp để có phương án xử lý thích hợp. Công ty cổ phần tiếp nhận những tài sản phù hợp với phương án kinh doanh mới, nhà nước sẽ điều chuyển cho doanh nghiệp khác hoặc tổ chức bán đấu giá những tài sản còn lại để thu hồi lại vốn, không nên ép buộc công ty phải nhận lại toàn bộ tài sản nhà nước hiện có tại doanh nghiệp.
- Đối với tài sản doanh nghiệp vay vốn tự đầu tư và đã hoàn trả hết vốn vay nên chia thành hai phần : một phần tính vào vốn của nhà nước tại doanh nghiệp, một phần tính cho người lao động tại doanh nghiệp, coi đó là phần nhà nước ưu đãi khuyến khích tích cực, chủ động của tập thể người lao động trong việc phát triển
doanh nghieọp.
- Xác định hợp lý, hợp tình những tồn đọng tài chính của doanh nghiệp nhà nước mà công ty cổ phần sẽ kế thừa. Có thể xóa bỏ những khoản nợ khó đòi, khoản lỗ phát sinh do những nguyên nhân khách quan như : lạm phát, thay đổi tỷ giá hối đoái … gây nên.
- Đổi mới tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa.
Thu hút các chuyên gia thực sự có năng lực vào việc đánh giá tài sản và đề cao vai trò của đại diện doanh nghiệp trong việc xác định giá trị tài sản. Mở rộng phân cấp trong việc quyết định giá trị doanh nghiệp theo nguyên tắc “ cơ quan ra quyết định thành lập doanh nghiệp nhà nước có quyền quyết định giá trị doanh nghiệp khi chuyển đổi hình thức sở hữu, không kể giá trị ở mức nào “. Việc làm này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc rút ngắn thời gian chuyển doanh nghiệp nhà nước thành coõng ty coồ phaàn.
2.2.3. Hoàn thiện chính sách ưu đãi với người lao động trong doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần :
Việc cho hẳn người lao động một số cổ phần theo thâm niên và mức độ cống hiến của họ. Chính việc làm này, khẳng định công lao đóng góp của người lao động trong quá trình xây dựng, phát triển doanh nghiệp nhà nước. Hơn nữa, nó cũng bảo đảm cho những người lao động không đủ năng lực tài chính có thể tham gia sở hữu coõng ty coồ phaàn.
Tuy nhiên, để có thể đánh giá đúng công lao đóng góp của mỗi cán bộ, công nhân cần quy định cụ thể mức ưu đãi đối với mỗi loại ngành nghề và lĩnh vực hoạt động. Sự điều chỉnh này nhằm hướng tới sự công bằng hơn, khuyến khích người lao động gắn bó với ngành nghề, nhất là những ngành nghề đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, độc hại.
- Do mức sống và mức giá sinh hoạt của các vùng rất khác nhau, vì vậy cần điều chỉnh tiêu chuẩn để xác định lao động nghèo trong doanh nghiệp được hưởng ưu đãi mua chịu cổ phiếu và trả chậm cho nhà nước theo hướng có phân biệt vùng, lãnh thoồ.
- Sử dụng có hiệu quả quỹ hỗ trợ cổ phần hóa theo hướng quỹ sẽ tư vấn kỹ thuật, trợ giúp tài chính cho các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa. Chức năng của quỹ sẽ tập trung vào giải quyết những hậu quả nãy sinh từ quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước. Trước mắt, trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước quỹ sẽ tập trung giải quyết các công việc như : giải quyết việc làm và trợ cấp tài chính cho lao động dôi dư, hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết những tồn đọng tài chính trước mắt khi cổ phần hóa …
2.2.4. Đổi mới tổ chức chỉ đạo cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước :
UBND Tỉnh cần xác định rõ doanh nghiệp nào cần chuyển thành công ty cổ phần trên cơ sở phương án sắp xếp lại và đổi mới quản lý các doanh nghiệp nhà nước.
Không chờ đợi sự tự nguyện đăng ký của doanh nghiệp, mà kết hợp sự chỉ định của cơ quan quản lý nhà nước với việc tuyên truyền vận động cổ phần hóa. Bên cạnh đó, Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp nhà nước xây dựng cho mình kế hoạch cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phù hợp với từng thời điểm, xác định rõ danh sách doanh nghiệp sẽ chuyển thành công ty cổ phần,các bước công việc và tiến độ thời gian thực hiện, phân công trách nhiệm và theo dõi và chỉ đạo. Ở doanh nghiệp, kế hoạch này biểu hiện dưới dạng sơ đồ, trong đó xác định rõ những công việc phải làm, tiến độ thời gian, phân công trách nhiệm theo dõi thực hiện. Ngoài ra, cần hoàn thiện các văn bản mẫu về hướng dẫn phương án kinh doanh và điều lệ công ty cổ phần.
2.2.5. Lộ trình cải cách doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh An giang đến năm 2005 :
Để tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn một Tỉnh nông nghiệp như Tỉnh An giang, chúng tôi đề nghị cần khẩn trương tiến hành phân loại và đẩy mạnh hơn nữa công tác sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo lộ trình cải cách doanh nghiệp nhà nước từ nay đến năm 2005 theo hướng sau :
Loại 1 : Trên cơ sở sáp nhập 4 doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu gạo ( không kể công ty lương thực trực thuộc tổng công ty lương thực miền nam ) thành lập tổng công ty 90 hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước. Để phát huy tối đa vai trò nòng cốt và dẫn dắt trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Tỉnh cần tập trung chỉ đạo kiện toàn về tổ chức, cán bộ, tài chính; ưu tiên bổ sung tối thiểu cho được 30% yêu cầu vốn lưu động định mức, tạo điều kiện cho tổng công ty chủ động huy động vốn và bảo toàn vốn để không ngừng đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Loại 2 : Gồm 20 doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh và hoạt động công ích. Đây là những doanh nghiệp cần chuyển đổi cơ cấu sở hữu từ sở hữu nhà nước sang công ty cổ phần. Để đẩy nhanh hơn nữa công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Tỉnh An giang, theo ý kiến chúng tôi từ nay đến năm 2005, ngoài các giải pháp đã đề cập ở trên, UBND Tỉnh cần kiên quyết xử lý các vấn đề sau :
- Trên cơ sở tự nguyện nếu như có doanh nghiệp nào nằm trong kế hoạch cổ phần hóa của Tỉnh mà không chịu đăng ký, thì UBND Tỉnh cần phải áp dụng các biện pháp hành chính để bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước nói trên nghiêm chỉnh thực hiện cổ phần hóa.
- Giao chỉ tiêu cổ phần hóa cụ thể cho các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ
quan này có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra các doanh nghiệp thuộc phạm vi mình quản lý thực hiện nghiêm túc và đúng thời gian quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
- Hoạt động của cán bộ, chuyên viên được cử vào Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn này cần phải được tách hẳn ra khỏi hoạt động của sở chuyên ngành, không nên kiêm nhiệm như trước đây. Trên cơ sở danh sách các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, phải xây dựng cho mình kế hoạch cổ phần hóa thật cụ thể ở từng doanh nghiệp trong từng thời điểm. Theo ý kiến chúng tôi, Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp nhà nước nên chọn những đơn vị làm ăn có hiệu quả để thực hiện cổ phần hóa trước như : công ty xuất nhập khẩu Thủy sản, công ty Bảo vệ thực vật … Trên cơ sở đó, đúc kết những kinh nghiệm quý báo tạo đà để thực hiện cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước tiếp theo.
- Đối với những doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi thành công ty cổ phần, cần phải vạch ra quy trình cổ phần hóa thật cụ thể và khoa học, trách nhiệm được phân công trong từng khâu và thời gian phải hoàn thành của từng công việc.
Bên cạnh đó, định kỳ (hàng tuần) phải thường xuyên họp để rút những bài học kinh nghiệm, những ách tắc mà doanh nghiệp gặp phải để tháo gở nhằm giúp cho tiến độ cổ phần hóa được đẩy nhanh và hoàn thành đúng thời gian quy định.
Loại 3 : Gồm 11 doanh nghiệp nhà nước sản xuất kinh doanh và hoạt động công ích. Đây là những doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng và hầu hết làm ăn kém hiệu quả, trong đó có công ty khai thác công trình Thủy lợi nhiều năm lỗ liên tục (trong năm 2000 lỗ 1,406 tỷ đồng). Có thể đề xuất hướng xử lý các doanh nghiệp này nhử sau :
- Đối với 10 doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, nên tổ chức bán trọn gói doanh nghiệp. Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này có thể bán được,
Tỉnh cần ban hành một số cơ chế chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia mua như : mạnh dạn định giá trị doanh nghiệp thấp hơn so với giá thị trường từ 10 đến 15%, hoặc xóa những khoản nợ phải trả của doanh nghiệp đối với ngân sách, ngân hàng nếu như những khoản nợ này doanh nghiệp không có khả năng trả được … Tất cả các yếu tố trên sẽ là những điều kiện hấp dẫn để các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực này.
- Riêng đối với công ty khai thác công trình Thủy lợi là doanh nghiệp công ích nhiều năm liền làm ăn lỗ lã, không đủ điều kiện hoạt động theo nguyên tắc bảo toàn vốn. UBND Tỉnh nên mạnh dạn cho đấu thầu quản lý, hoặc khuyến khích chuyển thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có một phần vốn góp của nhà nước hoặc hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của người góp vốn đối với dịch vụ này ( như tưới tiêu đồng ruộng, bảo vệ đê điều … ). Theo mô hình này, Chi cục Thủy lợi chỉ đóng vai trò quản lý nhà nước để tư vấn và giám sát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này.
Năm năm qua ( 1995 - 2000 ) chưa phải là dài kể từ khi thành lập Cục Quản lý Công sản ( cũng như Phòng Quản lý Công sản ở tỉnh An Giang ), song do có sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Tài chính, sự quan tâm sâu sát của Tỉnh ủy, Uûy ban Nhân dân Tỉnh cũng như lãnh đạo Sở Tài chính Vật giá, bên cạnh đó sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp đã giúp cho công tác quản lý công sản tỉnh An Giang đạt được những kết quả đáng khích lệ, đó chính là cơ sở ban đầu rất quan trọng đặt nền móng cho việc triển khai nhiệm vụ quản lý công sản cho tương lai ( 2000 - 2010 ). Những đánh giá và nhận xét rút ra của thời kỳ 1995 - 2000 có một vị trí quan trọng trong việc xây dựng chiến lược đổi mới cơ chế quản lý tài sản công đến năm 2010.