Đối với các doanh nghiệp Nhà nước

Một phần của tài liệu Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản công tỉnh an giang (Trang 71 - 74)

CHệễNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TỈNH AN GIANG

4. Nguyên nhân của những tồn tại

4.2. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước

Những hạn chế và yếu kém nói trên của các doanh nghiệp nhà nước do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân chủ yếu về cơ chế quản lý, đó là hệ thống văn bản pháp luật về quản lý doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng tuy đã ban hành khá nhiều song vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ và hoàn chỉnh, có nhiều nội dung quá chung, chỉ dừng lại ở những nguyên tắc, hoặc có những quy định quá cũ không phù hợp với sự chuyển biến của môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Các văn bản pháp quy dưới luật quá nhiều, không ít trường hợp chồng chéo, không nhất quán, thậm chí có một số văn bản hướng dẫn cụ thể hóa trái với nội dung luật định làm phức tạp thêm thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp nhà nước bàn hành từ đầu năm 1995, tuy chính phủ chưa kịp ban hành nghị định hướng dẫn thực hiện, đã có nhiều điểm không còn phù hợp, đồng thời cũng còn nhiều vấn đề chưa quy định rõ như : về quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp, về phạm vi quyền hạn trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh đối với doanh nghiệp, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý tổng công ty nhà nước, các doanh nghiệp cổ phần hóa … cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp công ích, doanh nghiệp kinh doanh vừa quá chặt gây khó khăn, vừa quá lõng dễ bị doanh nghiệp dựa dẫm, lợi dụng, gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.

Riêng về công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn chậm có thể nêu lên một số nguyên nhân mang tính chủ quan sau đây :

- Những vướng mắc về nhận thức tư tưởng đó là cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp sợ mất cương vị đang nắm giữ và những quyền lợi kèm theo. Người lao động trong doanh nghiệp chưa hiểu rõ những vấn đề liên quan đến công ty cổ phần, e ngại mất việc làm hoặc giảm thu nhập. Ở những doanh nghiệp đang làm ăn có lãi, cán bộ công nhân viên không muốn có sự xáo động, ngược lại ở doanh nghiệp đang gặp khó khăn

lại nãy sinh sự lo ngại không còn trợ giúp của nhà nước, công ty không thể vượt qua khó khăn.

- Những vướng mắc về cơ chế chính sách, dù rằng Nghị định 44/CP của Chính phủ đã có những thay đổi theo hướng tạo động lực thúc cổ phần hóa bằng những khuyến khích rõ rệt hơn, nhưng quá trình triển khai thực tế lại nãy sinh những vấn đề mới như : trở ngại khó khăn trong khâu định giá tài sản do đó thời gian xác định giá trị doanh nghiệp thường kéo dài; chính sách ưu đãi với người lao động cũng nãy sinh những điều chưa sát với thực tế, dù Nhà nước quy định bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp theo giá ưu đãi với mức thấp hơn 30% so với bán ra ngoài, nhưng không phải người lao động nào cũng đủ năng lực tài chính để nhận đủ sự ư đãi mà Nhà nước dành cho họ. Mặt khác, quy định về ưu đãi cho người lao động trong đó có lao động nghèo còn mang tính bình quân, không có sự phân biệt theo ngành, theo lĩnh vực và theo vùng là điều bất hợp lý.

- Những vướng mắc liên quan đến tổ chức quá trình chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thể hiện qua phản ứng của những doanh nghiệp nhà nước được chọn nhưng chưa quyết tâm thực hiện cổ phần hóa. Bên cạnh đó, hoạt động của Ban chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp nhà nước còn rất hạn chế vì thành phần của Ban này trong thời gian qua chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm nên chưa dành nhiều thời gian và trí tuệ cho công việc phức tạp này.

Tóm lại, chương này giúp chúng ta thấy được thực trạng quản lý tài sản công trước và sau khi thành lập Cục Quản lý Công sản ( năm 1995 ). Ở giai đoạn trước năm 1995, công tác quản lý công sản vẫn duy trì cơ chế quản lý của thời kỳ trước ( cơ chế kế hoạch hóa tập trung ), nhà nước chưa đặt vấn đề quản lý tài sản công, mà chủ yếu quản lý công sản thông qua việc quản lý chi tiêu của ngân sách nhà nước. Cơ quan tài chính chưa coi việc quản lý công sản là nhiệm vụ của mình, chưa ban hành chế độ,

quy chế về quản lý công sản. Chính vì lý do trên, mà việc đầu tư, xây dựng, mua sắm tài sản công cũng như công tác quản lý, sử dụng tài sản bị buông lỏng nghiêm trọng, làm thất thoát, suy giảm nguồn tài sản công, tạo điều kiện cho các đơn vị tham ô tiền bạc, tài sản của nhà nước. Ở giai đoạn sau năm 1995 công tác quản lý tài sản công đuợc nhà nước quan tâm hơn, thể hiện qua một số chế độ chính sách về quản lý tài sản công được hình thành ở các lĩnh vực, tài sản công được theo dõi chặt chẽ hơn, việc mua sắm sửa chữa tài sản đều phải qua thẩm định … Do đó, góp phần tiết kiệm một khối lượng lớn kinh phí cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như : tài sản vẫn còn để ngoài sổ sách kế toán của đơn vị; diện tích nhà đất sử dụng còn thừa đem cho thuê; việc đầu tư xây dựng mua sắm tài sản không theo tiêu chuẩn định mức mà tuỳ thuộc vào kinh phí ngân sách của từng ngành; tình trạng khai tài nguyên khoáng sản bừa bãi, không theo quy định chung còn khá phổ biến …

CHệễNG 3

Một phần của tài liệu Một số giải pháp đổi mới quản lý tài sản công tỉnh an giang (Trang 71 - 74)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(101 trang)